1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay

562 534 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 562
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như trước đây, việc nghiên cứu và vận dụng lý luận kinh tế của C.Mác chủ yếu được thực hiện theo hai hướng tương đối tách biệt: một là, sử dụng những quan điểm của C.Mác về chủ nghĩa

Trang 1

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Mã số: B11-09

Tên đề tài:

lý luËn cña C.m¸c vÒ ph©n chia lîi nhuËn

gi÷a c¸c lo¹i t− b¶n trong ®iÒu kiÖn cña thÕ giíi hiÖn nay

Cơ quan chủ trì : Viện Kinh tế

Chủ nhiệm đề tài : TS Đoàn Xuân Thủy

Thư ký đề tài : Th.S Nguyễn Thị Minh Tân

9112

Hà Nội - 2011

Trang 2

Họ và tên Đơn vị công tác

1 CN Phạm Anh Học viên lớp cao học KTCT 17

2 CN Nguyễn Thành Chung Học viên lớp cao học KTCT 16 KTT

3 Th.S Nguyễn Thị Đa Trường Chính trị tỉnh Hòa Bình

4 CN Nguyễn Văn Đức Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

5 CN Hoàng Việt Đức Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

6 TS Phạm Ngọc Dũng Học viện CT-HCQGHCM

7 Th.S Phạm Mạnh Hà NCS Viện Kinh tế

8 PGS.TS Tô Đức Hạnh Đại học kinh tế quốc dân

9 PGS.TS Nguyễn Văn Hậu Học viện CT-HCQGHCM

10 CN Trương Diệp Hằng Học viện CT-HCQGHCM

11 Th.S Trần Thị Kim Hiền Đại học Hà Tĩnh

12 CN Phạm Văn Học Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

13 CN Nguyễn Thị Hồng Huệ Học viên lớp cao học KTCT 17

14 CN Nguyễn Thị Hương Học viên lớp cao học KTCT 16

15 CN Hà Trung Kiên Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

16 Th.S Trân Thị Lan Học viện Báo chí và Tuyên truyền

17 CN Nguyễn Thị Hồng Lâm Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

18 CN Bùi Hồng Linh Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

19 PGS.TS Hoàng Thị Bích Loan Học viện CT-HCQGHCM

20 TS Đào Thị Ngọc Minh Đại học Sư phạm Hà Nội

21 TS Vũ Ngọc Minh Sở KH&ĐT tỉnh Lạng Sơn

22 CN Tạ Văn Nam Học viên lớp cao học KTCT 17

23 CN Lê Thị Huyền Nga Học viên lớp cao học KTCT 17

24 TS Ngô Tuấn Nghĩa Học viện CT-HCQGHCM

25 CN Hoàng Mạnh Phú Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

26 CN Nguyễn Hoài Phương Học viên lớp cao học KTCT 15 KTT

27 TS Đinh Văn Phượng Trường Đại học chính trị Bắc Ninh

28 TS Trần Hoa Phượng Học viện CT-HCQGHCM

29 Th.S Nguyễn Thị Minh Tân Học viện CT-HCQGHCM

30 Th.S Lê Bá Tâm Học viện CT-HCQGHCM

31 CN Nguyễn Phương Thảo Học viên lớp cao học KTCT 17 KTT

32 Th.S Tống Đức Thảo Học viện CT-HCQGHCM

33 Th.S Lê Thị Thúy Học viện Báo chí và Tuyên truyền

34 TS Đoàn Xuân Thủy Học viện CT-HCQGHCM

35 CN Dương Văn Toàn Học viên lớp cao học KTCT 16

36 Th.S Trương Nam Trung Học viện CT-HCQGHCM

37 TS Nguyễn Thị Tú Học viện Tài chính

Trang 3

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNNNĐP : Doanh nghiệp nhà nước địa phương

DNNNTW : Doanh nghiệp nhà nước trung ương

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

EU : Liên minh châu Âu

FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

XDCB : Xây dựng cơ bản

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 4

Trang

Chương 1: QUY LUẬT PHÂN CHIA LỢI NHUẬN GIỮA CÁC LOẠI TƯ

BẢN TRONG ĐIỀU KIỆN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO

1.1.2 Lợi nhuận bình quân - quy luật điều tiết phân phối lợi nhuận

trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh 31

1.2 Sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong chủ nghĩa tư bản

1.2.1 Các loại tư bản trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và

1.2.2 Sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong chủ nghĩa

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM MỚI TRONG PHÂN CHIA LỢI NHUẬN GIỮA

CÁC LOẠI TƯ BẢN TRONG ĐIỀU KIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY 75

2.1 Những đặc điểm cơ bản của thế giới hiện nay tác động tới sự phân

chia tư bản và quy luật phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản 75

2.1.1 Sự hình thành, phát triển của độc quyền tư bản 75

2.1.2 Sự phát triển của khoa học - công nghệ 84

2.1.3 Toàn cầu hóa kinh tế 95

2.1.2 Sự điều tiết kinh tế của nhà nước 98

2.2 Đặc điểm phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện

2.2.2 Phân chia lợi nhuận ở Việt Nam hiện nay 120

Chương 3: VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ PHÂN CHIA LỢI

NHUẬN GIỮA CÁC LOẠI TƯ BẢN VÀO ĐỀ XUẤT QUAN

ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 140

Trang 5

nghiệm xác lập quan hệ sản xuất mới trong điều kiện nền

kinh tế thị trường 146

3.2.2 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa 149 3.2.3 Đẩy nhanh quá trình phát triển hệ thống thị trường, đặc biệt

là thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường

khoa học công nghệ, thị trường lao động 158

3.2.4 Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực phù

hợp với sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong điều kiện kinh

tế thị trường, hội nhập và cách mạng khoa học công nghệ

hiện đại 174 3.2.5 Tăng cường vai trò quản lý giám sát của nhà nước đối với

phân chia lợi nhuận đảm bảo sự bình đẳng trong giải quyết

vấn đề lợi ích giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần

kinh tế 196

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, việc nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và học thuyết kinh tế của C.Mác nói riêng ở nước ta thường xuyên được quan tâm chú trọng Nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là

cơ sở lý luận khoa học, nền tảng tư tưởng cho phong trào công nhân, cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội không ngừng được bổ sung, hoàn thiện

và phát triển phù hợp với những điều kiện mới của thế giới và trong nước

Nếu như trước đây, việc nghiên cứu và vận dụng lý luận kinh tế của C.Mác chủ yếu được thực hiện theo hai hướng tương đối tách biệt: một là, sử dụng những quan điểm của C.Mác về chủ nghĩa tư bản để phê phán chủ nghĩa

tư bản với tư cách là một xã hội bóc lột, bất công và nhất thời; hai là, nghiên cứu vận dụng những dự báo của C.Mác về xã hội tương lai trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì trong những năm gần đây đã xuất hiện xu hướng mới trong nghiên cứu lý luận của C.Mác về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa để vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam, đặc biệt là về học thuyết giá trị thặng dư, trong đó có lý luận về sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản

Mặc dù vậy, cho đến nay việc nghiên cứu lý luận của C.Mác về sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức phổ biến ngày nay về vấn đề này vẫn chỉ dừng lại ở mức khẳng định rằng xã hội tư bản là xã hội bóc lột, các hình thái thu nhập của các loại tư bản, mà C.Mác đã phân tích, chẳng qua chỉ là biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh Hơn thế nữa, chủ nghĩa tư bản ngày nay đã chuyển hóa thành chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự gia tăng vai trò kinh tế của nhà nước trong điều kiện toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Tình hình đó đã gây ra nhận thức không đúng, rằng lý luận của C.Mác về sự

Trang 7

phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản không còn giá trị thời đại, những nghiên cứu về lý luận này chủ yếu nhằm hiểu rõ thêm bản chất bóc lột của tư bản nói chung và từng hình thái tư bản cụ thể nói riêng, vấn đề nghiên cứu để vận dụng vào phát triển kinh tế ngày nay ở nước ta hầu như chưa được quan tâm

Trong khi đó, việc hoạch định đường lối chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn là công việc vô cùng khó khăn, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không nhỏ là còn thiếu cơ sở lý luận khoa học Trong nghiên cứu lý luận ở nước ta đã gặp phải không ít sai lầm nghiêm trọng như phủ nhận tính tất yếu khách quan của kinh

tế hàng hóa, kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Tư duy mới kể từ khi đổi mới đã khẳng định rõ sự cần thiết phải sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng cũng đang đặt ra không ít vấn

đề cần giải quyết cả trong lý luận và trong thực tiễn Làm thế nào để xác lập quan hệ sản xuất mới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta trong điều kiện đa sở hữu, thành phần kinh tế

và hội nhập, cho đến nay vẫn là những vẫn đề chưa tìm được lời giải đầy đủ

Trong nghiên cứu và giảng dạy về lý luận của C.Mác tại hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, trong hệ thống các viện nghiên cứu về kinh tế và các trường đại học ở nước ta, vấn đề phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản, vẫn chủ yếu được đề cập tới theo phương diện khẳng định rằng, các hình thái thu nhập của các loại tư bản trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh là biểu hiện của giá trị thặng dư, là biểu hiện cụ thể của bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Sự phân tích của C.Mác về mối quan hệ giữa các hình thái tư bản và sự phân chia lợi nhuận giữa chúng dưới tác động quy luật phân phối giá trị thặng

dư chưa được quan tâm đúng mức, từ đó lý luận về từng loại tư bản và từng hình thái lợi nhuận tương ứng với chúng mới chỉ được nghiên cứu chủ yếu theo góc độ tương đối độc lập, riêng rẽ Quá trình trở thành thống trị của quan

Trang 8

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thông qua kinh tế thị trường trong lý luận của C.Mác

vì thế chưa được nghiên cứu làm rõ để có hướng vận dụng cụ thể và có hiệu quả vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mặc dù thế giới hiện nay đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ C.Mác nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, song việc nghiên cứu lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản và tác động của những điều kiện mới tới sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản ngày nay vẫn là vấn đề có tính thời sự, cấp thiết Sự nghiên cứu sâu thêm về vấn đề này sẽ cho phép bổ sung

và hoàn thiện cơ sở khoa học để tiếp tục khẳng định những giá trị khoa học có tính thời đại của chủ nghĩa Mác -Lênin, đồng thời đúc rút được những kinh nghiệm quý cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Lý luận của C.Mác

về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011 theo Quyết định

Số: 2780/QĐ- HVCT-HCQG, ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tác phẩm "Tư bản" nổi tiếng của C.Mác là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại, đồng thời có ý nghĩa lý luận vô cùng to lớn cả trong thời đại ngày nay Trong tác phẩm này, C.Mác đã vận dụng những luận điểm

và khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ông đã phân tích khoa học và triệt để chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kinh tế

- xã hội có tính lịch sử, đã vạch ra được các quy luật ra đời, phát triển và diệt vong của nó Trong tác phẩm này, từ phân tích nguồn gốc và bản chất giá trị thặng dư, C.Mác đã dành một dung lượng rất lớn để trình bày về sự phân phối lợi nhuận giữa các loại tư bản thông qua mối quan hệ giữa các hình thái tư bản và sự hình thành các hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư tương ứng,

Trang 9

từ đó ông đã khái quát được logic phát triển của chủ nghĩa tư bản trong sự kết hợp phân tích logic với góc độ lịch sử

Từ đó đến nay, trải qua đã hơn một thế kỷ, nền kinh tế - xã hội thế giới

có nhiều đổi thay Chủ nghĩa tư bản, do thích ứng với những tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão, do sự chi phối của lực lượng sản xuất đang phát triển ở trình độ cao đã đạt được năng suất lao động cao, tạm thời kìm giữ được những mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở một giới hạn nhất định, nên hiện nay chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn tiềm năng

để phát triển Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tiến bộ, là tương lai của loài người, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử bị sụp đổ, thất bại bởi duy trì một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp Dựa vào đó, những thế lực thù địch dưới nhiều dạng thức khác nhau tiếp tục tìm cách chia rẽ, tấn công, phản bác lý luận kinh tế của Mác, trong đó có lý luận về sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản cả trực tiếp và gián tiếp

Để khẳng định sức sống và sự trường tồn của học thuyết giá trị thặng

dư nói chung và lý luận phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản nói riêng đã có khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan tới lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay như:

2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước có liên quan tới lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện thế giới hiện nay, tiêu biểu là:

Thứ nhất, Đề tài khoa học cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 KX01.10

“Vấn đề phân phối nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và thực hiện công bằng

xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” do GS.TS Nguyễn Công Nghiệp làm chủ nhiệm

Đề tài, từ xác định đối tượng phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã khẳng định lợi nhuận là hình thái thu

Trang 10

nhập quan trọng, có vai trò động lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh và cần phát huy vai trò đó của lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta Từ đó, đề tài

đã đề xuất quan điểm rằng phải xử lý hài hòa lợi ích giữa ba chủ thể là nhà nước, doanh nghiệp, người lao động Để lợi nhuận phát huy vai trò động lực thúc đẩy kinh doanh hiệu quả đề tài đã đề xuất giải pháp chống độc quyền, tạo sự công bằng trong sự phát triển Những kết quả nghiên cứu đó cho thấy tầm quan trọng của lý luận phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản đối với phát triển kinh tế nước ta ngày nay, song những phân tích đánh giá này chưa thực sự dựa vào lý luận của C.Mác, do đó chưa luận giải rõ quy luật phân phối thu nhập giữa các loại tư bản dưới hình thái lợi nhuận và vai trò của nó ở nước ta ngày nay

Thứ hai, Đề tài KX01.02 “Kinh tế chính trị Mác - Lênin, những giá trị

và những vấn đề đặt ra” do GS, TS Chu Văn Cấp làm chủ nhiệm

Đề tài đã khái quát những giá trị khoa học cơ bản của học thuyết kinh

tế của C.Mác về chủ nghĩa tư bản Lý luận phân chia lợi nhuận giữa các loại

tư bản được nghiên cứu thông qua sự biểu hiện của giá trị thặng dư dưới các hình thức lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức cho vay và địa tô tư bản chủ nghĩa Cùng với việc nhấn mạnh mặt giá trị khoa học của từng lý luận của C.Mác, đề tài đã bước đầu phân tích một số nhân tố tác động tới sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản ngày nay như sự phát triển của các loại thị trường và sự gia tăng của chi phí lưu thông, đặc biệt là chi phí lưu thông thuần túy…Đó là những đóng góp không nhỏ trong nghiên cứu về lý luận phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản, Tuy nhiên, những luận giải đó mới bước đầu đi vào phân tích, khái quát, cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện

Thứ ba, đề tài khoa học cấp bộ năm 2007, “Những vấn đề cần làm rõ trong lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản độc quyền”do PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh làm chủ nhiệm

Đề tài đã phân tích và khái quát được những nội dung cơ bản của học

thuyết của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chỉ ra tác động của

Trang 11

quá trình hình thành độc quyền tư bản, trở thành lực lượng kinh tế chi phối những quan hệ kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, từ đó đã phân tích đánh giá tác động của độc quyền tư bản tới sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong chủ nghĩa tư bản độc quyền Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã góp phần khẳng định những giá trị khoa học về lý luận và phương pháp luận nghiên cứu kinh tế của C.Mác được V.I.Lênin kế thừa và phát triển, tạo căn cứ khoa học và cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu hoàn thiện lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản

trong điều kiện thế giới ngày nay

Thứ tư, đề tài khoa học cấp bộ năm 2009 “Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư trong điều kiện của thế giới hiện nay" do TS Nguyễn Minh Quang làm chủ nhiệm

Đề tài đã phân tích và khái quát được những nội dung cơ bản của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác và bước đầu đề cập tới tác động của những thay đổi về quan hệ sản xuất tương thích với sự phát triển của lực lượng sản xuất mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại và tác động của cách mạng khoa học - công nghệ tới sự phân phối giá trị thặng dư trong điều kiện ngày nay Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần tạo cơ sở ban đầu cho phân tích lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay, tuy nhiên cần tiếp tục bổ sung, phát triển, đặc biệt là về hoạt động của quy luật phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong nền kinh tế nước

ta hiện nay thông qua sự vận động của các hình thái cụ thể của lợi nhuận

Thứ năm, các bài viết “Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác: Tính khoa học và tính thời sự”; “Những nhận thức về chủ nghĩa tư bản hiện đại dưới góc độ kinh tế chính trị” trong Sách tham khảo: "Những nhận thức kinh

tế chính trị trong giai đoạn mới ở Việt Nam” do PGS, TS Nguyễn Đình Kháng

và TS Vũ Văn Phúc, chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích việc ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại đã thúc đẩy lực lượng sản xuất các nước tư bản

Trang 12

chủ nghĩa phát triển, nhờ đó các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu ngạch cao Luận giải chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư, song hình thức, phương pháp, quy mô của sự bóc lột có sự biến đổi, ví dụ như khoa học hoá, quốc tế hoá sự bóc lột; trong chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại những bất bình đẳng, tệ nạn xã hội ngày càng phát triển với trình độ và quy mô mới, thất nghiệp, khủng hoảng vẫn tồn tại dưới hình thức mới Từ đó, chứng minh mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và khẳng định sự thay thế tất yếu bằng một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn Những kết quả nghiên cứu này có thể kế thừa để phân tích tác động của độc quyền tư bản và cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tới sự phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong thế giới ngày nay

Thứ sáu, bài viết của PGS, TS Mai Hữu Thực, “Phải chăng, lý luận giá trị thặng dư của C.Mác đã lỗi thời”, Tạp chí Cộng sản 1995, số 5; các bài viết của GS, TS Đỗ Thế Tùng: “Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 9/1997; “Quan điểm của C.Mác về sự phát triển của hệ thống máy móc và ý nghĩa của nó đối với nền kinh tế tri thức”, Hội thảo khoa học: "Kinh tế tri thức và công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn ở Việt Nam", Hà Nội, 2003; bài viết của PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh “Một số vấn đề trong tư duy, nhận thức về phát triển thị trường sức lao động”, Tạp chí cộng sản 2007, số 23

Nội dung các bài viết đã nêu lên những luận điểm cốt lõi của lý luận sản xuất giá trị thặng dư, phân tích tác động của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tới sản xuất và phân phối giá trị thặng dư Các tác giả đã nêu một số quan điểm tư tưởng mơ hồ, hoài nghi về những nhận định của C.Mác

về trong điều kiện hiện nay, sau đó phân tích, phê phán , chỉ ra một số hướng vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, qua đó, khẳng định sức sống và tính khoa học về những nội dung mà C.Mác đã trình bày và sự biểu hiện trong thời đại ngày nay để củng cố niềm tin về chân lý khoa học và cách mạng của học thuyết kinh tế C.Mác

Trang 13

2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài

Joseph Schumpeter trong tác phẩm “Lý thuyết phát triển kinh tế”

(1912) đã lần đầu tiên xây dựng lý luận lợi nhuận với tư cách là kết quả ứng dụng khoa học - công nghệ, cho rằng chủ thể ứng dụng khoa học công nghệ nhờ sử dụng hợp lý sự kết hợp giữa các yếu tố sản xuất sẽ thu được lợi nhuận

siêu ngạch Ông nêu ra 5 kiểu ứng dụng công nghệ mới để thu được lợi nhuận

siêu ngạch là: sản xuất hàng hóa, dịch vụ mới hay là tạo ra chất lượng mới của hàng hóa; xâm nhập và khai thác thị trường mới; ứng dụng công nghệ mới để sản xuất hàng hóa và các phương pháp kinh doanh mới tiết kiệm và hiệu quả hơn; nhận được những nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới rẻ hơn;

áp dụng phương thức quản lý mới hiệu quả hơn

Tác giả Frank Knight trong cuốn sách “Rủi ro, tính không xác định và

lợi nhuận” (1921) trên cơ sở phân tích sâu sắc lý luận cạnh tranh hoàn hảo

cho rằng chủ thể chủ yếu của nền kinh tế thị trường là các nhà kinh doanh mà hoạt động của họ dựa trên cơ sở mục tiêu lợi nhuận, từ đó cho rằng cần hiểu bản chất của lợi nhuận với tư các là phần thưởng cho sự chấp nhận rủi ro của các chủ thể kinh tế trong điều kiện cạnh tranh để tạo lập cơ chế phân phối lợi nhuận phù hợp

Hai học giả người Nga T.A.Isnailov và G.C.Gamidov trong "Bàn về

nền kinh tế dựa trên sơ đồ tri thức", (2002) cho rằng: trong điều kiện ngày

nay, tri thức trở thành nguồn lực hàng đầu mà mọi chủ thể đều phải cố gắng chiếm hữu và phát triển nó Từ đó, phân phối lợi nhuận sẽ trở nên có lợi cho các chủ thể nắm giữ được tri thức

Tác giả Evdokimova C.C trong tác phẩm “Sự hình thành và phân chia

lợi nhuận doanh nghiệp trong điều kiện chuyển sang các biện pháp kinh doanh thị trường” (2000) cho rằng, nhận thức đúng về bản chất, nguồn gốc

của lợi nhuận là chìa khóa cho sự phân chia lợi nhuận một cách công bằng, hợp lý Tính phức tạp của vấn đề hình thành và sử dụng lợi nhuận với tư cách

là phạm trù kinh tế ngày nay phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố gắn với trình độ

Trang 14

phát triển của quan hệ hàng hóa - tiền tệ, các hình thức sở hữu và cả xu thế vận động của nền kinh tế thế giới Tốc độ vận động nhanh của tư bản quốc tế,

sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia đã dẫn tới cần thiết phải tạo lập những hệ thống tài chính hiệu quả, từ đó cần có phương pháp luận mới để nghiên cứu về các hình thức, phạm vi tạo ra và sử dụng lợi nhuận

Tác giả Malsheva E.C trong tác phẩm “Sự hình thành và phân chia lợi

nhuận doanh nghiệp trong các hệ thống kinh doanh khác nhau” (2005), trên

cơ sở phân tích các quan điểm của các học giả trước đây về vấn đề lợi nhuận

và phân chia lợi nhuận trong các hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, kế hoạch hóa tập trung, hỗn hợp, cho rằng cần tập trung phân tích sâu hơn về vị trí, vai trò, chức năng của lợi nhuận doanh nghiệp trong các hệ thống kinh tế khác nhau, đặc biệt trong hệ thống kinh tế hỗn hợp và hoạch định cơ chế, chính sách tác động của nhà nước tới quá trình hình thành và phân phối lợi nhuận phù hợp với những điều kiện đặc thù hiện nay của nền kinh tế nước Nga

- David C.Korten trong tác phẩm "Bước vào thế kỷ XXI - Hành động tự

nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu" đã nêu ra những dự báo xu hướng

phát triển cách mạng khoa học - công nghệ trong thế kỷ XXI, những ngành kinh tế tri thức có tốc độ phát triển nhanh Kéo theo đó, xu hướng toàn cầu hoá làm tăng cường mối quan hệ phụ thuộc giữa các quốc gia Quá trình sản xuất và phân phối được chi phối bởi những nhân tố có tính toàn cầu Vì vậy, mỗi chính phủ cần phải có chính sách phù hợp

Tác giả Thomas L Friadman trong tác phẩm “Thế giới phẳng - Tóm

lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI” (Nxb Trẻ, 2006) đã phân tích một cách độc

đáo về qua trình toàn cầu hóa Theo học giả, sự dỡ bỏ các rào cản về chính trị những tiến bộ vượt bậc của cách mạng số đang làm giảm những trở ngại về địa

lý, đã và đang mở ra cho các nước những phương thức sản xuất kinh doanh, những tình thế địa chính trị và địa kinh tế hoàn toàn mới, tạo ra điều kiện thuận lợi mới để thế giới làm ra những giá trị gia tăng lớn hơn, đồng thời cũng làm cho việc phân phối kết quả đó trở nên phức tạp và khó khăn hơn

Trang 15

Michael E Porter trong các tác phẩm “Chiến lược cạnh tranh”, “Lợi

thế cạnh tranh” và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (Nxb Trẻ, 2009), đã phân

tích sự phức tạp của cạnh tranh ngành, chỉ ra công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất để tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp gồm ba chiến lược cạnh tranh phổ quát: chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, những chiến lược đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc Từ phân tích chuỗi giá trị đã chỉ ra phương thức xác định những nguồn lực tiềm ẩn của doanh nghiệp

để nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên năng suất nhằm thu lợi nhuận cao

Tóm lại, từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các công trình, đề tài nghiên

cứu đều đã có những cố gắng nhất định trong việc luận giải về sự phân chia lợi nhuận trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá kinh tế Ở những mức độ nhất định, các công trình nghiên cứu đã luận giải và phân tích được một số biểu hiện của phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện thế giới hiện nay và các nhân tố tác động tới quá trình này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay Vì vậy, đề tài nghiên cứu không có sự trùng lặp với các công trình, đề tài đã được công bố

3 Mục tiêu của đề tài

Làm rõ những nội dung cơ bản lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản; phân tích đánh giá các nhân tố tác động tới quy luật phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản, những đặc điểm chung của sự phân chia lợi nhuận cùng những đặc điểm đặc thù ở Việt Nam trong điều kiện của thế giới hiện nay; đề xuất quan điểm và các giải pháp vận dụng lý luận này vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục tiêu đó, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là phạm trù lợi nhuận và quy luật phân chia lợi nhuận Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 16

là biểu hiện của quy luật phân chia lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh trước đây, trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và tại Việt Nam nói riêng nhằm đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn;

- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp với lịch sử, tổng kết, đánh giá tình hình phân phối lợi nhuận trên thế giới và ở Việt Nam;

- Trong quá trình nghiên cứu, đề tài chủ yếu dựa vào lý luận của C.Mác

về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đã công bố và cập nhật những thông tin mới về chủ đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hoá những nội dung cơ bản của lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản với tư cách là cơ sở khoa học cho phân tích đánh giá về phân chia lợi nhuận trong điều kiện thế giới hiện nay;

- Phân tích, đánh giá các nhân tố tác động tới phân chia lợi nhuận và động thái phân chia lợi nhuận trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và tại Việt Nam nói riêng để bổ sung thêm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế ở nước ta thời gian tới;

- Vận dụng lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện thế giới hiện nay đề xuất các quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về chủ nghĩa tư bản hiện đại, quan

hệ kinh tế quốc tế cho các đối tượng học viên hệ cao cấp lý luận chính trị - hành chính và đặc biệt là cho các học viên hệ sau đại học thuộc các chuyên ngành kinh tế trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 17

Chương 1 QUY LUẬT PHÂN CHIA LỢI NHUẬN GIỮA CÁC LOẠI TƯ BẢN TRONG ĐIỀU KIỆN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH

1.1 BẢN CHẤT QUY LUẬT PHÂN CHIA LỢI NHUẬN TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH

1.1.1 Lợi nhuận - hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản

1.1.1.1 Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Lợi nhuận là phạm trù đã được đề cập nghiên cứu từ rất sớm, tuy nhiên, nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận chỉ được làm sáng tỏ dần cùng với những nghiên cứu về bản chất kinh tế của CNTB với tư cách là môt phương thức sản xuất xã hội được hình thành trên cơ sở phát triển của kinh tế hàng hóa Những quan niệm đầu tiên về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận được phản ánh trong các nghiên cứu của các tác giả thuộc trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển như Trọng thương, Trọng nông, Tư sản cổ điển Anh, Kinh tế chính trị tư sản tầm thường

Theo trường phái Trọng thương, lợi nhuận là nguồn chủ yếu để gia tăng

sự giàu có quốc gia Nguồn gốc chủ yếu của lợi nhuận là từ lưu thông, đặc biệt là ngoại thương Vì vậy, để thu lợi nhuận cao, ổn định, cần phát triển mạnh ngoại thương với sự điều tiết chặt chẽ chặt chẽ của nhà nước

Đối lập với chủ nghĩa Trọng thương, các đại biểu của trường phái Trọng nông mà đứng đầu là F.Quesnay cho rằng sự gia tăng của cải của quốc gia phụ thuộc vào “sản phẩm ròng” do sản xuất nông nghiệp tạo ra Lưu thông chỉ phân phối lại giá trị của cải chứ không tạo ra của cải, do đó muốn làm cho quốc gia trở thành giàu có phải tập trung phát triển nông nghiệp

Các nhà kinh tế thuộc trường phái kinh tế chính trị Tư sản cổ điển Anh

đã đưa ra cách nhìn mới về nguồn gốc của sự giàu có Bằng lý luận giá trị lao

Trang 18

động, từ W.Petty, A.Smith, đến D.Ricardo đã hình thành và củng cố quan điểm tương đối nhất quán rằng, chỉ có lao động sản xuất mới là nguồn gốc thực sự của của cải, do đó, muốn gia tăng sự giàu có của quốc gia phải tập trung phát triển sản xuất theo hướng kinh tế thị trường Tuy nhiên, bên cạnh quan điểm khẳng định rằng, giá trị do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định, A.Smith cũng đã đặt nền móng cho quan điểm khác về nguồn gốc của giá trị hàng hóa từ các yếu tố sản xuất

Kế thừa quan điểm thứ hai của A.Smith, các học giả thuộc trường phái Kinh tế chính trị tư sản Tầm thường, mà đặc biệt là J.Say đã xây dựng lý luận

về các yếu tố sản xuất và các nguồn thu nhập, trong đó lợi nhuận được luận giải là do tư bản sinh ra

Kế thừa có phê phán những quan điển của các học giả đi trước, C.Mác

và Ph.Ăngghen đã tạo ra cuộc cách mạng về kinh tế chính trị Nhờ hoàn chỉnh học thuyết giá trị lao động và sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác

đã đưa ra kiến giải khoa học về lợi nhuận trong nền kinh tế TBCN, nhờ đó vấn đề nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận về cơ bản đã được làm sáng tỏ

Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận được C.Mác phân tích dựa trên kết quả nghiên cứu về bản chất của tư bản với tư cách là quan hệ sản xuất đặc trưng của nền kinh tế TBCN, nguồn gốc của giá trị thặng dư là lao động không công của giai cấp công nhân làm thuê và quá trình vận động của tư bản, giá trị thặng dư trong kinh tế thị trường Từ nghiên cứu quan hệ sản xuất TBCN ở cấp độ trừu tượng nhất trong quá trình sản xuất trực tiếp, đến phân tích sự vận động của nó thông qua lưu thông về phương diện là một quá trình trung gian của tái sản xuất xã hội, C.Mác đã khẳng định: “quá trình sản xuất

tư bản chủ nghĩa, xét toàn bộ, là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông”1 Từ đó Ông đã đặt ra nhiệm vụ logic tiếp theo là: “phải tìm

ra và mô tả được những hình thái cụ thể đẻ ra từ quá trình vận động của tư

Trang 19

bản với tư cách là một chỉnh thể”2 Ông cho rằng cần, nghiên cứu những hình thái đó theo trình tự cụ thể hóa dần thể hiện quá trình “từng bước một tiến gần đến cái hình thái mà chúng thể hiện ra ở bề mặt của xã hội, trong sự tác động qua lại giữa các tư bản khác nhau, trong sự cạnh tranh và trong ý thức thông thường của bản thân những nhân viên sản xuất”3

Phạm trù xuất phát trong nghiên cứu về các hình thái cụ thể đẻ ra từ quá trình vận động của tư bản với tư cách là một chỉnh thể, theo C.Mác là phạm trù lợi nhuận với tư cách là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư Để làm rõ khái niệm lợi nhuận, Ông đã phân tích khái niệm chi phí sản xuất và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá trị hàng hóa trong nền kinh tế TBCN

Trong nền kinh tế TBCN, nhà tư bản là chủ thể kinh tế chủ yếu với tư cách là hiện thân của tư bản, đã sử dụng các quy luật của kinh tế hàng hóa để sản xuất kinh doanh và thu lợi Với tư cách là chủ thể sản xuất hàng hóa, nhà

tư bản cần đầu tư tư bản để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, số tư bản đầu tư sẽ được chi phí trong quá trình này để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Kết quả là sau khi thực hiện giá trị hàng hóa, nhà tư bản thu được lượng giá trị lớn hơn so với lượng tư bản đã chi phí để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Từ đây, việc phân phối lượng giá trị thu được phải được chia thành hai phần là chi phí sản xuất và lợi nhuận

Theo quan niệm của C.Mác, chi phí sản xuất là phần giá trị của hàng hóa, “bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng, - chỉ bù lại số chi phí mà bản thân nhà tư bản đã bỏ

ra để sản xuất hàng hóa”4 Như vậy, chi phí sản xuất là phạm trù của quan hệ phân phối xuất phát từ tính chất của nền kinh tế TBCN trong sự so sánh với nền sản xuất hàng hóa giản đơn Nếu như trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, chủ thể sản xuất hàng hóa, đồng thời vừa là chủ sở hữu tư liệu sản xuất

và là người lao động, phải chi phí lao động để sản xuất hàng hóa, thì trong

2 Sđd, tr.48

3 Sđd, tr.48

Trang 20

nền kinh tế TBCN, nhà tư bản là người không lao động, đối với anh ta để sản xuất hàng hóa quan trọng không phải là chi phí lao động, mà là phải chi phí tư bản Do đó, sự chuyển hóa của sản xuất hàng hóa giản đơn sang sản xuất hàng hóa TBCN đã làm xuất hiện phạm trù chi phí sản xuất, có nội hàm khác với chi phí lao động cả về lượng và về chất:

- Về lượng, chi phí sản xuất về nguyên tắc phải nhỏ hơn chi phí lao động, vì chi phí lao động quyết định lượng giá trị hàng hóa, còn chi phí sản xuất chỉ là một phần của giá trị đó mà thôi

- Về chất, mặc dù chi phí sản xuất là phạm trù thể hiện tất yếu kinh tế trong quá trình tái sản xuất của tư bản do “việc tách riêng yếu tố giá trị ấy trong thực tiễn không ngừng biểu hiện ra trong quá trình sản xuất thực tế của hàng hóa, bởi vì từ hình thái hàng hóa của nó, thông qua quá trình lưu thông,

bộ phận này luôn luôn phải được chuyển hóa trở lại hình thái tư bản sản xuất,

và do đó, chi phí sản xuất của hàng hóa phải luôn luôn mua lại được những yếu tố sản xuất đã tiêu dùng trong việc sản xuất ra hàng hóa”5, nhưng phạm trù này “không có quan hệ gì tới sự hình thành giá trị hàng hóa, cũng như không có quan hệ gì tới quá trình làm cho tư bản tăng thêm giá trị”6 Sở dĩ chi phí sản xuất không quyết định giá trị hàng hóa bởi lượng giá trị dùng để mua sức lao động và lượng giá trị do sử dụng sức lao động tạo ra là hai đại lượng khác nhau, không có quan hệ nội tại trực tiếp với nhau Hơn thế nữa, giá trị hàng hóa được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết, trong khi việc chi phí tư bản phụ thuộc vào nhiều tình hình ngẫu nhiên, đặc biệt là trình

độ tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh của nhà tư bản

Tuy nhiên, sự hình thành của phạm trù chi phí sản xuất đã tạo ra những trở ngại rất lớn cho việc nhận thức phạm trù giá trị thặng dư Nếu như khi phân tích quá trình sản xuất trực tiếp của tư bản, có thể thấy rõ giá trị thặng

dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, là lao động không công của công nhân làm thuê mà nhà tư bản chiếm đoạt, nên có bản chất bóc

6 Sđd, tr.52

Trang 21

lột, thể hiện quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê, thì với

sự xuất hiện của phạm trù chi phí sản xuất, giá trị thặng dư chỉ biểu hiện ra như là “phần dôi ra của giá trị - hàng hóa ngoài chi phí sản xuất của nó Nhưng vì chi phí sản xuất là bằng giá trị của tư bản đã chi phí, - chi phí sản xuất này không ngừng chuyển hóa trở lại thành những yếu tố vật chất của tư bản đó, - nên phần giá trị dôi ra ấy là cái phần lớn thêm lên của số tư bản đã được chi phí vào việc sản xuất hàng hóa và từ lưu thông của hàng hóa đó quay trở về”7, nguồn gốc của nó từ đâu mà ra đã hoàn toàn trở nên không rõ

Từ đây, đã xuất hiện những cách hiểu khác nhau về nguồn gốc của giá trị thặng dư, như: do lưu thông sinh ra; do chi phí sản xuất sinh ra, do toàn

bộ tư bản ứng trước sinh ra Trong đó quan niệm phổ biến không những đối với các nhà tư bản mà cả đối với các nhà lý luận tư sản là giá trị thặng dư

do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra Như vậy, sự xuất hiện của phạm trù chi phí sản xuất đã làm cho giá trị thặng dư được biểu hiện ra dưới hình thái khác so bản thân nó Giá trị thặng dư, do đó đã chuyển hóa thành lợi nhuận Từ đây C.Mác đã nêu ra khái niệm lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”8

Với tư cách là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư, lợi nhuận không đồng nhất với giá trị thặng dư:

- Về lượng, lợi nhuận có thể là đại lượng ngang bằng hoặc là đại lượng khác so với với giá trị thặng dư Lợi nhuận ngang bằng giá trị thặng dư về lượng nếu giá cả của hàng hóa ngang bằng giá trị của nó và sẽ khác khi giá cả lệch so với giá trị

- Về chất, giá trị thặng dư phản ánh quan hệ bóc lột giữa hai giai cấp, trong đó nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê, còn lợi nhuận chỉ phản ánh

sự lời lãi của đầu tư tư bản hay hiệu quả kinh doanh của nhà tư bản

8 Sđd, tr.65

Trang 22

Trong thực tiễn kinh doanh, các nhà tư bản cũng không coi lợi nhuận là một cái gì đồng nhất với giá trị thặng dư, tức là lao động thặng dư không được trả công C.Mác đã chỉ ra những lý do chủ yếu của quan niệm trên9, bao gồm:

Một là, việc thực hiện giá trị của hàng hóa, trong đó gồm cả việc thực

hiện giá trị thặng dư chứa đựng trong hàng hóa, đối với nhà tư bản là sáng tạo

ra giá trị thặng dư đó

Hai là, tỷ suất lợi nhuận vẫn có thể rất khác nhau tùy theo nguyên liệu

đắt hay rẻ và người ta có khéo mua hay không; tùy theo máy móc sử dụng có năng suất cao hay thấp, có thích hợp hay không và đắt hay rẻ; tùy theo sự tổ chức chung của quá trình sản xuất ở các giai đoạn khác nhau hoàn bị nhiều hay ít, những sự lãng phí về vật liệu được loại trừ hay không, việc quản lý và việc kiểm soát có đơn giản và có hiệu quả hay không, vv

Ba là, do tài khéo léo trong việc điều khiển xí nghiệp và tình hình đó

làm cho nhà tư bản nghĩ rằng, - làm cho hắn ta tin chắc rằng, - lợi nhuận của hắn không phải do bóc lột lao động mà có, mà ít ra một phần cũng là do những trường hợp khác không liên quan gì tới việc bóc lột lao động cả, nhất

là do sự hoạt động cá nhân của hắn

Bốn là, sự tăng lên của tỷ suất lợi nhuận bao giờ cũng là do chỗ giá trị

thặng dư tăng lên tương đối hay tuyệt đối so với chi phí sản xuất của nó, tức

là so với tổng tư bản đã ứng ra

Năm là, giá trị của mọi hàng hóa - và do đó giá trị của những hàng hóa

cấu thành tư bản cũng vậy - không phải là do thời gian lao động cần thiết chứa đựng trong bản thân hàng hóa đó quyết định, mà là do thời gian lao động

xã hội cần thiết để tái sản xuất ra hàng hóa đó quyết định

Từ phân tích về khái niệm lợi nhuận, C.Mác đã đi tới phân tích khái niệm tỷ suất lợi nhuận với tư cách là hình thái chuyển hóa của tỷ suất giá trị thặng dư Từ quan niệm rằng, “tỷ số giữa giá trị thặng dư và tổng tư bản gọi là tỷ

Trang 23

suất lợi nhuận”10, C.Mác khẳng định rằng, hai chỉ tiêu này chăng qua chỉ “là hai cách đo lường khác nhau đối với cùng một lượng”11, đó là giá trị thặng dư

Nếu so sánh tỷ suất lợi nhuận với tỷ suất giá trị thặng dư, có thể thấy sự khác biệt đã tăng thêm cả về lượng và chất so với khi so sánh lợi nhuận với giá trị thặng dư Kể cả trong trường hợp lợi nhuận ngang bằng giá trị thặng dư thì nhìn chung tỷ suất lợi nhuận vẫn khó có thể ngang bằng tỷ suất giá trị thặng dư, ngoại trừ trường hợp tư bản bất biến bằng không Nếu như tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột lao động làm thuê của tư bản, thì tỷ suất lợi nhuận đã che đậy hoàn toàn bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất TBCN Trong tỷ suất lợi nhuận, chỉ có thể thấy mức độ hiệu quả kinh tế của đầu tư tư bản mà thôi

C.Mác khẳng định, “mặc dầu tỷ suất lợi nhuận khác với tỷ suất giá trị thặng dư về mặt biểu hiện bằng con số, trong khi giá trị thặng dư và lợi nhuận thực tế là một và bằng nhau về mặt số lượng, nhưng lợi nhuận vẫn là một hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư; dưới hình thái đó, nguồn gốc của nó và điều bí ẩn về sự tồn tại của nó bị che lấp và lu mờ đi Sự thực thì lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư và chỉ thông qua sự phân tích người ta mới có thể tách được giá trị thặng dư ra khỏi cái vỏ lợi nhuận Trong giá trị thặng dư, quan hệ giữa tư bản và lao động đã được bóc trần; trong tỷ lệ giữa

tư bản và lợi nhuận, - nghĩa là giữa tư bản và giá trị thặng dư, giá trị thặng dư này một mặt biểu hiện ra là một phần dôi ra so với chi phí sản xuất của hàng hóa và được thực hiện trong quá trình lưu thông, mặt khác lại biểu hiện thành một số dôi ra được tỷ số giữa lợi nhuận và toàn bộ tư bản quy định mà một

cách cụ thể hơn, - tư bản biểu hiện ra là một quan hệ với bản thân nó, trong

quan hệ ấy về phương diện là tổng số những giá trị ban đầu, thì tư bản khác với một giá trị mới do bản thân nó tạo nên Tư bản đã sản sinh ra giá trị mới

ấy trong thời gian vận động của nó qua quá trình sản xuất và lưu thông, điều

10 Sđd, tr.74

11 Sđd, tr.74

Trang 24

đó ai cũng rõ Nhưng việc đó diễn ra như thế nào, thì giờ đây đã bị thần bí hóa

và hình như giá trị thặng dư bắt nguồn từ những đặc tính bí ẩn vốn có của bản thân tư bản”12

Nghiên cứu về lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế TBCN với tư cách là “quá trình làm cho tư bản tăng thêm giá trị thì càng thấy quan hệ

tư bản chủ nghĩa bị thần bí hóa đi và bí mật của cơ cấu nội tại của nó càng trở nên khó hiểu”13 Lợi nhuận và giá trị thặng dư khác nhau về hình thái ngay cả khi chúng bằng nhau về lượng Sự khác nhau đó sẽ rõ rệt hơn khi lợi nhuận biểu hiện ra thành một đại lượng khác với giá trị thặng dư, ngay cả về mặt số lượng

Nếu như lợi nhuận thể hiện sự lời lãi của đầu tư tư bản thì tỷ suất lợi nhuận phản ánh rõ nét hơn mức độ hiệu quả của đầu tư tư bản, do đó “đối với nhà tư bản cá biệt, thì rõ ràng là việc duy nhất mà hắn quan tâm chính là cái tỷ

số giữa giá trị thặng dư, hay phần giá trị dôi ra mà hắn thu được khi bán hàng hóa của hắn, với tổng tư bản mà hắn đã ứng ra để sản xuất hàng hóa; trái lại,

tỷ số đích xác giữa cái phần dôi ra ấy với các bộ phận riêng biệt của tư bản và mối quan hệ bên trong cái phần dôi ra ấy với những bộ phận này, thì không những hắn không quan tâm đến một chút nào, mà chính hắn lại còn có lợi trong việc thả ra một tấm màn khói để che đậy cái tỷ số đích xác ấy và mối quan hệ bên trong ấy”14

Khi phân tích về mối quan hệ giữa tư bản và lợi nhuận, C.Mác chỉ rõ:

“Tự bản thân nó, lượng giá trị của tổng tư bản không có quan hệ nội tại gì với lượng của giá trị thặng dư”15 Lợi nhuận là phạm trù thuộc lĩnh vực phân phối lượng giá trị thu được Thực tiễn kinh doanh trong nền kinh tế TBCN lợi nhuận “được tính bằng hai cách Thứ nhất, được tính như một lượng đơn thuần: số dôi ra so với chi phí sản xuất Trong cách tính thứ nhất này, toàn bộ

tư bản lưu động nằm trong chi phí sản xuất, còn về tư bản cố định thì chỉ có

12 Sđd, tr.82

13 Sđd, tr.83

14 Sđd, tr.75

15 Sđd, tr.79

Trang 25

phần hao mòn là gia nhập chi phí sản xuất mà thôi Thứ hai, người ta tính tỷ lệ giữa phần giá trị dôi ra ấy và toàn bộ giá trị của tư bản ứng ra”16

Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, lợi nhuận là phạm trù của nền kinh tế thị trường TBCN, về bản chất đó là giá trị thặng dư, song đã che khuất bản chất thực sự, bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất TBCN Từ đây đã xuất hiện quan điểm cho rằng lợi nhuận là phạm trù phản ánh sự bóc lột TBCN, do đó trong xây dựng xã hội mới, công bằng, cần tìm mọi cách để xóa

bỏ lợi nhuận

Rõ ràng, phạm trù lợi nhuận được C.Mác nghiên cứu với tư cách là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư trong nền kinh tế TBCN, do đó có thể hiểu rằng, hình thái biểu hiện giản đơn đầu tiên của giá trị thặng dư chính

là lợi nhuận Tuy nhiên, từ phân tích sự khác nhau giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư theo quan điểm của C.Mác có thể thấy rõ không phải toàn bộ các hình thái lợi nhuận đều là giá trị thặng dư với tư cách là lao động không công của công nhân làm thuê Do vậy, không thể đồng nhất lợi nhuận với giá trị thặng dư, với bóc lột Cần phân tích phạm trù lợi nhuận trong phạm vi rộng hơn

so với nền kinh tế TBCN thuần túy mà C.Mác đã sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để nghiên cứu Nhận thức về sự không đồng nhất giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư là cơ sở khoa học để làm rõ vai trò to lớn của lợi nhuận đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

1.1.1.2 Vai trò của lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận đối với hoạt động sản xuất kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa

Giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại và làm giàu của các nhà tư bản Các hoạt động sản xuất kinh doanh theo kiểu TBCN đều hướng tới chiếm đoạt giá trị thặng dư Tuy nhiên giá trị thặng dư lại biểu hiện ra thông qua hình thái chuyển hóa là lợi nhuận Kết quả cuối cùng thể hiện kinh doanh có hiệu quả là phải thu được lợi nhuận, cho nên lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh TBCN

16 Sđd, tr.81

Trang 26

Khi bàn về vai trò động lực của lợi nhuận trong nền kinh tế TBCN C.Mác đã trích một đoạn văn trong một bài báo tư sản như sau: ““Tờ

"Quarterly Reviewer" nói: "Tư bản tránh sự ồn ào và cãi cọ và có bản tính rụt

rè Đó là sự thật, nhưng chưa phải là tất cả sự thật Tư bản sợ tình trạng không

có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm Được bảo đảm 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được

300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ

bị treo cổ Nếu sự ồn ào và cãi cọ đem lại lợi nhuận thì tư bản khuyến khích

cả hai Chứng cớ là: buôn lậu và buôn nô lệ" (T.J.Dunning, s.đ.d,tr.35, 36)”17

Như vậy, mặc dù lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với kinh doanh TBCN, vì sự hiện diện của nó thể hiện hiệu quả kinh tế, tuy nhiên so với lợi nhuận thì tỷ suất lợi nhuận phản ánh đầy đủ mức độ hiệu quả kinh doanh Chính vì vậy, không phải lợi nhuận thể hiện số đo tuyệt đối, mà là tỷ suất lợi nhuận với tư cách là số đo tương đối của lợi nhuận, đã trở thành động cơ quan trọng nhất của hoạt động cạnh tranh TBCN C.Mác viết: “Quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, mà cho mãi đến ngày nay khoa kinh tế chính trị học vẫn không hiểu được và là quy luật điều tiết tỷ suất lợi nhuận chung và cái gọi là những giá cả sản xuất do tỷ suất lợi nhuận chung quy định, như sau này chúng ta sẽ thấy, là dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị của hàng hóa và chi phí sản xuất của nó và dựa trên khả năng bán hàng hóa dưới giá trị của nó

mà vẫn có lợi nhuận, khả năng này là do sự chênh lệch nói trên sinh ra”18

Như vậy, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận là những phạm trù thể hiện lợi ích kinh tế của nhà tư bản trong nền kinh tế TBCN, từ đó các nhà tư bản muốn làm giàu và làm giàu nhanh cần phải tìm ra cách thức để có được tỷ suất lợi

Trang 27

nhuận cao nhất Qua phân tích về lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận C.Mác đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận mà các nhà tư bản đã tìm mọi cách

để tận dụng những tác động tích cực của chúng nhằm làm tăng tỷ suất lợi nhuận

1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận

Thứ nhất, Tỷ suất giá trị thặng dư:

Từ phân tích mối quan hệ về lượng giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận, C.Mác đã chỉ rõ những tác động cụ thể của sự vận động của tỷ suất giá trị tặng dư tới tỷ suất lợi nhuận như sau:

Một là, nếu tỷ lệ giữa tư bản khả biến và tổng tư bản ứng trước không

đổi, thì tỷ suất lợi nhuận sẽ vận động cùng chiều theo cùng tỷ lệ so với tỷ suất giá trị thặng dư

Hai là, nếu tỷ lệ giữa tư bản khả biến và tổng tư bản ứng trước thay đổi

cùng chiều với tư bản khả biến, thì tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng hay giảm theo một tỷ lệ lớn hơn so với tỷ suất giá trị thặng dư

Ba là, nếu tỷ lệ giữa tư bản khả biến và tổng tư bản ứng trước thay đổi

ngược chiều với tư bản khả biến, thì tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng hay giảm theo một tỷ lệ nhỏ hơn so với tỷ suất giá trị thặng dư

Bốn là, nếu tỷ lệ giữa tư bản khả biến và tổng tư bản ứng trước thay đổi

ngược chiều với tỷ suất giá trị thặng dư và theo một tỷ lệ lớn hơn so với tỷ suất giá trị thặng dư, thì tỷ suất lợi nhuận sẽ tăng lên mặc dù tỷ suất giá trị thặng dư hạ xuống, hoặc tỷ suất lợi nhuận sẽ hạ xuống mặc dù tỷ suất giá trị

thặng dư tăng lên

Năm là, tỷ suất lợi nhuận không đổi, nếu tỷ lệ giữa tư bản khả biến và

tổng tư bản ứng trước thay đổi ngược chiều với tỷ suất giá trị thặng dư, nhưng thay đổi lượng của mình theo đúng một tỷ lệ như tỷ suất giá trị thặng dư19

Từ đây, C.Mác rút ra kết luận: “tỷ suất lợi nhuận do hai nhân tố chủ yếu quyết định: tỷ suất giá trị thặng dư và cấu tạo giá trị của tư bản”20

20 Sđd, tr.113

Trang 28

“Các tỷ suất lợi nhuận của hai tư bản, hay của một tư bản trong hai

trạng thái kế tiếp khác nhau đều bằng nhau:

1 Khi các tư bản có cấu tạo tính theo phần trăm bằng nhau và tỷ suất giá trị thặng dư bằng nhau;

2 Khi các tư bản có cấu tạo tính theo phần trăm khác nhau và có tỷ suất giá trị thặng dư khác nhau

Các tỷ suất đó không bằng nhau:

1 Khi cấu tạo của các tư bản tính theo phần trăm bằng nhau, nếu các tỷ suất giá trị thặng dư chênh lệch nhau; trong trường hợp này, tỷ số giữa các tỷ suất lợi nhuận đó bằng tỷ số giữa các tỷ suất giá trị thặng dư;

2 Khi tỷ suất giá trị thặng dư bằng nhau và cấu tạo biểu hiện bằng phần trăm khác nhau;

3 Khi tỷ suất giá trị thặng dư không ngang nhau và cấu tạo tính theo phần trăm không ngang nhau”21

Từ đây, có thể thấy rằng, trong phần lớn các trường hợp nêu trên, sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng dư sẽ có tác động trực tiếp làm tăng tỷ suất lợi nhuận Do đó để tăng tỷ suất lợi nhuận trước hết cần áp dụng tất cả các biện pháp làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư, đặc biệt kết hợp áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thông qua tăng độ dài ngày lao động

và tăng cường độ lao động với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối thông qua tăng năng suất lao động, kết hợp giữa tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, trong đó trong dài hạn cần tăng cường nâng cao năng suất lao động trên cơ sở tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu

Trước đây, do nhận thức không đầy đủ về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, đã hình thành quan niệm phổ biến rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong CNXH không còn sản xuất giá trị thặng dư, không nên áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối vì nó bất công, trái với

Trang 29

bản chất của xã hội mới Nếu áp dụng thì chỉ nên chú trọng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Quan niệm không đầy đủ này xuất phát từ nhận thức sản xuất giá trị thặng dư với tư cách là tính đặc thù riêng có của phương thức sản xuất TBCN, nên đã không thấy được rằng, sự hình thành và phát triển của các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cũng chính là sự phát triển của sản xuất xã hội nói chung, trong các phương pháp này cũng có những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong CNTB, mà trong xây dựng

xã hội mới cũng cần phải kế thừa, vận dụng

Thực tiễn phát triển kinh tế ngày nay ở nước ta cho thấy, cả ba yếu tố là thời gian lao động, cường độ lao động và năng suất lao động đều quan trọng, cần được sử dụng phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó, các yếu tố thời gian lao động và cường độ lao động có thể áp dụng ngay lập tức với những điều kiện hiện có và sẽ cho kết quả tích cực trong thời gian tương đối ngắn thông qua các biện pháp về tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh một cách khoa học Còn yếu tố năng suất lao động thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như trình độ của người lao động, kỹ thuật, công nghệ của sản xuất…, mà những yếu tố này nhìn chung khó có thể thay đổi nhanh,

do đó, tăng năng suất lao động là hướng cần chú trọng, đặc biệt trong dài hạn

Thứ hai, thời gian chu chuyển của tư bản

Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận với tư cách là kết quả phản ánh hiệu quả kinh doanh được tính toán cho từng đơn vị thời gian nhất định Thông thường các chỉ tiêu này được tính cho thời gian của một năm hoạt động kinh doanh Từ đây, theo lý luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, cơ sở của hiệu quả kinh doanh là sự vận động liên tục, không gián đoạn của hoạt động sản xuất kinh doanh, thể hiện yêu cầu phải phối kết hợp ăn khớp nhịp nhàng tất cả các khâu, giai đoạn của toàn bộ quá trình tái sản xuất với tư cách là quá trình chuyển hóa liên tục của tư bản từ hình thái chức năng này sang hình thái chức năng khác

Trang 30

Còn mức độ hiệu quả kinh doanh cụ thể lại được quyết định bởi tốc độ chu chuyển của tư bản C.Mác chỉ rõ: “sự rút ngắn thời gian chu chuyển hay rút ngắn một trong hai bộ phận của thời gian chu chuyển - thời gian sản xuất

và thời gian lưu thông - làm tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư sản xuất ra Nhưng vì tỷ suất lợi nhuận chỉ biểu hiện cái tỷ lệ giữa khối lượng giá trị thặng dư được sản xuất ra và tổng tư bản đã dùng để sản xuất ra khối lượng giá trị thặng dư đó, nên rõ ràng là mọi sự rút ngắn như thế sẽ nâng cao tỷ suất lợi nhuận lên”22

Từ đây, có thể thấy các biện pháp rút ngắn thời gian chu chuyển của tư bản đều là các biện pháp nâng cao tỷ suất lợi nhuận Thời gian chu chuyển của tư bản có kết cấu gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông, do đó các biện pháp rút ngắn từng khoảng thời gian này đều có tác động tích cực tới nâng cao tỷ suất lợi nhuận

Để rút ngắn thời gian sản xuất, cần nghiên cứu kỹ kết cấu của khoảng thời gian này đối với từng loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nhìn chung thời gian sản xuất trong nền kinh tế thị trường có thể phân chia thành ba khoảng thời gian chủ yếu là thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất

Thời gian lao động là khoảng thời gian có sự tác động trực tiếp của sức lao động tới tư liệu sản xuất Độ dài của khoảng thời gian này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất của ngành sản xuất, tác động của các quá trình tự nhiên tới quá trình chuyển hóa của đối tượng lao động thành sản phẩm, công nghệ sử dụng để sản xuất, trình độ nguồn nhân lực, trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh…Vì vậy, để rút ngắn khoảng thời gian này cần sử dụng các biện pháp như lựa chọn ngành, nghề kinh doanh phù hợp, ứng dụng tiến bộ công nghệ hiện đại, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến…

22 Sđd, tr.115

Trang 31

Thời gian gián đoạn lao động là khoảng thời gian vẫn diễn ra quá trình sản xuất song không có sự tham gia trực tiếp của con người Độ dài của khoảng thời gian này cũng khác nhau tùy thuộc vào tính chất của ngành sản xuất, tác động của tự nhiên tới đối tượng lao động, trình độ ứng dụng tiến bộ công nghệ…Biện pháp chủ yếu để giảm khoảng thời gian này là ứng dụng tiến bộ công nghệ để đẩy nhanh quá trình chuyển hóa đối tượng lao động thành sản phẩm

Thời gian dự trữ sản xuất là khoảng thời gian các yếu tố sản xuất, đặc biệt là đối tượng lao động đã được mua về, sẵn sàng tham gia vào sản xuất, song chưa đi vào sản xuất mà tồn tại dưới dạng dự trữ Trong nền kinh tế thị trường, dự trữ sản xuất đầy đủ luôn là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho hoạt động sản xuất có thể thực hiện liên tục không ngừng, không bị rối loạn Dự trữ sản xuất thừa sẽ gây lãng phí, giảm hiệu quả kinh doanh Khoảng thời gian mà các yếu tố sản xuất nằm dưới dạng dự trữ sản xuất dài hay ngắn phụ thuôc vào nhiều yếu tố như tình hình thị trường, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh…, trong đó năng lực và trình độ quản lý sản xuất là rất quan trọng

Như vậy, căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng tới từng khoảng thời gian sản xuất như đã nêu trên, để rút ngắn thời gian sản xuất cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp Tổng hợp lại, C.Mác cho rằng, “Biện pháp chính để rút ngắn thời gian sản xuất là tăng năng suất lao động”23

Thời gian lưu thông cũng gồm nhiều khoảng thời gian như thời gian mua, thời gian bán, thời gian vận chuyển, bảo quản, nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại Do vậy, độ dài của thời gian lưu thông cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình hình thị trường, khoảng cách từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ, trình độ phát triển của các ngành kết cấu hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin liên lạc, tính chất và chất lượng sản phẩm…Từ đó, để rút ngắn thời gian lưu thông cũng phải thực hiện nhiều giải pháp từ nghiên cứu thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức hệ thống kinh doanh, phân

23 Sđd, tr.116

Trang 32

phối, xúc tiến thương mại, cải thiện các điều kiện về kết cấu hạ tầng…Trong điều kiện điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn, trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải chưa cao, C.Mác cho rằng “Biện pháp chính để rút ngắn thời gian lưu thông là cải tiến các phương tiện giao thông”24

Từ phân tích tác động của chu chuyển tư bản tới tỷ suất lợi nhuận C.Mác khẳng định: “với những tư bản có cùng một cấu tạo tính theo phần trăm như nhau, có một tỷ suất giá trị thặng dư và ngày lao động giống nhau, thì các tỷ suất lợi nhuận của hai tư bản đều tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của chúng”25

Thứ ba, sự tiết kiệm tư bản bất biến

Vì tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ giữa lợi nhuận và tư bản ứng ra, cho nên tiết kiệm tư bản rõ ràng có tác động tới tăng tỷ suất lợi nhuận Tư bản ứng ra gồm tư bản bất biến và tư bản khả biến Tư bản khả biến là nhân tố quyết định giá trị thặng dư, nhưng bản thân nó lại được quyết định bởi giá trị sức lao động, do đó việc giảm tư bản khả biến luôn là điều khó khăn, đặc biệt luôn phải đối mặt với phong trào công nhân Còn tư bản bất biến luôn đóng vai trò

là điều kiện cần thiết cho sản xuất giá trị thặng dư, song không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư Theo sự phát triển của sản xuất tư bản bất biến có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối và tương đối, nhưng đồng thời cũng hình thành các điều kiện để tiết kiệm bộ phận tư bản này, nhờ đó sẽ làm tăng tỷ suất lợi nhuận C.Mác đã chỉ ra những biện pháp tiết kiệm tư bản bất biến mà các nhà tư bản trong thế kỷ XIX đã sử dụng để nâng cao tỷ suất lợi nhuận, bao gồm:

Một là, kéo dài lao động thặng dư và do đó kéo dài ngày lao động,

trong khi tư bản khả biến vẫn y nguyên làm cho tỷ suất lợi nhuận tăng lên, bởi

lẽ các khoản chi phí như thuế, tiền bảo hiểm, tiền lương của các loại nhân viên thường trực, sự mất giá của máy móc và nhiều khoản chi phí khác của một công xưởng vẫn không thay đổi dù ngày lao động dài hơn lên hay ngắn

24 Sđd, tr.116

25 Sđd, tr.118

Trang 33

đi Còn khi sản xuất thu hẹp lại thì những chi phí đó tăng lên, làm cho tỷ suất lợi nhuận giảm đi26

Hai là, “Tiết kiệm về những điều kiện sản xuất đặc trưng cho nền sản

xuất quy mô lớn với tư cách là những điều kiện của lao động xã hội - thực hiện được do tập trung tư liệu sản xuất và sử dụng tư liệu sản xuất trên quy

mô lớn, - đòi hỏi phải có một điều kiện căn bản là sự tập trung và sự hoạt động chung của một số công nhân, tức là đòi hỏi phải có một sự kết hợp xã hội của lao động”27

Ba là, “biến những chất thải của sản xuất, những cái gọi là phế liệu, trở

lại thành những yếu tố sản xuất mới”28

Bốn là, “sự nâng cao năng suất lao động trong ngành chế tạo tư liệu lao

động và đối tượng lao động làm cho các yếu tố này rẻ đi”29

Năm là, “tiết kiệm nhờ thường xuyên cải tiến thiết bị máy móc mà có,

cụ thể là do: 1) sự cải tiến những chất liệu làm máy móc, chẳng hạn như dùng sắt thay gỗ; 2) sự hạ giá của máy móc nhờ cải tiến việc chế tạo máy móc nói chung; thành thử mặc dù giá trị của bộ phận cố định của tư bản bất biến không ngừng tăng lên với sự phát triển của lao động trên quy mô lớn, nhưng giá trị ấy tăng lên hoàn toàn không theo cùng một mức độ đó; 3) những sự cải tiến đặc biệt khiến cho người ta có thể sử dụng những máy móc sẵn có một cách có hiệu quả hơn và ít tốn hơn, chẳng hạn như việc cải tiến những nồi súp-de, v.v… mà dưới đây chúng ta sẽ lại bàn tỉ mỉ hơn; 4) việc giảm bớt phế liệu bằng cách sử dụng những máy móc tốt hơn”30

Sáu là, tiết kiệm trong việc sử dụng bản thân tư bản bất biến nhờ mua

được nguyên vật liệu có chất lượng tốt, nhờ sự rèn luyện và đào tạo công nhân, nhờ vào kỷ luật mà nhà tư bản bắt người công nhân lao động kết hợp phải tuân theo và hơn thế nữa còn nhờ vào việc làm giả mạo các yếu tố sản xuất31

Trang 34

Bảy là, sử dụng những điều kiện lao động của công nhân một cách tiết kiệm32

Tám là, tiết kiệm nhờ những phát minh

Khi phân tích về các biện pháp tiết kiệm tư bản bất biến để làm tăng tỷ suất lợi nhuận, C.Mác nhắc nhở rằng những biện pháp này nhìn chung chỉ thể hiện tác dụng tích cực rõ rệt trong điều kiện lao động tập thể với quy mô lớn33 Đồng thời, tiết kiệm nhờ phát minh cũng chứa đựng rủi ro lớn đối với những chủ thể ứng dụng đầu tiên, bởi lẽ “Trong việc sản xuất một thứ máy mới, thì chi phí để sản xuất ra chiếc máy mới đầu tiên chênh lệch rất nhiều so với chi phí để sản xuất ra những chiếc máy sau…Những chi phí để quản lý một xưởng áp dụng đầu tiên những phát minh mới, bao giờ cũng cao hơn rất nhiều so với những chi phí của những xưởng sau này mọc lên trên những đống gạch vụn của nó”34 Theo ông, “Điều đó đúng đến nỗi, thường thường những nhà kinh doanh đầu tiên áp dụng những phát minh mới hay thất bại và chỉ những người kế tục họ mới phát tài, vì những người này hưởng được với giá rẻ cả nhà xưởng lẫn máy móc, v.v Chính vì vậy, trong phần lớn các trường hợp, những nhà tư bản - tiền tệ kém cỏi nhất và tồi tệ nhất lại là những

kẻ được hưởng lợi nhiều nhất về tất cả những tiến bộ mới của lao động chung

và của trí tuệ loài người, về sự áp dụng có tính chất xã hội những sự tiến bộ

đó bằng lao động kết hợp”35

Thứ tư, sự vận động của giá cả nguyên vật liệu:

Nền kinh tế thị trường TBCN là nền kinh tế mở, do đó ngoại thương có vai trò quan trọng đối với quá trình tái sản xuất và tỷ suất lợi nhuận của từng quốc gia “Ngoại thương ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận, ngay cả trong trường hợp ta gác lại không kể đến mọi ảnh hưởng của ngoại thương đối với tiền công bằng cách làm cho giá cả những tư liệu sinh hoạt cần thiết giảm xuống Cụ thể là ngoại thương ảnh hưởng đến giá cả nguyên liệu và vật liệu

34 Sđd, tr.164

Trang 35

phụ dùng trong công nghiệp hay nông nghiệp… Do đó, chúng ta thấy rằng việc bãi bỏ hay giảm thuế quan đánh vào nguyên liệu có một tầm quan trọng

to lớn như thế nào đối với công nghiệp”36

Phân tích chu chuyển của tư bản lưu động cho thấy, “Giá trị của nguyên liệu và vật liệu phụ mà người ta tiêu dùng để sản xuất ra sản phẩm, chuyển toàn bộ và ngay một lần vào giá trị của sản phẩm đó, còn giá trị của những yếu tố tư bản cố định thì chỉ chuyển dần dần mỗi lần một ít vào sản phẩm theo với sự hao mòn của những yếu tố ấy Do đó, so với giá cả tư bản

cố định thì giá cả của nguyên liệu ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm trên một mức độ lớn hơn nhiều, tuy rằng tỷ suất lợi nhuận là do tổng số giá trị của

tư bản đã bỏ ra quyết định”37

Thứ năm, sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản:

Dưới tác động của tích lũy tư bản trong điều kiện cạnh tranh nhằm thu lợi nhuận cao, sức sản xuất của lao động ngày càng được nâng cao thể hiện sự gia tăng không ngừng của cấu tạo hữu cơ tư bản Tuy nhiên sự gia tăng không ngừng của cấu tạo hữu tư bản lại có tác động trái ngược với mục tiêu của kinh doanh TBCN, từ đó đã phản ánh ngày càng rõ giới hạn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo C.Mác, giới hạn đó “bộc lộ ra như sau:

Tỷ suất lợi nhuận giảm xuống do sức sản xuất của lao động phát triển,

là một quy luật, quy luật này đến một lúc nào đó thì xung đột gay gắt với bản thân sự phát triển của sức sản xuất của lao động, cho nên luôn luôn phải có những cuộc khủng hoảng để khắc phục sự xung đột đó”38

“Quyết định sự mở rộng hay thu hẹp sản xuất không phải là cái tỷ lệ giữa sản xuất và những nhu cầu của xã hội, những nhu cầu của những con người đã phát triển về mặt xã hội, mà là sự chiếm đoạt lao động không được trả công và tỷ lệ giữa lao động không được trả công ấy với lao động đã vật hóa nói chung”39

Trang 36

Từ đó, “Mâu thuẫn giữa quyền lực xã hội chung mà tư bản chuyển biến thành, với quyền lực tư nhân của những nhà tư bản cá biệt đối với những điều kiện sản xuất xã hội ấy, ngày càng trở nên gay gắt và đòi hỏi phải thủ tiêu quan hệ ấy, vì nó đồng thời đòi hỏi rằng những điều kiện sản xuất ấy cũng phải chuyển thành những điều kiện sản xuất chung, tập thể, xã hội Sự phát triển của những lực lượng sản xuất trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và phương thức thực hiện sự phát triển ấy quyết định sự cải biến đó”40

Như vậy, có nhiều nhân tố làm tăng tỷ suất lợi nhuận mà các nhà tư bản trước đây và cả ngày nay đã sử dụng để làm giàu Những nhân tố đó cũng cần được nhận thức và vận dụng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng rộng và sâu Tuy nhiên từ phân tích tác động của nhân tố cấu tạo hữu cơ của tư bản, có thể hình thành nhận thức không đúng, rằng trong thực tiễn thì các ngành có cấu tạo hữu cơ tư bản cao, đặc biệt là những ngành đi đầu về khoa học công nghệ sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp Do đó, từ phân tích lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận với tư cách là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư, C.Mác đã đi tới luận giải về biểu hiện của quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB với tư cách là sức mạnh chi phối điều tiết các hoạt động kinh tế chủ yếu của các nhà tư bản thông qua phân phối và thực hiện lợi ích của tư bản trong điều kiện kinh tế thị trường dưới hình thái quy luật lợi nhuận bình quân

1.1.2 Lợi nhuận bình quân - quy luật điều tiết phân phối lợi nhuận trong chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh

Tỷ suất lợi nhuận với tư cách là động lực trực tiếp của hoạt động kinh doanh TBCN phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng

dư bằng nhau trong các khu vực sản xuất khác nhau, thì tỷ suất lợi nhuận trong từng lĩnh vực sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố là cấu tạo hữu cơ của tư bản

và tốc độ chu chuyển của tư bản Từ phân tích logic C.Mác khẳng định rằng

40 Sđd, tr.401

Trang 37

tương ứng với cấu tạo hữu cơ tư bản cao sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, còn tương ứng với tốc độ chu chuyển tư bản cao thì sẽ có tỷ suất lợi nhuận cao Như vậy, tỷ suất lợi nhuận trong các ngành, khu vực, quốc gia sẽ không thể ngang bằng nhau do cấu tạo hữu cơ của tư bản và tốc độ chu chuyển của tư bản thường khác nhau giữa các ngành, khu vực, quốc gia Tuy nhiên, thực tiễn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường TBCN cho thấy có sự hoạt động của một tỷ suất lợi nhuận trung bình, dẫn tới “Hình như lý luận về giá trị không phù hợp với sự vận động thực tế và với những hiện tượng thực tế của sản xuất và vì thế hình như nói chung người ta phải từ bỏ hy vọng hiểu được những hiện tượng đó”41

Thực tiễn kinh doanh cho thấy, phù hợp với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận trung bình là sự tồn tại, hoạt động của lợi nhuận trung bình và giá cả sản xuất Nội hàm của các phạm trù đó theo C.Mác như sau: “Do ảnh hưởng của cạnh tranh, những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng đi thành một

tỷ suất lợi nhuận chung, đó là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó Lợi nhuận mà một tư bản có một lượng nhất định thu được theo tỷ suất lợi nhuận chung đó, không kể cấu tạo hữu cơ của nó như thế nào, gọi là lợi nhuận trung bình Giá cả của một hàng hóa, bằng chi phí sản xuất của nó cộng thêm cái phần lợi nhuận trung bình hàng năm của số tư bản

đã được sử dụng vào việc sản xuất ra hàng hóa (chứ không phải chỉ của số tư bản thực tế đã tiêu dùng trong việc sản xuất ra hàng hóa) tùy theo những điều kiện chu chuyển của nó, giá cả đó gọi là giá cả sản xuất của hàng hóa”42

Như vậy, sự chuyển hóa của tỷ suất lợi nhuận thành tỷ suất lợi nhuận trung bình (bình quân) là cơ sở hình thành lợi nhuận trung bình (lợi nhuận bình quân) với tư cách là cấp độ chuyển hóa tiếp theo của giá trị thặng dư, làm cho quy luật giá trị chuyển hóa thành quy luật giá cả sản xuất C.Mác khẳng định, “Vì tổng số giá cả sản xuất của các hàng hóa đã sản xuất ra trong

41 Sđd, tr.233

42 Sđd, tr.240

Trang 38

toàn bộ nền kinh tế với tư cách là một chỉnh thể bằng tổng số giá trị của chúng, cho nên có thể khẳng định rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong điều kiện tồn tại tỷ suất lợi nhuận trung bình, lợi nhuận trung bình và giá cả sản xuất Giá cả sản xuất chẳng qua là hình thái chuyển hóa, là biểu hiện cụ thể của giá trị trong điều kiện đó mà thôi”43

Vậy tỷ suất lợi nhuận trung bình có thể tính thế nào? C.Mác cho rằng,

“nói chung, trong toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mọi quy luật chung chỉ được thực hiện một cách rất rối ren và gần đúng, như một khuynh hướng thống trị, như một con số trung bình của những biến động thường xuyên mà người ta không bao giờ xác định dứt khoát được”44 “Mặc dù sự khác nhau về tốc độ chu chuyển có ảnh hưởng quyết định đối với những tỷ suất lợi nhuận khác nhau của những khu vực sản xuất khác nhau, những tỷ suất lợi nhuận mà con số trung bình hình thành tỷ suất lợi nhuận chung nhưng sự hình thành tỷ suất lợi nhuận chung do con số trung bình của các tỷ suất lợi nhuận khác nhau của từng tư bản đã ứng ra trong một khoảng thời gian nhất định, cho nên sự khác nhau gây ra bởi thời gian chu chuyển khác nhau của những tư bản khác nhau cũng bị xóa nhòa đi trong tỷ suất lợi nhuận chung đó”45

Từ đây, C.Mác đã chỉ ra cách tính tỷ suất lợi nhuận trung bình như sau:

“trong sự hình thành tỷ suất lợi nhuận chung, vấn đề không phải chỉ là tìm ra

những tỷ suất lợi nhuận khác nhau trong các ngành sản xuất khác nhau, rồi từ

những tỷ suất lợi nhuận đó chỉ phải rút ra một con số trung bình cộng, mà trái lại là phải tính đến tỷ trọng theo đó những tỷ suất lợi nhuận khác nhau ấy tham gia vào việc hình thành con số trung bình”46 Như vậy, có thể tính tỷ suất lợi nhuận trung bình bằng số bình quân gia quyền của các tỷ suất lợi nhuận Từ đó, “tỷ suất lợi nhuận chung là do hai nhân tố quyết định:

1) Cấu tạo hữu cơ của tư bản trong các khu vực sản xuất khác nhau, và

vì thế do các tỷ suất lợi nhuận khác nhau ở các khu vực sản xuất cá biệt;

Trang 39

2) Cách phân phối tổng tư bản xã hội cho các khu vực khác nhau đó, tức là do lượng tương đối của tư bản đầu tư trong mỗi khu vực cá biệt và vì vậy mà có một tỷ suất lợi nhuận riêng biệt, tức là do cái phần tương đối của khối lượng tổng tư bản xã hội đã được mỗi khu vực sản xuất cá biệt thu hút”47

Vì giá cả sản xuất được tính bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận trung bình, cho nên “Trong mỗi ngành sản xuất cá biệt, giá cả sản xuất của hàng hóa có thể thay đổi về lượng:

1) Do có sự thay đổi trong tỷ suất lợi nhuận chung là một sự thay đổi không phụ thuộc vào ngành sản xuất riêng biệt, trong trường hợp giá trị của hàng hóa vẫn không thay đổi (tức là trong trường hợp số lượng lao động chết và lao động sống bỏ vào việc sản xuất ra hàng hóa trước sau cũng vẫn y như thế);

2) Do có sự thay đổi về giá trị diễn ra trong bản thân ngành sản xuất riêng biệt vì có sự thay đổi về kỹ thuật, cũng như do có sự thay đổi giá trị các hàng hóa đã gia nhập vào tư bản bất biến của ngành sản xuất riêng biệt đó với tư cách là những yếu tố cấu thành, - khi tỷ suất lợi nhuận chung không thay đổi;

3) Sau hết, - do ảnh hưởng của hai trường hợp trên đây cộng lại”48

Sự hoạt động của quy luật lợi nhuận trung bình và quy luật giá cả sản xuất đã làm cho lợi nhuận và giá trị thặng dư ngày càng có xu hướng xa rời nhau về lượng làm cho bản chất của quan hệ sản xuất TBCN ngày càng bị che khuất C.Mác viêt: “chênh lệch thật sự về lượng giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư, - chứ không phải chỉ giữa tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng

dư mà thôi, - trong các ngành sản xuất riêng biệt giờ đây đã hoàn toàn che giấu không cho người ta thấy rõ thực chất và nguồn gốc của lợi nhuận, không những đối với nhà tư bản là người ở đây có lợi trong việc nhầm lẫn như vậy,

mà cả đối với công nhân nữa Với sự chuyển hóa giá trị thành giá cả sản xuất, thì bản thân cái cơ sở của sự quy định giá trị cũng bị che lấp đi”49

47 Sđd, tr.248

48 Sđd, tr.252

Trang 40

Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận chung gây ra những sự nhầm lẫn nhất định đối với các chủ thể trực tiếp kinh doanh: “vì có rất nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho tỷ suất lợi nhuận tăng lên hoặc giảm xuống, nên người ta

có thể tưởng rằng tỷ suất lợi nhuận chung phải thay đổi hàng ngày”50 Tuy nhiên, “trong nội bộ mỗi khu vực, tỷ suất lợi nhuận của khu vực đó có thể lên xuống trong một thời kỳ dài hay ngắn trước khi sự biến động đó, sau một loạt tăng lên hay giảm xuống, được cố định lại đến mức độ có đủ thời gian cần thiết để ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận chung và do đó, có một ý nghĩa vượt

ra ngoài phạm vi cục bộ Vậy, những quy luật về tỷ suất lợi nhuận đã phát triển ở phần thứ nhất quyển này cũng vẫn có giá trị trong phạm vi những giới hạn về không gian và thời gian đó”51

Việc chuyển hóa của giá trị thặng dư thành lợi nhuận trung bình, thể hiện rằng mỗi bộ phận của tư bản đều đem lại một lợi nhuận như nhau là một quan điểm lý luận biểu hiện một sự kiện thực tiễn, đã làm cho nguồn gốc của lợi nhuận trung bình hoàn toàn bị che khuất, từ đó càng củng cố quan niệm cho rằng lợi nhuận là do tư bản trực tiếp sinh ra, trong khi lợi nhuận trung bình về thực chất là biểu hiện của sự bóc lột chung của tư bản tập thể đối với lao động52

Vậy, tỷ suất lợi nhuận chung, lợi nhuận trung bình được hình thành thế nào? C.Mác chỉ ra rằng, đối với những tư bản có cấu tạo trung bình hay xấp xỉ trung bình, giá cả sản xuất hoàn toàn nhất trí hay gần như nhất trí với giá trị, còn lợi nhuận thì hoàn toàn nhất trí hay gần như nhất trí với giá trị thặng dư

mà những tư bản đó đã sản sinh ra Ông cho rằng, vì những tư bản có cấu thành trung bình đều bằng hay gần bằng với tư bản xã hội trung bình, nên tất

cả các tư bản, dù giá trị thặng dư mà bản thân chúng đã sản sinh ra là như thế nào cũng đều có xu hướng thực hiện không phải giá trị thặng dư, mà là cái lợi

50 Sđd, tr.257

51 Sđd, tr.258

Ngày đăng: 30/07/2015, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Cổ phần Vật liệu Bưu điện, Báo cáo tài chính hàng năm, các năm 2000 - 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính hàng năm, các năm 2000 - 2006
2. Công ty Cổ phần Vật liệu Bưu điện, Điều lệ, Quy chế, Báo cáo tổng kết hàng năm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ, Quy chế, Báo cáo tổng kết hàng năm
3. Nguyễn Hữu Đổng (2001), Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Đổng
Năm: 2001
4. Luật Doanh nghiệp (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
5. Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Luật Doanh nghiệp nhà nước
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Luật Doanh nghiệp (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Nghị định 199/2004/NĐ-CP, ngày 03/10/2004 của Chính phủ 8. Thông tư số 58/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 199/2004/NĐ-CP", ngày 03/10/2004 của Chính phủ 8. "Thông tư số 58/2002/TT-BTC
9. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Khoa Quản lý kinh tế (2003), Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tác giả: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Khoa Quản lý kinh tế
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Đầu tư cho R&D của một số quốc gia OECD (%GDP) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 3 Đầu tư cho R&D của một số quốc gia OECD (%GDP) (Trang 98)
Bảng 8: Tỷ trọng của các công ty Mỹ trong sản xuất GDP một số nước (%) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 8 Tỷ trọng của các công ty Mỹ trong sản xuất GDP một số nước (%) (Trang 117)
Bảng 9: Động thái tăng trưởng và phân phối GDP toàn cầu giai đoạn - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 9 Động thái tăng trưởng và phân phối GDP toàn cầu giai đoạn (Trang 118)
Bảng 11: Tỷ trọng lợi nhuận của các công ty phi tài chính trong tổng giá - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 11 Tỷ trọng lợi nhuận của các công ty phi tài chính trong tổng giá (Trang 120)
Bảng 14: Hiệu quả kinh doanh trong nề n kinh tế  Mỹ năm 2010 phân theo ngành - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 14 Hiệu quả kinh doanh trong nề n kinh tế Mỹ năm 2010 phân theo ngành (Trang 123)
Bảng 15: Doanh thu và lợi nhuận của các DN Việt Nam giai đoạn 2000-2008 - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 15 Doanh thu và lợi nhuận của các DN Việt Nam giai đoạn 2000-2008 (Trang 131)
Bảng 20: Tỷ suất lợi nhuận của DN theo ngành kinh tế giai đoạn 2006-2008 (%) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 20 Tỷ suất lợi nhuận của DN theo ngành kinh tế giai đoạn 2006-2008 (%) (Trang 137)
Bảng 1: Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng GDP (%) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 1 Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng GDP (%) (Trang 343)
Bảng 1. Lợi nhuận của Nhà máy năm 2000 - 2002  (ĐVT: triệu đồng ) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 1. Lợi nhuận của Nhà máy năm 2000 - 2002 (ĐVT: triệu đồng ) (Trang 545)
Bảng 2. Lợi nhuận của Nhà máy các năm 2003, 2004. - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 2. Lợi nhuận của Nhà máy các năm 2003, 2004 (Trang 547)
Bảng 3. Tình hình phân phối lợi nhuận của Nhà máy   qua các năm 2000 - 2004. (ĐVT: triệu đồng) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 3. Tình hình phân phối lợi nhuận của Nhà máy qua các năm 2000 - 2004. (ĐVT: triệu đồng) (Trang 548)
Bảng 4. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2005 - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 4. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2005 (Trang 550)
Bảng 5. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2006 - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 5. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2006 (Trang 551)
Bảng 6. Phân phối lợi nhuận của Công ty năm 2005 - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 6. Phân phối lợi nhuận của Công ty năm 2005 (Trang 554)
Bảng 7. Phân phối lợi nhuận của Công ty năm 2006 (ĐVT: triệu đồng) - Lý luận của C.Mác về phân chia lợi nhuận giữa các loại tư bản trong điều kiện của thế giới hiện nay
Bảng 7. Phân phối lợi nhuận của Công ty năm 2006 (ĐVT: triệu đồng) (Trang 556)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w