Hệ thống kế toán chi phí không thể cung cấp thông tin kịp thời cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp mà chỉ có bộ phận kế toán quản trị mới thực hiện được đ
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Xây dựng là ngành sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho các doanh nghiệp nói riêng, cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung Xây dựng cơ bản là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo, hiện đại hoá, khôi phục công trình nhà máy, xí nghiệp, đường xá, nhà cửa nhằm phục vụ cho đời sống, sản xuất của xã hội Chi phí cho đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng Ngân sách Nhà nước cũng như Ngân sách của doanh nghiệp
Sự phát triển, mở rộng không ngừng của các doanh nghiệp xây dựng về quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sản phẩm do ngành xây lắp tạo ra có ý nghĩa to lớn về mặt khoa học, chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng
Chi phí xây dựng cơ bản bao gồm: Xây dựng, mua sắm, lắp đặt thiết bị và chi phí kiến thiết cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt do các doanh nghiệp chuyên về thi công xây dựng đảm nhận thông qua hợp đồng giao nhận thầu xây dựng Sản phẩm của các công trình xây lắp là các công trình đã xây dựng, lắp đặt hoàn thành có thể đưa vào sử dụng phục vụ cho sản xuất và đời sống
So với ngành sản xuất khác, ngành xây dựng có nhũng nét đặc thù riêng biệt thể hiện ở sản phẩm và quá trình sản xuất Điều này có ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí của từng doanh nghiệp xây dựng, cụ thể:
Sản phẩm xây dựng mang tính riêng lẻ, đơn chiếc Mỗi sản phẩm xấy dựng có yêu cầu về mặt thiết kế kỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau
Vì vậy, mỗi sản phẩm xây dựng đều có yêu cầu tổ chức quản lý, tổ chức thi công
và biện pháp thi công phù hợp với từng công trình cụ thể, quá trình này phải được
Trang 2quản lý chi phí chặt chẽ từng công đoạn, có như vậy việc sản xuất mới mang lại hiệu quả cao
Do sản phẩm có tính đơn chiếc như vậy nên chi phí sản xuất cho từng công trình sẽ khác nhau Do vậy, việc tập hợp quản lý chi phí, tính giá thành sản phẩm xây dựng, chưa tạo ra sản phẩm xây lắp cũng đựoc tính cho từng sản phẩm xây dựng riêng biệt Thông thường sản phẩm xây lắp theo đơn đặt hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công kéo dài Trong quá trình xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, vốn Do đó, việc quản lý đòi hỏi phải lập dự toán thiết kế và thi công để theo dõi, kiểm tra quá trình sản xuất, thi công, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm đảm bảo chất lượng công trình
Do thời gian thi công kéo dài nên kỳ tính giá thành thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất Công nghiệp mà xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước, tuỳ thuộc vào kết cấu kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp Doanh nghiệp xây lắp thường có địa bàn rộng, sản phẩm xây dựng cố định tại nơi sản xuất các điều kiện để sản xuất (vật tư, xe máy, nhân công, thiết bị, phương tiện thi công) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý rất phức tạp ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thời tiết, địa hình thi công nên việc thi công ở mức độ nào đó mang tính thời vụ không liên tục Thông thường các doanh nghiệp xây dựng sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để giảm bớt chi phí di dời Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, thi công nhanh, đúng tiến
độ khi điều môi trường, thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng công trình có thể phải đi làm lại và các thiệt hại phát
Trang 3sinh do ngừng sản xuất Doanh nghiệp cần có chế độ điều độ cho phù hợp, nhằm tiết kiệm chi phí, hạ gía thành
Công tác kế toán phải tổ chức tốt khâu quản lý chi phí bằng cách hạch toán ban đầu, thường xuyên kiểm kê vật tư tài sản nhằm phát hiện những thiếu hụt, hư hỏng
để có biện pháp xử lý kịp thời
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau để ra quyết định quản trị nhằm đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình Kế toán quản trị cung cấp rất nhiều thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị cho việc ra quyết định trong kinh doanh Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp Việt Nam việc vận dụng hệ thống kế toán phục
vụ cho lãnh đạo trong việc ra quyết định chưa được thực hiện phổ biến Tác giả muốn đề cập đến các bước ra quyết định quản trị dựa trên thông tin của kế toán quản trị chi phí cung cấp và qui trình để xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
KTQT chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cung cấp thông tin về chi phí trong các doanh nghiệp là hệ thống kế toán chi phí Kế toán chi phí luôn luôn tồn tại trong mỗi tổ chức, tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau sẽ khác nhau, tùy thuộc vào việc xây dựng và khai thác hệ thống kế toán chi phí đó, Các doanh nghiệp ở các nước phát triển trên thế giới đã xây dựng hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị nội bộ trong doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch
và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Hệ thống kế toán chi phí không thể cung cấp thông tin kịp thời cho việc ra quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp mà chỉ có bộ phận kế toán quản trị mới thực hiện được điều này Chính vì vậy, để xứng đáng với vai trò to lớn đó đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp tại TP.HCM nói riêng phải cải tiến, đổi mới công tác quản lý, phương thức kinh doanh cũng như hệ thống các công cụ quản lý, trong
Trang 4đó kế toán quản trị chi phí là một trong những công cụ quản lý kinh tế quan trọng của các doanh nghiệp
Trong những năm qua, công tác kế toán tại Việt Nam nói chung và tại các doanh nghiệp xây dựng nói riêng đã không ngừng được cải tiến, hoàn thiện, tiếp cận các thông lệ chuẩn mực quốc tế về kế toán, từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý trong tiến trình hội nhập Tuy nhiên, hệ thống kế toán của các doanh nghiệp nhìn chung mới chỉ đề cập chủ yếu đến kế toán tài chính mặc dù hệ thống kế toán của các doanh nghiệp vẫn có những biểu hiện nhất định về kế toán quản trị chi phí Có thể nói kế toán quản trị chi phí vẫn đang còn là một vấn đề khá mới mẻ cả về nhận thức và tổ chức thực hiện
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài "Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP Hồ Chí Minh" làm đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng việc ứng dụng kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM, nhằm cung cấp các thông tin phục vụ cho hoạt động sản xuất quản lý và điều hành tổ chức, ra quyết định, phục vụ cho việc kiểm soát
chi phí, tạo thêm giá trị cho đơn vị thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt nhất 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Với những doanh nghiệp xây dựng là một ngành sản xuất vật chất góp phần tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và đây là ngành công nghiệp đặt biệt, có
hệ thống quản lý chủ yếu dựa trên nền tảng chuyên môn hoá từng bộ phận hoạt động sản xuất kinh doanh, từng hoạt động quản lý, thì nội dung kế toán quản trị chi phí được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin định lượng về tình hình kinh tế tài chính theo từng bộ phận chuyên môn hoá để phục vụ cho việc hoạch định, tổ
Trang 5chức thực hiện, quản lý chi phí tính giá thành sản phẩm, kiểm tra và ra quyết định của nhà quản lý ở từng cấp quản trị, ta xây dựng 4 mục tiêu cụ thể sau:
• Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định
• Trợ giúp nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát chi phí của doanh nghiệp, hoạt động của tổ chức
• Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ chức
• Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong tổ chức
1.3 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, không thể phủ nhận sự cần thiết của việc ra đời và phát triển của bộ phận kế toán quản trị trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp Vì nhà quản trị quan tâm đến những
gì xảy ra trong tương lai hơn là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp Hiểu và phân biệt được nội dung của kế toán quản trị chi phí với kế toán tài chính sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng kế toán quản trị chi phí vào thực tiễn Việc phân tích các mục tiêu, yêu cầu, chức năng thông tin, và nội dung chủ yếu của kế toán quản trị chi phí giúp cho việc hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp …
Trương Thanh Hằng, Hà Nội, 2006 Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại doanh nghiệp xây lắp thuộc tổng công
ty xây dựng và phát triển hạ tầng (LIGICO) Luận văn đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận cơ bản chung về KTQT chi phí và giá thành làm sáng tỏ tương đối
Trang 6về bản chất nội dung, và phương pháp của KTQT, luận văn chủ yếu tập trung vào
kế toán chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp, phạm vi nghiên cứu của luận văn còn tập trung trong phạm vi của một doanh nghiệp, nên còn mang yếu tố chủ quan, và còn nhiều vấn đề cần phải nghiêu cứu thêm và mở rộng
Lê Thị Thu Thủy, TP.HCM, 2013 Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí tại công ty CP sơn Dầu khí Việt Nam, đề tài đã nghiên cứu chế độ kế toán chi phí trong doanh nghiệp, đánh giá thực trạng chi phí trong doanh nghiệp hiện nay chưa thật sự phù hợp với đặc diểm ngành và khó có thể đáp ứng nhu cầu thông tin cho việc ra quyết định kinh doanh hợp lý, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí cho doanh nghiệp và các điều kiện để thực hiện công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí nhưng còn chung chung và chủ yếu trong lãnh vực kinh doanh của ngành
Hoàng Tấn Dũng, TP.HCM, 2010 Vận dụng chi phí mục tiêu để quản lý chi phí trong ngành xây dựng ở Việt Nam Chi phí mục tiêu có nguồn gốc từ Nhật Bản, ra đời từ những năm 60 bởi tập đoàn công nghiệp và chế biến ô tô, đây là một đề tài khá mới mẻ đối với việc quản lý chi phí tại Việt Nam, được tác giả phân tích và đưa vào để quản lý chi phí trong ngành xây dựng, để tài này là công trình nghiên cứu khá mới, nên còn mang tính chung chung và chưa cụ thể hóa vấn đề
Lê Thị Thu Linh, TP.HCM, 2013 Hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành tại công ty cao su Krông Buk theo hướng tiếp cận phương pháp ABC Luận văn đã mô tả được cơ bản công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, nâng cao được chất lượng công tác kế toán chi phí, và công cụ hỗ trợ cho bộ máy quản trị doanh nghiệp, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu còn hạn chế là tại một doanh nghiệp nên khó có thể áp dụng cho phạm vi mang tính chất vĩ mô, hay một khu vực, tập đoàn
Lê Thúy Phượng, TP.HCM, 2013 Thiết lập thông tin kế toán cho việc ra quyết định của nhà quản trị tại viễn thông thành phố HCM Luận văn đã đưa thông tin kế
Trang 7toán cho việc ra quyết định của nhà quản trị, thể hiện vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp định hướng, nhận diện thực trạng, và kiểm soát kịp thời để sử dụng tối ưu nguồn lực, tuy nhiên đề tài chuyên về lãnh vực viễn thông, nên còn hạn chế trong việc áp dụng vào thực tiễn của ngành xây dựng, vì xây dựng là ngành sản xuất vật chất đặc thù
Hồ Thị Huệ, TP.HCM, 2011 Xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất tại TP.HCM, Luận văn đã đi sâu tìm hiểu thực trạng sử dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất tại TP.HCM, đồng thời cũng nêu lên một số nguyên nhân chưa xây dựng mô hình kế toán quản trị và thông tin nhà quản lý cần
bộ phận kế toán quản trị cung cấp Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra mô hình kế toán quản trị sử dụng cho các doanh nghiệp sản xuất tại TP.HCM
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Sản phẩm của xây dựng là một sản phẩm đặc thù, giá bán của sản phẩm có trước (hợp đồng kinh tế, giá trúng thầu, dự toán…) từ đó các đơn vị thi công xây dựng kế hoạch sản xuất ra sản phẩm, cùng với việc hạch toán chi phí từ thực tế phát sinh, vì vậy đối tượng nghiên cứu là từ việc vận dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng,
Là việc khảo sát công tác thực hiện kế toán tài chính và kế toán quản trị chi phí tại một số doanh nghiệp trong ngành xây dựng tại TP.HCM từ đó để đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi phí phù hợp cho các doanh nghiệp xây dựng tại Tp.HCM
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM ta thực hiện phương pháp nghiên cứu kết hợp như sau:
Trang 8Nguồn dữ liệu sẽ thực hiện bằng cách lấy thông tin từ sách tham khảo liên quan đến kế toán quản trị, các luận văn đã nghiên cứu có liên quan, các bài viết trên tạp chí, website, lý thuyết về các phương pháp nghiên cứu được chọn cho đề tài
Khảo sát thực trạng được thực hiện mô hình quản lý chi phí, kế toán quản trị thông qua việc thiết kế và sử dụng bảng câu hỏi khảo sát tại từng doanh nghiệp để phân tích đánh giá kết quả bằng định tính
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích và tổng hợp các thông tin thu thập được từ việc phỏng vấn trực tiếp những người đang làm công tác kế toán, kế toán quản trị chi phí và các nhà quản lý tại doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn TP.HCM
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1.5.1 Về lý luận:
- Đề tài hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến kế toán quản trị, kế toán quản trị chi phí, phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị và sự cần thiết phải xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM
- Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận về quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng
1.5.2 Về thực tiễn:
Từ kết quả khảo sát, đề tài mang đến cho người đọc cái nhìn khái quát về thực trạng quản lý chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM và sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác quản lý chi phí trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp, đưa ra một số nguyên nhân các doanh nghiệp chưa hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí
Từ đó, đưa ra mô hình hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị hỗ trợ để công tác kế toán quản trị chi
Trang 9phí trong doanh nghiệp Xây dựng tại TP.HCM được áp dụng vào thực tiễn dễ dàng, nhanh chóng hơn
1.6 Bố cục luận văn:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM
Chương 4: Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại
TP Hồ Chí Minh là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng, trong tình hình có sự phân hóa và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, đây cũng là sự sống còn để tồn tại phát triển bền vững hay diệt vong của một doanh nghiệp Đã có rất nhiều nghiên cứu về công tác hoàn thiện công tác
kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Tuy nhiên tại các doanh nghiệp xây dựng đây là vấn đề này còn khá mới mẻ và cần thiết trong tình hình hiện nay khi mà sức sống, sức cạnh tranh của ngành này đang bị ảnh hưởng rất lớn, cả trong nước và thế giới Vì vậy qua tìm hiểu các nghiên cứu ở trong nước đã được các nhà nghiên cứu thực hiện từ trước đến nay tác giả rút ra được những vấn đề mà trước đây các nhà nghiên cứu chưa đề cập đến làm cơ sở cho việc chọn đề tài để nghiên cứu trong luận văn này
Trang 10CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG
DOANH NGHIỆP
2.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí
2.1.1 Định nghĩa kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất cùng một ý tưởng thể hiện ở bản chất của kế toán hướng đến cung cấp thông tin phục vụ cho các hoạt động của nhà quản lý ở doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản lý như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và ra quyết định quản lý Một số định nghĩa về kế toán quản trị:
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998 : “ Kế toán quản trị được xem như một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.”
Theo định nghĩa của Viện kế toán quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức.”
Từ năm 1995 đến nay nội dung của Kế toán quản trị gắn liền với quản trị chiến lược, nhấn mạnh đến việc tạo ra giá trị gia tăng thông qua việc gia tăng lợi ích cho khách hàng, cổ đông, sử dụng hiệu quả nguồn lực
Trang 11Sự phát triển của Kế toán quản trị trong giai đoạn này xuất phát từ 2 nhóm nguyên nhân:
Nhóm nguyên nhân thuộc tầm vĩ mô:
- Quá trình toàn cầu hóa
- Sự phát triển của công nghệ thông tin
- Sự phát triển của nền kinh tế tri thức
- Sự thay đổi năng động của thời đại v.v
Các nguyên nhân thuộc về môi trường kinh doanh:
- Sự rút ngắn của chu kỳ sống của sản phẩm
- Vai trò ngày càng tăng của khách hàng
- Sự thay đổi cấu trúc doanh nghiệp theo hướng linh hoạt dựa trên hệ thống mạng liên kết
- Sự nhận thức lại giá trị vô hình.v.v
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp, là những người mà các quyết định và hành động của họ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó Thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý điều hành Còn nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị sẽ ra quyết định kinh doanh sai lầm, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin không kịp thời dẫn đến các vấn đề không được giải quyết kịp thời Ở Việt Nam, định nghĩa kế toán quản trị được ban hành trong Luật kế toán Việt Nam
số 03/2003/QH ngày 17/06/2003 : “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Năm 2006, Bộ tài chính ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Ngoài việc nhắc lại định nghĩa về kế toán quản trị của Luật kế toán, Thông tư còn chi tiết: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt
Trang 12động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra các quyết định kinh tế
Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện.” và “Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị.”
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kề toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này chi phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán
Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thong tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý Định nghĩ này hướng về bản chất của kế toán
Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi chép
và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thống các
Trang 13phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân đối)
để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, nhất quán và so sánh được nhằm giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đối với tổ chức
Như vậy, xét một cách tổng quát, KTQT chi phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của KTQT chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức
Để cụ thể hóa nội dung và chức năng của kế toán quản trị chi phí chúng ta sẽ phân tích đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội dung tổ chức Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế, … Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp ( ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần thông tin với các tính chất khác nhau Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức Các nhà quản lý nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức
Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thông kế toán trong tổ chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức
Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và kế toán quản trị còn có khái niệm kế toán chi phí Theo Học Viện Quản Lý Kế Toán của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp đễ xác định chi phí cho một dự án,
Trang 14một quá trình hoạc một sản phẩm … Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý Theo định nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân
hệ thứ ba của hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị
Do đó kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài chính và vừa có trong
hệ thống kế toán quản trị là hoán toàn hợp lý, trong đó bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Quan điểm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của kế toán chi phí và sẽ giúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức, với việc kết hợp hài hòa các mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu kế toán quản trị chi phí là quá trình thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với chiến lược kinh doanh
Kế toán quản trị chi phí được hình thành và phát triển trên cơ sở ban đầu là khảo sát chi phí kinh doanh và cung cấp các thông tin hữu ích cho các chức năng nhà quản trị, nhà quản trị có các chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và chức năng ra quyết định là quan trọng nhất, kế toán quản trị cung cấp
và phục vụ cho chức năng này
2.1.2 Mục tiêu và yêu cầu của kế toán quản trị chi phí
2.1.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu cơ bản của KTQT chi phí là cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp họ thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Tùy theo yêu cầu của nhà quản lý, kế toán quản trị sẽ cung cấp các dạng thông tin khác nhau Tuy nhiên, chung quy lại thông tin KTQT chi phí cung cấp giúp nhà quản lý thực hiện các công việc sau:
Trang 15Lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn
Tổ chức, điều hành
Kiểm soát hiệu quả hoạt động và trách nhiệm quản lý của tất cả các bộ phận trong
tổ chức Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh nghiệp, nhà quản trị cần phải đưa ra được các quyết định kinh tế đúng đắn và vai trò của kế toán quản trị chi phí chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho nhả quản lý trong quá trình ra quyết định
2.1.2.2 Yêu cầu
Thông tin có một vai trò hết sức to lớn trong quản trị Thông tin kế toán quản trị chi phí là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định và kiểm tra trong tổ chức, có tác dụng giúp nhà quản trị các cấp trong tổ chức có những quyết định tốt hơn, chính xác hơn và hợp lý hơn Nhà quản trị ở các cấp khác nhau sẽ có những nhu cầu thông tin khác nhau Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức mà KTQT chi phí sẽ thiết kế và cung cấp thông tin phù hợp
Để ra quyết định, các nhà quản lý phải tổng hợp và sàng lọc các nguồn thông tin đó Điều này sẽ tạo nên áp lực công việc cho các nhà quản trị và các quyết định đưa ra nhiều khi không còn hiệu quả do không đáp ứng được tính kịp thời
Thông tin cung cấp từ KTQT chi phí sẽ giúp các nhà quản trị giảm bớt áp lực công việc và ra các quyết định kịp thời, hiệu quả hơn vì: thông tin kế toán được phản ánh một cách có hệ thống về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của công ty và được kế toán xử lý trước khi báo cáo cho nhà quản lý
Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý: lập kế hoạch quản lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều hành các họat động hàng ngày và đưa ra các quyết định đúng đắn để doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
Các thông tin cung cấp phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
Trang 16- Thích hợp: Thông tin phải phù hợp với mục đích mà nhà quản trị muốn rút
ra từ thông tin
- Đầy đủ: Nhà quản trị phải được cung cấp tất cả các thông tin mà họ cần, để
có thể đưa ra những quyết định đúng, kịp thời
- Chính xác: Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải chính xác
- Rõ ràng: Nội dung thông tin cung cấp phải trình bày và truyền đạt rõ ràng
- Đáng tin cậy: Thông tin cung cấp cho các nhà quản trị phải đảm bảo đáng tin cậy về chất lượng của nội dung thông tin
- Truyền đạt: Thông tin phải được cung cấp đúng và đủ cho người cần sử dụng
- Đúng lúc: Thông tin phải được cung cấp kịp thời
- Chi phí: Thông tin được cung cấp phải có giá trị sử dụng, lợi ích có được từ thông tin phải cao hơn chi phí đã bỏ ra để có thông tin đó
Thông tin kế toán quản trị chi phí được thu thập từ hai nguồn:
- Nguồn nội bộ: thu được từ sổ sách kế toán, sổ theo dõi sản xuất, bộ phận kế hoạch …
- Nguồn bên ngoài: thu thập thực tế thông qua việc quan sát sự kiện, trực tiếp phỏng vấn hay thông qua các nguồn thông tin đã xử lý như sách báo, báo cáo…
2.1.3 Chức năng thông tin của kế toán quản trị chi phí:
Chức năng thông tin của KTQT chi phí chủ yếu cung cấp thông tin thích hợp cho các nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách tiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt Các báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, như các sản phẩm, dịch vụ, các thị trường tiêu thụ nhằm đảm bảo doanh nghiệp chỉ tiến hành thực hiện các hoạt động mang lại lợi nhuận Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin
để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm
Trang 17tiêu thụ Các báo cáo đặc biệt giúp cho các nhà quản lý đưa ra quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, đàm phán hợp đồng dài hạn với các nhà cung cấp và các khách hàng Vai trò của kế toán quản trị chi phí đối với hoạt động quản lý được thể hiện như sau:
Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: thông tin trong dự toán ngân sách sẽ giúp các nhà quản trị lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành hoạt động của công ty:
kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp thông tin kịp thời về các mặt hoạt động của công ty, để nhà quản lý xem xét và ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã đề
ra
Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, các hoạt động bất thường… từ đó giúp các nhà quản trị thấy được những vấn đề cần điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức theo đúng mục tiêu đã đề ra
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: ra quyết định là chức năng cơ bản nhất của nhà quản trị Ra quyết định chính là lựa chọn phương án thích hợp nhất Để có được quyết định đúng đắn kịp thời phải có thông tin nhanh chóng, phù hợp, chính xác đó chính là thông tin của kế toán quản trị chi phí Tóm lại, kế toán quản trị chi phí có vai trò như là công cụ phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho các chức năng quản trị như: hoạch định, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có những quyết định hợp lý để điều hành hoạt động ngày càng đạt hiệu quả hơn
2.1.3.1 Lập kế hoạch phục vụ chức năng hoạch định
Để lập kế hoạch đòi hỏi phải nắm được những thông tin đã xảy ra, phải có những phương pháp để phân tích đánh giá tình hình và phải có những công cụ để đưa ra những dự báo trong tương lai KTQT chi phí sẽ cung cấp thông tin về tình
Trang 18hình đã xảy ra, cung cấp những công cụ, phương pháp để phân tích đánh giá tình hình và đưa ra dự báo Vì vậy KTQT chi phí giữ một vị trí rất quan trọng trong chức năng lập kế hoạch
Dự toán được xây dựng từ cấp có trách nhiệm thấp nhất đến cấp có trách nhiệm cao nhất Dự toán ở cấp nào do chính nhà quản trị ở cấp đó lập rồi đệ trình lên cấp trên Trình tự lập dự toán theo sơ đồ trên sẽ có những mặt thuận lợi:
Các dự toán ngân sách gồm: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán tồn kho thành phẩm cuối kỳ, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán tiền, dự toán kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán dự toán Dự toán tiêu thụ sản phẩm là quan trọng nhất, nó chi phối toàn bộ các dự toán khác
Công việc đầu tiên của quá trình lập dự toán là lập dự toán tiêu thụ sản phẩm Sau khi dự toán tiêu thụ sản phẩm được lập, nó quyết định khối lượng sản phẩm cần sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ Tiếp theo, dự toán sản xuất sẽ được lập làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Các dự toán này sẽ tác động đến việc lập
dự toán tiền Dự toán tiêu thụ sản phẩm cũng chi phối dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán kết quả hoạt động kinh doanh và các dự toán này cũng tác động đến dự toán tiền Và ngược lại, dự toán tiền lại chi phối ngược lại các dự toán trên, bởi khả năng về lượng tiền hiện có đủ thỏa mãn cho các nhu cầu chi tiêu dự kiến Kết quả cuối cùng sau một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
là tình hình lợi nhuận, tình hình tài sản được phản ánh trên dự toán kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán dự toán
2.1.3.2 Tổ chức và điều hành
Tổ chức và điều hành là quá trình thực hiện các công việc như: Tổ chức về nhân
sự, phân bổ tài sản, nguồn vốn… Để thực hiện tốt các công việc trên đòi hỏi phải
Trang 19nắm được thông tin về tình hình hoạt động của từng bộ phận, phải có những công
cụ để đánh giá kết quả, hiệu quả của từng bộ phận, từ đó xác định được trách nhiệm của từng bộ phận, của mỗi cá nhân phụ trách từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ doanh nghiệp KTQT chi phí sẽ cung cấp những thông tin và công cụ để đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động của từng bộ phận phục vụ cho mục đích trên Vì vậy KTQT chi phí giữ một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành
2.1.3.3 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là quá trình đối chiếu, so sánh giữa số liệu thực tế với số liệu phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch đề ra nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch… KTQT chi phí có vai trò trong việc hình thành thông tin thực tế và kế hoạch phục vụ cho công tác kiểm tra Vì vậy nó giữ một vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng này
2.1.3.4 Ra quyết định
Để ra quyết định quản lý trong mọi lĩnh lực hoạt động sản xuất kinh doanh như: sản xuất, tiêu thụ, tài chính, đầu tư… lãnh đạo doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thông tin liên quan đến các lĩnh vực đó Có nhiều phương pháp thu thập thông tin khác nhau hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của lãnh đạo Trong đó,
ra quyết định quản trị dựa trên nguồn thông tin từ hệ thống kế toán quản trị chi phí thực sự mang lại hiệu quả và ngày càng thu hút sự quan tâm của lãnh đạo thuộc nhiều cấp khác nhau
Nói đúng hơn ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt mà nó là một bộ phận của 3 chức năng trên, bởi vì chính trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức – điều hành và kiểm tra cũng phải ra quyết định Qua những phân tích trên, chứng tỏ KTQT chi phí giữ một vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng ra quyết định
Trang 202.1.4 Kế toán trách nhiệm phục vụ chức năng kiểm soát quản lý
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà các nhà quản trị của
nó chịu trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của chính bộ phận do mình phụ
trách
Có 4 loại trung tâm trách nhiệm:
- Trung tâm chi phí
- Trung tâm doanh thu
- Trung tâm lợi nhuận
- Trung tâm đầu tư
• Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm chi phí
Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí được đánh giá qua các báo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm chi phí riêng biệt Thông tin đưa vào báo cáo thành quả để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí là chi phí có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở từng trung tâm chi phí Bằng việc so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán, các nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là tốt hay xấu
• Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm doanh thu
Thành quả quản lý của các trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu có thể kiểm soát giữa thực tế so với dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh Nếu trung tâm doanh thu được quyền định giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ thì trách nhiệm sẽ được đánh giá trên doanh thu tạo ra
• Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm lợi nhuận
Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận được đánh giá thông qua báo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm lợi nhuận riêng biệt Thông tin đưa vào báo cáo để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận chỉ là lợi nhuận có thể kiểm soát bởi nhà quản trị ở từng trung tâm lợi nhuận Do lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, nên chỉ doanh thu có
Trang 21thể kiểm soát được và chi phí có thể kiểm soát được mới đưa vào báo cáo thành quả Chi phí có thể kiểm soát được phân loại theo biến phí và định phí khi đưa vào báo cáo thành quả Báo cáo thành quả được đưa vào để đánh giá thành quả của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là báo cáo kết quả kinh doanh được trình bày dưới hình thức số dư đảm phí Bằng việc so sánh thông tin thực tế với thông tin dự toán, các nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào có lợi, chênh lệch nào bất lợi, chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát doanh thu và chi phí mang lại
• Đánh giá thành quả quản lý ở trung tâm đầu tư
Đánh giá thành quả quản lý ở các trung tâm đầu tư gồm:
- So sánh doanh thu và chi phí có thể kiểm soát được giữa thực tế với dự toán
- Sử dụng các thước đo thành quả đối với các khoản vốn đầu tư thuộc quyền kiểm soát của nhà quản trị ở trung tâm đầu tư
* Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
* Lợi nhuận còn lại (RI)
Sau đây, chúng ta lần lượt sử dụng từng thước đo thành quả trên
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư được tính toán dựa vào lợi nhuận hoạt động và tài sản đầu tư để thu được lợi nhuận đó
Công thức tính phổ biến là:
Lợi nhuận hoạt động
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư =
Tài sản được đầu tư
Hay:
Lợi nhuận hoạt động Doanh thu
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) = X
Doanh thu Tài sản được đầu tư ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu X Số vòng quay của tài sản
Trang 22ROI cho biết cứ một đồng tài sản đầu tư vào trung tâm đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROI càng lớn thành quả quản lý vốn đầu tư càng cao Tuy nhiên, ROI vẫn còn một số nhược điểm:
- ROI có khuynh hướng chú trọng đến quá trình sinh lời ngắn hạn hơn dài hạn
- ROI không phù hợp với mô hình vận động của các dòng tiền nên bị hạn chế khi sử dụng để đánh giá thành quả quản lý của trung tâm đầu tư
- ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị trung tâm đầu
tư, vì tài sản của nó có thể được quyết định bởi các nhà quản trị cấp trên
- Nếu các nhà quản trị được đánh giá bằng ROI, họ sẽ tìm mọi cách để tăng ROI
Để khắc phục nhược điểm trên, chúng ta sử dụng thước đo thành quả khác là lợi nhuận còn lại
Lợi nhuận còn lại (RI)
Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận sau khi trừ đi lợi nhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư
Lợi nhuận còn lại = Lợi nhuận hoạt động - [Tài sản được đầu tư X Tỷ lệ hoàn vốn mong muốn tối thiểu]
Lợi nhuận còn lại càng lớn thì lợi nhuận hoạt động tạo ra càng nhiều hơn lợi nhuận mong muốn tối thiểu, khi đó thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư càng được đánh giá càng cao RI khuyến khích các nhà quản trị thực hiện các cơ hội đầu tư mới có khả năng sinh lời Tuy nhiên, RI cũng có nhược điểm
là không thể sử dụng để so sánh thành quả quản lý của các nhà quản trị ở các trung tâm đầu tư có quy mô tài sản được đầu tư khác nhau
2.1.5 Căn cứ phân biệt kế toán tài chính với kế toán quản trị
2.1.5.1 Chức năng kế toán tài chính
Chức năng của kế toán là cung cấp và truyền đạt các thông tin kinh tế về một tổ chức cho các đối tượng sử dụng khác nhau Tổ chức được xem xét ở đây là tổ chức
Trang 23kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận Do đó, nội dung của thông tin mà kế toán phản ánh là chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp
để đạt được các lợi ích kinh tế Thông tin kế toán được biểu hiện chủ yếu dưới hình thái giá trị Để có thông tin hữu ích có thể sử dụng được, thông tin kế toán phải được lượng hóa và tổng hợp thành các báo cáo kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng khác nhau của những người sử dụng thông tin đó
Thông tin kế toán không chỉ cần thiết cho những người điều hành doanh nghiệp
để ra quyết định quản lý ở bên trong doanh nghiệp, mà còn cho cả những người ở bên ngoài doanh nghiệp Kế toán tài chính liên quan đến quá trình báo cáo hoạt động của một tổ chức doanh nghiệp cho các cá nhân ở bên ngoài qua BCTC
2.1.5.2 Phân biệt kế toán tài chính với kế toán quản trị
Để hiểu sâu hơn về bản chất của kế toán quản trị, phương cách tốt nhất là phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính
Đối tượng sử dụng
thông tin
Nhà quản lý bên trong doanh nghiệp: Giám đốc, hội đồng quản trị
Các tổ chức, cá nhân bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhưng chủ yếu là các tổ chức, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp như: tổ chức tín dụng, nhà đầu tư,
cơ quan thuế…
Đặc điểm của thông
- Biểu hiện bằng giá trị, hiện vật
- Thông tin tài chính
Trang 24chính xác
Phạm vi báo cáo Từng bộ phận, khâu, công
việc
Toàn công ty
Kỳ báo cáo Thường xuyên: ngày, tuần,
tháng, quý, năm theo yêu cầu của nhà quản trị
Định kỳ: quý, năm theo quy định Bộ tài chính
Tính pháp lệnh Không có tính pháp lệnh Có tính pháp lệnh
Thước đo sử dụng Được đo lường bằng bất kỳ các
đơn vị hiện vật, thời gian lao động, giá trị
Chủ yếu thể hiện bằng thước
Quan hệ ít như: nguyên lý kế toán
Các báo cáo kế toán
chủ yếu
Các báo cáo nội bộ: Báo cáo sản xuất, báo cáo bộ phận, BC giá thành… và các báo cáo theo yêu cầu và mục đích sử dụng của nhà quản trị
Bảng cân đối kế toán Báo cáo kết quả kinh doanh Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Thuyết minh báo cáo tài chính
Hình bảng 2.1: Sự khác nhau cơ bản của kế toán quản trị và kế toán tài chính 2.2 Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp
2.2.1 Khái niệm chi phí và giá thành
Hoạt động của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêu dùng các yếu tố sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động) để tạo ra sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Sự tham gia của các yếu tố này vào quá trình sản xuất hình thành các khoản chi phí tương ứng Vì vậy bản chất của chi phí sản xuất là sự dịch chuyển giá trị các yếu tố của quá trình sản xuất trong ký vào giá trị sản phẩm Ngoài ra chi phí sản xuất còn
Trang 25bao gồm cỏc khoản mà thực chất là một phần giỏ trị mới sỏng tạo ra như: cỏc khoản trớch nộp theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ; cỏc loại thuế khụng được hoàn trả lại như thuế tài nguyờn…
Theo từ điển thuật ngữ tài chớnh –Tớn dụng của Bộ Tài Chớnh: “giỏ thành là toàn
bộ hao phớ lao động vật húa (nguyờn vật liệu, nhiờn liệu, động lực, khấu hao tài sản
cố định và cụng cụ nhỏ) và lao động sống, tiờu thụ sản phẩm, lao vụ của DN Giỏ thành sản xuất: là toàn bộ chi phớ sản xuất cú liờn quan đến khối lượng cụng việc, sản phẩm hoàn thành
Giỏ thành toàn bộ: là toàn bộ chi phớ phỏt sinh liờn quan đến một khối lượng sản phẩm hoàn thành từ khi sản xuất đến khi tiờu thụ xong sản phẩm đú
Giỏ thành thể hiện mối quan hệ tương quan giữa chi phớ với kết quả đạt được trong từng giai đoạn, hoạt động nhất định Giỏ thành thể hiện phạm vi giới hạn chi phớ trong một đơn vị, khối lượng sản phẩm hoàn thành
2.2.2 Phõn loại chi phớ sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp các chi phí sản xuất khác nhau vào từng loại, từng khoản theo những tiêu thức phân loại nhất định
2.2.2.1 Phõn loại theo nội dung, tớnh chất kinh tế
- Chi phớ nguyờn vật liệu: là toàn bộ giỏ trị nguyờn vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chi phớ nhõn cụng trực tiếp: là tiền lương chớnh lương phụ, cỏc khoản trớch theo lương như (BHXH, BHYT, KPCĐ, bảo hiểm thất nghiệp) và cỏc khoản phải trả khỏc cho người lao động trong kỳ
- Chi phớ khấu hao tài sản cố định: là phần giỏ trị hao mũn TSCĐ chuyển vào chi phớ sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Chi phớ dịch vụ mua ngoài: là cỏc khoản tiền điện, tiền nước, điện thoại, thuờ mặt bằng, nhà tạm…
Trang 26- Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí SXKD khác chưa được phản ảnh trong các chi phí trên nhưng chi bằng tiền như tiếp khách, hội nghị…
2.2.2.2 Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí:
Theo cách phân loại này người ta căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí để xếp những chi phí có cùng mục đích, công dụng kinh tế vào cùng một khoản mục chi phí
Trong các doanh nghiệp xây lắp chi phí sản xất được chia thành bốn khoản mục chi phí đối với trường hợp doanh nghiệp xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
2.2.2.3 Phân loại theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh
Theo cách phân loại này chi phí SXKD được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm: là những khoản chi phí gắn liền với quá trình SXKD Bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung Vì vậy, chi phí sản phẩm có đặc điểm là thời
kỳ phát sinh chi phí sản phẩm và thời kỳ ghi nhận chi phí sản phẩm trên báo cáo kết quả kinh doanh thường khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ giữa sản lượng sản xuất với sản phẩm tiêu thụ
Chi phí thời kỳ: là các chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ, không tạo nên giá trị hàng hóa tồn kho nên không được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ký mà chúng phát sinh nên được ghi nhận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp
Trang 272.2.2.4 Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
Theo cách phân loại này được chia thành 3 loại là biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
- Biến phí (chi phí khả biến): là chi phí mà tổng số của nó sẽ biến động khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Thông thường biến phí của một đơn vị hoạt động thì không đổi Biến phí phát sinh khi có hoạt động kinh doanh Biến phí được chia thành 2 loại:
Biến phí tỷ lệ: là những biến phí có sự biến động cùng tỷ lệ với mức độ hoạt động kinh doanh Ví dụ nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, máy thi công, nhiên liệu vận hành máy…
Biến phí cấp bậc: là loại biến phí không biến động liên tục so với sự biến động liên tục của mức độ hoạt động, Sự hoạt động phải đến một mức độ nào thì mới dẫn đến biến động của chi phí Ví dụ: lương của thợ bảo trì máy, thiết bị thi công
- Định phí (chi phí bất biến): là những chi phí mà tổng số không thay đổi khi
có sự thay đổi về mức độ hoạt động
Định phí tùy ý: (loại không bắt buộc) là những chi phí có thể thay đổi trong từng thời kỳ kế hoạch do nhà quản trị quyết định., vì vậy còn gọi là định phí quản trị Có bản chất ngắn hạn, có thể cắt giảm được
- Chi phí hỗn hợp: Là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả chi phí bất biến và chi phí khả biến Ví dụ: chi phí điện thoại để bàn, có phần thuê bao và lũy tiến tăng thêm
Trang 282.2.2.5 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Chi phí được phân thành 2 loại là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan Thông thường chi phí trực tiếp là những chi phí đơn nhất cấu tạo bởi một yếu tố như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí máy thi công Chi phí trực tiếp thường được đo lường, ghi nhận chính xác cho từng đối tượng, không tạo nên sai lệch về chi phí này khi tính giá thành sản phẩm
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, do đó được phân bổ vào các đối tượng có liên quan theo tiêu thức nhất định Chi phí gián tiếp thường là những chi phí tổng hợp của nhiều chi phí đơn nhất Chi phí gián tiếp rất khó đo lường, ghi nhận chính xác cho từng đối tượng, vì vậy chi phí gián tiếp thường tạo nên sự khác biệt giữa thực tế phát sinh và mức độ phân bổ chi phí gián tiếp và giá thành sản phẩm
Các phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, khó có thể đạt được mục tiêu kiểm soát chi phí vì việc phân
bộ chi phí mặc dù đã lựa chọn tiêu thức phân bổ thích hợp nhưng vẫn mang tính chủ quan Do vậy qua đây ta thấy các nhân viên kế toán cần tư vấn cho các nhà quản trị doanh nghiệp để đưa ra một cơ cấu tổ chức SXKD hợp lý để hạn chế được càng nhiều chi phí càng tốt
Trang 29Mối quan hệ giữa cỏc loại chi phớ đó được nờu ở trờn được thể hiện khỏi quỏt qua
sơ đồ sau
Hỡnh sơ đồ 2.1: Mối quan hệ cỏc loại chi phớ xõy lắp với bỏo cỏo kết quả kinh doanh
2.2.3 Cỏc phõn loại khỏc
* Phân loại theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cỏch phõn loại này, nếu gắn quyền kiểm soỏt chi phớ với một cấp quản lý nào đú thỡ phõn biệt thành: Chi phớ kiểm soỏt được và chi phớ khụng kiểm soỏt được Chi phớ kiểm soỏt được ở một cấp quản lý nào đú là chi phớ mà cấp đú cú thẩm quyền ra quyết định
* Cỏc loại chi phớ được sử dụng trong lựa chọn cỏc phương ỏn
- Chi phớ chờnh lệch: là những khoản chi phớ cú ở phương ỏn SXKD này nhưng
khụng cú hoặc chỉ cú một phần ở phương ỏn SXKD khỏc Chi phớ chờnh lệch là
Chi phớ thời kỳ
Giỏ trị sản phẩm hoàn thành
Chi phớ sản xuất chung
Chi phớ SX
quả kinh doanh Chi phớ sản phẩm
Trang 30thông tin thích hợp cho việc xem xét lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án SXKD tối ưu
- Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi do lựa chọn phương án SXKD này thay vì chọn phương án SXKD khác
- Chi phí chìm: là những chi phí d0a4 phát sinh, nó có ở trong tất cả các phương
án SXKD được đưa ra xem xét lựa chọn Nó luôn luôn là thông tin không thích hợp cho việc xem xét lựa chọn phương án tối ưu
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận
b Các loại giá thành sản phẩm
Khác với giá thành sản phẩm trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp có đặc điểm riêng là mỗi công trình, hạng mục công trình, hay khối lượng hoàn thành đều có một giá thành riêng Khi nhận thầu công trình, giá bán (giá nhận thầu) đã có trước khi thi công công trình, hạng mục công trình, tức là giá bán có trước giá thành thực tế Do đó giá thành thực
tế của công trình chỉ quyết định tới lãi lỗ của DN thi công công trình đó mà thôi Giá thành dự toán: là giá thành được tính trước khi thực hiện thi công công trình
Trang 31
Hình sơ đồ 2.2: Mối quan hệ giữa các loại giá thành
c Phân loại theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp được chia thành 3 loại: giá thành dự toán công trình, giá thành kế hoạch xây lắp công trình, giá thành thực tế công trình
- Giá thành dự toán xây lắp công trình được xác định như sau:
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Thuế và lãi định mức Xây lắp công trình Xây lắp công trình
d Một số loại giá thành khác dược sử dụng trong doanh nghiệp xây lắp
- Giá đấu thầu xây lắp (giá thành dự thầu công tác xây lắp): là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tư đưa ra để doanh nghiệp xây lắp dựa vào tính toán giá thành của mình
Chi phí
NVL trực
tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sản xuất chung Chi phí sản phẩm
Chi phí ban đầu Chi phí biến đổi
Chi phí quản lý Chi phí bán hàng
Chi phí sản xuất (chi phí thời kỳ)
Trang 32- Giá hợp đồng công tác xây dựng: là một loại giá dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng sau khai thỏa thuận giao nhận thầu Đây chính là giá thành của doanh nghiệp xây dựng thắng thầu và được chủ đầu tư thỏa thuận ký theo hợp đồng giao nhận thầu, Về nguyên tắc, giá hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu công tác xây dựng
Việc áp dụng giá đấu thầu công trình xây dựng và hợp đồng công tác xây dựng
là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong xây dựng
Nó sử dụng quan hệ tiền – hàng tạo ra sự mềm dẻo nhất định trong quan hệ giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây dựng trong việc chủ động tính giá thành sản phẩm của mình cũng như chủ động trong kinh doanh, thích hợp với cơ chế thị trường, cạnh tranh lành mạnh
2.2.4.2 Đối tượng và phương pháp tính GTSP trong doanh nghiệp xây dựng 2.2.4.2.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng
a Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có thể phát sinh ơ nhiều địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất, chế tạo các loại sản phẩm khác nhau Mối quan tâm của các nhà quản trị doanh nghiệp là các chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng để sản xuất sản phẩm nào Do đó chi phí sảm xuất trong kỳ phải được tập hợp theo một phạm vi, giới hạn nhất định
Do đặc điểm tổ chức sản xuất, thi công của ngành XDCB thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là trong từng công trình, hạng mục công trình, từng đơn đặc hàng, hoặc từng đội xây dựng
b Đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây dựng
Đối tượng tính gía thành trong doanh nghiệp là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm,
Trang 33khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý chi phí, yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp
Do vậy đối tượng tính giá thành trong các DN xây lắp có thể là từng công trình, hạng mục công trình hay phần khối lượng xây lắp hoàn thành được bàn giao
c Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính GTSP
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất Tuy vậy giữa chúng vẫn có sự khác nhau nhất định
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và cung cấp cho việc tính giá thành sản xuất theo đối tượng tính giá thành
- Xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán mở phiếu tính giá thành (Bảng tính giá thành) sàn phẩm, lao vụ, dịch vụ được sản xuất đã hoàn thành
Trong doanh nghiệp xây dựng, đối tượng tính giá thành và đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng nhau là công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao
d Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
* Kế toán tập hợp chi phí nguyện vật liệu trực tiếp TK621:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính (xi măng, sắt, thép, gạch, đá, cát ) nửa thành phẩm mua ngoài (việt liệu kết cấu, thiết bị gắn liền với công trình ), vật liệu phụ, nhiên liệu, các chi phí khác như chi phí cốt pha, giàn giáo, dụng cụ sử dụng nhiều lần , sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ Nó không bao gồm giá trị vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công
Trình tự kế toán được khái quát theo hình sơ đồ 2.3 (xem phụ lục 1)
* Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp TK 622
Trang 34- Chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp xây dựng bao gồm tiền lương chính, các khoản phụ cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp sản xuất và tiền thuê lao động ngoài trực tiếp xây lắp để hoàn thành sản phẩm xây dựng theo đơn giá XDCB
Chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp riêng theo từng đối tượng (công trình, hạng mục công trình ) Trường hợp không tách riêng được thì phải tiến hành phân
bổ cho từng công trình, hạng mục công trình theo chi phí tiền lương theo định mức hoặc kế hoạch
Căn cứ để hạch toán là hợp đồng lao động, bảng chấm công, hợp đồng làm khoán, bảng tính lương, bảng thanh toán tiền làm thêm ngoài giờ, làm đêm
Trình tự kế toán được khái quát theo sơ đồ 2.4 (xem phụ lục 1)
* Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công TK623:
- Máy thi công là các loại xe máy có động cơ sử dụng trực tiếp để thi công xây dựng các công trình như: máy trộn bê tông, trộn vữa, máy đào đất, máy xúc đất, máy đóng cọc, ô tô vận chuyển đất đá trong công trường các loại phương tiện máy thi công này doanh nghiệp xây dựng có thể thuê ngoài hoặc tự trang bị để khai thác sử dụng lâu dài
Chi phí máy thi công bao gồm: chi phí nhân công (lương chính, lương phụ, phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển máy thi công), chi phí vật liệu (nhiên liệu, vật liệu dùng cho máy thi công), chi phí khấu hao máy thi công, chi phí dịch vụ mua ngoài cho máy thi công Người ta có thể chia chi phí sử dụng máy thi công thành 2 loại là chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời:
Căn cứ để hạch toán là hợp đồng thuê máy, hóa đơn, bảng chấm công
Chi phí sử dụng máy thi công được phân bổ cho các đối tượng xây lắp theo phương pháp thích hợp căn cứ vào số ca máy hoặc khối lượng phục vụ thực tế
Trình tự kế toán được khái quát theo sơ đồ 2.5 (xem phụ lục 1)
Trang 35(Trường hợp doanh nghiệp xây dựng không tổ chức đội máy thi công riêng hoặc có tổ chức đội máy thi công riêng nhưng không hạch toán riêng cho đội máy thi công)
* Kế toán chi phí sản xuất chung TK627:
- Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây dựng là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội thi công xây dựng
và ở các công trường xây dựng Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí tổng hợp bao gồm nhiều nội dung chi phí khác nhau và đều có mối quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp như: tiền lương nhân viên quản lý đội xây dựng, BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ 20% trên tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy, nhân viên quản lý đội và các khoản chi phí khác
có liên quan trực tiếp đến hoạt động của đội
Trình tự kế toán được khái quát theo sơ đồ 2.6 (xem phụ lục 1)
* Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất TK154:
Kế toán sử dụng TK 154- Chi phí SXKD dở dang (đối với phương pháp kê khai thường xuyên) để tập hợp toàn bộ toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Trình tự kế toán chi phí sản xuất được khái quát theo sơ đồ 2.7 (xem phụ lục 1)
e Đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp
Sản phẩm dở dang là sản phẩm, công việc đang còn trong quá trình sản xuất trên các giai đoạn của quy trình công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải tiếp tục chế biến mới trở thành sản phẩm
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang cuối kỳ chịu
Muốn đánh giá sản phẩm làm dở trước tiên phải kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp dở dang cuối kỳ, đồng thời phải xác định mức độ hoàn thành của
Trang 36khối lượng làm dở dang so với khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước ở từng giai đoạn thi công
Kỳ tính giá thành là mốc thời gian tiến hành tổng hợp số liệu để tính giá thành thực tế của đối tượng tính giá thành
Do sản phẩm xây lắp thường có quy mô lớn, thời gian thi công kéo dài, do vậy không thể chờ đến khi xây dựng xong mới tính giá thành mà phải làm hàng tháng, hàng quí, hàng năm hoặc theo từng khối lượng công việc đạt đến điểm dừng kỹ thuật nhất định được nghiệm thu và bàn giao
2.2.4.2.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây dựng
Giá thành sản phẩm xây lắp có thể tính theo nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm đã xác định của doanh nghiệp xây lắp
• Phương pháp tính giá thành giản đơn:
Theo phương pháp này, giá thành các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành được xác định dễ dàng trên cơ sở tổng cộng các chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến khi hoàn thành công trình hoặc hạng mục công trình đó
• Phương phát tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, khi đó đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng Theo phương pháp này, khi bắt đầu xây lắp theo đơn đặt hàng, kế toán phải mở bảng tính giá thành cho mỗi đơn đặt hàng và chi phí sản xuất được tập hợp theo từng đơn đặt hàng Chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng còn chi phí sản xuất chung được phân
bổ theo tiêu thức thích hợp Khi công trình hoàn thành thì chi phí sản xuất được chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó Kế toán tiến hành tính giá thành bằng cách công lũy kế chi phí từ khi bắt đều thi công đến khi hoàn thành ngay trên bảng tính giá thành của đơn đặt hàng đó
Trang 37• Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này áp dụng đối với các công trình, hạng mục công trình có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp, phải trải qua nhiều giai đoạn thi công, công việc có thể chia cho nhiều tổ, đội thi công
Khi tiến hành tập hợp chi phí sản xuất chi tất cả các khoản mục chi phí thì vẫn tập hợp theo chi phí thực tế phát sinh, nhưng khi tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, có khoản mục chi phí chung là được tính theo chi phí sản xuất chung ước tính phân bổ, còn các mục còn lại tính theo chi phí thực tế phát sinh Công tác tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản nhìn chung như mô hình chi phí sản xuất thực tế và bảng tổng hợp báo cáo chi phí theo từng khoản mục chi phí
• Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp xây lắp có khả năng tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức chi phí và đơn giá tại thời điểm tính giá thành
2.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM
Chúng ta thấy về cơ bản kế toán là phương pháp định lượng, đo lường và cung cấp thông tin kinh tế của một tổ chức Tổ chức xã hội ngày càng tinh vi, càng phát triển thì yêu cầu thông tin kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp, hơn nữa hàng thế
kỷ qua kế toán cũng không ngừng phát triển và ngày càng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhà quản trị doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường, khi doanh nghiệp phải tự lo lấy vốn, tự tìm hiểu thị trường về sản phẩm sản xuất, tự quyết định giá bán,…thì quá trình quản trị doanh nghiệp và các thông tin của kế toán quản trị chi phí phải được gắn chặt với nhau là một nhu cầu tất yếu Vậy thông tin của kế toán quản trị chi phí cho các chức năng quản lý là không thể thiếu được trong các doanh nghiệp Xây dựng ở Việt Nam nói chung và ở TP.HCM nói riêng Mặc dù có sự nhận thức khác nhau về lợi ích của kế toán quản trị đối với các kế
Trang 38hoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong từng quốc gia, nhưng hầu hết các quốc gia đều nhận định chung là kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc dự toán và lập kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; ngoài ra kế toán quản trị chi phí còn là một công cụ để phân tích, đánh giá việc thực hiện các chi phí, doanh thu, lợi nhuận và vai trò quan trọng nhất của kế toán quản trị là công cụ cho ban quản trị ra quyết định góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí đóng vai trò quan trọng trong bộ máy tổ chức của doanh nghiệp Nó giữ vai trò cung cấp các thông tin hữu ích, kịp thời và có tính dự báo để cho ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và đưa ra các quyết định quan trọng đối với sự tồn tại của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn Chính những lợi ích do kế toán quản trị chi phí mang lại, việc tổ chức thực hiện kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Xây dựng tại TP.HCM là một yêu cầu cấp thiết vì điều này sẽ góp phần tạo nên tính bền vững của DN:
- Giúp cho các nhà quản trị hoạch định được các chiến lược phát triển thích hợp cho tổ chức, xây dựng các phương án kinh tế hiệu quả nhất, giúp cho việc cung cấp thông tin kịp thời và linh hoạt cho bộ máy quản lý Đây là yêu cầu cần thiết để các doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM mở rộng quy mô cũng như lĩnh vực sản xuất, sức ép về vốn, về việc giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm ngày một đòi hỏi nhiều hơn nên nhu cầu thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị ngày một nhiều hơn, nhanh hơn và chính xác hơn
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học
kỹ thuật thúc đẩy sự tự động hóa, cơ giới hóa máy móc, giảm sức lao động bằng chân tay, nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian sản xuất, ngày càng toàn diện trong hoạt động sản xuất kinh doanh vì kế toán tài chính không thể cung cấp những thông tin linh hoạt, kịp thời, hữu ích giúp đưa ra các quyết định kịp thời ứng phó với những diễn biến phức tạp của thị trường
Trang 39- Tăng cường khả năng kiểm soát của nhà quản lý trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh để kịp thời điều chỉnh kế hoạch và hướng mọi hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đã xác định Kiểm soát hiệu quả các loại chi phí phát sinh tại doanh nghiệp Để phục vụ cho các mục tiêu của nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí hiện đại đã phát triển các công cụ và kỹ thuật phù hợp Theo đó, các công cụ này bao gồm: công cụ hỗ trợ cho việc hiểu biết thị trường; công cụ cho kế hoạch chiến lược; công cụ đánh giá kết quả; công cụ quản lý và phát triển tri thức
Như vậy, có thể thấy hiện nay kế toán quản trị chi phí ở các nước tiên tiến đã phát triển vượt xa khỏi hình thái ban đầu của nó là hệ thống dự toán ngân sách nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí Kế toán quản trị chi phí ngày nay đã có những bước tiến rất xa trong những năm cuối thế kỷ 20 để trở thành một bộ phận không thể tách rời của quản trị doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát triển tầm nhìn chiến lược đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin
2.4 Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới
Kế toán quản trị (Management Accounting) là lĩnh vực chuyên môn của ngành
kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị Thông tin của kế toán quản trị chi phí đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó Thông tin mà kế toán quản trị cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.Trước khi tập hợp thông tin kế toán quản trị phải biết rõ mục đích của thông tin đó
2.4.1 KTQT chi phí trong các doanh nghiệp ở Anh, Mỹ
Về sự phát triển của kế toán quản trị, các nghiên cứu cho thấy kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX Sự phát triển mạnh cả
Trang 40về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của chúng Một trong các doanh nghiệp áp dụng kế toán quản trị đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills Trong ngành luyện kim, kế toán quản trị cũng được áp dụng từ rất sớm Andrew Carnegie - một doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng kế toán quản trị để quản lý doanh nghiệp của mình từ năm 1872 Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ông ta đã chia doanh nghiệp của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán Carnegie sử dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư và nhân công sử dụng ở từng bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt động của chúng Việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu cũng được thực hiện trong quá trình sản xuất Bằng cách này, Carnegie đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đưa ra được giá bán hợp lý
Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát được các chi phí sản xuất trực tiếp Các phương pháp phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm
và các thông tin về sử dụng tài sản cố định vẫn bị bỏ qua Cho đến năm 1887, trong cuốn "Factory Accounts" hai tác giả người Anh là Grake và Fell mới đề cập đến việc phân tích chi phí trực tiếp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm Năm 1908, hai tác giả người Mỹ là A Hamilton Church và John Whitmore tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các phương pháp kế toán và phân bổ chi phí Nhờ kết quả nghiên cứu này mà phương pháp chi phí tiêu chuẩn được hình thành Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán quản trị ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này là nguyên nhân xuất hiện Hiệp hội quốc gia các nhà kế toán chi phí Mỹ (National Association
of Cost Accountants) vào năm 1919 Đây là tổ chức nghề nghiệp để giúp các thành viên cùng nhau thảo luận giải quyết các vấn đề kế toán phức tạp mà họ gặp phải trong thực tế