vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện” Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tiếp cận lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính nói chung cũng như kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán nói riêng, mô tả thực tế kiểm toán của chu trình do Công ty AASC thực hiện, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Trang 1Qua thời gian thực tập tại Công ty em đã tìm hiểu, nghiên cứu lý luận và thựctiễn tại các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty AASC thực hiện Em nhậnthấy rằng chu trình kiểm toán mua hàng thanh toán là chu trình kiểm toán có ảnhhưởng trực tiếp đến các khoản mục trên Báo cáo tài chính và có ảnh hưởng lớn đến
cuộc kiểm toán nên em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm toán chu trình
mua hàng thanh toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện”
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tiếp cận lý luận về kiểm toán báo cáotài chính nói chung cũng như kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán nói riêng,
mô tả thực tế kiểm toán của chu trình do Công ty AASC thực hiện, từ đó đưa ra giảipháp nhằm hoàn thiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiện cứu chuyên đề là lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính, kiểmtoán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính và thực tiễnhoạt động kiểm toán chu trình tại Công ty AASC
Phạm vi nghiên cứu: Em nghiên cứu đề tài này trong phạm vi tìm hiểu và thựctiễn hoạt động kiểm tóan chu trình mua hàng thanh toán tại hai khách hàng ABC vàXYZ Trong đó khách hàng ABC là khách hàng thường niên của công ty và kháchhàng XYZ là khách hàng kiểm toán năm đầu tiên do AASC thực hiện
Trang 2Khóa luận của em gồm 3 phần:
Phần I: Những lý luận chung về vấn đề kiểm toán mua hàng thanh toán Phần II: Thực trạng công tác kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC).
Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán mua hàng thanh toán tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC).
Để có thể hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của
cô giáo Th.S Nguyễn Thị Hồng Thúy và các anh chị nhân viên phòng kiểm toán 1Công ty AASC Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo và các anh chị trongCông ty
Do hạn chế về thời gian cũng như trình độ, bản khóa luận tốt nghiệp của emkhông thể tránh khỏi thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được sự góp ý của các thầy côgiáo, các anh chị trong Công ty và các bạn để bản khóa luận tốt nghiệp này đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG THANH TOÁN
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Chu trình mua hàng thanh toán với vấn đề kiểm toán
1.1.1 Bản chất của chu trình mua hàng thanh toán
Có thể nhìn nhận một cách khái quát rằng quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp là quá trình luân chuyển vốn mà kết quả là doanh nghiệp luôn mongmuốn khoản thu được lớn hơn chi phí mình bỏ ra Trong quá trình luân chuyển đó,chu trình mua hàng thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng các yếu
tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Chúng trở thành những phầnhành cơ bản của kiểm toán tài chính và có mối liên quan mật thiết với nhau Đứngtrên góc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp, mua hàng cùng với tiền lương nhânviên được xem là chi phí, nguồn sử dụng vốn không thể thiếu trong hoạt động củamỗi doanh nghiệp Các hoạt động của các chu trình này là liên tục, tuần hoàn lặp đilặp lại tạo nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quy mô, tính chất củacác chi phí này phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng hoạt động kinh doanh
Chu trình mua hàng thanh toán được đề cập trong khóa luận này là chu trìnhnghiệp vụ kinh tế của các doanh nghiệp thực hiện quá trình mua hàng thanh toáncho hàng hóa và dịch vụ của nhà cung cấp Quá trình mua vào của hàng hóa dịch vụbao gồm những khoản mục như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vật tư, điệnnước,… Chu trình này không bao gồm quá trình mua hàng thanh toán các dịch vụlao động hoặc những sự chuyển nhượng và phân bổ chi phí bên trong tổ chức Nóbao gồm các quyết định, các quá trình cần thiết để có được hàng hóa dịch vụ choquá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó chuyển đổi quyền sở hữuhàng hóa từ nhà cung cấp sang doanh nghiệp, doanh nghiệp có được nguyên nhiênvật liệu hàng hóa để sản xuất, đổi lại doanh nghiệp phải mất 1 khoản vốn khi thanhtoán số tiền mua hàng
Trang 41.1.2 Chức năng của chu trình mua hàng thanh toán
Với mỗi doanh nghiệp, tùy vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình màthiết kế chu trình mua hàng thanh toán sao cho phù hợp Tuy nhiên, mọi sơ đồ hoạtđộng của chu trình đều nhằm mục đích kiểm soát hoạt động và đem lại hiệu quả caonhất cho mua hàng- thanh toán Hiệu quả của quá trình này mà doanh nghiệp hướngtới là thu mua được hàng hóa phù hợp yêu cầu sản xuất với giả cả hợp lý và đáp ứngthời gian sản xuất Với mục đích đó, thông thường chức năng của chu trình muahàng thanh toán được khái quát theo sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Chức năng của chu trình mua hàng thanh toán
Viết phiếu nhập khoPhản ánh lên sổ sách: sổ chi tiết vật tư, thẻ kho, sổ cái tài khoản HTK
Thanh toán ngay: Lập phiếu chi hoặc ủy nhiệm chi —
> duyệt chi —> ghi sổ liên quan
Chưa thanh toán : ghi nhận trên sổ chi tiết 331
Căn cứ vào hóa đơn, vận đơn, biên bản kiểm nhận để ghi nhận khoản nợ phải trả
Lập và xử
lý đơn đặt
hàng
Trang 51.1.2.1 Lập và xử lý đơn đặt hàng
Xác định nhu cầu mua hàng
Nhu cầu mua hàng được xây dựng từ từng bộ phận trong đó bộ phận sản xuất thường đóng vai trò quan trọng và bước công việc này nhằm hướng tới nhu cầu của
bộ phận này
Bộ phận sản xuất, nhu cầu về hàng hóa được xác định dựa trên :
- Kế hoạch sản xuất : với kế hoạch đặt ra thì nhu cầu về nguyên vật liệu, hànghóa, dịch vụ là bao nhiêu Nhu cầu này có thể được xác định bởi bộ phận kếhoạch đã được trình bày trong bản kế hoạch sản xuất, hoặc cũng có thể do bộphận sản xuất thực hiện tính ra chi phí liên quan dựa trên sản phẩm kế hoạch
mà bộ phận kế hoạch đã đặt ra
- Dự trữ : yêu cầu dự trữ của công ty quy định mức dự trữ tối thiểu trong kho
là bao nhiêu mà bộ phận kho đưa ra nhu cầu về dự trữ cho phù hợp
- Phục vụ sản xuất : Đây được xem là nhu cầu lớn nhất trong sản xuất, nó phảnảnh nhu cầu về hàng hóa dịch vụ cho thực tại sản xuất tại doanh nghiệp
- Tiêu thụ thực tế : Mục đích của sản xuất là phải tiêu thụ được sản phẩm mìnhlàm ra, do đó dựa trên mức tiêu thụ thực tế là cở sở chính xác nhất cho sảnxuất
Bộ phận khác : nhu cầu về hàng hóa dịch vụ, thiết bị,… được dựa trên nhu cầu sửdụng và hạn mức sử dụng đã được quy định trong các văn bản của công ty
Trang 6Xét duyệt của ban giám đốc: mọi đơn đặt hàng đều phải được sự phê duyệtcủa Ban giám đốc.
Xử lý đơn đặt hàng
Thu thập báo giá : đây là bước công việc lựa chọn nhà cung cấp đảm bảo cungcấp chất lượng hàng hóa dịch vụ phù hợp với chi phí thấp nhất Để đảm bảo hiệuquả và tránh câu kết gian lận trong bước này doanh nghiệp lựa chọn tối thiểu 3 báogiá của 3 nhà cung cấp khác nhau
Dự toán ngân sách: dựa trên nhu cầu của đơn đặt hàng cùng báo giá thu thậpđược , bộ phận tài chính, kế toán cần thực hiện cân đối tiền hiện đang có của doanhnghiệp, phân tích phương thức mua hàng hiệu quả nhất và nguồn mua hàng từ đâu.Kết thúc xử lý đơn đặt hàng doanh nghiệp đưa ra được hợp đồng mua bán vớinhà cung cấp đảm bảo các chỉ tiêu: giả cả hợp lý, chất lượng hàng phù hợp, phươngthức mua hàng và phương thức thanh toán là tối ưu, đảm bảo được nguồn ngân sáchphục vụ thanh toán, thời gian cung cấp hàng đáp ứng được sản xuất của doanhnghiệp Hợp đồng mua bán quy định rõ về số lượng, chủng loại, giá cả, thời giancung ứng và cần được ban giám đốc phê duyệt
1.1.2.2 Nhận hàng
Khi thực hiện giao nhận hàng, bộ phận nhận hàng cần lập “ biên bản kiểmnhận “ Đây là chứng từ then chốt trong bước giao nhận hàng, biên bản kiểm nhận
là bằng chứng cho sự nhận hàng và kiểm tra hàng của công ty Hầu hết các công ty
có phòng tiếp nhận hàng thực hiện công việc này Dựa vào biên bản kiểm nhận thựchiện lập phiếu nhập kho do phòng vật tư lập mẫu mã chủng loại và thủ kho ghi sốlượng nhập Phiếu nhập kho và biên bản kiểm nhận phải đầy đủ chữ ký của người
có trách nhiệm Đảm bảo nguyên tắc phân công phân nhiệm, nhân viên trong phòngtiếp nhận phải độc lập với thủ kho và nhân viên kế toán
1.1.2.3 Ghi nhận các khoản phải trả
Căn cứ vào các chứng từ : hóa đơn, vận đơn, phiếu nhập kho, kế toán muahàng ghi nhận các khoản nợ phải trả theo nguyên tắc : ghi đúng, ghi đủ, phản ánh
Trang 7đúng bản chất nghiệp vụ Để đảm bảo các nguyên tắc này, kế toán phải đối chiếu sốliệu giữa các chứng từ, thực hiện các phép tính để kiểm tra sự chính xác trong ghichép sổ sách
1.1.2.4 Thực hiện thanh toán
Thanh toán ngay: dựa trên hóa đơn, vận đơn, biên bản kiểm nhận hoặc điều
khoản thanh toán trong hợp đồng, kế toán lập phiếu chi nếu thanh toán bằng tiềnmặt, hoặc lập ủy nhiệm chi nếu thanh toán chuyển khoản Phiếu chi và ủy nhiệm chiphải được phê duyệt của giám đốc Sau khi thanh toán, kế toán phản ánh chính xác
và đầy đủ trên sổ kế toán liên quan
Chưa thanh toán: kế toán thực hiện bút toán phản ánh nghĩa vụ phải trả trên sổ
chi tiết và sổ cái tài khoản 331 Khi thực hiện thanh toán, thực hiện các bước tương
Đơn đặt hàng : được lập sau khi đã tổng hợp , cân đối nhu cầu mua Trong
đơn đặt hàng phản ánh đầy đủ chi tiết yêu cầu với nhà cung cấp về mặt hàng hoặcloại hình dịch vụ doanh nghiệp đang cần đồng thời cũng là cơ sở để nhà cung cấpchuẩn bị đáp ứng hàng hóa dịch vụ cho khách hàng
Hợp đồng mua hàng: Sau khi thỏa thuận về các điều khoản cung ứng doanh
nghiệp và nhà cung cấp cần ký hợp đồng kinh tế về cung cấp hàng hóa dịch vụ Đâychính là cở sở pháp lý phản ánh quyền và nghĩa vụ các bên liên quan có trong hợpđồng
Chứng từ nhận hàng: bao gồm
Hóa đơn bán hàng, vận đơn : là cơ sở để kế toán hạch toán chi phí thu mua hànghóa, dịch vụ
Trang 8Biên bản kiểm nhận hàng hóa : là chứng từ quan trọng khẳng định hàng hóa, dịch
vụ mà doanh nghiệp đã nhận của nhà cung cấp, là cơ sở để viết phiếu nhập kho
Nhật ký mua hàng : ghi chép đầu tiên trong hạch toán chi phí mua hàng Nhật
ký mua hàng liệt kê danh sách các hóa đơn cùng với tên nhà cung cấp, ngày của hóađơn và khoản tiền của hóa đơn đó
Sổ cái phải trả nhà cung cấp: liệt kê các khoản phải trả đối với mỗi nhà cung
cấp, phản ánh cả dư nợ và dư có của mỗi nhà cung cấp Tổng dư có và tổng dư nợtrên sổ cái bằng số liệu tương ứng trên sổ tổng hợp tài khoản 331
Sơ đồ 1.2 : Quy trình tổ chức chứng từ đối với nghiệp vụ mua hàng (1)
Sơ đồ 1 3 : Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán (2)
(1),(2) : Giáo trình kiểm toán tài chính, Đại học KTQD, 2006
Kế toán quỹ
Nhận tiền
và thanh toán
Chi quỹ
Duyệt chứng từ
Lập chứng
từ quỹ
Kế toán trưởng
Thủ quỹ
Nhân viên thanh toán
Ghi sổ
Kế toán
Bộ
phận kế
hoạch
Lập chứng
từ kho
Cán bộ thu mua
Đơn đặt hàng
Bộ phận cung ứng
Ký duyệt Nhập kho và
ghi thẻ kho
Thủ kho
Ghi sổ
và hạch toán
Kế toán
Trang 91.1.3.2 Quy trình hạch toán
Chu trình mua hàng thanh toán được bắt đầu từ xác định nhu cầu mua đến thực hiệnthanh toán với nhà cung cấp
Tài khoản liên quan
Tài khoản liên quan đến mua hàng : TK HTK: TK 156, TK 152, TK 153, TK 151
TK Tài sản : TK 211, TK 213…
TK chi phí : TK 627, TK 642, TK 641Tài khoản liên quan đến thanh toán: TK 331: phải trả nhà cung cấp
Trang 101.2 Kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Mục tiêu kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Mục đích của kiểm toán bảng khai tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về độtin cậy của thông tin và tính tuân thủ nguyên tắc Chu trình mua hàng thanh toánliên quan đến nhiều tài khoản và khoản mục thuộc bảng khai tài chính, do đó mụcđích kiểm toán của chu trình cũng không nằm ngoài mục đích chung là đánh giá,xác minh về các số liệu bị ảnh hưởng bởi chu trình có được trình bày trung thực phùhợp nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận hay không Từ mục đích chung củakiểm toán có thể phát triển thành các mục tiêu đặc thù:
Tính hiệu lực: Nghiệp vụ mua hàng là có thật, quy trình mua đã xảy ra, thể
hiện ở biên bản kiểm nhận
Tính trọn vẹn : các nghiệp vụ mua hàng đã được phản ánh đày đủ trên sổ sách
và có căn cứ hợp lý cho những ghi chép như hóa đơn, chứng từ
Tính giá : hàng mua và dịch vụ mua vào phải được ghi đúng theo chuẩn mực
tính giá nhập kho và ghi nhận các khoản nợ phải trả đúng bản chất nghiệp vụ
Quyền và nghĩa vụ: Hàng hóa và dịch vụ đã mua phải thuộc quyền sử dụng và
sở hữu của doanh nghiệp Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả với nhà cung cấp khinhận hàng hóa dịch vụ từ họ theo hóa đơn và hợp đồng
Phân loại trình bày: đảm bảo phân loại đúng bản chất hàng mua, hạch toán
đúng tài khoản
Tính chính xác cơ học: các số liệu ghi trên sổ sách phải khớp đúng và phù hợp Tính đúng kỳ : Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải thực hiện đúng chia cắt niên độ
theo chuẩn mực kế toán chung được chấp nhận rộng rãi
1.2.2 Những sai sót có thể xảy ra trong hạch toán chu trình mua hàng thanh toán
Vi phạm tính hiệu lực , trọn vẹn : Các nghiệp vụ mua hàng không có đù chứng
từ kèm theo như hóa đơn hay biên bản kiểm nhận hàng mua vào; Sai sót trong ghi
Trang 11Vi phạm tính giá : Sai lệch trong phản ánh giá trị hàng mua, có sự sai lệchgiữa hóa đơn , biên bản kiểm nhận và số liệu đơn vị phản ánh trên sổ sách
Vi phạm quyền và nghĩa vụ về hàng hóa : đơn vị phản ánh hàng nhận giữ hộtrong kho là của đơn vị mình Vi phạm tính phân loại trình bày cũng làm ảnh hưởngđến quyền và nghĩa vụ như phản ánh nhầm lẫn giữa tài khoản phải trả nhà cung cấpvới tài khoản phải trả khác, phản ánh sai bản chất tài khoản tạm ứng khi trả trướccho người bán nhưng hạch toán vào tài khoản tạm ứng
Vi phạm tính phân loại và trình bày: Trong hạch toán mua hàng và hạch toánthanh toán sai sót chủ yếu là vi phạm tính phân loại và trình bày Bên nguồn vốn,các tài khoản thuộc nhóm nợ phải trả nói chung đều phản ánh nghĩa vụ khoản nợcủa doanh nghiệp Tìm hiểu chu trình mua hàng thanh toán ta cần quan tâm đếnkhoản nợ phải trả nhà cung cấp nằm trong nợ ngắn hạn Phân biệt tài khoản này vớitài khoản chi phí phải trả ở chỗ: Ta ghi nhận khoản nợ ngắn hạn với bên ngoài khinhận được hoá đơn hoặc chứng từ đòi nợ từ bên ngoài trong kỳ hạch toán Còn vớichi phí phải trả là chi phí dự tính phát sinh trong kỳ và thực tế doanh nghiệp chưachi trả số tiền này và chưa có đủ bằng chứng chính xác để ghi nhận giá trị ( ví dụ :trích trước lãi trả sau, trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản…) Vì vậy số phải trảchỉ là số ước tính, mục đích là để khi thực tế chi phí phát sinh thì không gây đột biếtlớn Thông thường các doanh nghiệp phân loại không đúng một số loại chi phí giữakhoản phải trả và chi phí phải trả
Vi phạm tính chính xác cơ học : các số liệu khi cộng sổ hoặc cộng trên cáchóa đơn bị sai
Vi phạm tính đúng kỳ : Các khoản nợ vi phạm tính đúng kỳ khi hoá đơn vàthời điểm nhận hàng khác nhau
Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm của loại hình kinh doanh hay mục đích của người lậpbáo cáo mà các sai phạm có thể phát sinh theo chiều hướng khác nhau Nhưng nhìnchung, các doanh nghiệp luôn mong muốn tình hình tài chính của mình là khả quan
do đó sai phạm liên quan đến TK phải trả nhà cung cấp có xu hướng phản ánhkhông đầy đủ, giảm số dư bên có Sai sót này khiến khả năng thanh toán của doanh
Trang 12nghiệp tăng lên giả tạo, một số khoản chi phí phản ánh ko đầy đủ làm cho lợi nhuậncủa doanh nghiệp cũng được tăng lên.
1.2.3 Kiểm soát nội bộ đối với chu trình mua hàng thanh toán
Lập và xử lý đơn đặt mua
Phòng vật tư có trách nhiệm tổng hợp nhu cầu đồng thời xem xét thực tế đểcân đối đưa ra đơn đặt hàng đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu trong sản xuất vừa tránhlãng phí vốn Dựa trên những cân đối đã thực hiện, phòng vật tư đưa ra được đơnđặt hàng và có chữ ký phê duyệt của ban giám đốc Giám đốc phê duyệt cả về sốlượng mua, nhà cung cấp được lựa chọn và ngân sách cho đơn đặt mua đó
Mục tiêu của kiểm soát trong giai đoạn này là đảm bảo hàng mua đáp ứng đủnhu cầu của các bộ phận trong doanh nghiệp đồng thời thu thập báo giá và dự toánngân sách giúp doanh nghiệp tìm ra được nhà cung cấp phù hợp với giá hợp lýnhất , xem xét nguồn tài chính của mình có đáp ứng được đơn đặt hàng đó haykhông và nguồn nào sử dụng để mua hàng là tối ưu nhất Thông thường nguồn vốn
từ lợi nhuận để lại phục vụ đầu tư tài sản cố định, nguồn vốn kinh doanh để muahàng hóa, nguyên vật liệu
Giao nhận hàng
Hợp đồng mua bán : đây là cơ sở pháp lý ghi nhận sự giàng buộc giữa quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà cung cấp trong hoạt động kinh tế mua bánhàng hóa, dịch vụ Hợp đồng mua bán phải có xét duyệt của ban giám đốc, củatrưởng phòng vật tư về số lượng chủng loại, chất lượng , giá và thời gian Khi nhậnhàng, doanh nghiệp và người giao hàng cùng ký vào biên bản kiểm nhận và biênbản giao hàng chứng minh cho các quy định liên quan đến hàng hóa, dịch vụ đã ghitrong hợp đồng
Kiểm soát quá trình nhập kho: PNK do phòng vật tư lập còn thủ kho là ngườighi số lượng nhập PNK đủ chữ kỳ của phụ trách vật tư và thủ kho
Mục tiêu kiểm soát này nhằm đảm bảo hàng nhập kho phù hợp với hóa đơn,hợp đồng, đảm bảo chất lượng, đúng quy cách mẫu mã
Ghi chép sổ sách và hạch toán:
Trang 13Để đảm bảo chính xác trong ghi chép, kế toán, thủ kho có trách nhiệm kiểmtra và thực hiện các phép tính tối thiểu 3 lần với số tổng cộng Thực hiện đối chiếubiên lại, biên bản kiểm nhận với hóa đơn của người bán về mẫu mã, giá, số lượng
và chủng loại
Mục tiêu kiểm soát là đảm bảo mọi ghi chép sổ sách đều có kiểm tra, kiểmsoát của kế toán trưởng nhằm đảm bảo tính thống nhất và phát hiện sai sót kịp thờisửa chữa
Kiểm soát thanh toán
Thanh toán thông thường được thực hiện bằng ủy nhiệm chi hoặc phiếu chi.Nhằm kiểm soát quá trình này mọi ủy nhiệm chi và phiếu chi đều phải có chữ kýcủa kế toán trưởng Chứng từ này được viết thành nhiều bản nhưng thông thường 1bản đưa cho người được thanh toán, 1 bản lưu lại trong bộ chứng từ của doanhnghiệp, 1 bản dùng để luân chuyên khi hạch toán
Với những khoản chưa thanh toán ngay,doanh nghiệp theo dõi trên sổ chi tiếtphải trả nhà cung cấp đồng thời hàng tháng có giấy đòi nợ của nhà cung cấp, kếtoán trưởng hoặc giám đốc phê duyệt chi trả Việc thực hiện thanh toán thực hiệntương tự như trên
Kiểm soát trong giai đoạn này giúp doanh nghiệp thực hiện chi đúng mụcđích, đúng số tiền và thanh toán kịp thời những khoản nợ đến hạn trả tránh bị phạttiền lãi, cân đối chi cho phù hợp
1.2.4 Vị trí của kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán là lĩnh vực khá mới mẻ và mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong hơnchục năm trở lại đây Xuất phát từ chức năng và vai trò của kiểm toán đã có nhiềucách hiểu về khái niệm kiểm toán Theo giáo trình “ lý thuyết kiểm toán “ trườngĐại học kinh tế Quốc dân xuất bản thì kiểm toán được định nghĩa như sau:
“ Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểmtoán bằng hệ thống phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm
Trang 14toán viên có năng lực và trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở pháp lý
có hiệu lực “
Khái niệm trên đã thể hiện khá đầy đủ các yếu tố của kiểm toán Nằm trong hệthống kiểm toán chung, Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểmtoán bởi nó chứa đựng đầy đủ sắc thái của kiểm toán
Xác minh và bày tỏ ý kiến : Kiểm toán tài chính cũng như bất kỳ cuộc kiểm
toán nào khác, kết quả của cuộc kiểm toán là báo cáo kiểm toán mà ở đó các thông tin đã được thực hiện kiểm tra xác minh, kiểm toán viên là người đưa ra ý kiến dựa trên sự xác minh được thực hiện trong cuộc kiểm toán
Thực trạng hoạt động cần kiểm toán hay đối tượng của kiểm toán tài chính là
bảng khai tài chính mà bộ phận quan trọng nhất của bảng khai này là báo cáo tài chính Theo định nghĩa trong Chuẩn mực Kiểm toán số 200 “ Báo cáo tài chính là
hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ảnh thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”
Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính : Theo Chuẩn mực
Kiểm toán quốc tế 8500 và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 phương pháp kiểm toán được hiểu là những cách thức cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Cũng như các loại hình kiểm toán khác, kiểm toán báo cáo tài chính cũng sử dụng phương pháp kiểm toán chứng từ ( cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ ( kiểm kê, thực nghiệm, điều tra ) để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến
Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, ta có 2 cách tiếp cận là theo khoảnmục và theo chu trình
- Phân chia theo khoản mục là cách tiếp cận từng khoản mục hay nhóm khoản mục
theo thứ tự trong bảng cân đối số phát sinh các tài khoản Cách tiếp cận này đơngiản xong không hiệu quả do tách biệt các khoản mục
- Phân chia theo chu trình: là cách tiếp cận căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn
nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, các yếu tố trong một chu trìnhhoạt động tài chính Theo cách tiếp cận này, công việc kiểm toán tiết kiệm hơn về
Trang 15thời gian và giúp kiểm toán viên thực bao quát hơn dó đó nó được thực hiện phổbiến trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Theo các phân chia theo chu trình,kiểm toán báo cáo tài chính thường bao gồm các phần hành cơ bản sau:
- Kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền
- Kiểm toán chu trình mua hành thanh toán
- Kiểm toán chu trình tiền lương nhân viên
- Kiểm toán chu trình hàng tồn kho
- Kiểm toán chu trình tiếp nhận và hoàn trả vốn
Mối liên hệ của các chu trình đã được thể hiện ở sơ đồ 1.5
Sơ đồ 1.5 : Phần hành kiểm toán cơ bản của kiểm toán tài chính (3)
1.2.2 Kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán được tìm hiểu thông qua 3 giai đoạncủa cuộc kiểm toán:
Sơ đồ 1.6: Quy trình kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Lập kế hoạch và thiết kế các thử nghiệm kiểm toán chu trình
Thực hiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Kết thúc công việc kiểm toán
thanh toán
Tiền lương —nhân viên
Hàng tồn kho
Trang 161.2.2.1 Lập kế hoạch và thiết kế các thử nghiệm kiểm toán
Lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán và có vai trò quan trọngchi phối tới chất lượng và hiệu quả chung cho toàn bộ cuộc kiểm toán Theo VSA
300 về lập kế hoạch kiểm toán nêu rõ “ Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi
cuộc kiểm toán và lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo báo quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm
ẩn, đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn Kế hoạch kiểm toán còn trợ giúp KTV phân công công việc cho trợ lý kiểm toán và phối hợp với kiểm toán viên và chuyên gia khác về công việc kiểm toán.” Đối với chu trình mua hàng
thanh toán mục đích của giai đoạn này là tìm hiểu hoạt động của chu trình ở công tykhách hàng từ đó xây dựng một phương pháp kiểm toán cụ thể phù hợp với quy
mô, thời gian và đặc điểm của chu trình Việc lập kế hoạch kiểm toán được thựchiện theo quy trình như sau :
Sơ đồ 1.7 : Các bước trong lập kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị kiểm toánThu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp
lý và thực hiện phân tích sơ bộ
Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập chương trình kiểm toán
Chuẩn bị kiểm toán
Trang 17Một cuộc kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận mộtkhách hàng Trên cơ sở đó, các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế hoạchkiểm toán được tiến hành như sau:
mức độ rủi ro có thể chấp nhận đối với cuộc kiểm toán
chất là xác định người sử dụng báo cáo và mục đích của họ Qua công việc này,KTV có thể xác định được hướng sai phạm có thể xảy ra với báo cáo tài chính củadoanh nghiệp
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán : việclựa chọn này dựa trên yêu cầu về số lượng và trình độ chuyên môn
- Hợp đồng kiểm toán : là sự thỏa thuận chính thức giữacông ty kiểm toán và khách hàng về thực hiện kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Một trong những thông tin đầu tiên cần thu thập là tìm hiểu hoạt động kinhdoanh của khách hàng Những khía cạnh đặc thù của khách hàng cũng cần đượcquan tâm như cơ cấu tổ chức, dịch vụ sản xuất… Phục vụ cho kiểm toán chu trìnhmua hàng thanh toán, trong bước này KTV sẽ biết được chủng loại hàng hóa màdoanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình, đánh giá thêmthông qua đối chiếu với các cam kết bằng văn bản hay giấy phép đầu tư Các thôngtin này sẽ giúp kiểm toán viên đánh giá sự ảnh hưởng tới báo cáo tài chính nóichung và chu trình mua hàng thanh toán nói riêng đồng thời phân tích được rủi rotrong hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Xem xét lại hồ sơ kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung ( nếu có):Qua hồ sơ kiểm toán năm trước KTV sẽ nắm bắt rõ nhất tình hình và đặc điểm hoạtđộng của chu trình mua hàng thanh toán Nếu khách hàng là khách hàng cũ , KTV
đã có hồ sơ năm trước sẽ giúp tiết kiệm thời gian rất nhiều cho nhận diện và phântích những bất thường của chu trình thông qua những vấn đề lưu ý của cuộc kiểmtoán năm trước
Trang 18- Thăm quan nhà xưởng
Thủ tục quan sát này giúp KTV tiếp cận hệ thống kiểm soát nội bộ và có hìnhdung về quy trình sản xuất và phong cách kinh doanh của khách hàng Chẳng hạn,khi quan sát KTV có thể nắm bắt được quy trình tiếp nhận hàng từ bên ngoài củadoanh nghiệp hoặc nhiệm vụ của các bộ phận trong thực hiện tiếp nhận hàng đó
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cở sở được thu thập giúp kiểm toán viên hiểu được hoạtđộng kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lýgiúp KTV nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các hoạtđộng kinh doanh này đặc biệt là đối với nghiệp vụ mua hàng thanh toán Nhữngthông tin về nghĩa vụ pháp lý mà kiểm toán viên cần thu thập bao gồm : giấy phépđăng ký kinh doanh, điều lệ công ty, các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biênbản họp hội nghị cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Phục vụ cho kiểmtoán chu trình mua hàng thanh toán, KTV tập trung xem xét các hợp đồng kinh tếmua bán giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp Qua đó, KTV có thể tìm hiểu đượcnhà cung cấp chủ yếu cũng như phương thức thanh toán hay thời hạn thanh toánchủ yếu trong mua hàng thanh toán
Thực hiện thủ tục phân tích
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích, nêu rõ “
KTV phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro”
Với chu trình mua hàng thanh toán, thủ tục phân tích sơ bộ thường thực hiện nhưsau
- So sánh chi phí mua hàng kỳ này với kỳ trước để xem xét biến động bấtthường
- Phân tích xu hướng tăng , giảm hoặc kiểm tra tính hợp lý của yếu tố chi phí giữacác kì kế toán để phát hiện những biến động bất thường
- Phân tích tỷ lệ chi phí mua hàng từng tháng với nợ phải trả được ghi nhận trongtừng tháng hoặc với khoản thực tế đã thanh toán
Trang 19- Phân tích chi phí mua hàng với các yếu tố khác như : chi phí sản xuất kinhdoanh, doanh thu tiêu thụ, chi phí nhân công…
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
- Đánh giá trọng yếu
KTV căn cứ vào các thông tin đã thu thập được ở các bước trên, thực hiện tổng
hợp và đánh giá Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320- Tính trọng yếu
trong kiểm toán : “ Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin trong báo cáo tài chính Thông tin được voi là trọng yếu nếu thông tin đó hoặc nếu độ thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính….” Thông qua xác định tính trọng yếu của
thông tin KTV đưa ra lịch trình và phạm vi thực hiện các thủ tục kiểm toán
Đánh giá mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trước hết KTVphải đưa ra mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính, sau đó phân bổ mức trọngyếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Cở sở để tiến hành phân bổ là:bản chất và quy mô các khoản mục, sự ảnh hưởng của khoản mục đó đến các thôngtin khác, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ trong bước trên vàmột yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bổ này là kinh nghiệm làm việc củaKTV , thời gian thực hiện và chi phí của cuộc kiểm toán Khoản mục các có tínhtrọng yếu cao, tức là sai phạm của nó ảnh hưởng lớn đến các khoản mục khác hoặc
có thể dẫn đến sai lầm cho người ra quyết định dựa trên những số liệu sai đó thìkhoản mục đó có mức trọng yếu thấp và ngược lại
- Đánh giá rủi ro
Theo VSA số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ đã nêu “ Rủi ro kiểm
toán là rủi ro do KTV v à công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn những sai phạm trọng yếu “ Theo đó, trong
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải xác định rủi ro kiểm toán mong muốncho toàn bộ báo cáo tài chính Việc xác định rủi ro kiểm toán mong muốn dựa vàocông thức:
AR = DR x IR x CR
Trang 20Trong đó : AR : rủi ro kiểm toán mong muốn
DR: rủi ro kiểm toán thực hiện
IR : rủi ro tiềm tàng
CR : rủi ro kiểm soát
Từ công thức trên ta có thể suy ra
DR= AR/ IR x CR
Có thể thấy, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là do hoạt động kinh doanhcủa khách hàng quyết định Khi IR và CR được đánh giá là cao thì để AR ở mứcmong muốn, KTV phải thực hiện nhiều hơn nữa các thu tục kiểm toán để DR ở mứcthấp Và ngược lại, khi IR và CR ở mức thấp, cho phép KTV giảm thủ tục kiểmtoán
Mối liên hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán:
Mức độ trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối liên hệ ngược chiều nhau Trong
VSA 320 - tính trọng yếu trong kiểm toán cũng đã nêu “ Trong một cuộc kiểm
toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau: mứctrọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Kiểm toán viên phảicân nhắc đến mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của cácthủ tục kiểm toán một cách thích hợp”
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
Theo VSA số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ KTV phải có một
sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán và KSNB của khách hàng để lập kế hoạch
kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp có hiệu quả.”
Để hiệu về hệ thống kiểm soát nội bộ của chu trình mua hàng thanh toán,KTV cần nắm bắt được nguyên tắc hoạt động, quản lý, hạch toán hàng mua, ghinhận nợ phải trả, và thanh toán với nhà cung cấp cũng như nắm bắt được chính sáchcủa đơn vị liên quan đến chu trình này Trên cở sở nắm bắt được hoạt động của hệthống KSNB, KTV đưa ra đánh giá của mình cho hệ thống này, nếu KSNB củadoanh nghiệp khách hàng hoạt động tốt thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và
Trang 21ngược lại Điều này có ý nghĩa quan trọng khi thiết kế các thử nghiệm tuân thủ vàthử nghiệm cơ bản.
Khi đánh giá hệ thống KSNB, KTV cần tìm hiểu các nội dung sau:
- Môi trường kiểm soát :
Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố bên trong như: quản lý của đơn vị,
cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, ủy ban kiểm soát, công tác kế hoạch… và bênngoài như chính sách của Nhà nước, thị trường hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệpđang thu mua,… ảnh hưởng đến hoạt động chu trình mua hàng thanh toán củadoanh nghiệp
- Hiểu biết về hệ thống, chính sách kế toán
Hệ thống kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh và kiểm soáthoạt động của đơn vị nói chung cũng như của chu trình nói riêng Để tìm hiểu về hệthống kế toán của doanh nghiệp liên quan đến chu trình KTV cần nắm được : chínhsách kế toán, hệ thống chứng từ sổ sách kế toán, sự phân công phân nhiệm trongthực hiện các công việc kế toán, cơ cấu hoạt động của bộ phận này
- Tìm hiểu thủ tục kiểm soát liên quan đến chu trình:
Thủ tục kiểm soát là tất cả những yêu cầu cần phải làm khi thực hiện các hoạtđộng trong doanh nghiệp do ban lãnh đạo đơn vị thiết lập nhằm thực hiện mục tiêuquản lý Việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát và bước công việc quan trọng trongquá trình đánh giá hệ thống KSNB VSA số 400- Đánh giá rủi ro và KSNB đã chỉ rarằng “ Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và KSNB, KTV phải thực hiện đánhgiá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư của tài khoảnhoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.”
Đánh giá rủi ro kiểm soát trong chu trình mua hàng thanh toán bao gồm cáccông việc sau đây :
+ Nắm bắt được hoạt động của chu trình qua đó nhận diện mục tiêu kiểm soát chotừng nghiệp vụ trong chu trình và xác định các loại sai phạm có thể xảy ra
+ Đánh giá khả năng ngăn chặn các sai phạm của hệ thống kiểm soát nội bộ đối vớichu trình này Tức là khi không có hoạt động kiểm soát này thì sẽ xảy ra những sai
Trang 22phạm gì và rủi ro có thể mắc phải, từ đó nhận diện thực tế hoạt động kiểm soát đó
có đang hữu hiệu hay không
Dựa vào những phân tích và phán đoán trên KTV tiến hành đánh giá rủi rokiểm soát ban đầu đối với chu trình mua hàng thanh toán KTV có thể đánh giá theođịnh tính như mức thấp, trung bình, khá và cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm Rủi rokiểm soát được đánh giá là thấp khi KTV nhận đinh rằng hệ thống kiểm soát nội bộcủa doanh nghiệp đầy đủ và hiệu quả Ngược lại khi hệ thống này không tồn tạihoặc hoạt động không ngăn ngừa được các sai phạm thì rủi ro kiểm soát được đánhgiá cao
Thiết kế chương trình kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Chương trình kiểm toán được thiết kế trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toántrong đó nêu ra các thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản cần thực hiện trongcuộc kiểm toán với 4 nội dung chính : xác định thủ tục kiểm toán, đối tượng thựchiện , quy mô mẫu chọn, và thời gian thực hiện
Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát trong chu trình mua hàng thanh toán:
Thử nghiệm kiểm soát ( thử nghiệm tuân thủ ) được thiết kế để thu thập bằngchứng chứng minh cho hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng.Trong giai đoạn lập kế hoạch, thiết kế các thử nghiệm kiểm soát gồm:
- KTV lập sẵn bảng câu hỏi để thực hiện phỏng vấn về hệ thống kiểm soát trong đóchỉ ra người được phỏng vấn, thời gian thực hiện Mục tiêu là đưa ra được nhận xét
về việc áp dụng thủ tục kiểm soát đối với chu trình
- Thủ tục kiểm tra từ đầu đến cuối : phân công KTV hoặc trợ lý kiểm toán thựchiện, thời gian thực hiện kiểm tra chọn mẫu một vài nghiệp vụ từ khi bắt đầu đếnkhi kết thúc chu trình mua hàng thanh toán Mục tiêu là vẽ lại được sơ đồ hoạt độngthực tế của chu trình, đối chiếu với những đánh giá ban đầu về hệ thống kiểm soátnội bộ
- Các bước tiến hành kiểm tra dấu hiệu của kiểm soát nội bộ như kiểm tra dấu hiệucủa sự phê chuẩn, dấu hiệu của kiểm tra nội bộ…
Trang 23Thực hiện thử nghiệm kiểm soát là cở sở để KTV thu hẹp hay mở rộng cácthử nghiệm cơ bản Khi hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá tốt, rủi ro kiểmsoát là thấp, ta có thể tăng cường các thử nghiệm kiểm soát để chứng minh chođánh giá đó, từ đó giảm các thử nghiệm cơ bản Ngược lại, khi hệ thống KSNBđược đánh giá thấp, rủi ro kiểm soát cao, khi đó thử nghiệm cơ bản là chủ yếu, kiểmtoán tuân thủ là không cần thiết
Thiết kế thử nghiệm cơ bản:
Thử nghiệm cơ bản được thiết kế để thu thập các bằng chứng về sự hoànchỉnh, chính xác và hiệu lực của các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý Các thửnghiệm cơ bản được thực hiện thông qua các trắc nghiệm : trắc nghiệm độ vữngchãi, trắc nghiệm phân tích, trắc nghiệm trực tiếp số dư
- Trắc nghiệm độ vững chãi:
KTV rà soát thông tin về giá trị, tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ gốc nhưhóa đơn của nhà cung cấp, phiếu nhập kho, phiếu chi, hợp đồng kinh tế mua bán vớinhà cung cấp,… KTV thực hiện đối chiếu giá trị và số lượng hàng mua trên cácchứng từ xem có khớp đúng hay không, kiểm tra sự phê duyệt trên các chứng từ chi.Ngoài ra, KTV cũng cần tính toán lại số tiền trên các chứng từ nếu có nghi ngờ,thực hiện tính số tổng và đối chiếu sổ chi tiết các khoản phải trả, sổ nhật ký muahàng, bảng cân đối tài khoản 331 Qua đó kiểm tra tính đúng đắn và độ tin cậy củacác số liệu kế toán trong chu trình mua hàng thanh toán
- Trắc nghiệm phân tích:
Trắc nghiệm phân tích là việc phân tích dựa trên các số liệu , thông tin phảnánh cùng một đối tượng giữa các thời kỳ hoặc các đơn vị khác nhau để tìm ra xuhướng biến động ; những mối quan hệ có tính mâu thuẫn với nhau hoặc có sự chênhlệch lớn Trong kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán, KTV cần sử dụng cácphân tích là:
+ So sánh số lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào trong năm nay với năm trước đểtìm ra biến động hành mua so với kỳ trước
Trang 24+ So sánh các khoản nợ phải trả nhà cung cấp năm nay với năm trước nhằm tìm
ra sự thay đổi trong quan hệ kinh tế với nhà cung cấp đó
+ Phân tích tỷ suất của các nhà cung cấp trong tổng số khoản phải trả nhà cungcấp để tìm ra nhà cung cấp chính rồi đối chiếu với năm trước để tìm ra biến động+ So sánh các tỷ suất về khả năng thanh toán năm nay với năm trước, với chỉtiêu bình quân của ngành vừa là để phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp,vừa đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp so với bình quân chungcủa ngành So sánh năm nay với năm trước có thể đánh giá được chính sách về tàichính của doanh nghiệp có biến động so với năm trước hay không
- Trắc nghiệm trực tiếp số dư:
Bản chất của trắc nghiệm này là cách thức hay các phương pháp mà KTV cầnthực hiện để xác định độ tin cậy của số dư tài khoản Để xác định được điều đó,KTV có thể phải vận dụng tất cả các phương pháp kiểm toán thích hợp, vì thế màtrắc nghiệm trực tiếp số dư thường tốn rất nhiều thời gian, và thường được thực hiệnvới số dư mang tính trọng yếu hoặc các khoản có xảy ra nhiều có tính chất bấtthường, điều này tùy thuộc kết quả của trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm độvững chãi Trong kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán, để xác định độ tin cậycủa các số dư của khoản mục hàng mua, phải trả nhà cung cấp, KTV phải thu thập
đủ chứng từ chứng minh như hóa đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận, hợp đồng,đơn đặt hàng, kiểm tra sự hiện hữu của hàng mua và phỏng vấn người có liên quanđến quá trình thu mua hàng hóa
Các thử nghiệm cơ bản đi sâu vào kiểm tra chi tiết nên thường tốn nhiều thờigian và chi phí Do đó KTV cần thực hiện đánh giá hệ thống KSNB của khách hàngtrước khi soạn thảo chương trình kiểm toán, KSNB được đánh giá tốt thì trongchương trình kiểm toán , KTV giảm thử nghiệm cơ bản
1.2.2.2 Thực hiện kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Thực hiện kiểm toán chu trình, KTV vận dụng các phương pháp kỹ thuật kiểmtoán phù hợp theo nội dung đã được nêu trong chương trình kiểm toán với mục tiêutìm ra bằng chứng kiểm toán cụ thể có độ tin cậy cao
Trang 25Các trắc nghiệm thực hiện riêng với 2 phần hành : mua hàng và thanh toán Trong
đó với phần hành mua hàng, trắc nghiệm được thực hiện quan tâm đến chức năng :lập và xử lý đơn đặt hàng, nhận hàng và ghi nhận nợ phải trả còn với phân hànhthanh toán, trắc nghiệm quan tâm tới chức năng : xử lý và ghi sổ các khoản thanhtoán cho người bán
Các trắc nghiệm thực hiện với nghiệp vụ mua hàng
Các trắc nghiệm đối với nghiệp vụ mua hàng được thể hiện trong bảng 1 sau đây :
Bảng 1.1 : Bảng tổng hợp trắc nghiệm đối với nghiệp vụ mua hàng
Trắc nghiệm độ vững chãi
Sự phê chuẩn các nghiệp vụ mua vào là đúng cấp thẩm quyền
Có dấu hiệu chứng tỏ chứng từ đã sử dụng,
đã kiểm tra hoặc đã hủy bỏ
Kiểm soát nội bộ đối với yêu cầu mua, đơn đặt mua, hợp đồng mua
Kiểm tra sự hiện diện, có thật của chứngtừ
Kiểm tra dấu hiệu của sự phê chuẩn ( chữ ký và chức vụ người
ký )Kiểm tra dấu hiệu của hủy bỏ
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm soát nội bộ
Xem xét, đối chiếu sổ nhật ký mua hàng, sổ cái và sổ phụ khoản phải trả nhà cung cấp với những khoản tiền lớn và có dấu hiệu bất thường
Kiểm tra tính hợp lý
và tính xác thực của chứng từ ( hóa đơn, vận đơn, biên bản kiểm nhận, đơn đặt hàng, yêu cầu mua hàng )
Đối chiếu hàng tồn kho mua vào trên thẻ kho với sổ sách trênKiểm tra các tài sản
Trang 26bán, hóa đơn, báo cáo nhận hàng.
mua vào có tình chất lâu dài hoặc giá trị lớnCác nghiệp vụ
mua vào được
phê chuẩn đúng
cấp thẩm quyền
Các yêu cầu mua, đơn đặt mua và quyết định mua phải có sự phê chuẩn đúng cấp thẩm quyền thì mới đảm bảo
có hiệu lực
Kiểm tra dấu hiệu của sự phê chuẩn
Kiểm tra tính đúng đắn của chứng từ chứng minh ( các chứng từ đã phù hợp với sự phê chuẩn đó hay chưa về tất cả các mặt như : giá trị, số lượng, thời gian, nhà cung cấp )
Các biên bản kiểm nhận đều được đánh số trước và theo dõi
Theo dõi một chuỗi liên tục các đơn đặt mua, các biên bản kiểm nhận
Đối chiếu một chuỗi các biên bản kiểm nhận với sổ nhật kỳ mua hàng
Theo dõi một chuỗi các biên lai,
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm soát nội bộ
So sánh các nghiệp vụ ghi trên sổ nhật ký mua hàng với
Các nghiệp vụ
mua vào được
phân loại đúng
đắn
Sơ đồ hạch toán đầy đủ
Kiểm tra nội bộ quá trình phân loại
Kiểm tra các thủ tục thủ công và sơ đồ tài khoảnKiểm tra dấu hiệu của việc
Đối chiếu sự phân loạigiữa sơ đồ tài khoản
mà doanh nghiệp đanghạch toán với hóa đơn của nhà cung cấp
Trang 27kiểm tra nội bộCác nghiệp vụ
ghi sổ đảm bảo
tính đúng kỳ
Thủ tục quy định việc ghi sổ càng sớm càng tốt sau khi nhận được hàng hóa dịch vụ
Quá trình kiểm tra nội bộ
Kiểm tra các thủ tục tiến hành ghi sổ hàng mua vào
và quan sát hóa đơn, biên bản kiểm nhậnxem đã ghi sổ hay chưaKiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ
Đối chiếu ngày của báo cáo nhận hàng và hóa đơn của người bánvới ngày trên sổ nhật
sổ sách
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ ( phỏng vấn , quan sát, )
Kiểm tra tính chính xác trong tổng hợp và chuyển sổ bằng cách bằng cách cộng tổng
và đối chiếu giữa sổ tổng hợp và sổ chi tiết
Trắc nghiệm phân tích thực hiện với nghiệp vụ mua hàng :
Sử dụng kết hợp cả phân tích ngang và phân tích dọc nhằm tìm ra những biếnđộng bất thường và xu hướng hàng mua của doanh nghiệp trong kỳ kiểm toán Thựchiện phân tích dọc bằng cách so sánh các loại hàng mua năm nay so với năm trướctheo cả số tuyệt đối và tỷ lệ chênh lệch Qua phân tích này có thể tìm ra những mặthàng tăng giảm đột biến năm nay so với năm trước, KTV cần tìm ra nguyên nhâncủa những chênh lệch xem xét nguyên nhân đó đã phù hợp hay chưa Kết hợp vớiphân tích dọc, KTV sử dụng phân tích ngang thông qua phân tích tỷ lệ mặt hàngmua so với tổng hàng mua để tìm ra loại hàng chính của doanh nghiệp rồi đối chiếuvới năm trước xem có thay đổi bất thường hay không Nếu doanh nghiệp thay đổi
Trang 28nguyên vật liệu hoặc hàng mua chính, KTV phải tìm rõ nguyên nhân, vì thay đổinày thường là không hợp lý do nó liên quan đến cả quá trình sản xuất, hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
Kết hợp việc phân tích của KTV với phỏng vấn điều tra những thay đổi trongchính sách hoạt động của công ty thông qua các cuộc họp của hội đồng quản trịhoặc ban giám đốc từ đó tìm ra những dấu hiệu bất thường trong nghiệp vụ muahàng
Ngoài ra KTV cũng cần thực hiện những phân tích khác như liên hệ với doanh
số, chi phí sản xuất, chi phí nhân công hoặc các chỉ tiêu phi tài chính ví dụ như tổng
số giờ làm việc, ca làm việc của công nhân so với tổng số nguyên vật liệu thu mua
Kiểm tra chi tiết với nghiệp vụ mua hàng :
Dựa vào những phát hiện nghiệp vụ bất thường từ thủ tục phân tích trên, KTVchọn mẫu các nghiệp vụ để kiểm tra chi tiết Chọn mẫu được trích từ sổ nhật kýmua hàng, từ đó KTV tiếng hành kiểm tra chứng từ kèm theo đảm bảo các mục tiêukiểm toán đã đề ra Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ bao gồm :
- Kiểm tra tính đầy đủ, hợp lý, hợp lệ của các chứng từ như hóa đơn, biên bảnkiểm nhận , phiếu nhập kho đảm bảo tính hiện hữu phát sinh
- Đối chiếu số tiền, số lượng hàng mua ghi trên các chứng từ với sổ chi tiếtmua hàng đảm bảo tính đúng giá
- Kiểm tra thời gian của ghi trên các chứng từ với thời gian hạch toán đảm bảotính đúng kỳ
- Nếu hàng mua gồm nhiều hóa đơn, cần thực hiện cộng lại số tiền trên các hóađơn đảm bảo tính chính xác cơ học
Trắc nghiệm đối với nghiệp vụ thanh toán
Việc thực hiện trắc nghiệm đối với nghiệp vụ thanh toán cũng được thực hiện tương tự như trên, căn cứ vào mục tiêu kiểm toán và các quá trình kiểm soát nội bộ chủ yếu
Các trắc nghiệm đối với nghiệp vụ thanh toán được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.2 : Các trắc nghiệm đối với nghiệp vụ thanh toán
Trang 29Trắc nghiệm độ vững chãi
ký phê duyệt ( do người có thẩm quyền
ký )
Phỏng vấn và quan sát sự phân công phânnhiệm giữa người ghi sổ và người thực hiệnchi
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ
Xem xét sổ nhật ký chi tiền với sổ tổng hợp và
sổ chi tiết phải trả nhà cung cấp
Đối chiếu phiếu chi, ủy nhiệm chi với đã thực hiện chi vói sổ nhật ký mua hàng, kiểm tra tên
và số tiền của người được thanh toánNghiệp vụ chi
Người phê chuẩn phải kiểm tra đủ chứng từ chứng minh cho khoản chi mới được ký phiếu chi
Kiểm tra dấu hiệu của sự phê chuẩn trên phiếu chiKiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ
Kiểm tra các chứng từ chứng minh cho nghiệp
vụ chi ( cả về số tiền , thời gian và nội dung nghiệp vụ)
Bảng cân đối với ngân hàng được lập hàng tháng bởi nhân viên
Theo dõi một chuỗi các phiếuchi, kiểm tra tính liên tụcKiểm tra bảng cân đối với ngân hàng, quan sát, phỏng vấn quá
Đối chiếu khoản chi tiềntrên sổ cái tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, với sổ phụ ngân hàng, sổ quỹ
Trang 30khác người ghi sổ các khoản chi
trình chuẩn bị chúng
Hàng tháng lập bảng cân đối với ngân hàng
do cá nhân độc lập với ghi sổ thực hiện
Kiểm tra dấu hiệu cảu kiểm tra nội bộKiểm tra các bảng cân đối với ngân hàng
và quan sát việcchuẩn bị chúng
So sánh phiếu chi đã lĩnh hoặc các ủy nhiệm chi đã chi với sổ nhật kýmua hàng và các bút toán liên quan
Tính lại các khoản chiết khấu tiền mặt
Kiểm tra bộ chứng từ là bằng chứng cho khoản chi đó
Quá trình kiểm tra nội bộ
Kiểm tra thủ tục thủ công
và quan sát việc quá trình ghi sổ khoản chi
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ
So sánh ngày trên sổ nhật ký chi tiền với phiếu chi đã lĩnh
So sánh ngày trên các phiếu chi đã lĩnh với ngày ngân hàng thực hiện chuyển tiền
Kiểm tra dấu hiệu của kiểm tra nội bộ Kiểm tra xác nhận của nhà cung cấp
Đối chiếu số tổng cộng khi chuyển sổ và đối chiếu giữa sổ chi tiết, sổtổng hợp các khoản phảitrả
Đối chiếu xác nhận của nhà cung cấp với sổ sách, hạch toán của đơn
Trang 31Trắc nghiệm phân tích với nghiệp vụ thanh toán :
Phân tích chủ yếu đối với nghiệp vụ thanh toán chủ yếu dựa trên các tỷ suất vềkhả năng thanh toán : khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện thời vàkhả năng thanh toán nợ ngắn hạn Thực hiện so sánh với năm trước để tìm ra chênhlệch cả về số tuyệt đối và số tương đối Qua đó đánh giá khái quát về tình hìnhthanh toán của doanh nghiệp và xu hướng biến đổi so với năm trước đồng thời tìmhiểu sự thay đổi trong chính sách thanh toán của doanh nghiệp trong kỳ kế toán đó
Để tìm hiểu thêm về nhà cung cấp chính và sự thay đổi về tỷ trọng các khoảnphải trả trong năm, KTV thực hiện phân tích dọc bằng cách xác định tỷ lệ khoảnphải trả nhà cung cấp trên tổng khoản phải trả, đối chiếu với năm trước để đánh giá
sự thay đổi của tỷ lệ đó
Qua phân tích khả năng thanh toán cũng như tình hình thanh toán với nhàcung cấp, KTV có thể phát hiện ra những thay đổi bất thường từ đó tập trung kiểmtra chi tiết, thực hiện trắc nghiệm trực tiếp số dư
Kiểm tra chi tiết khoản phải trả nhà cung cấp
Sự chính xác của số dư khoản mục nợ phải trả nhà cung cấp có vai trò quatrọng trong báo cáo tài chính vì nó liên quan đến nhiều khoản mục của các chu trìnhkhác như vốn bằng tiền, hàng tồn kho Vì thế việc xác minh số dư của khoản mụcnày cần được thực hiện đảm bảo không bỏ qua những sai phạm trọng yếu Nợ phảitrả nhà cung cấp là những khoản chưa thanh toán với nhà cung cấp khi đã nhậnhàng hóa, dịch vụ của họ theo hóa đơn, hợp đồng Việc kiểm tra chi tiết thường tốnrất nhiều thời gian do đó KTV không thể kiểm tra tất cả các số dư, vì thế KTV phảithực hiện chọn mẫu các nghiệp vụ khi thực hiện trắc nghiệm này Mẫu được chọnphụ thuộc vào những bất thường mà KTV phát hiện từ những trắc nghiệm đã thựchiện bên trên
Kiểm tra chi tiết nợ phải trả nhà cung cấp được tiến hành đảm bảo các mục tiêutrong kiểm toán , được trình bày trong bảng 3 sau:
Trang 32Bảng1.3 Kiểm tra chi tiết số dư Nợ phải trả nhà cung cấp
Mục tiêu kiểm toán Kiểm tra chi tiết
Tính hợp lý chung :
Số dư tài khoản nợ phải trả nhà
cung cấp, số dư trong sổ chi tiết
và sổ tổng hợp phải trả, các tài
khoản tài sản liên quan và chi phí
liên quan đều hợp lý
- Xem xét các khoản phải trả trên sổ chi tiết nhằm tìmnhững khoản bất hợp lý như không có bên bán, hàng mua không phù hợp hoạt động kinh doanh, số tiền quálớn có dấu hiệu bất thường hoặc những khoản phải trả
có chịu lãi
- Sử dụng những kết quả đã được thực hiện trong trắc nghiệm phân tích tìm ra những khoản phải trả có dấu hiệu bất thường
Các khoản phải trả trong bảng kê
thống nhất với sổ hạch toán chi
tiết các khoản phải trả Số tổng
cộng được cộng đúng và thống
nhất với sổ tổng hợp
Các khoản phải trả nhà cung cấp
được ghi sổ là có căn cứ hợp lý
Các khoản phải trả phải được ghi
nhận đầy đủ trong danh sách và
- Đối chiếu danh sách các khoản phải trả với hóa đơn
- Lấy xác nhận các khoản phải trả
- Kiểm tra toàn bộ chứng từ kèm theo chứng minh chonghiệp vụ ghi nhận nợ phải trả để hiểu được bản chất nghiệp vụ, thời gian thực hiện
Đối chiếu với số liệu kiểm toán chu trình hàng tồn khoKiểm tra các khoản phải trả để đảm bảo các khoản phải trả có tĩnh được theo dõi riêng
Thực hiện kiểm toán bổ sung
Sau khi thực hiện kiểm tra chi tiết, để đảm bảo cho các số liệu, thông tin cóảnh hưởng đến kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán KTV có thể cần thực hiệnthêm chương trình kiểm toán bổ sung Kiểm toán bổ sung chủ yếu là kiểm toánhàng tồn kho nhằm xác minh và đánh giá chính xác hơn nghiệp vụ mua hàng Trong
Trang 33chương trình kiểm toán bổ sung, KTV cần nắm thêm thông tin chính xác về số hàngmua, cơ sở xác định nhu cầu mua, lượng dự trữ và lượng hàng thực tế đang tồn kho.Thực hiện kiểm toán bổ sung, KTV tiến hành thực hiện các trắc nghiệm tương tựtrên nhưng tập trung ở hàng mua trong kỳ.
- Thực hiện thủ tục phân tích : đối chiếu hàng tồn kho dư cuối kỳ so với nămtrước tìm ra biến động trong năm Dựa vào những biến động đó thực hiện phân tíchvới các chỉ tiêu tài chính khác như : chi phí sản xuất, hàng tiêu thụ, chi phí nhâncông và tìm hiểu những thay đổi liên quan sản xuất kinh doanh trong năm dựa trêngcác tài liệu như : kế hoạch sản xuất, dự toán ngân sách…
- Đối chiếu số tổng hợp trên sổ chi tiết tài khoản HTK với sổ cái tương ứng,đối chiếu với bảng cân đối số phát sinh, bảng cân đối kế toán để kiểm tra tính khớpđúng giữa các sổ này
- Xác minh các số phát sinh các tài khoản kho bằng cách kiểm tra chọn mẫuPNK, PXK tương ứng các lần nhập, xuất trong kỳ
- Thực hiện kiểm kê xác minh lượng hàng tồn kho cuối kỳ
- Quan sát quy trình sản xuất tính toán sơ bộ lượng hàng hay nguyên vật liệumua vào cần dùng cho một chu kỳ sản xuất sản phẩm
1.2.2.3 Kết thúc kiểm toán chu trình mua hàng thanh toán
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và kiểm toán chu trình nóiriêng là đưa ra được đánh giá nhận xét về tính trung thực của thông tin dựa trênnhững bằng chứng đã thu thập được trong cuộc kiểm toán Cũng như vậy, kết thúckiểm toán chu trình mua hàng thanh toán, KTV phải đưa ra được ý kiến cho phầnhành mà mình thực hiện đồng thời đưa ra được bằng chứng kiểm toán chứng minhcho ý kiến đó Những ý kiến và bằng chứng kiểm toán thu được về phần hành đượctrình bày trong giấy làm Kết thúc kiểm toán KTV cần thực hiện:
- Tổng hợp và soát xét giấy làm việc về kiểm toán chu trình mua hàng thanhtoán
- Đưa ra nhận xét và những sai phạm về chu trình mua hàng thanh toán củakhách hàng
Trang 34- Đưa ra bút toán điều chỉnh dựa trên chuẩn mực kế toán, kiểm toán hiện hành
- Thảo luận với khách hàng về những sai phạm và điều chỉnh trên Nếu kháchhàng chấp nhận điều chỉnh, KTV thu thập báo cáo sau điều chỉnh và đưa ra ý kiếnchấp nhận toàn phần về phần hành này cho báo cáo đó Nếu khách hàng không thựchiện điều chỉnh theo số liệu của KTV, KTV đưa ra ý kiến không chấp nhận hoặc ýkiến ngoại trừ Số liệu sau điều chỉnh của kiểm toán viên phải đảm bảo không cònnhững sai phạm trọng yếu ảnh hưởng đến người ra quyết định khi sử dụng thông tinnày
- Ngoài ra để đánh giá những ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, KTV phảitìm hiểu thêm về những khoản nợ đầu kỳ sau, xu hướng biến động của thi trườngbên ngoài ảnh hưởng đến số dư khoản phải thanh toán trong kỳ
Trang 35PHẦN II : THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG THANH TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
2.1 Tổng quan về công ty TNHH dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán AASC
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty: Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Tên giao dịch tiếng anh: Auditing and Accounting Financial Consultancy ServiceCompany
Tên gọi tắt : AASC
Trụ sở giao dịch tại Hà Nội : số 1 Lê Phụng Hiểu, Hoàn Kiếm ,Hà Nội
Sự ra đời và phát triển của AASC gắn liền với sự thay đổi của nền kinh tế nói chungkhi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường
Xã hội Chủ nghĩa và sự phát triển của ngành tài chính nói riêng Do thực tế kháchquan thay đổi nên giai đoạn từ năm 1991 đến nay chính là thời gian mà hệ thống kếtoán tài chính nước ta có những bước phát triển cao nhất và hoàn thiện nhất Sự pháttriển vượt bậc này được đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do quốchội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng như các chuẩn mực về kế toán tài chínhriêng của Việt Nam đã được ban hành Đứng trước tình hình đó ngày13/05/1991 BộTài chính ra quyết định số 164/TC/QĐ/TCCB thành lập Công ty Dịch vụ Kếtoán(ASC) Đây là tiền thân của công ty AASC hiện nay Có thể thấy dịch vụ banđầu của công ty là lĩnh vực kế toán, nó phù hợp với sự phát triển của nền tài chínhnước ta thời đó Theo xu hướng lành mạnh hóa nền kinh tế, lĩnh vực kiểm toánbước đầu hình thành, AASC cùng với công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) trởthành hai tổ chức kiểm toán đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam hoạt động lập độctrong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán, và tư vấn tài chính, thuế Sự hình thành
Trang 36và phát triển của Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán(AASC) được thể hiện qua 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1 : Từ 13/05/1991 đến tháng 9 năm 1993
Ngày 13 tháng 05 năm 1991 Bộ Tài chính ra Quyết định số 164 TC/TCCB
chính thức thành lập Công ty Dịch vụ Kế toán tên giao dịch tiếng anh là
Accounting Service Company Đây là tên ban đầu của Công ty TNHH Dịch vụ Tư
vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) hiện nay Đây được xem là cơ sở pháp
lý đầu tiên cho sự ra đời của công ty, chính thức đến ngày 14 tháng 9 năm 1991công ty bắt đầu đi vào hoạt động
Tháng 3/1992, Công ty thành lập chi nhánh đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minhđặt tại số 29 đường Võ Thị Sáu, Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 4 năm 1993 mở các chi nhánh tại Vũng Tàu và Đà Nẵng Chi nhánhVũng Tàu đặt tại số 42 đường Thống Nhất, Thành phố Vũng Tàu
Giai đoạn 2: Từ 14 tháng 9 năm 1993 đến tháng 7 năm 2005
Sau hơn hai năm đi vào hoạt động, nhận thấy sự cần thiết của kiểm toán độclập tại Việt Nam và sự lớn mạnh về đội ngũ và trình độ năng lực của các nhân viênđến 14/09/1993 Bộ trưởng Bộ Tài chính ra Quyết định số 639/TC/QĐ/TCCB cho
phép bổ sung thêm dịch vụ kiểm toán và đổi tên Công ty thành Công ty Dịch vụ
Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán có tên giao dịch quốc tế là Auditing and Accounting Financial Consultancy Service Company (gọi tắt là AASC) Như
vậy sau khi chuyển đổi công ty chính thức cung cấp thêm dịch vụ kiểm toán tronghoạt động của mình
Tháng 3 năm 1995, chi nhánh AASC tại thành phố Hồ Chí Minh tách ra thànhlập Công ty tư vấn Tài chính và Kiểm toán Sài Gòn (AFC Sài Gòn) Cũng trongthời gian đó, chi nhánh AASC tại Đà Nẵng kết hợp với chi nhánh Công ty Kiểmtoán Việt Nam (VACO) tại Đà Nẵng thành lập Công ty Tư vấn và Kiểm toán(A&C)
Tháng 4 năm 1995 thành lập chi nhánh tại Thanh Hóa đặt tại số 25A, đườngPhan Chu Trinh, Thành phố Thanh Hoá
Trang 37Tháng 2 năm 1996 thành lập văn phòng đại diện ở Hải Phòng Đến năm 2003văn phòng đại diện tại Hải Phòng được nâng cấp nên thành chi nhánh Nhưng từ 31tháng 12 năm 2004 chi nhánh tại Hải Phòng không hoạt động nữa.
Tháng 3/1997, AASC tái lập văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh vàtháng 5/1998 nâng cấp từ văn phòng đại diện lên chi nhánh lớn nhất của Công ty tại
TP Hồ Chí Minh
Giai đoạn 3: Tháng 7 năm 2005 đến nay
Sau khi mở thêm các chi nhánh tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng,Thành phố Hồ Chí Minh…công ty đã không ngừng mở rộng và phát triển tiến xahơn trên con đường hội nhập với Quốc tế
Tháng 7/2005 công ty đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức Kế toán,kiểm toán quốc tế INPACT Châu á Thái Bình Dương - một mạng lưới quốc tế củacác tổ chức kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp
Tháng 11/2005, công ty đã liên danh kiểm toán với hãng tư vấn Anh Bannockthực hiện dự án hỗ trợ, nâng cao năng lực cho kiểm toán Nhà nước
Ngày 06 tháng 5 năm 2007, Quyết định số 1371/QĐ-BTC của Bộ Trưởng BộTài chính về việc Phê duyệt phương án chuyển đổi Công ty Dịch vụ Tư vấn Tàichính Kế toán và Kiểm toán AASC thành Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên trở lên Công ty đã chuyển đổi từ Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán
và Kiểm toán là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc bộ Tài chính thành Công ty
(TNHH) kiểm toán độc lập với tên gọi Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán (AASC) Cùng với sự chuyển đổi này, một số chi nhánh đã
tách khỏi Công ty và hiện nay Công ty chỉ có trụ sở chính tại Hà Nội ( Số 01 LêPhụng Hiểu, Hà Nội, Việt Nam); một chi nhánh tại Thành Phố Hồ Chí Minh và mộtvăn phòng đại diện tại Quảng Ninh
Sau khi chuyển đổi sở hữu, một số chi nhánh tách khỏi Công ty khiến đội ngũcông nhân viên đã giảm đi rõ rệt với 140 cán bộ công nhân viên trong đó có 39kiểm toán viên do đó gây khó khăn lớn đến hoạt động của Công ty
Trang 382.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Phương châm trong hoạt động: '' Độc lập, trung thực, khách quan và bảo mật''AASC luôn tuân thủ đầy đủ các quy định của Nhà Nước liên quan đến hoạt độngnghề nghiệp, cũng như các quy định, Chuẩn mực Kiểm toán và đạo đức nghềnghiệp do Nhà Nước Việt Nam ban hành cũng như các Chuẩn mực Kiểm toán quốc
tế được chấp nhận chung nhằm đảm bảo cung cấp các dịch vụ có chất lượng tốtnhất Quan điểm làm việc đặt lợi ích hợp pháp của khách hàng lên hàng đầu, mụctiêu hoạt động của AASC là cung cấp các dịch vụ chuyên ngành về kiểm toán vàcác thông tin đáng tin cậy đồng thời giúp khách hàng ra các quyết định quản lý, tàichính và kinh tế một cách có hiệu quả, Công ty cũng hỗ trợ khách hàng giải quyếttốt và kịp thời các vấn đề phát sinh mà ít có một tổ chức dịch vụ chuyên nghành nào
có thể thực hiện được
Qua hoạt động kiểm toán, Công ty đã giúp các doanh nghiệp khách hàng khắcphục những điểm còn tồn tại, phát hiện những sai sót từ đó đề xuất phương án hoànthiện hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó nâng cao chất lượngcông tác quản lý tài chính và điều hành doanh nghiệp
Hoạt động kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư của AASC đã góp phần giúpcác chủ đầu tư loại bỏ được các chi phí bất hợp lý, tiết kiệm cho Ngân sách Nhànước và cho chủ đầu tư hàng ngàn tỷ đồng Đặc biệt, công ty kiểm toán AASC đãgóp phần thúc đẩy công tác quyết toán và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng
cơ bản được kịp thời, hỗ trợ khách hàng hoàn thiện hệ thống kế toán và hệ thốngkiểm soát nội bộ Báo cáo quyết toán vốn đầu tư Dự án hoàn thành đã được kiểmtoán bởi công ty kiểm toán AASC đều được văn phòng Trung ương Đảng, Vănphòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, các Bộ, Ngành, các Tập đoàn kinh
tế, Tổng Công ty Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền ghi nhận phê duyệt và đánhgiá chất lượng tốt
AASC đã cung cấp cho các khách hàng nhiều loại dịch vụ kế toán bao gồm:
Trang 39- Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức công tác kế toáncho các doanh nghiệp mới thành lập, xây dựng hệ thống thông tin kinh tế nội bộphục vụ công tác quản trị - kinh doanh;
- Rà soát, phân tích, cải tổ, hợp lý hoá bộ máy kế toán - tài chính đã có sẵn
- Tư vấn giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng các qui định về việc lập chứng
từ, luân chuyển chứng từ, mở và ghi sổ kế toán, soát xét, điều chỉnh số liệu kế toán
và khoá sổ kế toán, lập báo cáo kế toán, lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư theoqui định
Đặc biệt AASC đã cùng cán bộ của Tổng Cục thuế và các Cục thuế ở Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Hải phòng, Nam Định, Hưng Yên giúp đỡ và hướng dẫn hàngvạn doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh tư nhân mở và ghi chép sổ kế toántheo quy định của Nhà nước Thông qua hoạt động này, AASC đã hỗ trợ cơ quanthuế, cơ quan tài chính nắm bắt được tình hình hoạt động của các hộ kinh doanh từ
đó có cơ sở để điều chỉnh mức thu và có căn cứ nghiên cứu chính sách thuế đối vớikhu vực kinh tế này
AASC đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức trong lĩnh vực tuyển dụngnhân viên chuyên ngành tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán đáp ứng được yêucầu công việc chuyên môn được khách hàng đánh giá cao về mặt chất lượng cán bộ
- Sự thừa nhận trong nước và quốc tế
Vượt qua những khó khăn và sự cố gắng trong 17 năm hoạt động, AASC đã cónhững bước tiến vững chắc và trở thành một trong những Công ty Kiểm toán hàngđầu tại Việt nam Dịch vụ của AASC được biết đến và được tín nhiệm ở nhiều tổchức trong và ngoài nước
+ AASC là Công ty Kiểm toán được Bộ Tài chính chứng nhận số kiểm toán viênhành nghề và thẩm định viên về giá đông nhất hiện nay và là Công ty hàng đầu vềkiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ chuyển đổi Công ty Nhà nướcsang Công ty cổ phần
+ AASC là Công ty Kiểm toán có số hội viên đông nhất của Hội kiểm toán viênhành nghề Việt nam – VACPA
Trang 40+ AASC là Công ty Kiểm toán lớn nhất về kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tưcông trình hoàn thành.
+ AASC là Công ty Kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận là
tổ chức kiểm toán độc lập được phép tham gia kiểm toán các tổ chức phát hành vàkinh doanh chứng khoán theo Quyết định số 395/UBCK- QLPH ngày 22 tháng 11năm 2004
+ AASC được Ngân hàng Nhà nước Việt nam chấp thuận là tổ chức kiểm toán độclập được phép kiểm toán các tổ chức tín dụng theo Thông báo số 1203/NHNN-TTrngày 25 tháng 10 năm 2004
+ AASC là 1 trong 4 Công ty Kiểm toán Việt nam cùng với 4 Công ty Kiểm toánQuốc tế hoạt động tại Việt nam được phép tham gia kiểm toán các dự án tài trợ bởicác tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á(ADB) và các tổ chức khác….vv Ngoài ra, AASC còn vinh dự là một Công tyKiểm toán nằm trong danh sách chọn lọc được tham gia dự thầu hầu hết các Dự ántài trợ bởi nguồn vốn của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.3.1 Lĩnh vực hoạt động của công ty
Hoạt động chủ yếu của công ty AASC là kiểm toán báo cáo tài chính của cácdoanh nghiệp Hiện nay, trong lĩnh vực kiểm toán Báo cáo tài chính, AASC đã cóhơn 200 chuyên gia với kinh nghiệm chuyên sâu về tài chính, kế toán, kiểm toán,tín dụng, thuế Hàng năm, đội ngũ này đã thực hiện kiểm toán rất nhiều hợp đồngkiểm toán Báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp, các dự án tài trợ, vay vốn củacác tổ chức quốc tế Các lĩnh vực hoạt động của công ty bao gồm:
Dịch vụ Kiểm toán
Ngày 14/09/1993 Bộ trưởng Bộ Tài chính ra Quyết định số 39/TC/QĐ/TCCBcho phép công ty bổ sung thêm dịch vụ kiểm toán Xuất hiện từ thời kỳ đầu khi lĩnhvực kiểm toán còn khá mới mẻ, trải qua nhiều khó khăn AASC đã tích lũy cho mìnhkinh nghiệm cũng như trình độ năng lực để trở thành công ty hàng đầu Việt Nam