ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc đƣợc sử dụng nhằm cải thiện chất lƣợng cuộc sống con ngƣời thông qua những kết quả nhất định: phòng và chữa bệnh, làm giảm triệu chứng, làm chậm diễn biến bệnh, đồng thời mang lại nhiều lợi ích khác về mặt kinh tế, xã hội 35, 48. Tuy nhiên, tất cả thuốc đều có nguy cơ rủi ro, có khả năng gây ra phản ứng không mong muốn hoặc có hại 27, 28, 64. Suốt 40 năm qua, những tiến bộ trong liệu pháp dùng thuốc đã cải thiện khả năng chăm sóc bệnh nhân, nhƣng bên cạnh đó cũng làm tăng đáng kể các vấn đề liên quan đến thuốc 58. Mặc dù vậy, thuốc vẫn luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe, và con ngƣời buộc phải chấp nhận những nguy cơ đi liền với lợi ích của thuốc 64. Bởi thế, việc đƣa ra các cảnh báo, khuyến cáo về nguy cơ có hại của thuốc là vô cùng cần thiết, góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, nhƣ Voltaire từng nói: “Không có thuốc nào an toàn, chỉ có cách sử dụng thuốc an toàn” 64. Hiện nay, một số vấn đề liên quan đến thuốc đã đƣợc giám sát bởi hệ thống quản lý và theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ở Việt Nam là Trung tâm quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc). Nhƣng ngoài ra, số liệu từ các Trung tâm Chống độc (TTCĐ) cũng là nguồn thông tin rất giá trị để phát hiện biến cố khi dùng thuốc, các đối tƣợng có nguy cơ cao, các nguyên nhân thƣờng gặp, từ đó, giúp các nhà quản lý, bác sĩ, dƣợc sĩ, nhân viên y tế và nhân dân có những biện pháp phù hợp để ngăn ngừa rủi ro liên quan đến thuốc. Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về ngộ độc 38, 39, nhƣng chƣa có nhiều nghiên cứu tập trung vào ngộ độc thuốc; các nghiên cứu về ngộ độc thuốc lại thiếu thông tin cập nhật đến thời điểm hiện tại 5, 7. Bởi vậy, đối với ngành y tế nói riêng và cả cộng đồng nói chung, vẫn còn thiếu những thông tin cần thiết để giám sát và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thuốc.
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM HẢI YẾN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NGỘ ĐỘC THUỐC PHẢI NHẬP VIỆN TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM HẢI YẾN
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NGỘ ĐỘC THUỐC PHẢI NHẬP VIỆN TẠI TRUNG TÂM CHỐNG ĐỘC,
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Thạc sỹ Hoàng Hà Phương – giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng, trường Đại học Dược Hà Nội, và Thạc sỹ Nguyễn Đàm Chính – bác sỹ Trung tâm Chống
độc, Bệnh viện Bạch Mai Hai thầy cô đã luôn hết lòng chỉ bảo, tận tình giúp đỡ và quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bác sỹ Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đã dành cho tôi nhiều góp ý vô cùng hữu ích trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị làm việc tại Tổ lưu trữ hồ sơ, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong khi thu thập dữ liệu
Tôi bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo Bộ môn Dược lâm sàng đã luôn theo sát, hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình làm khóa luận
Tôi cũng vô cùng biết ơn tất cả thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ, dìu dắt tôi suốt 5 năm học tại trường
Cảm ơn bạn bè tôi, những người luôn luôn ủng hộ và sẵn sàng giúp đỡ tôi bất cứ việc gì, bất cứ khi nào
Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn cho gia đình mình, họ luôn là điểm tựa
và là động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Hà Nội, ngày 11/05/2014
Sinh viên
Phạm Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục bảng
Danh mục hình
Danh mục chữ viết tắt
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về ngộ độc 3
1.1.1 Định nghĩa và các nguyên nhân gây ngộ độc 3
1.1.2 Chẩn đoán ngộ độc 3
1.1.3 Hậu quả của ngộ độc 6
1.1.4 Điều trị ngộ độc 6
1.2 Tổng quan về ngộ độc thuốc 10
1.2.1 Vị trí của ngộ độc thuốc trong ngộ độc 10
1.2.2 Các nguyên nhân ngộ độc thuốc 10
1.2.3 Phòng tránh ngộ độc thuốc 11
1.3 Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới và tại Việt Nam 11
1.3.1 Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới 11
1.3.2 Tình hình ngộ độc thuốc tại Việt Nam 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 13
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 13
Trang 52.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 13
2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu 14
2.3.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 14
2.3.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 18
3.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 18
3.1.1 Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc 18
3.1.2 Nguyên nhân ngộ độc thuốc 19
3.1.3 Tác nhân gây ngộ độc thuốc 21
3.1.4 Mức độ nặng của các ca ngộ độc thuốc 23
3.1.5 Xử trí ngộ độc thuốc 24
3.1.6 Kết quả điều trị ngộ độc thuốc 26
3.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 27
3.2.1 Đặc điểm dịch tễ và nguyên nhân ngộ độc 27
3.2.2 Các biệt dược và thông tin về liều 28
3.2.3 Định tính, định lượng 34
3.2.4 Xử trí tại TTCĐ 36
3.2.5 Mức độ nặng và kết quả điều trị 37
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 40
4.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 40
4.1.1 Đặc điểm dịch tễ 40
4.1.2 Nguyên nhân ngộ độc thuốc 41
4.1.3 Tác nhân gây ngộ độc 42
4.1.4 Mức độ nặng của các ca ngộ độc thuốc 44
Trang 64.1.5 Xử trí ngộ độc thuốc 44
4.1.6 Kết quả điều trị 45
4.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 45
4.2.1 Rotundin 45
4.2.2 Paracetamol 47
4.2.3 Phenobarbital 49
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 51
5.1 Kết luận 51
5.1.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc 51
5.1.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan 51
5.2 Đề xuất 52 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc 18
Bảng 3.2 Các nguyên nhân ngộ độc thuốc 20
Bảng 3.3 Số thuốc đã uống trong các ca ngộ độc thuốc 22
Bảng 3.4 Các thuốc và nhóm thuốc liên quan đến các ca ngộ độc 22
Bảng 3.5 Nơi xử trí ban đầu 24
Bảng 3.6 Các biện pháp xử trí ban đầu 24
Bảng 3.7 Các biện pháp xử trí tại TTCĐ 25
Bảng 3.8 Phân bố các biện pháp xử trí tại TTCĐ theo mức độ nặng 26
Bảng 3.9 Kết quả điều trị của các bệnh nhân ngộ độc thuốc 26
Bảng 3.10 Biệt dƣợc và thông tin về liều rotundin trong các ca ngộ độc 29
Bảng 3.11 Liều đã uống trong các ca ngộ độc rotundin 29
Bảng 3.12 Biệt dƣợc và thông tin về liều paracetamol trong các ca ngộ độc 31
Bảng 3.13 Biệt dƣợc và thông tin về liều phenobarbital trong các ca ngộ độc 33
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Phân bố các nguyên nhân ngộ độc theo nhóm tuổi 20
Hình 3.2 Phân bố các nguyên nhân tự tử theo giới tính 21
Hình 3.3 Mức độ nặng theo thang PSS của các ca ngộ độc thuốc 23
Hình 3.4 Các nhóm tuổi của bệnh nhân ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital 27
Hình 3.5 Nguyên nhân ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital 28
Hình 3.6 Liều đã uống trong các ca ngộ độc rotundin 30
Hình 3.7 Liều đã uống trong các ca ngộ độc paracetamol 32
Hình 3.8 Liều đã uống trong các ca ngộ độc phenobarbital 34
Hình 3.9 So sánh nồng độ paracetamol với toán đồ Rumack-Matthew 35
Hình 3.10 Nồng độ thuốc trong máu của bệnh nhân ngộ độc phenobarbital 36
Hình 3.11 Xử trí ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital tại TTCĐ 37
Hình 3.12 Mức độ nặng của bệnh nhân ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital 38
Hình 3.13 Kết quả điều trị của bệnh nhân ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital 39
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATC : Mã phân loại thuốc theo giải phẫu-điều trị-hóa học
(The anatomical therapeutic chemical code)
(Continuous arterio-venous haemodialysis) CVVHD : Lọc máu liên tục tĩnh mạch-tĩnh mạch
(Continuous veno-venous haemodialysis)
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc được sử dụng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống con người thông qua những kết quả nhất định: phòng và chữa bệnh, làm giảm triệu chứng, làm chậm diễn biến bệnh, đồng thời mang lại nhiều lợi ích khác về mặt kinh tế, xã hội [35, 48] Tuy nhiên, tất cả thuốc đều có nguy cơ rủi ro, có khả năng gây ra phản ứng không mong muốn hoặc có hại [27, 28, 64] Suốt 40 năm qua, những tiến bộ trong liệu pháp dùng thuốc đã cải thiện khả năng chăm sóc bệnh nhân, nhưng bên cạnh đó cũng làm tăng đáng kể các vấn đề liên quan đến thuốc [58] Mặc dù vậy, thuốc vẫn luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe, và con người buộc phải chấp nhận những nguy cơ đi liền với lợi ích của thuốc [64] Bởi thế, việc đưa
ra các cảnh báo, khuyến cáo về nguy cơ có hại của thuốc là vô cùng cần thiết, góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, như Voltaire từng nói:
“Không có thuốc nào an toàn, chỉ có cách sử dụng thuốc an toàn” [64]
Hiện nay, một số vấn đề liên quan đến thuốc đã được giám sát bởi hệ thống quản lý và theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ở Việt Nam là Trung tâm quốc gia
về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc) Nhưng ngoài ra, số liệu
từ các Trung tâm Chống độc (TTCĐ) cũng là nguồn thông tin rất giá trị để phát hiện biến cố khi dùng thuốc, các đối tượng có nguy cơ cao, các nguyên nhân thường gặp,
từ đó, giúp các nhà quản lý, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế và nhân dân có những biện pháp phù hợp để ngăn ngừa rủi ro liên quan đến thuốc
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về ngộ độc [38, 39], nhưng chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào ngộ độc thuốc; các nghiên cứu về ngộ độc thuốc lại thiếu thông tin cập nhật đến thời điểm hiện tại [5, 7] Bởi vậy, đối với ngành y tế nói riêng và cả cộng đồng nói chung, vẫn còn thiếu những thông tin cần thiết để giám sát và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thuốc
Trang 11Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Khảo sát tình hình ngộ độc thuốc phải nhập viện tại Trung tâmChống độc, Bệnh viện Bạch Mai” với hai mục tiêu:
1 Khảo sát đặc điểm chung về ngộ độc thuốc tại Trung tâm Chống độc năm 2013
2 Xác định các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và khảo sát các đặc điểm liên quan
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về ngộ độc
1.1.1 Định nghĩa và các nguyên nhân gây ngộ độc
Hiện nay có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về ngộ độc
Theo Từ điển y học Dorland: Ngộ độc là những ảnh hưởng có hại về mặt sinh lý do phơi nhiễm với chất độc Chất độc là những chất mà khi một tỉ lệ tương đối nhỏ được nuốt, hít, hấp thu, được tiêm vào, hoặc được đưa vào trong cơ thể, thì
sẽ gây ra tác dụng hóa học làm tổn hại cấu trúc hoặc làm rối loạn chức năng, gây ra các triệu chứng, bệnh tật, hoặc tử vong [25]
Theo D.R.A Uges (2001): Ngộ độc là trạng thái khó chịu của một cá nhân do hậu quả của việc phải chịu ảnh hưởng của một chất ngoại sinh ở liều quá cao so với mức mà cá thể đó có thể chịu được về mặt y tế hoặc về mặt xã hội [65]
1.1.2 Chẩn đoán ngộ độc
Việc chẩn đoán ngộ độc có thể dựa vào 4 yếu tố: lịch sử tiếp xúc với chất độc, khám lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng và các xét nghiệm sàng lọc độc chất Thông thường có thể chẩn đoán nhanh mà không cần xét nghiệm sàng lọc độc chất, bởi 3 yếu tố còn lại cũng có thể giúp đưa ra chẩn đoán chính xác [50]
Không phải lúc nào cũng biết được chất độc mà bệnh nhân đã tiếp xúc là gì thông qua thu thập lời khai Tuy nhiên, bằng việc khám lâm sàng trực tiếp và tiến
Trang 13hành các xét nghiệm cận lâm sàng, thầy thuốc có thể đưa ra chẩn đoán, từ đó cho phép tiến hành các điều trị can thiệp theo kinh nghiệm hoặc đề nghị làm tiếp các xét nghiệm độc chất đặc hiệu [49]
b Khám lâm sàng
Chẩn đoán ngộ độc phụ thuộc rất lớn vào việc khám lâm sàng, vì thông qua
đó, có thể cho phép tìm ra triệu chứng và hội chứng ngộ độc cụ thể mà bệnh nhân mắc phải Các thông số quan trọng bao gồm: huyết áp, mạch, thân nhiệt, kích thước đồng tử, mồ hôi, nhu động ruột [26, 49, 50]
Một số hội chứng ngộ độc cụ thể:
Hội chứng kích thích giao cảm:
Mạch nhanh, huyết áp tăng, có thể gặp nhịp tim chậm Thân nhiệt thỉnh thoảng tăng, đồng tử giãn, da đổ mồ hôi nhưng niêm mạc lại khô Bệnh nhân thường kích động, lo âu, tâm thần rối loạn [36, 49]
Hội chứng kháng cholinergic (kháng muscarinic):
Thông thường nhịp tim nhanh đi kèm tăng huyết áp nhẹ, thân nhiệt thỉnh thoảng tăng Đồng tử giãn rộng Da đỏ ửng lên, nóng và khô Thường gặp bí tiểu và nhu động ruột giảm Bệnh nhân có thể có cử động múa giật Thường gặp trạng thái
mê sảng, kích động, và có thể tăng thân nhiệt nghiêm trọng [36, 49, 50]
Trang 14c Xét nghiệm cận lâm sàng
Cùng với khám lâm sàng, việc tiến hành các xét nghiệm cận lâm sàng đơn giản, sẵn có giúp đưa ra chẩn đoán một cách chính xác nhất, hoặc giúp định hướng tiến hành tiếp xét nghiệm độc chất
Một số xét nghiệm thường gặp [26, 49, 50]:
Áp lực thẩm thấu huyết thanh và khoảng trống nồng độ osmol (Osmol gap)
Điện giải đồ xác định natri, kali và khoảng trống anion (Anion gap)
Khoảng trống bão hòa oxy (Oxygen saturation gap)
Glucose huyết
Urê huyết và creatinin huyết để đánh giá chức năng thận
Xét nghiệm enzym gan và chức năng gan
Huyết đồ
Phân tích nước tiểu
Điện tâm đồ (ECG)
Xét nghiệm thử thai (với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ)
d Xét nghiệm độc chất
Để khẳng định chắc chắn sự có mặt của chất độc trong cơ thể người, cần thực hiện các xét nghiệm độc chất, trong đó bao gồm xét nghiệm sàng lọc độc chất toàn diện để phát hiện chất độc và xét nghiệm định lượng để biết được nồng độ chính xác của chất độc trong cơ thể
Xét nghiệm sàng lọc độc chất tiến hành kiểm tra định tính về mức độ dương tính của mẫu thử với một danh sách các thuốc thường gây ngộ độc Một xét nghiệm sàng lọc độc chất toàn diện khá tốn kém thời gian và tiền bạc, nhưng lại có rất ít giá trị trong việc điều trị ban đầu Tuy nhiên, nhiều khi nồng độ cụ thể của thuốc lại trở nên hữu ích, đặc biệt nếu như có các chất đối kháng hay biện pháp can thiệp cụ thể
sẽ được chỉ định dựa vào kết quả này [49, 50]
Nếu bắt buộc phải xét nghiệm sàng lọc độc chất, thì nước tiểu là mẫu xét nghiệm tốt nhất Trong quá trình xét nghiệm, có nhiều khi kết quả là dương tính giả hoặc âm tính giả Người ta cũng tiến hành xét nghiệm máu trong những trường hợp
Trang 15có thể định lượng, tuy nhiên xét nghiệm này ít được dùng với mục đích sàng lọc, vì
độ nhạy thấp với rất nhiều thuốc thường gặp, bao gồm cả các thuốc hướng tâm thần, opioid và các chất kích thích [49]
1.1.3 Hậu quả của ngộ độc
Ngộ độc gây ra hậu quả khá nặng nề với sức khỏe, tính mạng bệnh nhân, thể hiện qua tình trạng nhập viện, mắc bệnh và tử vong do ngộ độc trên khắp thế giới
Ở châu Âu: tại Đông Âu, tỉ lệ mắc bệnh do ngộ độc cấp hàng năm biến thiên trong khoảng 150-255 người/ 100000 cư dân Tỉ lệ tử vong do ngộ độc cấp ở Phần Lan là 16,6 người/ 100000 cư dân và ở các nước Đông Âu khác là 8,3-11,1 người/
100000 cư dân [13] Ở Anh và xứ Gan (Wales), trong năm 2007, số bệnh nhân nam
và nữ tử vong riêng do ngộ độc thuốc lần lượt là 1914 và 726 người [34]
Ở châu Mỹ: tại Mỹ, tỉ lệ tử vong do ngộ độc thuốc năm 2006 là 15,6 người/
100000 cư dân, con số này đã tăng 74,1% trong giai đoạn 1999-2006 [15]
Ở châu Á: tỉ lệ tử vong chiếm 3,0% tổng số bệnh nhân ngộ độc tại Hồng Kông giai đoạn 2000-2008, và chiếm tới 5,5% tổng số bệnh nhân ngộ độc tại Thái Lan giai đoạn 2001-2004; cũng tại Hồng Kông giai đoạn 2000-2008, số ngày nằm viện của bệnh nhân ngộ độc có thể lên tới 3 ngày [45, 68] Tại Malaysia, giai đoạn 2000-2002, tỉ lệ nhập viện vì ngộ độc là 26,2 người/ 100000 cư dân [29] Còn tại
Ấn Độ, giai đoạn 1997-2001, ngộ độc cấp là nguyên nhân hàng đầu của tình trạng
tử vong bất thường và là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 dẫn đến tình trạng phải nhập viện cấp cứu ở các khu vực nông thôn [14]
Hỗ trợ chức năng sống được gọi tắt là ABC, gồm có:
+ A (airway): khai thông đường thở
Trang 16Việc hạn chế hấp thu chất độc trên da cần tiến hành ngay lập tức, vì các chất
ăn mòn có thể làm tổn thương da nhanh chóng; ngoài ra, một số chất độc có thể hấp thu qua da vào tuần hoàn và gây ra tác dụng toàn thân
Các biện pháp: cởi bỏ quần áo nhiễm độc, dội rửa vùng nhiễm độc bằng nước ấm hoặc nước muối; rửa kỹ các vùng da đằng trước tai, dưới móng tay và trong các nếp gấp của da, rửa bằng xà phòng đối với các chất độc thân dầu; có một
số ít trường hợp phải dùng đến các chất trung hòa hóa học [50]
Mắt:
Giác mạc mắt rất nhạy cảm với các chất tẩy rửa, ngoài ra, các dung môi hydrocarbon có thể phá hủy giác mạc và để lại sẹo vĩnh viễn, vì vậy việc hạn chế hấp thu đối với chất độc bám vào mắt là cực kỳ quan trọng và phải làm càng sớm càng tốt
Các biện pháp: rửa mắt bằng nước ấm hoặc nước muối; kiểm tra pH nước mắt nếu chất độc có tính acid hoặc kiềm và tiếp tục rửa mắt đến khi pH trở về bình thường; không dùng các chế phẩm trung hòa vì chưa có bằng chứng về hiệu quả, thậm chí các chế phẩm này còn làm mắt tổn thương thêm; kiểm tra kết mạc và giác mạc mắt cẩn thận, nếu có tổn thương nghiêm trọng phải đưa ngay đến bác sĩ nhãn khoa [50]
Đường hô hấp:
Các biện pháp: đưa nạn nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, cho thở oxy nếu có thể
và hỗ trợ thông khí nếu cần thiết; theo dõi các biểu hiện phù nề đường hô hấp trên;
có thể cần đặt nội khí quản cho những bệnh nhân bị tổn thương đường hô hấp; theo dõi biểu hiện phù phổi muộn [50]
Trang 17Hạn chế hấp thu chất độc đường tiêu hóa:
Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi về vai trò của việc gây nôn, rửa dạ dày, dùng than hoạt và các chất tẩy trong việc hạn chế hấp thu đường tiêu hóa Nhưng trong nhiều trường hợp, quá trình hạn chế hấp thu này có vai trò bảo vệ tính mạng bệnh nhân, ngay cả khi được tiến hành sau 1-2 giờ kể từ khi nhiễm độc [50]
Một số biện pháp hạn chế hấp thu chất độc đường tiêu hóa:
Gây nôn
Gây nôn được tiến hành bằng cách sử dụng si rô Ipecac Tuy nhiên, hiện nay phương pháp này chỉ được áp dụng trong rất ít trường hợp, nếu như các biện pháp điều trị khác chỉ có thể được tiến hành sau 60 phút, mà việc gây nôn lại có thể làm ngay vài phút sau khi nhiễm độc [50]
Rửa dạ dày
Rửa dạ dày được áp dụng phổ biến hơn gây nôn, tuy nhiên vẫn chỉ được tiến hành ở bệnh viện Biện pháp này được cho là hiệu quả hơn gây nôn, nhất là đối với chất độc dạng lỏng; tuy nhiên lại không có tác dụng đối với các thuốc không tan, đặc biệt là các chế phẩm giải phóng kéo dài hoặc bao tan trong ruột Biện pháp này
sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu được tiến hành trong vòng 1 giờ kể từ khi nhiễm độc
Việc rửa dạ dày được tiến hành với nước ấm hoặc nước muối, với tổng thể tích khoảng 2L, hoặc cho tới khi nước rửa không còn chứa thuốc nữa [23, 44, 50]
Than hoạt
Than hoạt là một loại bột hấp phụ được chưng cất từ bột gỗ Do có diện tích
bề mặt lớn, than hoạt có khả năng hấp phụ hầu hết chất độc Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc dùng than hoạt đơn độc (không kèm với hạn chế hấp thu đường tiêu hóa) đem lại hiệu quả tương tự, thậm chí cao hơn so với gây nôn và rửa dạ dày
Liều than hoạt thường dùng là 60-100g (1g/kg), uống hoặc dùng qua ống xông dạ dày Nếu biết rõ liều chất độc đã uống thì dùng lượng than hoạt gấp 10 lần
để tránh việc giải hấp phụ ở đoạn dưới ống tiêu hóa Có thể nhắc lại 1-2 liều than hoạt với khoảng cách 1-2 giờ để đảm bảo thải độc hoàn toàn Trong một số ít trường
Trang 18hợp, có thể dùng nhắc lại 8-10 liều than hoạt trong vòng vài giờ để đạt được tỉ lệ 10:1 so với chất độc [26, 50]
c Tăng thải trừ chất độc
Mặc dù đạt được mục tiêu là loại bỏ chất độc nhanh chóng, các biện pháp tăng thải trừ chất độc lại ít được áp dụng, và nhiều khi không an toàn [50]
Một số biện pháp tăng thải trừ chất độc:
Các biện pháp can thiệp đường tiết niệu
Các biện pháp này thường được áp dụng nếu chất độc được thải trừ đáng kể qua thận, gồm có bài niệu tích cực và kiềm hóa nước tiểu
Bài niệu tích cực làm tăng tốc độc lọc cầu thận, và việc loại bỏ các ion thông qua thay đổi pH nước tiểu có thể làm tăng quá trình thải trừ các thuốc phân cực
Kiềm hóa nước tiểu thường được dùng cho quá liều salicylat, nhưng bài niệu tích cực lại ít được áp dụng trong những trường hợp này do nguy cơ ứ nước [50]
Thẩm tách máu
Máu được lấy ra từ một tĩnh mạch lớn (thường là tĩnh mạch đùi) với 1 ống thông 2 lòng, và được bơm qua hệ thống thận nhân tạo Bệnh nhân phải được dùng thuốc chống đông để ngăn ngừa xuất hiện cục máu đông trong ống Các chất độc được chảy qua 1 màng bán thấm, nhờ đó, các bất thường về nước và điện giải sẽ được xử lý đồng thời
Việc thải trừ thuốc phụ thuộc vào tốc độ dòng chảy Tốc độ dòng chảy có thể đạt tới 300-500 mL/phút, và tốc độ thanh thải có thể đạt 200-300 mL/phút [50]
Lọc máu
Lọc máu liên tục động-tĩnh mạch (CAVHD) hoặc tĩnh mạch-tĩnh mạch (CVVHD) là biện pháp thay thế cho thẩm tách máu khi mục tiêu tăng thải độc không quá khẩn cấp [50]
Than hoạt đa liều
Các liều nhắc lại của than hoạt (20-50 g hoặc 0,5-1 g/kg cách nhau 2-4 giờ) được uống hoặc đưa vào ống tiêu hóa Biện pháp này đơn giản, không xâm lấn, đã được xác nhận làm giảm thời gian bán thải của phenobarbital, theophylin và một số
Trang 19thuốc khác Lưu ý rằng biện pháp này có thể làm rối loạn nước và điện giải [26, 50, 57]
d Thuốc giải độc đặc hiệu
Một số chất độc có thuốc giải độc đặc hiệu và chỉ được dùng sau khi đã chẩn đoán xác định chất độc Thuốc giải độc đặc hiệu có khả năng bảo vệ tính mạng bệnh nhân, nhưng tác dụng không mong muốn lại khá nghiêm trọng nếu sử dụng không đúng [26, 49]
Một số thuốc giải độc đặc hiệu [21, 26]:
Acetaminophen (Paracetamol) N-acetylcystein
1.2.1 Vị trí của ngộ độc thuốc trong ngộ độc
Hiện nay, thuốc là một trong những tác nhân hàng đầu gây ngộ độc
Tại Thụy Điển, năm 2011, thuốc xếp thứ nhất trong số các tác nhân gây ngộ độc ở trẻ vị thành niên và người lớn, xếp thứ 2 ở trẻ em [61] Theo 1 nghiên cứu ở Malaysia trong giai đoạn 2000-2002, thuốc cũng là tác nhân gây ngộ độc phổ biến nhất [29] Còn ở Việt Nam, số liệu năm 2003 cho thấy thuốc xếp thứ 2 trong số các tác nhân gây ngộ độc, chỉ đứng sau ngộ độc thực phẩm [38]
Theo 1 nghiên cứu tại Mỹ, ngộ độc thuốc là nguyên nhân của 9/10 ca tử vong do ngộ độc nói chung trong năm 2008 [70]
1.2.2 Các nguyên nhân ngộ độc thuốc
Các nguyên nhân gây ngộ độc thuốc gồm tai nạn, quá liều, lạm dụng, cố ý làm hại bản thân (bao gồm cố ý tự tử), trong đó phổ biến nhất là cố ý làm hại bản thân Phản ứng có hại của thuốc và tương tác thuốc cũng là nguyên nhân gây ngộ độc thuốc nhưng ít gặp hơn [46, 64]
Trang 201.2.3 Phòng tránh ngộ độc thuốc
a Phòng tránh sơ cấp
Phòng tránh sơ cấp tình trạng ngộ độc thuốc bao gồm các chính sách pháp luật về tính an toàn của thuốc, việc sản xuất ra các thuốc an toàn hơn, việc nâng cao hiểu biết cho cộng đồng, và việc phòng ngừa tự tử
Nếu thực hiện tốt các biện pháp phòng tránh sơ cấp, việc phòng tránh ngộ độc thuốc sẽ có kết quả khả quan Hiện nay, tình trạng ngộ độc ở trẻ em đã giảm, có thể là do vai trò ngày càng nâng cao của những thông tin cung cấp bởi các Trung tâm Chống độc, và tiến bộ trong việc sản xuất ra các bao bì dược phẩm ngăn ngừa trẻ em tự ý dùng thuốc Bên cạnh đó, sự ra đời các loại thuốc ngủ mới an toàn hơn
đã làm giảm tỉ lệ tử vong do quá liều barbiturat Gần đây, ở Mỹ cũng đã có nhiều cuộc thảo luận về việc hạn chế mức liều không kê đơn và các chế phẩm thuốc generic của paracetamol, tác nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện do tự tử Để việc phòng ngừa tự tử có hiệu quả hơn nữa, cần phát hiện được các bệnh nhân có nguy
cơ cao và kịp thời cung cấp các biện pháp chăm sóc tâm lý thích hợp [46]
b Phòng tránh thứ cấp
Những nghiên cứu về phòng tránh thứ cấp tình trạng ngộ độc thuốc đã đề cập tới việc phòng ngừa tự tử và tái diễn tình trạng tự làm hại bản thân Mặc dù đã có một số cách tiếp cận về mặt tâm lý, nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá được kết quả lâu dài hay kiểm soát được việc ngăn ngừa tình trạng mắc bệnh và tử vong không phải do tự tử ở những bệnh nhân đã từng nhập viện vì ngộ độc thuốc [46]
1.3 Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Tình hình ngộ độc thuốc trên thế giới
Ngộ độc cấp đang là vấn đề về sức khỏe đáng lưu ý trên toàn cầu, trong đó thuốc là tác nhân gây ngộ độc nổi trội [29, 68]
Số lượng bệnh nhân tử vong vì ngộ độc thuốc ở các quốc gia nhìn chung khá cao Số lượng này ở Mỹ năm 2008 là 36500 người Ở Thái Lan từ 2001-2004 có
820 người tử vong do ngộ độc thuốc [17, 34, 66, 70]
Trang 21Về phân bố tình hình ngộ độc theo giới tính, tỉ lệ ngộ độc nói chung ở phụ nữ thường cao hơn ở nam [17, 19, 32]
Nguyên nhân phổ biến nhất của ngộ độc thuốc là do tự tử [37, 56, 62]
Về các tác nhân gây ngộ độc thuốc, các nhóm thuốc thường gây ngộ độc gồm có: giảm đau, an thần, chống trầm cảm, thuốc tim mạch, kháng histamin Trong đó thuốc nổi bật nhất là paracetamol [17, 20, 32, 52, 62, 68]
1.3.2 Tình hình ngộ độc thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về tình hình ngộ độc Trong số các tác nhân gây ngộ độc thì thuốc luôn là một trong những tác nhân hàng đầu Cụ thể, theo nghiên cứu của Đặng Thị Xuân và Nguyễn Thị Dụ, trong giai đoạn 2001-2003, các thuốc an thần, gây ngủ là tác nhân ngộ độc đứng hàng thứ 2 (13,9%), chỉ sau ngộ độc thực phẩm [11] Theo nghiên cứu của Hà Trần Hưng, trong giai đoạn 1999-
2003, thuốc chuyển từ tác nhân đứng đầu sang đứng hàng thứ 2 trong số tất cả các tác nhân gây ngộ độc [38]
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu được công bố về tình hình ngộ độc thuốc Gần đây nhất có nghiên cứu của Ngô Hữu Hà, khảo sát tình hình ngộ độc cấp các thuốc thường gặp trong 2 năm 2002 và 2003 Kết quả của nghiên cứu chỉ ra số bệnh nhân ngộ độc thuốc trong 2 năm này lần lượt là 680 và 390 người Dạng thuốc chủ yếu gây ngộ độc là dạng viên Nghiên cứu này cũng đưa ra nhóm thuốc gây ngộ độc nhiều nhất là an thần, gây ngủ (76,3%) Về kết quả điều trị, hầu hết bệnh nhân đều khỏi (96,8%) [7]
Theo báo cáo “Tổng quan tình hình ngộ độc tại Bệnh viện Chợ Rẫy” của Phạm Thị Ngọc Thảo tại Hội nghị chống độc quốc tế 2013: trong năm 2012, có 348 bệnh nhân ngộ độc thuốc tân dược, thuốc kháng lao và một số thuốc khác, trong đó
9 người tử vong; có 77 bệnh nhân ngộ độc thuốc an thần, thuốc ngủ, trong đó 3 người tử vong; có 39 người ngộ độc thuốc giảm đau hạ sốt, trong đó không có trường hợp nào tử vong Những con số này nhìn chung có giảm so với năm 2011, nhưng vẫn còn ở mức cao, và chiếm tỉ lệ khá lớn trong tổng số các ca ngộ độc nói chung [10]
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ bệnh án của bệnh nhân nhập viện tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai năm 2013, được lưu trữ tại Tổ lưu trữ hồ sơ
Tiêu chuẩn lựa chọn: các bệnh án được bác sĩ TTCĐ chẩn đoán là ngộ độc thuốc, và được Giám đốc TTCĐ ký xác nhận trước khi trả về Tổ lưu trữ hồ sơ
Tiêu chuẩn loại trừ: tình trạng ngộ độc của bệnh nhân đồng thời có liên quan đến tác nhân khác không phải thuốc (hóa chất, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt chuột)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hồi cứu dữ liệu từ các bệnh án của bệnh nhân ngộ độc thuốc tại TTCĐ trong năm 2013
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu dữ liệu từ bệnh án theo phiếu thu thập thông tin bệnh án (Phụ lục 1)
Bước 1: Lấy bệnh án của TTCĐ năm 2013 từ Tổ lưu trữ hồ sơ, Bệnh viện Bạch Mai; lựa chọn các bệnh án có chẩn đoán ngộ độc thuốc
Bước 2: Thu thập dữ liệu vào phiếu thu thập thông tin bệnh án
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 11
Bước 1: Nhập dữ liệu vào phần mềm STATA Các biến không thu thập được thông tin sẽ được gán giá trị missing
Bước 2: Làm sạch số liệu, nếu có bất thường thì đối chiếu với phiếu thu thập thông tin bệnh án và rà soát lại bệnh án gốc để chỉnh sửa lại
Bước 3: Xử lý số liệu theo các mục tiêu và chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 232.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc
a Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Tổng số bệnh nhân nhập viện vì ngộ độc thuốc trong năm 2013
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo lứa tuổi
Nhóm tuổi của bệnh nhân đƣợc phân loại dựa theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) [75] và Ủy ban tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Committee on Hamonization) [40] (Phụ lục 2)
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo giới tính
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo các vùng cƣ trú
Phân loại vùng cƣ trú:
+ Thành phố: các thành phố trực thuộc trung ƣơng, các thành phố, thị
xã trực thuộc tỉnh
+ Nông thôn: các vùng còn lại
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc theo nghề nghiệp
Phân loại nghề nghiệp:
+ Học sinh – sinh viên + Nghề tự do
+ Kinh doanh + Nông dân
+ Nội trợ + Nhân viên dịch vụ + Cán bộ
+ Khác
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc thuốc có tình trạng đặc biệt
Tình trạng đặc biệt đƣợc xem xét ở đây gồm:
+ Bệnh tâm thần + Bệnh mạn tính
+ Phụ nữ có thai + Phụ nữ cho con bú
+ Nghiện rƣợu + Nghiện ma túy
b Nguyên nhân ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các nguyên nhân ngộ độc thuốc
Phân loại các nguyên nhân ngộ độc thuốc:
Không cố ý: bệnh nhân không biết rằng việc dùng thuốc gây ra nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng
Trang 24o Lỗi điều trị: bệnh nhân ngộ độc do lỗi xảy ra trong quá trình điều trị
o Dùng sai: bệnh nhân vô tình dùng sai thuốc (sai loại thuốc, liều dùng, đường dùng,…)
o Tai nạn: bệnh nhân ngộ độc thuốc do nguyên nhân khách quan
Cố ý: bệnh nhân biết rõ việc dùng thuốc là không đúng và có thể gây hại cho sức khỏe và tính mạng, nhưng vẫn cố ý dùng
o Tự tử: bệnh nhân dùng thuốc với mục đích tự tử
o Lạm dụng: bệnh nhân cố ý dùng thuốc với liều cao hơn chỉ định
o Không rõ: các trường hợp bệnh nhân cố ý dùng thuốc nhưng không rõ
lý do
Khác: các nguyên nhân khác dẫn đến ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các nguyên nhân ngộ độc thuốc phân bố theo giới tính và lứa tuổi
c Tác nhân gây ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các đường dùng thuốc khác nhau trong các ca ngộ độc
Phân loại các đường dùng thuốc:
Số lượng thuốc bệnh nhân đã dùng trong các ca ngộ độc
Xác định các nhóm thuốc và các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất, tỉ lệ của các
nhóm thuốc và các thuốc
Phân loại nhóm thuốc dựa vào nhóm tác dụng dược lý theo Dược thư quốc gia Việt Nam và mã ATC theo phân loại của WHO [2, 83]
d Mức độ nặng của các ca ngộ độc thuốc
Tỉ lệ các mức độ nặng trên tổng số bệnh nhân ngộ độc thuốc
Mức độ nặng được đánh giá theo thang PSS [76] (Phụ lục 3)
e Xử trí ngộ độc thuốc
Tỉ lệ bệnh nhân không được xử trí ban đầu và được xử trí ban đầu tại các địa
điểm khác nhau
Phân loại các địa điểm xử trí ban đầu:
Trang 25+ Tại nhà + Y tế địa phương
+ 115 + Khác
Các biện pháp xử trí ban đầu và tỉ lệ bệnh nhân được xử trí theo từng biện
f Kết quả điều trị ngộ độc thuốc
Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Kết quả điều trị của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Phân loại kết quả theo kết luận ra viện ghi trong bệnh án:
+ Khỏi + Đỡ + Không đỡ + Nặng hơn + Tử vong
2.3.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan
Xác định 3 thuốc gây ngộ độc nhiều nhất
Với mỗi thuốc, xác định các chỉ tiêu tiếp theo:
Tổng số bệnh nhân ngộ độc
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc theo lứa tuổi
Tỉ lệ các nguyên nhân ngộ độc
Danh sách và tỉ lệ các biệt dược của thuốc
Tỉ lệ bệnh nhân biết hoặc không biết liều đã dùng
Tỉ lệ các nguồn thông tin và tỉ lệ có bằng chứng hoặc không có bằng chứng
(nếu biết liều đã dùng)
Phân loại nguồn thông tin:
Tỉ lệ bệnh nhân ngộ độc theo các mức liều (nếu biết liều đã dùng)
Trang 26 Tỉ lệ bệnh nhân cho xét nghiệm định tính dương tính với thuốc gây ngộ độc,
Trang 27CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung về ngộ độc thuốc
3.1.1 Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Nghiên cứu của chúng tôi đã xác định được tổng số bệnh nhân ngộ độc thuốc trong năm 2013 là 425 Các đặc điểm dịch tễ được trình bày trong bảng 3.1
Bảng 3.1.Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân ngộ độc thuốc
Trang 28Có sự chênh lệch về số lượng bệnh nhân ở các nhóm tuổi khác nhau, trong
đó hầu hết là những nguời ở độ tuổi 19-39 tuổi (72,0%), có duy nhất 1 bệnh nhân là trẻ em 0-11 tuổi (0,2%) Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất trong nghiên cứu là 2 tuổi, và cao tuổi nhất là 87 tuổi
Số lượng bệnh nhân cũng phân bố không đều ở 2 giới nam và nữ, với tỉ lệ bệnh nhân nữ cao gấp 2,5 lần bệnh nhân nam (lần lượt là 71,1% và 28,9%)
Về nơi cư trú của bệnh nhân ngộ độc thuốc, đa số sống ở thành phố (83,5%), chỉ có một phần nhỏ (16,5%) ở nông thôn
Trong tổng số 425 bệnh nhân trong nghiên cứu này, chỉ có duy nhất 1 bệnh nhân được BHYT chi trả trong quá trình điều trị (0,2%)
Khi tiến hành khảo sát nghề nghiệp của các bệnh nhân, nghiên cứu nhận thấy học sinh – sinh viên là nhóm đối tuợng chiếm tỉ lệ cao nhất (23,1%), sau đó là những người làm nghề tự do (19,1%); cán bộ là nhóm nghề chiếm tỉ lệ thấp nhất (4,3%)
Bên cạnh các thông số kể trên, nghiên cứu còn xem xét tình trạng đặc biệt của bệnh nhân, bao gồm một số tình trạng bệnh lý bất thường, tình trạng sinh lý bất thường, hoặc tiền sử dùng các chất gây nghiện Kết quả là 27,3% số bệnh nhân ngộ độc thuốc có tình trạng đặc biệt, trong đó nhiều nhất là trường hợp bệnh nhân đang
có bệnh lý rối loạn tâm thần (10,4%) Đặc biệt có 13 bệnh nhân là phụ nữ có thai và
2 bệnh nhân là phụ nữ cho con bú, chiếm tỉ lệ lần lượt là 3,1% và 0,5%
3.1.2 Nguyên nhân ngộ độc thuốc
a Nguyên nhân ngộ độc thuốc trên toàn nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Để hiểu sâu về tình hình ngộ độc thuốc, sau khi khảo sát các đặc điểm dịch
tễ, nghiên cứu tiến hành điều tra các nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thuốc của tất cả
425 bệnh nhân Kết quả được trình bày trong bảng 3.2
Ngộ độc thuốc chủ yếu do bệnh nhân cố ý (89,4%), những trường hợp không
cố ý và nguyên nhân khác chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ Cụ thể, cố ý tự tử chiếm tới 84,9%,
cố ý lạm dụng và không cố ý dùng sai chiếm tỉ lệ ít hơn, số trường hợp tai nạn không cố ý hoặc cố ý dùng thuốc nhưng không rõ mục đích là rất ít
Trang 2914,3%
57,1%
d) 60 tuổi (n=14)
Lỗi điều trị Dùng saiTai nạn
Tự tử Lạm dụng Không rõKhác
Bảng 3.2 Các nguyên nhân ngộ độc thuốc
b Nguyên nhân ngộ độc thuốc theo nhóm tuổi
Từ kết quả chung về nguyên nhân ngộ độc thuốc, nghiên cứu tiến hành phân tích sự phân bố các nguyên nhân này theo nhóm tuổi (hình 3.1)
Hình 3.1 Phân bố các nguyên nhân ngộ độc theo nhóm tuổi
Các nhóm tuổi khác nhau có sự khác nhau trong phân bố các nguyên nhân ngộ độc Nhóm 0-6 tuổi chỉ có duy nhất 1 bệnh nhân, nguyên nhân là tai nạn do bố
mẹ không cẩn thận để trẻ tự ý uống thuốc Các nhóm tuổi khác đều có nguyên nhân
Trang 30hàng đầu là tự tử, tuy nhiên tỉ lệ tự tử có xu hướng giảm dần theo độ tuổi, cụ thể là giảm từ 92,2% ở nhóm 12-18 tuổi xuống còn 57,1% ở nhóm 60 tuổi
c Nguyên nhân tự tử theo giới tính và nhóm tuổi
Như đã thấy ở trên, tự tử là nguyên nhân hàng đầu của ngộ độc thuốc Bởi vậy, chúng tôi tiếp tục đi sâu phân tích các nguyên nhân tự tử của bệnh nhân theo giới tính và nhóm tuổi
Hình 3.2 trình bày kết quả phân bố các nguyên nhân tự tử theo giới tính
Hình 3.2 Phân bố các nguyên nhân tự tử theo giới tính
Không kể đến các truờng hợp tự tử không rõ nguyên nhân, thì mâu thuẫn gia đình là nguyên nhân hàng đầu và chủ yếu dẫn đến tự tử ở cả 2 giới Nguyên nhân tự
tử xếp hạng thứ 2 ở nữ là mâu thuẫn tình yêu, thứ 3 là do buồn chán, căng thẳng; điều này trái ngược với xu hướng ở nam là tỉ lệ tự tử vì buồn chán, căng thẳng cao hơn vì mâu thuẫn tình yêu
3.1.3 Tác nhân gây ngộ độc thuốc
Sau khi đã biết được nguyên nhân gây ngộ độc, tiếp theo chúng tôi khảo sát các tác nhân gây ngộ độc 100,0% thuốc gây ngộ độc đều được dùng theo đường uống Kết quả về số thuốc đã uống, các thuốc và các nhóm thuốc được trình bày trong các bảng 3.3 và 3.4
Trang 31Bảng 3.3 Số thuốc đã uống trong các ca ngộ độc thuốc
Số lƣợng thuốc mỗi bệnh nhân uống biến thiên từ 1 đến 7 (bảng 3.4), trong
đó hầu hết chỉ uống 1 thuốc (81,8%), duy nhất 1 bệnh nhân uống 7 thuốc (0,2%)
Bảng 3.4 Các thuốc và nhóm thuốc liên quan đến các ca ngộ độc
STT Tên nhóm thuốc Tên thuốc Số bệnh nhân liên quan
Trang 327 Kháng histamin H1 Cinarizin 3 (0,7)
8 Chẹn kênh canxi Nifedipin, Amlodipin, Flunarizin 5 (1,2)
9 Enzym thủy phân
1 Tính trên tổng số 425 bệnh nhân
2 Các thuốc có liên quan tới ≤2 bệnh nhân
3 Các nhóm chỉ có liên quan tới 1 bệnh nhân
Trong số các thuốc liên quan đến ngộ độc, các thuốc thuộc nhóm an thần, gây ngủ có tỉ lệ gặp cao nhất, tiếp theo là các thuốc giảm đau, hạ sốt, sau đó là nhóm chống loạn thần và nhóm kháng sinh (bảng 3.4) Cụ thể, rotundin là tác nhân hàng đầu, chiếm tới 31,3% số ca ngộ độc, tiếp đó là paracetamol với 23,1% ca liên quan, đứng thứ 3 là phenobarbital với tỉ lệ 13,6%; tỉ lệ gặp của 3 thuốc này cao hơn hẳn các thuốc khác
Trang 33Hình vẽ cho thấy gần 1/2 số ca ngộ độc ở mức độ nhẹ, 1/4 số ca ngộ độc ở mức độ không, nghĩa là chưa biểu hiện triệu chứng ngộ độc.Tuy nhiên, tỉ lệ mức độ nặng và trung bình vẫn khá cao (lần luợt là 13,9% và 14,8%)
3.1.5 Xử trí ngộ độc thuốc
Để có cái nhìn tổng quát về xử trí ngộ độc thuốc, nghiên cứu tiến hành khảo sát một số đặc điểm như nơi xử trí ban đầu, biện pháp xử trí ban đầu và tại TTCĐ
a Xử trí ban đầu
Các đặc điểm về xử trí ban đầu được trình bày trong bảng 3.5 và bảng 3.6
Bảng 3.5 Nơi xử trí ban đầu
1 Tính trên 141 bệnh nhân được xử trí ban đầu
Đa số bệnh nhân (66,8%) không đuợc xử trí ban đầu mà đưa thẳng vào TTCĐ Phần lớn các ca được xử trí ban đầu là tiến hành ở bệnh viện tuyến trước Hai biện pháp áp dụng nhiều nhất khi xử trí ban đầu là hạn chế hấp thu và ổn định chức năng sống (lần lượt là 63,1% và 52,5%)
b Xử trí tại TTCĐ
Các biện pháp xử trí tại TTCĐ được trình bày trong bảng 3.7 Có 1 bệnh nhân không được xử trí sau khi đưa vào trung tâm, do gia đình không đồng ý cho
Trang 34điều trị Nhóm biện pháp dùng nhiều nhất là các biện pháp tăng thải độc (97,4%), trong đó phổ biến nhất là biện pháp bài niệu tích cực Tiếp theo là các biện pháp hạn chế hấp thu đƣợc tiến hành trên 282 bệnh nhân, trong đó phổ biến nhất là uống than hoạt Có 20,5% số bệnh nhân đƣợc dùng thuốc giải độc đặc hiệu
Bảng 3.7 Các biện pháp xử trí tại TTCĐ Biện pháp xử trí tại TTCĐ Số bệnh nhân (% 1
ca trung bình và nặng (lần lƣợt là 47,6% và 30,5%)
Trang 35Bảng 3.8 Phân bố các biện pháp xử trí tại TTCĐ theo mức độ nặng Biện pháp
Mức độ nặng (n (%)) 1
Không (n=106)
Nhẹ (n=197)
Trung bình (n=63)
Nặng (n=59)
(73,6)
148 (75,1)
33 (52,4)
23 (39,0)
(97,2)
193 (98,0)
60 (95,2)
58 (98,3) Thuốc giải độc đặc hiệu 11
(10,4)
28 (14,2)
30 (47,6)
18 (30,5) Điều trị triệu chứng,
hồi sức toàn diện
31 (29,2)
73 (37,1)
37 58,7)
53 (89,8)
(0,0)
1 (0,5)
0 (0,0)
0 (0,0)
1 Tính trên tổng số bệnh nhân ngộ độc ở từng mức độ nặng
2 Gia đình không đồng ý cho điều trị
3.1.6 Kết quả điều trị ngộ độc thuốc
Nghiên cứu còn khảo sát 1 đặc điểm nữa của tình hình ngộ độc thuốc nói chung, đó là kết quả điều trị của các bệnh nhân ngộ độc thuốc (bảng 3.9)
Bảng 3.9 Kết quả điều trị của các bệnh nhân ngộ độc thuốc
Thời gian nằm viện: trung vị 1,0 ngày (khoảng dao động 1,0-22,0)
Trang 363.2 Các thuốc gây ngộ độc nhiều nhất và các đặc điểm liên quan
Mục tiêu 2 của nghiên cứu này là phân tích các đặc điểm liên quan đến những thuốc gây ngộ độc nhiều nhất Theo bảng 3.4, 3 thuốc có tỉ lệ gặp cao nhất là: rotundin (31,3%), paracetamol (23,1%) và phenobarbital (13,6%) Đối với mỗi thuốc, chúng tôi tiến hành phân tích đặc điểm dịch tễ, nguyên nhân ngộ độc, các thông tin về biệt dƣợc, liều, kết quả,định tính định lƣợng thuốc trong máu, xử trí tại TTCĐ, độ nặng và kết quả điều trị
3.2.1 Đặc điểm dịch tễ và nguyên nhân ngộ độc
Từ 60 tuổi trở lên
Trang 37b Nguyên nhân ngộ độc
Các nguyên nhân ngộ độc của từng thuốc được trình bày trong hình 3.5
Hình 3.5 Nguyên nhân ngộ độc rotundin, paracetamol và phenobarbital
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngộ độc 3 thuốc này đều là cố ý tự tử (lần lượt
là 92,5%, 78,6% và 91,4%) Ngoài ra, với ngộ độc rotundin, có một số ít là cố ý lạm dụng (6,0%); với ngộ độc paracetamol, các trường hợp dùng sai chiếm 6,1%
3.2.2 Các biệt dược và thông tin về liều
Rotundin
Các biệt dược và thông tin về liều trong ngộ độc rotundin được trình bày trong bảng 3.10 Trong phần lớn các ca ngộ độc liên quan tới rotundin, bệnh nhân đều dùng biệt dược Rotunda (45,1%) và Mimosa (13,5%), các biệt dược khác rất hiếm gặp Có tới 31,6% bệnh nhân không rõ dùng chế phẩm nào nhưng khi làm xét nghiệm độc chất thì cho kết quả dương tính với rotundin
Về liều rotundin đã dùng, có 95 trường hợp (71,4%) cung cấp được thông tin về liều, còn gần 1/3 số bệnh nhân không biết đã đùng liều bao nhiêu Trong số
95 bệnh nhân biết liều, thì đa số thông tin đó là do bệnh nhân cung cấp, chỉ có
Trang 3825,3% do người nhà cung cấp Cũng trong số 98 bệnh nhân này, chỉ một số ít (11,6%) có bằng chứng về liều thuốc đã dùng (bệnh nhân hoặc người nhà mang theo vỏ hộp, vỏ vỉ thuốc rỗng)
Bảng 3.10 Biệt dược và thông tin về liều rotundin trong các ca ngộ độc a) Biệt dược b) Thông tin về liều
liên quan tới ≤2 bệnh nhân
Thông tin về liều Số bệnh nhân (%)
Biết liều
Nguồn thông tin
Bệnh nhân
71 (74,7)1 95
(100,0)1
95 (71,4)2
Người Nhà
24 (25,3)1
Bằng chứng
(11,6)1 95
(100,0)1 Không 84
(88,4)1
Không biết liều 38 (28,6)2
Tổng số 133 (100,0)
1 Tính trên tổng số bệnh nhân biết liều
2 Tính trên tổng số bệnh nhân ngộ độc rotundin Với những trường hợp biết liều, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin về liều rotundin bệnh nhân đã uống Kết quả được trình bày trong bảng 3.11 và hình 3.6
Bảng 3.11 Liều đã uống trong các ca ngộ độc rotundin
Trang 39Hình 3.6 Liều đã uống trong các ca ngộ độc rotundin
Liều đã uống của bệnh nhân ngộ độc rotundin có trung vị là 0,9g, với khoảng dao động 0,15-15 Tất cả 95 bệnh nhân đều uống với liều cao hơn liều điều trị tối đa (0,09g) [4] Phần lớn các bệnh nhân này đã uống mức liều trong khoảng 1-10 lần liều điều trị tối đa (44,2%) Có tới 11,6% trong số họ uống mức liều cao gấp 40 lần liều điều trị tối đa trở lên (≥3,6g)
Về các thông tin liên quan đến liều đã uống (bảng 3.12.b), 75,5% số bệnh nhân ngộ độc paracetamol có thông tin về liều Trong số đó, 56,8% là bệnh nhân cung cấp thông tin, còn lại do người nhà cung cấp Số trường hợp mang theo bằng chứng rất ít, chỉ có duy nhất 1 người, chiếm 1,4% trong số những người biết liều
Trang 40Bảng 3.12 Biệt dược và thông tin về liều paracetamol trong các ca ngộ độc a) Biệt dược b) Thông tin về liều
Biệt dược
Số lượt bệnh nhân(%) 1
quan tới ≤2 bệnh nhân
Thông tin về liều Số bệnh nhân (%)
Biết liều
Nguồn thông tin
Bệnh nhân
42(57,5)1 73
(100,0)1
73 (74,5)2
Người nhà
31 (42,5)1
Bằng chứng
(1,4)1 73
(100,0)1 Không 72
(98,6)1
Không biết liều 25 (25,5)2
Tổng số 98 (100,0)
1 Tính trên tổng số bệnh nhân biết liều
2 Tính trên tổng số bệnh nhân ngộ độc paracetamol
Đối với những trường hợp biết liều, chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát liều
đã dùng Kết quả được trình bày trong hình 3.7
Liều gây độc của paracetamol là 150mg/kg [22] Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là chúng tôi không có đầy đủ số liệu cân nặng bệnh nhân Bởi vậy, chúng tôi tạm giả sử cân nặng trung bình của bệnh nhân là 50kg, khi đó liều gây độc
là 7,5g (hình 3.7.a) Như vậy, có 60,3% bệnh nhân đã uống paracetamol trên mức liều gây độc Còn nếu giả sử cân nặng trung bình của bệnh nhân là 60kg, lúc này liều gây độc là 9g (hình 3.7.b) Như vậy, vẫn có tới 56,2% bệnh nhân ngộ độc paracetamol đã uống trên mức liều gây độc