1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.

430 512 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 430
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành công của các nước đi theo mô hình phát triển toàn diện đã làm cơ sở cho nhiều kết luận khá mới trong các nghiên cứu từ thập niên 1990 trở lại đây so với các kết luận cổ điển trước

Trang 1

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ CHƯƠNG TRìNH KH&CN TRọNG ĐIểM CấP NHà NƯớC KX.04/06.10

"Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010"

-

Báo cáo tổng hợp đề tài nhà nước

quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết

giữa tăng trưởng kinh tế

và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta

M∙ Số: KX04.19/06-10

Cơ quan chủ trì : Trường Đại học Kinh tế quốc dân

7983

Hà NộI - 2010

Trang 2

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ CHƯƠNG TRìNH KH&CN TRọNG ĐIểM CấP NHà NƯớC KX.04/06.10

"Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006 - 2010"

-

Báo cáo tổng hợp đề tài nhà nước

quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết

giữa tăng trưởng kinh tế

và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta

M∙ Số: KX04.19/06-10

Những người tham gia đề tài:

4 GS.TS Nguyễn Khắc Minh Uỷ viên

8 PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên Uỷ viên

Hà NộI - 2010

Trang 3

1.2 NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ QUAN HỆ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI. 181.2.1 Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê nin .18 1.2.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam 21 1.2.3 Các tiếp cận lý thuyết hiện đại để giải thích mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội 35

1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GẮN KẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI 381.3.1 Các mô hình thực nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội 38 1.3.2.Kinh nghiệm một số nước gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội .45 1.3.3 Vận dụng kinh nghiệm quốc tế trong điều kiện của Việt Nam 81

CHƯƠNG 2: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỪ 1986 ĐẾN NAY VÀ THỰC TRẠNG TIẾN BỘ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 89

2.1 THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2009 892.1.1 Phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến 2009

về mặt lượng 89

Trang 4

2.1.2 Phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng Việt Nam 94 2.1.3 Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam 104

2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA. 1112.2.1 Hệ số GINI của Việt Nam 111 2.2.2 Các chỉ số đánh giá phát triển con người 113 2.2.3 Thực trạng bảo đảm dân chủ, thực hiện các quyền của con người ở nước ta 1162.2.4 Đánh giá thực trạng tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta qua phân tích kết quả điều tra, phỏng vấn sâu 124

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GẮN KẾT GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 134

3.1 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH NHẰM GẮN KẾT GIỮA TĂNG TRƯỞNG

VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 1343.1.1 Nhóm chính sách kinh tế nhằm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tạo việc làm và thu nhập 134 3.1.2 Nhóm chính sách xã hội có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế 157 3.1.3 Nhóm chính sách có tính chất tái phân phối thu nhập và tái phân phối

cơ hội 188 3.1.4 Đánh giá chung những hạn chế của hệ thống chính sách gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta 211

3.2 THỰC TRẠNG GẮN KẾT GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN

BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CỤ THỂ. 2183.2.1.Thực trạng tăng trưởng kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội ở Việt Nam 2183.2.2.Phân tích thực trạng gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và sự bất bình đẳng, phân tầng xã hội và bình đẳng giới 2193.2.3 Thực trạng phát triển chênh lệch giữa các khu vực, vùng miền 2303.2.4 Thực trạng tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 244

3.3 ÁP DỤNG MÔ HÌNH TOÁN PHÂN TÍCH QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA. 2553.3.1 Giới thiệu phân lớp mô hình xích Markov 255

Trang 5

3.3.2 Các kết quả thực nghiệm từ mô hình xích Markov 2553.3.3 Kết luận từ phân tích thống kê và mô hình phân rã đóng góp của tăng trưởng đối với tiến bộ và công bằng xã hội 261

3.4 NHỮNG KẾT LUẬN ĐÁNH GIÁ QUA PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG GẮN KẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA 2643.4.1 Thời kỳ từ năm 1986 đến nay thực hiện ưu tiên có mức độ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bắt đầu chú ý đến mục tiêu công bằng xã hội là hợp lý 2643.4.2 Chưa thể kết hợp tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách 2653.4.3 Mô hình tăng trưởng kinh tế và cơ chế phân bổ nguồn lực là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp mạnh nhất và lâu dài đến việc tạo lập tiến bộ và công bằng xã hội 2653.4.4.Tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào các ngành sử dụng nhiều vốn, được bảo hộ cao, ít tạo việc làm mới 2663.4.5.Phân phối thu nhập không được thực hiện một cách đồng đều 2663.4.6 Có một nhóm người giàu nhanh nhờ đặc quyền tiếp cận với các nguồn lực phát triển 2673.4.7.Hiệu quả đầu tư của Việt Nam không cao, do vậy chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước cho các khu vực, vùng miền chậm phát triển hơn không mang lại kết quả như mong đợi 267 3.4.8 Môi trường thể chế chưa minh bạch, bộ máy quản lý nhà nước kém hiệu quả dẫn đến các biểu hiện làm giàu bất chính, cản trở phát triển kinh tế

và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội 268

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM GẮN KẾT HỢP LÝ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2011-2020 271

4.1 DỰ BÁO BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2011-2020 2714.1.1 Bối cảnh quốc tế 271

Trang 6

4.1.2 Bối cảnh tình hình trong nước 274

4.1.3 Cơ hội và thách thức cho giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và tiến bộ,công bằng xã hội 278

4.2 QUAN ĐIỂM GẮN KẾT HỢP LÝ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2011-2020 281

4.2.1 Quan điểm tổng quát 281

4.2.2 Quan điểm cụ thể 281

4.3 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM GẮN KẾT HỢP LÝ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2011-2020. 282

4.3.1 Nhóm giải pháp thực hiện phát triển kinh tế nhanh và bền vững giai đoạn 2011-2020 282

4.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách của chính phủ nhằm gắn kết hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội 284

4.3.3 Nhóm giải pháp gắn kết hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trên từng lĩnh vực 299

4.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP GẮN KẾT HỢP LÝ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA GIAI ĐOAN 2011-2020. 328

4.4.1 Nâng cao nhận thức về gắn kết hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội 328

4.4.2 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các đoàn thể xã hội 330

4.4.3.Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong việc gắn kết hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta 331

4.4.4 Mở rộng và phát huy dân chủ 332

4.4.5 Nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng, lãng phí, làm ăn phi pháp 333

KẾT LUẬN 337

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 363

CỦA CÁC TÁC GIẢ VỀ ĐỀ TÀI 363

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 365

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu kinh tế của Liên Xô và một số nước Đông Âu 40

Bảng 1.2 Chỉ số bất bình đẳng của một số nước Nam Mỹ và Đông Á 42

Bảng 1.3 Chỉ số bất bình đẳng của một số nước áp dụng mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế 44

Bảng 1.4 Hệ số Gini của Brazin 51

Bảng 1.5 Phân phối thu nhập theo nhóm dân cư 51

Bảng 1.6 Thu nhập của 40% dân số nghèo nhất 52

Bảng 1.7 Tỷ lệ trẻ em đến trường theo mức thu nhập và theo vùng 53

Bảng 1.8 Một số chỉ tiêu chăm sóc sức khoẻ trẻ em 54

Bảng 1.9 GDI của Brazin qua các năm 55

Bảng 1.10 Thước đo quyền lực GEM của Brazin qua các năm 55

Bảng 1.11 Chỉ số HDI 56

Bảng 1.12 HDI và GDP/người của một số quốc gia 56

Bảng 1.13 GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GNP 62

Bảng 1.14 Dân số đô thị của một số nước Châu Á 64

Bảng 1.15 HDI của một số nước giai đoạn 1975 – 2006 65

Bảng 1.16 Hệ số GINI của Hàn Quốc qua các thời kì 66

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 90

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành kinh tế Việt Nam 92

Bảng 2.3 Tỷ trọng sản lượng và giá trị tăng thêm 98

Bảng 2.4 Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào đối với tăng trưởng GDP 99

Bảng 2.5 Tiêu dùng cuối cùng ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2007 101

Bảng 2.6 Kim ngạch xuất nhập khẩu, nhập siêu và tỉ lệ nhập siêu 102

Bảng 2.7 Tỷ trọng đóng góp của các ngành vào GDP 104

Bảng 2.8 So sánh khoảng cách GDP/người của Việt Nam và một số nước trong khu vực 105

Bảng 2.9 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam và các nước Đông Á 110

Bảng 2.10 Hệ số Gini của Việt Nam qua các năm 2002-2006 112

Trang 8

Bảng 2.11 Chỉ số phát triển con người qua các năm của Việt Nam, 1994-2009 113

Bảng 2.12 Cấu thành chỉ số phát triển con người của Việt Nam, 2005-2009 114

Bảng 2.13 Thứ hạng HDI và GDP/người của một số nước năm 2007 115

Bảng 2.14 Cấu thành chỉ số HPI-1 của Việt Nam, 2005-2009 116

Bảng 2.15 Ý kiến về đánh giá sự bình đẳng giới trong chế độ tuyển dụng phân theo địa bàn điều tra 126

Bảng 2.16 Ý kiến đánh giá về sự công khai tài chính phân theo địa bàn điều tra 127

Bảng 3.1 Tỷ trọng GDP theo thành phần kinh tế 140

Bảng 3.2 Khung chính sách khuyến khích đầu tư 145

Bảng 3.3 Kết quả cấp Giấy chứng nhận đầu tư 148

Bảng 3.4 Lao động, tỷ lệ thất nghiệp thành thị và tỷ lệ thời gian làm việc lao động ở nông thôn 152

Bảng 3.5 Lao động và việc làm ở Việt Nam, 1991-2008 154

Bảng 3.6 Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị qua các năm ở Việt Nam 155

Bảng 3.7 Tăng trưởng GDP gắn với giảm nghèo 159

Bảng 3.8 Số hộ nghèo được hưởng lợi từ các hoạt động của chương trình XĐGN (%) 161

Bảng 3.9 Bằng chứng về bất bình đẳng 161

Bảng 3.10 Tỷ lệ nghèo chung ở Việt Nam phân theo một số tiêu chí (*) 163

Bảng 3.11 Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam phân theo một số tiêu chí (*) 163

Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu thống kê về hệ thống y tế tại Việt Nam 170

Bảng 3.13 So sánh một số chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe của người dân Việt Nam và các nước trong khu vực 171

Bảng 3.14 So sánh thu nhập bình quân tháng năm 2007 của lao động trong một số ngành trong khu vực Nhà nước so với ngành công nghiệp 179

Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu thống kê giáo dục, 1991-2008 181

Bảng 3.16 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp cao nhất 184

Bảng 3.17 Cơ cấu lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 185

Bảng 3.18 Tỷ lệ giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng phân theo vùng kinh tế187 Bảng 3.19 Tỷ trọng thu NSNN trong GDP và cơ cấu theo thành phần kinh tế giai đoạn 1991-2000 191

Trang 9

Bảng 3.20 Cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2005-2008 (% GDP) 192 Bảng 3.21 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư toàn xã hội, 1995-2008 (%) 198

Bảng 3.22 Cơ cấu đầu tư nhà nước phân theo ngành kinh tế giai đoạn

2000-2008 (%) 199 Bảng 3.23 Hỗ trợ từ Chương trình kỹ thuật - kinh tế 2000 – 2005 206 Bảng 3.24 Một số chỉ báo cơ bản về hiệu quả và hiệu lực của bộ máy hành

chính thời kỳ 2004-2007 215 Bảng 3.25 Tỷ trọng chi tiêu cho các lĩnh vực xã hội trong tổng chi tiêu chính

phủ 219 Bảng 3.26 Bất bình đẳng về thu nhập và chi tiêu của một số quốc gia 220 Bảng 3.27 Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất (*) 221 Bảng 3.28 Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo

nhất ở các vùng kinh tế 222 Bảng 3.29 Cơ cấu chi tiêu cho đời sống của các hộ gia đình 222 Bảng 3.30 Mức chi tiêu cho đời sống của các hộ gia đình 223 Bảng 3.31 Chênh lệch về các chỉ tiêu giáo dục – đào tạo giữa hai nhóm thu

nhập năm 2006 224 Bảng 3.32 Chênh lệch về các chỉ tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe giữa hai nhóm

thu nhập năm 2006 226 Bảng 3.33 Chênh lệch về các chỉ tiêu khác liên quan đến mức sống giữa hai

nhóm thu nhập năm 2006 227 Bảng 3.34 Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về các chỉ tiêu thu nhập và

chi tiêu năm 2006 231 Bảng 3.35 Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về các chỉ tiêu mức sống dân cư 232 Bảng 3.36 Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về các chỉ tiêu giáo dục năm 2006 234 Bảng 3.37 Chênh lệch giữa các vùng về GDP/người và tốc độ tăng trưởng bình quân 236 Bảng 3.38 Chênh lệch giữa các vùng về thu nhập và chi tiêu 237 Bảng 3.39 Tỷ lệ nghèo chung ở các vùng kinh tế Việt Nam .241 Bảng 3.40 Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu mức sống và tiêu dùng

năm 2006 240 Bảng 3.41 Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu giáo dục – đào tạo năm 2006 241

Trang 10

Bảng 3.42 Chênh lệch giữa các vùng về HDI và các thành phần HDI năm 2006 242

Bảng 3.43 Đánh giá chung về ô nhiễm của các ngành công nghiệp Việt Nam 247

Bảng 3.44 Chỉ tiêu thực tế sử dụng nước của một số ngành công nghiệp Việt Nam 248

Bảng 3.45 Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số ngành công nghiệp Việt Nam 249

Bảng 3.46 Diện tích rừng bị huỷ hoại hàng năm ở Việt Nam, 2000-2008 251

Bảng 3.47 Ma trận xác suất chuyển của hệ thống 256

Bảng 3.48 Ma trận xác suất chuyển sau 2 thời kỳ 256

Bảng 3.49 Ma trận dưới đây cho ta xác suất chuyển sau 3 thời kỳ 256

Bảng 3.50 Ma trận dưới đây cho ta xác suất chuyển sau 5 thời kỳ 257

Bảng 3.51 Ma trận dưới đây cho ta xác suất chuyển sau 10 thời kỳ 257

Bảng 3.52 Ma trận xác suất chuyển của hệ thống : 258

Bảng 3.53 Ma trận xác suất chuyển sau 8 thời kỳ 258

Bảng 3.54 Ma trận xác suất chuyển 259

Bảng 3.55 Ma trận xác suất chuyển cấp 5 259

Bảng 3.56 Ma trận xác suất chuyển sau 28 bước 260

Bảng 3.57 Ma trận xác suất chuyển sau 30 năm 260

Bảng 3.58 Chỉ số tham nhũng của một số nước châu Á 270

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình chữ U ngược 40

Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của Brazin giai đoạn 1962 – 1980 48

Hình 1.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của Brazin giai đoạn 1981 - 1994 49

Hình 1.4 Xu thế tăng trưởng kinh tế Brazin từ năm 1996 đến 2007 50

Hình 1.5 GNP/người của Hàn Quốc qua các năm 63

Hình 1.6 Cơ cấu ngành kinh tế của Hàn Quốc qua các năm 63

Hình 1.7 Tỷ lệ dân số nghèo của Hàn Quốc qua các thời kỳ 64

Hình 2.1 Quan hệ giữa tăng trưởng vốn đầu tư và tăng GDP 96

Hình 2.2 Tỷ lệ đầu tư trong GDP của các nước trên thế giới giai đoạn 96

Hình 2.3 Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 97

Hình 2.4 Đóng góp của các nhân tố đầu vào đối với tăng trưởng GDP 99

Hình 2.5 Quan hệ giữa tăng trưởng vốn đầu tư và tăng GDP 100

Hình 2.6 Cơ cấu kinh tế Việt Nam phân theo nhóm ngành, 1991-2008 106

Hình 2.7 Tốc độ tăng trưởng GDP và hệ số ICOR của Việt Nam, 1991-2009 108

Hình 2.8 Các chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam 110

Hình 2.9 Ý kiến về đánh giá sự bình đẳng giới trong phân phối thu nhập phân theo địa bàn điều tra 125

Hình 2.10 Ý kiến đánh giá về sự công khai tuyển dụng phân theo địa bàn điều tra 128

Hình 2.11 Ý kiến đánh giá về khen thưởng chống tiêu cực phân theo đối tượng điều tra 129

Hình 2.12 Ý kiến đánh giá các nhân tố tác động đến tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam 131

Hình 2.13 Ý kiến đánh giá về mức độ quan trọng của môi trường làm việc, sự đối xử công bằng và chế độ hưởng lương phân theo địa bàn điều tra 133

Hình 3.1 So sánh cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình Việt Nam năm 1994 và 2006 136

Hình 3.2 Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký thành lập 139

Hình 3.3 Số dự án phân theo ngành 148

Trang 12

Hình 3.4 Thu nhập và chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng

theo giá thực tế 155

Hình 3.5 Số lượng người tham gia BHYT 169

Hình 3.6 Nguồn chi trả cho dịch vụ khám chữa bệnh 172

Hình 3.7 Tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 1 tuổi ở các vùng 173

Hình 3.8 Sự chênh lệch về chi phí bảo hiểm y tế giữa các vùng 174

Hình 3.9 Một số chỉ tiêu đào tạo đại học và cao đẳng, 2000-2008 182

Hình 3.10 Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về thu nhập và chi tiêu 230

Hình 3.11 Tỷ lệ nghèo chung ở Việt Nam phân theo thành thị và nông thôn 233

Hình 3.12 Tỷ trọng GDP của từng vùng trong GDP của cả nước 239

Hình 4.1 Các giai đoạn của quá trình phát triển 283

DANH MỤC HỘP Hộp 1 Các chính sách y tế thực hiện trong giai đoạn vừa qua nhằm thực hiện tăng trưởng gắn với tiến bộ, công bằng xã hội 167

Hộp 2 Chính sách phát triển giáo dục, đào tạo chủ yếu thời kỳ 2001 – 2010 176

Hộp 3 Quy chế dân chủ cơ sở 214

Hộp 4 Sáu lĩnh vực phân cấp và định hướng phân cấp theo Nghị quyết 08 217

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Phát triển kinh tế là mục tiêu của các quốc gia trên thế giới Khi nói về một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trong việc tiếp cận các loại tài sản vật chất,

có những hoạt động vui chơi giải trí sang trọng, được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh Chúng ta cũng nghĩ tới một xã hội không có sự phân biệt đối xử, với các mức độ công bằng cần thiết Một yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển đó là chất lượng cuộc sống vật chất của quốc gia đó phải cao và được phân phối một cách đồng đều thay vì chỉ giới hạn một cách bất hợp lý cho một bộ phận tối thiểu giầu có trong xã hội Cao hơn yêu cầu tối thiểu đó, một quốc gia phát triển còn đề cập đến các quyền và sự tự do của con người về mặt chính trị, sự phát triển về văn hoá và tri thức, sự bền vững của gia đình,v.v Tuy vậy, trong quá trình phấn đấu đạt tới bức tranh toàn diện nói trên, mỗi nước đều có sự lựa chọn các cách

đi khác nhau và vấn đề trung tâm trong sự lựa chọn đó là sự “đánh đổi” giữa tăng trưởng kinh tế cao với tiến bộ và công bằng xã hội Quan điểm “đánh đổi” hai yếu

tố này đã tạo ra những hình mẫu khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước Các nước đi theo mô hình Chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa tập trung trước kia đã chủ trương nhấn mạnh tiến bộ, công bằng xã hội ngay từ khi kinh tế còn ở một trình độ còn thấp Trên thực tế, họ cũng đã đạt được những thành tựu nhất định

về sự bình đẳng và công bằng Hệ số GINI của Liên Xô và các nước Đông Âu vào thập niên 1960-1970 là 0,23, thu nhập của 20% dân số nghèo nhất là 19% (Paul R Gregogy, 1998) Tuy vậy, mô hình “đoàn tầu kéo” ấy đã không tạo ra được động lực tăng tốc để rồi đi chậm lại quá xa so với con tầu thời đại và cuối cùng phải dừng lại, chấp nhận không tới đích Nhiều nước, lại lựa chọn con đường tăng trưởng nhanh trước sau đó mới quan tâm đến công bằng xã hội, khởi nguồn là Mỹ, Canada, Nhật Bản, tiếp đó là các nước Nam Mỹ như Braxin, Mehico, Velezuela, và

cả một số nước và vùng lãnh thổ ở Đông Nam Á như Hồng kông, Malaysia, Philipines Các nền kinh tế này đã tạo ra những đoàn tầu, với “động lực đẩy” khá mạnh và quả thực là nền kinh tế khởi sắc rất nhanh trong thời gian khá ngắn Tuy vậy, một kết cục cuối cùng cũng là điều chúng ta không mong đợi, thu nhập bình quân đầu người ở các nước và vùng lãnh thổ này này đạt được khá cao nhưng các chỉ số phản ánh bình đẳng, công bằng xã hội thì ngày càng tiêu cực hơn Hệ số GINI của các nước Nam Mỹ hiện nay khoảng 0,5 – 0,6; bất bình đẳng ở Mỹ trong

Trang 14

những năm gần đây lại có xu hướng tăng lên khá rõ rệt, hệ số GINI từ 0,36 những năm 1970 lên 0,45 vào những năm 2000 (Báo cáo Phát triển thế giới 2006) Trong quá trình phát triển kinh tế, một số nước ngay từ đầu đã lựa chọn mô hình phát triển toàn diện, trong đó chú trọng đồng thời giải quyết cả mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và giải quyết công bằng xã hội Có thể thấy rất rõ đó là mô hình lựa chọn của một số nước Bắc Âu và khu vực Đông Bắc Á là Hàn Quốc và Đài Loan Thực tế đã chứng minh sự thành công của những nước này trong quá trình phát triển Họ không chỉ tạo ra được một nền kinh tế nhanh khởi sắc với thu nhập bình quân đầu người rất cao (thu nhập bình quân đầu người tính theo PPP ở: Hàn Quốc là 21 850$, Đài Loan 23 210$/người, các nước Bắc Âu đều xấp xỉ 40 000$), mà các chỉ tiêu về công bằng xã hội cũng thuộc loại tốt nhất thế giới (hệ số GINI nhỏ hơn 0,3; thu nhập của 20% dân số nghèo nhất khoảng 10% tổng thu nhập) Thành công của các nước đi theo mô hình phát triển toàn diện đã làm cơ sở cho nhiều kết luận khá mới trong các nghiên cứu từ thập niên 1990 trở lại đây so với các kết luận cổ điển

trước kia khi đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội: Độ chênh lệch trong phân phối thu nhập cao luôn tương ứng với tốc dộ tăng trưởng thấp( Galor và Zeira, 1993; Pesson và Tabellini, 1994; Birdsall và Londono, 1997); tăng trưởng kinh tế không hề có tác động tiêu cực đến phân hoá giầu nghèo Những thay đổi trong bất công bằng xã hội không giải thích được bằng nguyên nhân tăng trưởng kinh tế Các chính sách của chính phủ đóng vai trò quyết định đến giải quyết mối quan hệ này (Bruno, Ravallion và Squire, 1996)

Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọi thời đại Tuy nhiên, việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn, và trong thực tiễn đã có những ý kiến cho rằng có sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội Những chính sách dựa trên mục tiêu tiến bộ, công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế Ngược lại, những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Bởi vậy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến

bộ, công bằng xã hội luôn luôn là yêu cầu đặt ra cho mọi thời đại, mọi quốc gia Việt Nam, trước kia cũng giống như các nước XHCN khác,đã lựa chọn mô hình nhấn mạnh công bằng và bình đẳng xã hội ngay từ khi trình độ phát triển kinh

tế còn ở mức độ thấp Trên thực tế, chúng ta cũng đã tạo ra được những thành tựu đáng nói về lĩnh vực xã hội nói chung và tiến bộ, công bằng xã hội nói riêng Bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế, chúng ta đã có sự thay đổi trong sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 trình Đại hội

Trang 15

Đảng IX đã khẳng định rõ chúng ta lựa chọn mô hình “Phát triển toàn diện”, trong

đó nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế nhanh đồng thời với giải quyết ngay từ đầu và toàn diện tiến trình phát triển vấn đề tiến bộ, công bằng xã hội Trên thực tế, Việt Nam thời gian qua đã có những bước đi khá khởi sắc về kinh tế Vị trí tương đối của Việt Nam được cải thiện trong vòng 10 năm khá cao cả góc độ toàn cầu và khu vực: Việt Nam nhảy khoảng 40 - 60 bậc trên thế giới và 6 - 7 bậc trong khu vực về tốc độ tăng thu nhập bình quân trên đầu người (Ngân hàng Thế giới)

Việt Nam đi lên từ nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, tăng trưởng kinh tế nhanh là đòi hỏi cấp thiết để sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam xác định là tăng trưởng bền vững, tăng trưởng vì con người, vì một xã hội ngày càng công bằng hơn, dân chủ hơn, tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường Tiến bộ, công bằng xã hội đã được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu phấn đấu, là nhân tố ổn định xã hội Tiến bộ, công bằng

xã hội vừa là tiêu chí, vừa là một động lực của phát triển Qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn thay đổi sâu sắc Hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới đã làm thay đổi nền sản xuất và thương mại Tăng trưởng kinh tế đã góp phần thu hẹp một cách đầy ấn tượng diện nghèo đói và đạt được tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Bước quá độ sang kinh tế thị trường về cơ bản

đã được hoàn tất và Việt Nam đã gia nhập hàng ngũ các nước Đông Á có nền kinh

tế tăng trưởng với tốc độ cao

Bên cạnh những thành tựu vượt bậc đó, việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế

với tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam cũng đang vấp phải những khó khăn Một mặt, chủ nghĩa bao cấp vừa bình quân, vừa đặc quyền đã để lại di chứng, không những trong đời sống vật chất mà cả trong ý thức con người Mặt khác, quá trình

chuyển sang kinh tế thị trường, theo những xu hướng tự phát, chứa đầy những yếu

tố độc quyền, lũng đoạn, vô chính phủ, mặc dù làm cho kinh tế thị trường kích thích những hoạt động kinh tế, nhưng đồng thời tạo nên một sức ép tâm lý về xã hội của lối sống hãnh tiến, chạy theo đồng tiền một cách mù quáng Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, những thách thức mà Việt Nam phải đương đầu trong việc đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng lớn

Trang 16

Làm cách nào để có thể tận dụng những cơ hội mới do hội nhập đem lại để duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, đồng thời có thể bảo vệ những người nghèo nhất và những người dễ bị tổn thương trong xã hội trước những rủi ro ảnh hưởng đến mức sống của họ và đến khả năng họ được tiếp cận với những dịch vụ

xã hội cơ bản? Đây là câu hỏi không dễ trả lời và luôn là mối quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta ” là vấn đề có ý

nghĩa cấp thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

Gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là vấn đề rất rộng lớn và phong phú Tuy nhiên, theo đơn đặt hàng và thông báo của Hội đồng

Lý luận Trung ương và Ban Chủ nhiệm Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX04/06-10 ( tại Thông báo số 19-TB/HĐLLTW ngày 01/10/2007 ) thì đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt nam

Trên cơ sở đó, đề tài xác định những mục tiêu cụ thể như sau :

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và phương pháp luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; đưa ra khái niệm và giới thiệu những thước đo thông dụng nhất đối với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng

xã hội; phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở một số nước trên thế giới

- Phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế

và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó trong giai đoạn 1986-2010, đặc biệt chú trọng vào thời kỳ 10 năm (2001-2010)

- Dự báo bối cảnh trong nước và ngoài nước trong 10 năm tiếp theo 2020) tác động đến gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

(2011-ở nước ta Xây dựng và đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong thời kỳ mới ở Việt nam

- Chắt lọc các kết quả nghiên cứu quan trọng nhất của đề tài để đề xuất kiến nghị mới dưới góc độ lý luận chính trị về gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến

bộ, công bằng xã hội nhằm góp phần phục vụ cho việc bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991 của Đảng, soạn thảo văn kiện Đại hội 11 và soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ 2011 – 2020

Trang 17

3 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Các nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Theo nhà kinh tế được nhận giải thưởng Nobel năm 1971, Simon Kuznets , bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng nới rộng trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển, trở nên ổn định trong một giai đoạn, và sau đó thu hẹp dần trong những giai đoạn sau khi nền kinh tế đã chín muồi Persson và Tebellini đã xem xét tác động của phân phối thu nhập đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở 56 nước từ năm 1960 đến năm 1985 Theo

mô hình nghiên cứu của Aghion và Bolton (1992 - 1997); Galor và Zeira (1993); Saint-Paul và Verdier (1993),phân phối thu nhập càng bình đẳng thì tăng trưởng kinh

tế càng cao Trong nghiên cứu của Knell (1998) giải thích rằng sự liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng có thể mạnh hơn ở các nước giàu Ông đưa ra một

mô hình được xây dựng trực tiếp từ Bénabou (1996),trong đó các cá nhân có sự so sánh với xã hội Knell giả thiết rằng hành vi tối đa hóa lợi ích cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của họ mà còn phụ thuộc vào mức tiêu dùng trung bình của nhóm xã hội mà họ có liên quan Trong một xã hội mà thu nhập được phân phối bất bình đẳng, các hộ gia đình nghèo bị lôi cuốn theo cách sống của tầng lớp thượng lưu

và có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn Kết quả là mức đầu tư vào vốn nhân lực sẽ thấp

và tăng trưởng kinh tế thấp Như vậy,kết luận rút ra từ nghiên cứu này là bất bình đẳng sẽ làm tăng trưởng chậm lại Nhiều nhà kinh tế khác, như Barro và Edgar đã xây dựng mô hình phân tích chéo và đi đến kết luận có sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và sự bình đẳng trong phân phối thu nhập

Bài viết “Thị trường lao động, Công bằng xã hội và Hiệu quả kinh tế (Labour Markets, Social Justice and Economic Efficiency)”, Michael Kitson, Ronald

Leonard Martin và Frank Wilkinson, Cambridge Journal of Economics, năm 2000

nêu rõ, học thuyết kinh tế truyền thống cho rằng tồn tại mối quan hệ giữa công bằng xã hội và hiệu quả kinh tế Trên thực tế, các thể chế thị trường và kinh tế khác

bị thống trị bởi các mối quan hệ quyền lực,vì vậy công bằng xã hội là một yếu tố quan trọng Các chính sách kinh tế tự do mới bằng cách gỡ bỏ các hạn chế thực hiện quyền lực bất bình đẳng đã làm gia tăng bất công và tạo ra đường trôn ốc kinh

tế xã hội đi xuống Đảo ngược lại điều này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong học thuyết và chính sách kinh tế, tập trung vào tận dụng nguồn nhân lực, hoạt động của thị trường lao động, tổ chức công việc và tổ chức gia đình, cung cấp xã hội và tự cung tự cấp

Trang 18

Gylfason, T và Zoyga, G (2003), trong bài báo “Education, Social Equality and Economic Growth: A View of Landscape” đăng trên tạp chí CESifo Economic

Studies, Vol 49, Munich, Đức, đã phân tích mối quan hệ giữa giáo dục, công bằng

xã hội và tăng trưởng kinh tế, trong đó coi giáo dục là nhân tố cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Các tác giả đã sử dụng hệ

số Gini để phân tích và chỉ ra rằng 3 “biến số” cơ bản liên quan đến giáo dục là tỷ

lệ học sinh, chi tiêu cho giáo dục trong tổng thu nhập quốc dân và số năm đến trường của nữ giới có mối liên hệ trực tiếp đến công bằng trong phân phối thu nhập

ở 87 quốc gia trên khắp thế giới với mức thu nhập khác nhau và điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau

Lindert, P H (2004), trong cuốn sách “Growing Public Social Spending and Economic Growth since the eighteenth century” (Cambridge University Press,

2004), đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Trong cuốn sách này, bằng cách phân tích xu hướng của các số liệu liên quan đến thuế, trợ cấp, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế, Lindert chỉ ra rằng chi tiêu xã hội có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, GDP và thu nhập bình quân đầu người

Clarke, M (2003), trong luận án tiến sĩ kinh tế tại Đại học Victoria, Australia

“Is economic growth desirable? A welfare economic analysis of the Thai experience” đã sử dụng các tài liệu và số liệu thực tiễn của Thái Lan để phân tích

vai trò của tăng trưởng kinh tế đối với công bằng xã hội thể hiện thông qua cải thiện tình hình chăm sóc sức khoẻ, xoá đói nghèo và tăng cơ hội tiếp cận đối với các dịch vụ xã hội cơ bản khác

Clark, M và Islam, S (2004), trong cuốn sách “Economic Growth and Social Welfare: Operationalizing Normative Social Choice Theory” (Victoria University,

Australia) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội cũng như các hàm ý chính sách liên quan đến mối quan hệ này vì mục tiêu phát triển bền vững Mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội được phân tích dựa trên Lý thuyết lựa chọn xã hội, trong đó chỉ ra vai trò của các giá trị xã hội đối với việc xác định phúc lợi xã hội được xác định và đo lường như thế nào? Cuốn sách này phân tích trường hợp của Thái Lan trong giai đoạn 1975 –

1999 để minh hoạ cho lý thuyết nghiên cứu

Carmen, G và Isidro, F (2004), trong cuốn “Economic Growth and Social Welfare in European regions” đã sử dụng các mô hình kinh tế lượng để phân tích

sự khác nhau trong các biến số về kinh tế và phúc lợi xã hội ở các quốc gia và các

Trang 19

vùng ở châu Âu thể hiện qua các khía cạnh cơ bản: giáo dục, y tế, pháp lý, thể chế nhà nước và mức độ thoả mãn xã hội

Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, trong báo cáo nghiên cứu với tiêu

đề “Turkey – economic reforms, living standards and social welfare study” (2000)

đã phân tích thực trạng cải cách kinh tế, mức sống dân cư và công bằng xã hội ở Thổ Nhĩ Kỳ khi bước vào thế kỷ 21 Báo cáo này cũng đưa ra các khuyến nghị về chiến lược để nâng cao mức sống dân cư và giảm đói nghèo, bao gồm tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và bình ổn giá cả, giảm bớt

tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là cho trẻ em nghèo, phân bổ lại chi tiêu của Chính phủ một cách hợp lý để những người nghèo nhất có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản…

GS Katseli, L T (2007), giám đốc Trung tâm phát triển OECD, trong bài

“Gender Equality can boost Economic Growth” đề cập đến quan niệm về bình

đẳng giới, những xu hướng cơ bản về bình đẳng giới ở các quốc gia trên thế giới, cách thức đo lường mức độ bình đẳng giới và ảnh hưởng tích cực của bình đẳng giới đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trên thế giới, được phân loại thành 2 nhóm cơ bản: các quốc gia thuộc khối OECD và các quốc gia ngoài khối này

Bài viết “Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở khu vực châu Âu”

(Economic growth and social welfare in the European regions), tác giả M Carmen

Guisan và Isidro Frias, tạp chí Phát triển Kinh tế, trường Đại học Santiago de Compostela, năm 2007.Bài viết khảng định sự khác nhau giữa các khu vực ở châu

Âu không chỉ là thu nhập và lao động mà còn có nhiều bối cảnh quan trọng và khác nhau ảnh hưởng tới phúc lợi xã hội như giáo dục, y tế, công bằng hay sự hài lòng của nhân dân đối với các cơ quan chính phủ Mục đích của bài viết này là phân tích

sự khác nhau giữa các khu vực dựa trên chỉ số về kinh tế và phúc lợi xã hội Ngoài

ra thông qua các mô hình toán kinh tế, chúng ta sẽ xác định các yếu tố nguyên nhân tiềm ẩn của các bối cảnh khác nhau này

Báo cáo Phát triển Thế giới 2006 mang tựa đề Công bằng và Phát triển,

được thực hiện bởi một nhóm gồm 8 tác giả do hai chuyên gia kinh tế Francisco Ferreira và Michael Walton dẫn đầu, đã ủng hộ sự công bằng, không chỉ vì tự bản thân nó đã quan trọng, mà còn bởi vì công bằng còn khuyến khích đầu tư nhiều hơn và hiệu quả hơn, dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn Bản báo cáo đã chỉ

ra những hố sâu ngăn cách của sự bất bình đẳng trong giàu nghèo và trong cơ hội, kể cả trong nội bộ và giữa các quốc gia, đã góp phần dẫn đến sự nghèo khổ cùng cực kéo dài dai dẳng đối với một bộ phận lớn dân số Điều này làm lãng

Trang 20

phí tiềm năng con người và, trong nhiều trường hợp, có thể làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững

Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những chủ đề được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm

Trong các Văn kiện Đại hội Đảng CSVN từ khoá VII đến khoá X đã phát triển quan điểm về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Đặc biệt Đại hội Đảng lần thứ IX nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế nhanh đồng thời với giải quyết ngay từ đầu và toàn diện tiến trình phát triển vấn đề tiến bộ, công bằng xã hội; Đại hội X của Đảng nêu gắn kết trong từng bước và từng chính sách phát triển

Nghiên cứu " Kinh tế vĩ mô của giảm nghèo - Việt Nam tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng" của các tác giả John Weeks, Nguyễn Thắng, Rathin Roy và Joseph Lim thực hiện theo đơn đặt hàng của UN, đã nghiên cứu tác động của các

chính sách kinh tế vĩ mô ảnh hưởng tới người nghèo

Nghiên cứu của GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng về mối quan hệ tăng trưởng kinh

tế và bất bình đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 2000 Trong nghiên cứu này

đề tài đã phân tích tác động của tăng trưởng đến bất bình đẳng và đưa ra các giải pháp để làm giảm bất bình đẳng ở Việt Nam

Hà Huy Thành (2006), trong bài báo “Economic development relating to hunger eradication, poverty reduction and social equality in Vietnam”, đã tổng kết

những thành tựu mà nền kinh tế Việt Nam đã đạt được trong 2 thập kỷ kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế và tác động của những thành tựu kinh tế này đến công cuộc xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội ở Việt Nam, tập trung chủ yếu vào những kết quả đạt được ở hai lĩnh vực dịch vụ là y tế và giáo dục Bài viết đã chỉ ra rằng, nhờ có các chính sách và giải pháp vĩ mô đúng đắn của Chính phủ, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện Tuy nhiên, trong phân phối thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục vẫn còn những khoảng cách nhất định

Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới gồm Glewwe, P và các nhà nghiên

cứu khác, trong báo cáo nghiên cứu “Economics Growth, Poverty and Household welfare” (2004) đã sử dụng một cơ sở dữ liệu dồi dào về kinh tế học vĩ mô và điều

tra về hộ gia đình để phân tích các nội dung như : lý do thành công của Việt Nam

về tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của hộ gia đình

Trang 21

từ khi tiến hành đổi mới kinh tế đến năm 2000; triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam; tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi của hộ gia đình được đo lường thông qua các biến số như chi tiêu hộ gia đình cho tiêu dùng, y tế, giáo dục; hiệu quả của các chính sách của Chính phủ trong cuộc chiến chống đói nghèo

Trong báo cáo về Tình hình kinh tế Việt Nam, UNDP (2007) cũng đánh giá

cao những kết quả đạt được của 2 thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế đã góp phần thu hẹp một cách đầy ấn tượng diện nghèo đói và tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Báo cáo cũng chỉ ra rằng trong khi tăng trưởng kinh tế mang lại những cơ hội để tạo ra của cải vật chất và công ăn việc làm thì cũng có những người bị thua thiệt, đặc biệt

là về khả năng được tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản Báo cáo cũng khuyến nghị những giải pháp mà Việt Nam cần thực hiện trong những năm tới để giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng

Trong các Báo cáo Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Report) hàng

năm, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra những đánh giá tương đối toàn diện về quá trình tăng trưởng và thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trên các mặt cơ bản như: các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội của Việt Nam, các kết quả Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, công bằng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em… Các báo cáo trên cũng phân tích các chính sách cải cách cơ bản mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của mình

và đưa ra các khuyến nghị chính sách thiết thực và có hiệu quả

Phạm Xuân Nam (2007), trong bài báo “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đăng trên Tạp chí

Cộng sản điện tử cập nhật ngày 22/1/2007, sau khi điểm qua những kết quả của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam và tác động xã hội của nó, đã bàn về những quan điểm và giải pháp cơ bản để có thể thực hiện được mục tiêu “kép” là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Về quan điểm, tác giả cho rằng quan điểm tổng quát của Đảng CSVN “tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” cần phải cụ thể hoá thành những nội dung chủ yếu như tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội phải làm tiền đề và điều kiện cho nhau, cần khắc phục tàn dư của chủ nghĩa bình quân, đề cao vai trò của quản lý vĩ mô của Nhà nước và không thể tách rời yếu tố văn hoá trong phát triển Trên cơ sở quan điểm đó,

Trang 22

tác giả kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu “kép”, đó là các chính sách vĩ mô cần tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cơ hội tiếp cận một cách công bằng với các đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện phân phối theo lao động, theo đóng góp và theo hiệu quả kinh tế, cần có chính sách điều tiết và phân phối lại thu nhập, không chỉ qua phúc lợi xã hội mà cần mở rộng thành

hệ thống chính sách an sinh xã hội với nhiều tầng nấc khác nhau

Cũng liên quan đến vấn đề trên, Bùi Văn Nhơn (2007), trong bài báo “Công bằng xã hội - mục tiêu cốt lõi trong chính sách xã hội của Đảng ta” đăng trên Tạp

chí Cộng sản điện tử ngày 29/5/2007 đã bàn về thực chất của công bằng xã hội và chỉ ra các yếu tố tạo nên bất công bằng trong xã hội cũng như những vấn đề đặt ra đối với công bằng xã hội ở nước ta Từ đó, tác giả kiến nghị những giải pháp cho công bằng xã hội ở Việt Nam

Trong bài Phát triển kinh tế và văn hóa, Nguyễn Thế Đăng, (Tạp chí Văn hóa

Phật giáo) cho rằng chúng ta đều đồng ý là sự phát triển kinh tế càng ngày càng

tăng sau đổi mới đã làm cho cuộc sống dân chúng khá lên và đến năm 2010 chúng

ta sẽ thoát khỏi nhóm các nước đói nghèo Nhưng không nhiều người chú trọng vào

văn hóa, như là động lực của kinh tế, như ý kiến của UNESCO Không chỉ là động

lực mà văn hóa còn là định hướng và là kết quả nhân văn của một nền kinh tế lành mạnh Bởi vì văn hóa là yếu tố căn bản nhất để định nghĩa con người: con người là một sinh vật có văn hóa

Báo cáo “An sinh xã hội ở Việt Nam lũy tiến đến mức nào?” của UNDP Việt Nam (nhóm tác giả Martin Evans, Ian Gough, Susan Harkness, Andrew McKay, Đào Thanh Huyền và Đỗ Lê Thu Ngọc) công bố 22-8-2007 : Báo cáo này được viết

cho Chương trình Phát Triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam tiếp theo Văn kiện Đối thoại Chính sách, trong đó đưa ra những nguyên tắc chung cho các chương trình an sinh xã hội toàn diện ở Việt Nam Báo cáo này mang tính thực tiễn

và sử dụng số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình của Việt Nam (VHLSS) để xác định các đối tượng đang được thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội và tác động chung của các chương trình đó tới thu nhập và nghèo Đây là báo cáo tập trung xem xét tổng thể dân số và hệ thống an sinh xã hội

Cuốn sách “Đổi mới kinh tế xã hội tại Việt nam: Nguồn gốc, sự phát triển và

ảnh hưởng của quá trình Đổi mới” (SOCIOECONOMIC RENOVATION IN

VIET NAM: The Origin, Evolution, and Impact of Doi Moi)”, Peter Boothroyd và

Phạm Xuân Nam biên tập, IDRC/ISEAS 2000.Trong quyển sách này, các học giả

Việt Nam đã mô tả nguồn gốc cũng như các tác động của những thay đổi này Họ

Trang 23

cũng nghiên cứu xem việc chuyển đổi sang chính sách đổi mới đã ảnh hưởng như thế nào tới phát triển nông thôn, nhà ở đô thị, nền kinh tế hộ gia đình và phúc lợi xã hội Bên cạnh đó, cộng tác với các học giả Canada, họ cũng nghiên cứu sự phát triển của quá trình đổi mới và tác động của nó đối với sự phát triển trong tương lai của Việt Nam dựa trên các khảo sát thực tế, văn bản tài liệu lưu giữ lại và điều tra dân số “Đổi mới kinh tế xã hội tại Việt Nam (Socioeconomic Renovation in

Vietnam” còn lý giải các vấn đề và câu hỏi chính mà các cố vấn chính sách cũng

như nhà hoạch định phải giải quyết để đảm bảo sự vươn lên của Việt Nam vào cộng đồng quốc gia toàn cầu

Tuy nhiên, những công trình trong nước và ngoài nước kể trên còn những hạn chế :

- Các công trình mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về bất bình đẳng hoặc là những nghiên cứu từng mặt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội Sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội chưa được bàn một cách toàn diện Đây là vấn đề rộng lớn liên quan đến cả kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cần phải nghiên cứu trong tổng thể mới giải quyết triệt để vấn đề

- Vấn đề gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội chưa được nghiên cứu Ngay phạm trù tiến bộ xã hội cũng còn nhiều ý kiến khác nhau và chưa có sự thống nhất về hình thức biểu hiện của tiến bộ xã hội Đây cũng là vấn đề lớn phải nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn

- Các công trình khoa học ngoài nước đã có nghiên cứu khá sâu định lượng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Các công trình khoa học trong nước chủ yếu nghiên cứu định tính Cần có nghiên cứu tổng hợp cả định tính

và định lượng gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt nam Cần sử dụng các mô hình toán trong nghiên cứu định lượng ở nước ta

- Các công trình nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt nam tập trung cho giai đoạn 2001 – 2005, cho thời kỳ 2011 – 2020 chưa được nghiên cứu kỹ

- Cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống

về gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta trong điều kiện Việt nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới

- Các công trình khoa học đã công bố chưa nghiên cứu những luận cứ khoa học để đề xuất mục tiêu, quan điểm bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta

Trang 24

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu những luận cứ khoa học để đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011 - 2020 có ý nghĩa cấp thiết cả lý luận và thực tiễn.

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu dưới giác độ khoa học chính trị tức là phương pháp luận về vấn

đề tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội Giải quyết vấn đề ở khía cạnh kinh tế-xã hội, nghĩa là quan hệ giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và ổn định chính trị Xét mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

- Nghiên cứu sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

ở tầm vĩ mô Nghiên cứu quan hệ gắn kết cả khía cạnh định lượng và định tính

- Tiếp cận vấn đề trong hệ thống và xu thế động Đặt nghiên cứu sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong tiến trình vận động phát triển của đất nước, trong trạng thái mở cửa nền kinh tế, trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong phân tích, đánh giá, kiến giải thực tiễn

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn sâu được thực hiện ở 9 tỉnh, thành phố cả nước Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích số liệu điều tra và kết quả phỏng vấn Kết quả phân tích được thể hiện trong báo cáo tổng hợp theo các tiêu chí nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp qua hệ thống tư liệu và tài liệu thu thập được, chủ yếu sử dụng tài liệu thứ cấp Tổng kết khái quát hoá thực tiễn thành lý luận và các luận đề khoa học Tổng hợp, phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia theo từng nhóm đặc thù khác nhau thông qua khảo cứu các tài liệu thu thập được

Phương pháp toán thống kê được sử dụng trong các mô hình toán áp dụng phân tích thực tế quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác trong nghiên cứu kinh tế như phương pháp chuyên gia qua hội thảo, trao đổi khoa học; phương pháp sơ đồ, biểu đồ hóa phân tích

Trang 25

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 4 chương

Chương 1 Lý luận về gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công

bằng xã hội

Chương 2 Tăng trưởng kinh tế từ 1986 đến nay và thực trạng tiến bộ,

công bằng xã hội ở nước ta Chương 3 Thực trạng gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công

bằng xã hội ở nước ta

Chương 4 Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết hợp lý giữa phát

triển kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta giai đoạn 2011-2020

Trang 26

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ GẮN KẾT GIỮA TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1.1 Khái niệm

Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ , công bằng xã hội đang là tâm điểm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Đặc biệt Việt Nam là nước đang phát triển, đang chịu tác động của quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế tri thức thì mối quan hệ này càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Các chỉ tiêu

để đo tăng trưởng kinh tế thường đựơc sử dụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Nội hàm tăng trưởng kinh tế là tăng lên về số lượng trong một thời gian nhất định, khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ chất lượng của

sự tăng trưởng

Phát triển kinh tế là sự tăng cả về số lượng và chất lượng của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định Các chỉ tiêu phản ánh phát triển kinh tế là hiệu quả của nền kinh tế, hiệu quả đầu tư, cơ cầu kinh tế, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước đó so với các nước trong khu vực và thế giới

Tiến bộ xã hội, theo nghĩa rộng,là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến

trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minh hiện đại Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát từ con người, vì con người và hướng tới sự tiến bộ của con người Sự tiến bộ

xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội Tiến bộ xã hội mà Việt Nam đang thực hiện chính là phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Theo nghĩa hẹp, tiến bộ xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống ngày càng văn minh, dân chủ được thực hiện và các quyền của con người được bảo đảm Như vậy tiến bộ xã hội được xem như nội hàm của phát triển kinh tế

và công bằng xã hội Đề tài nghiên cứu tiến bộ xã hội theo nghĩa hẹp này

Trang 27

Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan

niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia Công bằng xã hội là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, bình đẳng trong chế độ phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thước đo chủ yếu về công bằng xã hội là : Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường cong Lorenz; Hệ số GINI; mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người …

1.1.2 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là mục tiêu phát triển của các quốc gia trong mọi thời đại Tuy nhiên, xét về lý thuyết, đây cũng là một nội dung trọng tâm của kinh tế học phát triển cho đến ngày nay Lý do là để đạt được mục tiêu này là không dễ dàng, thậm chí còn tồn tại sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Chính sách phát triển chỉ nhằm tăng trưởng nhanh

có thể phải trả giá rất đắt nếu tình trạng bất bình đẳng về thu nhập, bất bình đẳng về

cơ hội học hành, tiếp cận dịch vụ xã hội và nghèo đói gia tăng, thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn, gây cẳng thẳng xã hội Nhưng ngược lại, những chính sách chỉ thiên về mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội có thể làm triệt tiêu các động lực, kích thích tăng trưởng kinh tế

Mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng được thế giới nhận thức rõ hơn từ hai thập kỷ gần đây, được coi là một trọng tâm của chính sách phát triển ở tất cả các nước cũng như các tổ chức quốc tế Mối quan hệ này thực ra đã nằm trong nội hàm của phát triển bền vững Theo khái niệm mới nhất, phát triển bền vững gồm ba trụ cột có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đó

là phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường Qua

đó để thấy rằng nếu chỉ tăng trưởng sẽ không đủ để có xã hội bền vững Kết quả của mối quan hệ này thể hiện phần nào ở chỗ thành tựu về tăng trưởng có đi liền với tiến bộ, công bằng xã hội hay không

Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với tiến bộ, công bằng xã hội và ngược lại không phải được quan tâm một cách ngẫu nhiên, thiếu căn cứ Trái lại, về mối quan hệ hai chiều này đã được lý giải cả về lý thuyết và chứng minh trên thực tiễn, đặc biệt thông qua dòng lý thuyết tăng trưởng nội sinh xuất hiện từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiến bộ và công bằng xã hội –

có thể đo bằng một số chỉ số như chỉ số HDI, công bằng trong tiếp cận dịch vụ giáo

Trang 28

dục, y tế, vốn xã hội v.v – là những đại lượng xác định tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế Tiến bộ xã hội, công bằng xã hội quan hệ chặt chẽ đến tăng trưởng ở hai khía cạnh: (i) vừa là yếu tố đầu vào và (ii) vừa là thành quả của tăng trưởng, thể hiện ở khía cạnh phân phối thành quả của tăng trưởng cho các thành viên xã hội Do đó, đầu tư cho giáo dục, y tế, tạo cơ hội cho mọi người, nhất là người nghèo tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế v.v sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh

tế Nếu tăng trưởng nhanh bằng mọi giá mà các chỉ số nêu trên không cải thiện sẽ khó hy vọng có được tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí còn dẫn đến mâu thuẫn, xung đột xã hội và hệ lụy có thể là bất ổn xã hội

1.1.3 Đo lường quan hệ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội bằng mô hình toán

Để thấy được phân phối thu nhập biến đổi trong một tập hợp các nền kinh tế,

Quah (1993) lập một ma trận chuyển xích Markov Ma trận chuyển xich Markov

mô tả phân phối chéo khu vực chuyển từ một trạng thái này sang một trạng thái khác như thế nào

Mô hình xích Markov, đã được sử dụng trong những bối cảnh khác nhau bởi Stokey, Lucas và Prescott (1989), và Quah (1993, 1996) và nhiều tác giả khác, được áp dụng để theo dõi những chuyển động trong một phân phối Trong bối cảnh

ở đây, mô hình này được sử dụng để thu được thông tin về các đặc trưng của phân phối đang biến đổi một cách động của các mức tăng trưởng của các tỉnh: hình dạng bên ngoài, động thái bên trong phân phối, dáng điệu dài hạn và tốc độ hội tụ

Cho Ft ký hiệu phân phối theo số liệu chéo của các thu nhập trên đầu người thời gian t Khi đó, sự biến đổi của phân phối này qua thời gian có thể được mô tả bằng phương trình sau:

có thể được biểu thị bằng các véc tơ xác suất và toán tử T trở thành một ma trận xác suất chuyển, P Trong trường hợp đó, phương tình (1) có thể viết là:

và hệ thống được xem như một quá trình Markov cấp một Việc sử dụng các lõi

Trang 29

ngẫu nhiên có ưu điểm hơn sử dụng các xích Markov rời rạc theo nghĩa có sự tùy ý nào đó trong việc rời rạc hóa Mặt khác, trong khi các lõi ngẫu nhiên cho phép mô

tả sự biến đổi của phân phối toàn cục, chúng không cho thông tin nào về những chuyển động của các vùng trong phân phối này (Le Gallo, 2004) Do đó, trong khi các lõi ngẫu nhiên không hạn chế như các xích Markov rời rạc, chúng cũng không

có nhiều thông tin như các xích Markov rời rạc Trong mục này, các xích Markov rời rạc sẽ được sử dụng để phân tích sự hội tụ

Phân tích xích Markov bắt đầu bằng định nghĩa một tập hợp C của K lớp (hay trạng thái) thu nhập Ft trở thành véc tơ xác suất của các lớp này tại thời gian t, tức

là Ft = (F1t, F2t, …, FKt)’ Khi đó P có thể được diễn giải như một ma trận xác suất chuyển: đối với bất kỳ hai lớp thu nhập i và j (i, j ∈ C), phần tử pij của P định nghĩa xác suất chuyển từ lớp i sang lớp j giữa thời gian t và t+1 (Magrini, 2004) Trong trường hợp đó, một xích Markov (cấp một, rời rạc) được định nghĩa là một quá trình ngẫu nhiên sao cho, đối với bất kỳ biến x của vùng r, xác suất pij của việc

ở vào trạng thái j tại thời điểm bất kỳ t + 1 chỉ phụ thuộc vào trạng thái i mà nó có tại t, mà không phụ thuộc các trạng thái tại các thời điểm trước, nghĩa là (Bickenbach và Bode, 2003):

P{xr,t+1 = j | xr,t = i, xr,t-1 = i-1, …, xr,0 = i0} = P{xr,t+1 = j | xr,t = i} = pij (3) đối với bất kỳ vùng r và đối với bất kỳ i, j ∈ C Nếu quá trình này độc lập với thời gian, xích Markov được xác định hoàn toàn bởi ma trận chuyển Markov P với pij ≥

h mô tả các xác suất bắt đầu của các trạng thái khác nhau

Cũng rất hữu ích là tìm các xác suất giới hạn của các trạng thái ở dài hạn, pi,

i ∈ C Tuy nhiên, không phải tất cả các xích Markov đều có các xác suất giới hạn Nếu một xích Markov là ergodic thì nó có một phân phối giới hạn (dừng, ergodic)

Có thể ước lượng ma trận chuyển theo cách tiếp cận hợp lý cực đại (Bickenbach và Bode, 2003) Giả sử rằng chỉ có một thời kỳ chuyển, với phân phối ban đầu hi = ni/n đã cho và cho nịj ký hiệu số tuyệt đối những chuyển tiếp từ i sang j quan sát được qua thực nghiệm Khi đó, cực đại hóa theo pij của

=

= K

1 j i

ij

ijlnpnL

n P

n

=

Trang 30

là ước lượng hợp lý cực đại không chệch một cách tiệm cận và có phân phối chuẩn của pij

Độ tin cậy của các xác suất chuyển xích Markov phụ thuộc vào giả thiết về tính thuần nhất, nghĩa là các xác suất chuyển không thay đổi qua thời gian Để kiểm định tính thuần nhất theo thời gian, toàn bộ thời kỳ được chia thành các thời kỳ con

và giả thiết rằng các xác suất chuyển ước lượng được đối với các thời kỳ con không khác với các xác suất ước lượng được đối với cả thời kỳ Để kiểm định giả thiết này, thống kê kiểm định sau đây được sử dụng (Bickenbach và Bode, 2003)

2 ( )

( ( ) )( )

T K K

ij ij T

i

i 1)(b 1)a

( bậc tự do, ở đây ai là số thời kỳ con mà trong đó sẵn có các quan sát đối với hàng thứ i và bi là số ô dương trong hàng thứ i của ma trận đối với toàn mẫu

Phân tích sự hội tụ được tiến hành bằng cách xem xét các xác suất pij và phân phối ergodic Nếu xác suất chuyển sang các lớp giàu hơn là cao trong các lớp thu nhập nghèo thì ta nói là xảy ra sự hội tụ vì một vùng bắt đầu từ một lớp thu nhập nghèo

có cơ hội trở nên giàu hơn Nếu xác suất của các lớp thu nhập trung bình cao hơn xác suất của các lớp ở các đuôi của phân phối trong phân phối ergodic khi so với phân phối ban đầu, ta lại một lần nữa kết luận là có sự hội tụ Mặt khác, nếu phân phối ergodic tập trung quanh hai lớp cách biệt, thì ta kết luận là có sự tạo thành các cụm hội tụ hay là có hai mod trong phân phối thu nhập

1.2 NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ TIẾN BỘ, CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.2.1 Tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê nin

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng cùng với việc kế thừa, phát triển một cách sáng tạo những yếu tố hợp lý trong tư tưởng về công bằng xã hội trong lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra một quan niệm mới, khoa học và toàn diện hơn về công bằng xã hội Hơn thế các ông còn chỉ ra thực chất, vai trò và phương thức thực hiện công bằng xã hội trong đời sống xã hội hiện nay

Trang 31

Trước hết, Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, công bằng xã hội là sản phẩm

của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người hình thành trong quá trình hoạt động sinh sống Quan hệ đó không phải do sự sáng tạo thuần túy chủ quan của con người, hay do một lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên nào đó sinh ra

Là sản phẩm của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội luôn luôn vận động, biến đổi, nên công bằng xã hội cũng phải biến đổi cùng với những điều kiện tồn tại xã hội và

đời sống xã hội Trong vấn đề nhà ở, khi bàn đến cơ sở kinh tế của những quan

niệm về công lý của con người, Ph Ăngghen viết: “ Công lý luôn luôn chỉ là biểu hiện trên lĩnh vực quan niệm và siêu hình của những quan hệ kinh tế hiện có, khi thì về phương diện bảo thủ, khi thì về phương diện cách mạng của những điều kiện kinh tế đó Công lý của người Hy Lạp và người La Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bằng; công lý của những nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng”[17, trang 379] Luận điểm trên cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác -Lênin không cho rằng có công bằng xã hội chung cho mọi xã hội Mỗi xã hội có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, các giai cấp gắn với điều kiện kinh tế đó có địa vị khác nhau, nên quan niệm về công bằng xã hội cũng khác nhau và mang tính giai cấp rõ rệt

Thứ hai, Công bằng xã hội thực chất là mối quan hệ về mặt lợi ích của con

người trong xã hội Lợi ích của con người biểu hiện trên nhiều lĩnh vực, như lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật vv ; trong đó, lợi ích về kinh tế là cơ bản nhất Vì vậy, việc thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện công bằng xã hội trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Thứ ba, Để giải quyết vấn đề công bằng xã hội, trước hết phải giải quyết vấn

đề công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế và phải thực hiện từng bước, xuất phát từ những điều kiện thực tế của sự phát triển sản xuất Nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -Lênin vạch rõ cơ sở khách quan của sự bất công trên lĩnh vực kinh tế trong chủ nghĩa tư bản, đó là là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sẩn phẩm lao động Chế độ sở hữu đó quyết định chế độ phân phối trong chủ nghĩac tư bản, làm cho của cải, sự giàu có, quyền lực ngày càng tập trung vào tay giai cấp tư sản, còn sự bần cùng, sự nghèo nàn ngày càng tập trung vào về phía giai cấp vô sản, về phía đa số những người lao động Để xóa bỏ sự bất công này cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu mới, sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Nhưng làm thế nào để xóa bỏ được chế độ tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất? Điều này không đơn giản chỉ dựa vào mong muốn chủ quan cuủa con người,

Trang 32

mà phải bằng những lực lượng thực tế của xã hội và phải thực hiện từng bước Chủ nghĩa Mác -Lênin chỉ rõ lực lượng vật chất thực tế đó chính là giai cấp công nhân, sản phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí trong chủ nghĩa tư bản, được tổ chức một cách khoa học, để lôi cuốn, đoàn kết đông đảo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, thay thế xã hội tư bản bằng xã hội xã hội chủ nghĩa Công bằng xã hội

sẽ được giải quyết từng bước cùng với việc xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và xây dựng, phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Trong Phê phán cương lĩnh Gôtha, khi phê phán quan điểm mơ hồ, tiểu tư sản của Látxan về những giải pháp xây dựng xã hội mới trong đó đảm bảo sự công bằng xã hội tuyệt đối giữa con người với nhau, C.Mác cho rằng, không thể thực hiện ngay sự công bằng xã hội một cách tuyệt đối Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, do mới thoát thai từ xã hội tư bản, chủ nghĩa cộng sản chưa phát triển trên cơ sở của chính mình, nên không khỏi còn chịu ảnh hưởng của xã hội tư bản Thực hiện phân phối theo lao động trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản

là một bước tiến lớn trong việc thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên chế độ phân phối đó vẫn dựa trên tiêu chuẩn của chủ nghĩa tư bản, chấp nhận sự bất công nhất định Theo C.Mác, điều đó là không thể tránh khỏi vì trình độ phát triển kinh tế chưa cho phép C Mác viết: “ Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc đó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể

ở mức độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh

tế đó quyết định” [18,trang 35-36] C.Mác còn chỉ rõ: khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, con người chưa phát triển toàn diện, còn phụ thuộc vào

sự phân công lao động xã hội, thì chưa thể thực hiện đầy đủ nguyên tắc công bằng

xã hội - khẩu hiệu làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu Đòi hỏi thực hiện công bằng xã hội ở mức độ quá cao so với trình độ phát triển của kinh tế là ảo tưởng, là không thực tế, và điều đó sẽ cản trở sự phát triển xã hội

Thứ tư, công bằng xã hội theo xu hướng vận động của nó, luôn đối lập với bất

công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện con người Do vậy, công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Trang 33

nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Những phân tích và dự báo của chủ nghĩa Mác -Lênin về con đường và giải pháp đi đến công bằng xã hội đã được thực hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX một cách không thành công, bởi vì những giải pháp đó còn mang tính chủ quan, duy ý chí, quá lạm dụng những biện pháp phi kinh tế trong việc chuyển

từ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sang chế độ công hữu chưa thích hợp với thời gian biểu của lịch sử Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu không có nghĩa là con đường đi đến công bằng xã hội do chủ nghĩa Mác -Lênin vạch ra là sai lầm., mà ngược lại, điều đó chứng tỏ rằng mục tiêu đó là đúng đắn, được luận chứng một cách khoa học

1.2.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam

Hồ Chí Minh không phải là nhà kinh tế học có những học thuyết uyên thâm Người chỉ là nhà lãnh đạo chính trị quốc gia Song từ thực tiễn của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân với nạn đói khủng khiếp, khi tìm những giải pháp khắc phục những hậu quả nặng nề đó, Người đã đưa ra những quan điểm, những chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam và chính ở đây, Người đã bắt gặp những tư tưởng tiên tiến của thời đại

Một trong những tư tưởng lớn đó là phát triển kinh tế bền vững

Suốt trong chiều dài của lịch sử, các nhà kinh tế vẫn tách vấn đề kinh tế ra khỏi những vấn đề xã hội Người ta coi tăng trưởng kinh tế là “ sự gia tăng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời hạn nhất định” Mãi đến những năm 80 của thế kỷ XX, sau những báo động về thảm họa môi trường và bất ổn xã hội, người ta mới thấy cần thiết phải bổ sung “ những nội dung xã hội vào khái niệm tăng trưởng kinh tế” Sự phát triển bền vững phải được xác định ở khái niệm ba chiều: bền vững về kinh tế, về xã hội và môi trường “ Phát triền bền vững là tổ hợp các hoạt động có thể giúp cải thiện được các điều kiện cho con người theo cách thức sao cho có thể duy trì được sự cải thiện đó”[81,trang33]

Từ mảnh đất tận cùng của sự nghèo đói, Người đã phát hiện ra rằng, giải quyết vấn đề kinh tế không thể tách rời những vấn đề xã hội Người cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc chính là giải phóng lực lượng sản xuất Người viết “ Chúng tôi không chủ trương đấu tranh giai cấp vì một lẽ tầng lớp tư sản Việt Nam

đã bị kinh tế thực dân đè nén không cất đầu lên được, khiến cho kinh tế Việt Nam

bị tiêu diệt, dân cùng tài tận Trái lại, chúng tôi chủ trương làm cho tư sản Việt Nam phát triển Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới có thể

Trang 34

phát triển”[51,trang 169-170] Như vậy, chỉ có giành được độc lập mới có thể phát triển kinh tế Ngay sau khi giành được chính quyền, Người đã nêu ra nhiệm

vụ “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”[51,trang 440] Vịệc kết hợp

này đã thể hiện đầy đủ quan điểm phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội Tiếp đó, Người nêu ra các mục tiêu cơ bản của công cuộc kiến quốc là: “ - Làm cho dân có

ăn - Làm cho dân có mặc - làm cho dân có chỗ ở - làm cho dân được học hành”[50,trang152] 40 năm sau, những mục tiêu ấy lại trở thành mục tiêu thiên niên kỷ của nhân loại, bởi vì chúng là nền tảng của sự phát triển bền vững

Song tầm nhìn của nhà lãnh đạo không chỉ dừng lại ở những nét khái quát cơ bản đó Người hiểu rằng, muốn đạt được mục tiêu đó, cần phải đặt nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu, nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại Từ góc nhìn đó, Người đưa ra những chính sách vô cùng mới mẻ vào thời điểm bấy giờ: chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế Khi người nêu ra 4 chính sách kinh tế quan trọng, người đặc biệt lưu ý đến chính sách “ Lưu thông trong ngoài” Người viết:

“Ta ra sức khai thác lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để ta mua những thứ

ta cần dùng Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa

ta chưa chế tạo được Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta”[53, trang222] Người đã nêu ra chính sách kêu gọi đầu tư ngay từ lúc mới giành được chính quyền Người viết: “Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đóng góp cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”[50,trang79] Người đặc biệt nhấn mạnh đến tư tưởng chủ động hội nhập quốc tế: “Chúng tôi hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi Một

là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa với kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình”[51,trang170] Như vậy, tư tưởng chiến lược

của Hồ Chí Minh là không những gắn hội nhập kinh tế với phát triển kinh tế nước

ta, mà còn gắn với bảo vệ hòa bình và an ninh quốc gia Tư tưởng chiến lược này

đã thể hiện trong thực tế vào thời kỳ đổi mới Năm 2007, Việt nam trở thành thành viên của WTO Năm 2008, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 186 quốc gia và khu vực trển thế giới Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 1988 đến 2008 đã đạt vốn đăng ký đến 163.607,2 tỷ USD và thực hiện 59.945,5 tỷ USD [98,trang105]

Nhưng không chỉ phát huy sức mạnh bên ngoài, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh sức mạnh nội sinh Người thực hiện quan điểm đó bằng chính sách tự lực

Trang 35

cánh sinh Người yêu cầu toàn dân tiết kiệm để đầu tư, phát huy mọi tiềm năng sẵn

có, “không để ai không sử dụng những năng lực, tiền tài, trí tuệ, ruộng đất, máy móc ” tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất Người viết: “ Tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất” “ Tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu quy đến cùng là tiết kiệm vốn Nhưng còn một cách tiết kiệm vốn nữa mà công nhân ta còn

ít nghĩ đến Đó là làm cho vốn quy vòng nhanh Biết làm cho vốn quay vòng nhanh, thì có ít vốn mà dùng được nhiều lần, nên sản xuất được

nhiều”[55,trang341] Để phát huy nội lực lại phải “phải có kế hoạch”, “phải khéo tổ chức, “ phải tìm cách tổ chức cho hợp lý để một người có thể làm việc như hai

người, một ngày có thể làm việc như hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng”[52,trang486] Người yêu cầu phải dùng toàn bộ tiết kiệm được vào công nghệ nước ta Người cho rằng, để đạt được công bằng xã hội, cần phải kiên quyết chống tham nhũng Người nói: “Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội”[51,trang 110] Muốn vậy phải nâng cao hiểu biết của dân vì

“Quan tham vì dân dại Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì quan dù không liêm cũng phải hóa ra liêm”[51,trang 643] Người cho rằng tham nhũng bắt nguồn

từ lòng tham Người viết: “ Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm Người cán bộ cạy quyền cậy thế mà đục khoét của dân, ăn của đút hoặc trộm của công là của tư”[51,trang 641] Người dẫn lời của Khổng Tử “Người không liêm không bằng súc vật” Người gọi bọn tham nhũng là “ giặc nội xâm” Người nhấn mạnh “ Tất cả mọi người từ trên xuống dưới, trong chính phủ và ngoài chính phủ, dân thường và cán bộ đều phải sống trong sạch, không tham lam, đục khoét của công, ăn hối lộ, trộm cắp hà lạm, ai cũng phải tôn trọng lợi ích chung”[51,trang 225] Người đặc biệt nhấn mạnh đến tăng năng suất lao động bằng tri thức và kỹ năng Người viết: “ Thợ học cho tinh xảo”, thì lợi nhuận sẽ tăng gấp 5, gấp 10”[51,trang 156] Từ quan điểm này, Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo đến đào tạo con người, chăm lo đến bồi dưỡng vốn con người Sau này, từ góc độ khoa học kinh tế, người ta đã phát hiện nguyên lý gọi là “ phần dư Solow” hay tổng năng xuất nhân tố (TFP), điều mà Hồ Chí Minh đã diễn dạt ở dạng sơ khai

Hồ Chí Minh cũng sớm nhận ra yếu tố công bằng xã hội trong sự phát triển bền vững Lý thuyết cổ điền và tân cổ điển, đặc biệt là mô hình tăng trưởng chữ U ngược của Kurznets (1955), đều nhấn mạnh bất bình đẳng xã hội là hệ quả của tăng trưởng kinh tế Theo Kurznets, một khi xã hội phát triển tới mức cao nhất định thì mức độ bất bình đẳng sẽ giảm đi, lúc đó thu nhập và phúc lợi có xu hướng được phân phối lại công bằng hơn Nhiều kiểm định thực tế đã bác bỏ giả thuyết này: bất

Trang 36

bình đẳng về phân phối thu nhập không những không giảm đi mà còn tăng lên ở mức cao ngay cả ở nhiều nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh

Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã đưa ra quan điểm phải gắn kết phát triển kinh tế với công bằng xã hội ngay từ đầu và từng bước thực hiện, coi đó không chỉ

là mục tiêu mà còn là động lực của tăng trưởng kinh tế Hồ Chí Minh coi việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết và yêu cầu đó lại càng bức thiết hơn khi cuộc sống còn nhiều khó khăn Hồ Chí minh căn dặn: “ Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng luôn luôn nhớ:

“ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng;

Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”[56,trang 185] Mặt khác, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng thực hiện công bằng xã hội theo nguyên tắc ngang bằng nhau giữa người và người trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ Do đó không thể coi việc thực hiện công bằng xã hội như là sự cào bằng trong nghèo khổ Người khẳng định: “ Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng[53,trang 68] Người lại viết: “ Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội”[54,trang 386]

Hồ chí Minh cho rằng bình đẳng xã hội, trước hết là bình đẳng trong phân phối, mà ở đây là phân phối theo lao động Thế nhưng điểm xuất phát của sự phân phối đó lại chứa đựng sự bất bình đẳng trong cơ hội, cho nên, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phân phối theo lao động và theo phúc lợi Người viết: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”[54,trang 386] Những người đó được phân phối theo quỹ phúc lợi Người mong muốn:

“ Làm cho người nghèo thì đủ ăn

Làm cho người đủ ăn thì khá giàu

Làm cho người khá giàu thì giàu thêm”[51,trang 65]

Để thúc đẩy những bước tiến như vậy, Người chủ trương phải bình đẳng

giữa các thành phần kinh tế Khi giải thích chính sách Công tư đều lợi, Người viết: “ Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và sự lãnh đạo cả nền kinh tế

dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng

hộ nó Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị

Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công

nghệ Đó cũng là những lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nước

Trang 37

nhà Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân[53,trang 222] Người cho rằng để đạt dược công bằng xã hội, trước hết phải điều hòa lợi ích của cá nhân và xã hội, lợi ích của các tầng lớp dân cư Người nhấn mạnh “ chính sách chủ thợ đều lợi Người viết: “ Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ chỉ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ bảo vệ quyền lợi của công nhân Đồng thời vì lợi ích lâu dài, anh chị em làm thợ cũng để cho chủ được

số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên”[53,trang 272] Người nhấn mạnh, sự điều hòa lợi ích là động lực hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế Người viết: “ Chủ phải luôn nhớ rằng: nếu công nhân đủ ăn, đủ mặc, thì họ mới đủ sức, đủ sức thì họ mới làm việc tốt Nếu công nhân biết rằng: họ chẳng những làm lợi cho chủ, mà họ cũng có một phần lợi thì họ sẽ hăng hái làm Vì vậy, muốn được việc thì đối với lương bổng, nhà ở, vệ sinh và cách đối đãi công nhân, phải rộng rãi, tử tế Lại nên có những lớp học cho thợ và con thợ Thợ học cho tinh xảo hơn, con thợ học thế cho những thợ già về hưu Thợ vui vẻ làm việc thì chủ sẽ lợi gấp 5, 10 số phí tổn đó Chủ thợ phải nhớ rằng: Tăng gia sản xuất chẳng những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn lợi chung cho nền kinh tế của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào”[51,trang 166] Nói về việc thực hiện công bằng xã hội với tư cách là một yếu tố quan trọng của phát triển bền vững không thể không nhắc tới chính sách nhân đạo và khoan dung của chủ tịch Hồ Chí Minh Chính sách đó là “ Lo toan và đảm bảo những điều kiện sống cho mọi người trong xã hội, bất kể thành phần, vị trí, hoàn cảnh Đối với người nghèo, lo cơm ăn áo mặc, học hành Đối với người hữu sản, lo làm sao giúp

đỡ họ có thể đem tài năng và những phương tiện để phát triển sản xuất, góp phần kiến quốc”[67,trang 278] Chính sách đó là tiền đề của Chương trình An sinh xã hội sau này

Cuối cùng, Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề bảo vệ môi trường Vào lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề môi trường chưa đặt ra một cách bức xúc Người dự cảm thấy cây xanh là nguồn sinh lực của đất nước Vào năm 1958, Người phát động tết trồng cây và cố gắng làm cho nó trở thành phong tục tốt đẹp của dân tộc Người viết:

“Mùa xuân là tết trồng cây

28 năm sau đó Chương trình Chăm lo cho trái đất ra đời và trồng rừng, bảo vệ rừng trở thành một nội dung quan trọng của sự phát triển bền vững

Trang 38

Hơn bốn mươi năm đã qua, kể từ ngày Người ra đi vĩnh viễn, đất nước đã có nhiều thay đổi: đã ra khỏi cuộc khủng hoảng vào những năm 80, đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện Nhiều tư tưởng của Người về phát triển bền vững đã trở thành hiện thực

Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, trong đó đã thể hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển bền vững Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 200USD vào năm 1990 lên 1028 USD vào năm 2008[88] Tỷ lệ đói nghèo

đã giảm từ 18% vào năm 2004 xuống 13,5% vào năm 2008 Chỉ số HDI đã đạt mức trung bình: 105/177 quốc gia Còn nhiều thách thức trên con đường tiến tới một “ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” Song, chúng ta rất tự hào về những thành tựu to lớn trong thời gian qua, xứng đáng với lòng mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu

Trước tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội cuối những năm 70, đầu những

năm 80 của thế kỷ XX, Đại hội lần thứ VI của Đảng trên tinh thần “nhìn thẳng vào

sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói sự thật”[24,trang12] đã thẳng thắn tự phê bình

về việc thực hiện chủ trương, chính sách sai lầm trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Báo cáo Chính trị tại Đại hội đã vạch rõ những hạn chế và sai lầm

trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cả về chế độ sở hữu, chế độ phân phối

và cơ chế quản lý Về chế độ sở hữu: chúng ta đã có những biểu hiện nóng vội,

muốn xóa bỏ ngay khu vực kinh tế “ phi xã hội chủ nghĩa”, nhanh chóng thiết lập khu vực kinh tế “ xã hội chủ nghĩa” (gồm quốc doanh và tập thể); về phân phối: chúng ta đã thực hiện một chế độ phân phối bình quân; về quản lý: chúng ta thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung

Để khắc phục những sai lầm ấy, Đại hội Đảng lần thứ VI đã quyết định chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung, dựa trên chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất dưới hai hình thức chủ yếu là quốc doanh và tập thể, sang nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đại hội khẳng định trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phải được quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu, với động lực thúc đẩy là sự kết hợp hài hòa lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của tập thể và lợi ích riêng của từng người lao động

Phù hợp với đường lối đổi mới ấy, Đại hội VI cũng đề xuất cách nhìn mới và

đề ra các giải pháp mới để thực hiện công bằng xã hội - một trong những mục tiêu

quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 39

Từ kinh nghiệm thực tế, Đảng ta đã chỉ rõ: “ lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”[24,trang 57] và đã đề ra quan điểm mới về nhiệm vụ cải tạo xã

hội chủ nghĩa Đại hội VI khẳng địmh: “Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất” [24,trang 58] Điều trên đây cũng có nghĩa khẳng

định rằng, chúng ta không thể sớm đạt được mục tiêu công bằng xã hội bằng cách như đã làm trong thời kỳ trước đổi mới là nhanh chóng xóa bỏ chế độ tư hữu, mặt khác, cũng không thể đạt được mục tiêu công bằng xã hội ngay lập tức, trong một thời gian ngắn qua ba bốn kế hoạch 5 năm như dự kiến ban đầu, mà chỉ có thể đạt được dần dần, qua một thời gian dài tương ứng với từng bước thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội VI của Đảng đã đề ra những nội dung

và các giải pháp thực hiện công bằng xã hội:

Trước hết, để khắc phục tính chất bình quân, khắc phục tình trạng “ tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động” [24,trang 63] trong phân phối thời kỳ trước đổi mới, Đại hội nhấn mạnh phải quay trở lại thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động Văn kiện Đại hội viết: “ Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi sửa đổi một cách căn bản chế độ tiền lương theo hướng đảm bảo yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân, xóa bỏ từng bước cung cấp còn lại trong chế độ tiền lương, áp dụng các hình thức trả lương gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”[24,trang 72], “ Bảo đảm cho người lao động có thu nhập thỏa đáng phụ thuộc trực tiếp vào kết quả lao động, có tác dụng khuyến khích nhiệt tình lao động” [24,trang 88] Mặt khác xuất phát từ bài học “ Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”, Đại hội đã không tuyệt đối hóa nguyên tắc phân phối theo lao động, coi đó là nguyên tắc phân phối duy nhất đúng trong thời kỳ quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội (nhưng trên thực tế lại tiến hành phân phối một cách bình quân) như trong thời kỳ trước đổi mới Văn kiện Đại hội ghi rõ: “ Giải quyết một phần quan trọng việc làm cho người lao động và bảo đảm về cơ bản phân phối theo lao động Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta” Như vậy căn cứ vào” điều kiện cụ thể của nước ta” [24,trang 45], Đại hội đã chủ trương “ về cơ bản thực hiện phân phối theo lao động” (hay nói như hiện nay “ phân phối theo lao động là chủ yếu”) Tuy nhiên, Đại hội đã nêu

Trang 40

ra một số quan điểm quan trọng chỉ đạo việc thực hiện công bằng xã hội Văn kiện Đại hội khẳng định:

- “ Cùng với việc tiến tới xóa bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội, phải đấu tranh kiên quyết chống những hiện tượng tiêu cực, làm cho những nguyên tắc công bằng xã hội và lối sống lành mạnh được khẳng định trong cuộc sống hàng ngày của xã hội ta” [24,trang 87]

- “ Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Nhà nước có chính sách ưu đãi

về kinh tế (như chính sách đầu tư, thuế, tín dụng ) đối với thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; song về pháp luật phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng Những người làm ra của cải và những việc có ích cho xã hội, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và chính sách đều được tôn trọng, được quyền hưởng thu nhập tương xứng với với kết quả lao động, kinh doanh hợp pháp của họ Đối với những kẻ lười biếng, ăn bám, phải phê phán và cưỡng bức lao động Những kẻ phạm pháp đều bị trừng trị theo pháp luật Ai vi phạm hợp đồng kinh tế, đều bị xử phạt và phải bồi thường Đó là chính sách nhất quán với mọi công dân, không phân biệt họ thuộc thành phần kinh tế nào” [30,trang 9]

- “ Tôn trọng lợi ích chính đáng của những hoạt động kinh doanh hợp pháp,

có ích cho xã hội Ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc các nguồn thu nhập bất chính Nghiêm trị những kẻ phạm pháp bất kỳ ở cương vị nào Bảo đảm sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, chống đặc quyền, đặc lợi” [24,trang 61-62]

Đây là những tư tưởng đổi mới rất quan trọng về tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta Trên nền tảng tư tưởng đổi mới đó các Đại hội đảng sau tiếp tục bổ sung

và phát triển

Thực vậy, nếu Đại hội VI mới chỉ khẳng định là phải “ bảo đảm về cơ bản phân phối theo lao động” thì Văn kiện Đại hội VII của Đảng đã nói rõ hơn, khẳng định dứt khoát hơn sự đổi mới trong nội dung của nguyên tắc phân phối bảo đảm

công bằng xã hội như sau: “Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu” [24,trang 88-89] và “lấy phân phối theo lao động là hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm

số nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế”

[30,trang 9]

Như vậy Đại hội VII của Đảng đã có sự bổ sung quan trọng vào nội dung của nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của

Ngày đăng: 30/07/2015, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 19, NXB Chính trị quốc gia, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Ngô Văn Dụ và đồng sự (2006), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Nghị quyết Đại học X của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 142-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Nghị quyết Đại học X của Đảng
Tác giả: Ngô Văn Dụ và đồng sự
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
22. Trần Anh Dũng (2008), Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thành tựu và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 15/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Trần Anh Dũng
Năm: 2008
23. Nguyễn Hữu Dũng (2007), “Cơ sở lý luận về xây dựng và thực hiện chính sách xã hội nhằm đảm bảo hài hoà quan hệ giữa công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế”, Tạp chí Xã hội học, số 97, tr. 8-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận về xây dựng và thực hiện chính sách xã hội nhằm đảm bảo hài hoà quan hệ giữa công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2007
24. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, H.1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
25. Đảng Cộng sản Việt Nam , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
26. Đảng Cộng sản Việt Nam , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
27. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
28. Đảng Cộng sản Việt Nam , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
29. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
30. Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến lược ổn định kinh tế xã hội đến năm 2000, NXB Sự thật, H. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chiến lược ổn định kinh tế xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
31. Đảng Cộng sản Việt Nam, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010, NXB Chính trị quốc gia, H. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
32. Trần Thọ Đạt (2005), Source of Vietnam’s Economic Growth, 1986-2004, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Source of Vietnam’s Economic Growth, 1986-2004
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2005
33. Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2005), Các mô hình tăng trưởng kinh tế , Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2005
34. Lê Duy Đồng (2004), “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 234+235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: Lê Duy Đồng
Nhà XB: Tạp chí Lao động và xã hội
Năm: 2004
35. Đỗ Đức Định (2007), “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - động lực giảm nghèo ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - động lực giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Định
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2007
36. Lê Huy Đức (2004), “Nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Công nghiệp, số 4/2004. [http://www.na.gov.vn] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Lê Huy Đức
Nhà XB: Tạp chí Công nghiệp
Năm: 2004
37. Trần Hải Hạc (2008), Tăng trưởng “vì người nghèo” – WB và câu chuyện thành công của Việt Nam, Tạp chí Thời đại mới - Nghiên cứu và Thảo luận, số 14 [http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai14/200814_TranHaiHac.htm] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng “vì người nghèo” – WB và câu chuyện thành công của Việt Nam
Tác giả: Trần Hải Hạc
Nhà XB: Tạp chí Thời đại mới - Nghiên cứu và Thảo luận
Năm: 2008
38. Nguyễn Thị Hằng (1998), Việt Nam - tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, trích bài tham luận tại Hội nghị quốc tế về sáng kiến 20/20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - tăng trưởng kinh tế luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 1998
39. Hội đồng nhân dân TP Hà Nội (2009), “Ô nhiễm môi trường ở Hà Nội ngày càng trầm trọng”, Báo Lao động, Số 09/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường ở Hà Nội ngày càng trầm trọng”, "Báo Lao động
Tác giả: Hội đồng nhân dân TP Hà Nội
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4. Xu thế tăng trưởng kinh tế Brazin từ năm 1996 đến 2007 - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 1.4. Xu thế tăng trưởng kinh tế Brazin từ năm 1996 đến 2007 (Trang 62)
Hình 2.1. Quan hệ giữa tăng trưởng vốn đầu tư và tăng GDP - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 2.1. Quan hệ giữa tăng trưởng vốn đầu tư và tăng GDP (Trang 108)
Bảng 2.11. Chỉ số phát triển con người qua các năm của Việt Nam, 1994-2009 - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 2.11. Chỉ số phát triển con người qua các năm của Việt Nam, 1994-2009 (Trang 125)
Hình 2.9: Ý kiến về đánh giá sự bình đẳng giới trong phân phối thu nhập - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 2.9 Ý kiến về đánh giá sự bình đẳng giới trong phân phối thu nhập (Trang 137)
Hình 2.10: Ý kiến đánh giá về sự công khai tuyển dụng phân theo - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 2.10 Ý kiến đánh giá về sự công khai tuyển dụng phân theo (Trang 140)
Hình 3.5. Số lượng người tham gia BHYT - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 3.5. Số lượng người tham gia BHYT (Trang 181)
Hình 3.8. Sự chênh lệch về chi phí bảo hiểm y tế giữa các vùng - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 3.8. Sự chênh lệch về chi phí bảo hiểm y tế giữa các vùng (Trang 186)
Hình 3.9. Một số chỉ tiêu đào tạo đại học và cao đẳng, 2000-2008 - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 3.9. Một số chỉ tiêu đào tạo đại học và cao đẳng, 2000-2008 (Trang 194)
Bảng 3.26. Bất bình đẳng về thu nhập và chi tiêu của một số quốc gia - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 3.26. Bất bình đẳng về thu nhập và chi tiêu của một số quốc gia (Trang 232)
Hình 3.11. Tỷ lệ nghèo chung ở Việt Nam phân theo thành thị và nông thôn - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 3.11. Tỷ lệ nghèo chung ở Việt Nam phân theo thành thị và nông thôn (Trang 245)
Bảng 3.36. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về các chỉ tiêu giáo dục - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 3.36. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn về các chỉ tiêu giáo dục (Trang 246)
Hình 3.12. Tỷ trọng GDP của từng vùng trong GDP của cả nước - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Hình 3.12. Tỷ trọng GDP của từng vùng trong GDP của cả nước (Trang 251)
Bảng 3.40. Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu mức sống và tiêu dùng - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 3.40. Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu mức sống và tiêu dùng (Trang 252)
Bảng 3.41. Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu giáo dục – đào tạo - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 3.41. Chênh lệch giữa các vùng về các chỉ tiêu giáo dục – đào tạo (Trang 253)
Bảng 3.42. Chênh lệch giữa các vùng về HDI và các thành phần HDI năm 2006 - Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta.
Bảng 3.42. Chênh lệch giữa các vùng về HDI và các thành phần HDI năm 2006 (Trang 254)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w