1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước

84 593 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của khu công nghiệp đối với đất nước
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 569,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài tập trung vào các vấn đề liên quan đến các yếu tố phát triển khu công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc thu hút đầu tư vào KCN.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Bắt đầu từ năm 1991, là thời điểm đánh dấu sự ra đời của khu công nghiệp đầu tiên ở nước ta, khi Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là

Bộ kế hoạch và đầu tư) được Thủ tướng chính phủ uỷ nhiệm cấp giấy phép thành lập khu chế xuất Tân Thuận theo giấy phép đầu tư số 245/GP với quy

mô là 300 ha Đến nay sau 15 năm phát triển, ở Việt Nam đã có 130 khu công nghiệp đã có quyết định được thành lập và đi vào hoạt động hoặc đang trong qua trình triển khai giải phóng mặt bằng xây dựng hạ tầng được phân

bố ở 45 tỉnh trên cả nước

Sự ra đời của các khu công nghiệp là một yếu tố rất quan trọng giúp chúng ta đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Học tập kinh nghiệm của các nước đi trước Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp như là một chìa khoá giúp thu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, khu công nghiệp đã tạo ra những tác động tích cực đối với quá trình phát triển của đất nước: tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, đổi mới

cơ chế quản lí theo hướng tích cực, tạo việc làm cho người lao động…

Trước những vai trò to lớn mà KCN đem lại cho tiến trình CNH-HĐH, trong những năm gần đây Nhà nước ta rất chú trọng đến hoạt động phát triển các KCN, trong đó đặc biệt chú ý đến việc thu hút đầu tư vào KCN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của KCN đối với đất nước Để tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào KCN, Nhà nước đã có nhiều biện pháp, chính sách và hoạt động để thể hiện sự quan tâm của mình như: Ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn, khuyến khích hoạt động đầu tư vào KCN (Quy hoạch phát triển KCN, Luật đầu tư nước ngoài liên tục được sửa đổi cho phù hợp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước), hay ban hành các chính sách, trực tiếp hỗ trợ đối với các hoạt động đầu tư vào KCN… Những

Trang 2

tác động này từ phía Nhà nước bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất định: Vốn đầu tư nước ngoài vào KCN tăng dần qua các năm, vốn trong nước cũng ngày càng được mở rộng.Tuy nhiên trong những năm gần đây, do những diễn biến phức tạp của hoạt động phát triển KCN, vai trò của nhà nước đối với thu hút đầu tư vào KCN đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục: công tác quy hoạch không theo kịp sự phát triển của KCN làm giảm tính định hướng trong thu hút đầu tư, một số chính sách chưa phát huy được tác dụng cũng như mục đích đề ra… Những hạn chế này phần nào làm giảm vai trò của Nhà nước đối với hoạt động thu hút đầu tư vào KCN.

Câu hỏi nghiên cứu: Trước bối cảnh trên, vấn đề đặt ra là cần xác định

được Nhà nước cần có những vai trò hợp lí nào đối với việc thu hút đầu tư vào KCN, vai trò đó phụ thuộc vào các nhân tố nào? Xác định được các nhân tố đó chúng ta sẽ có những biện pháp hiệu quả để nâng cao vai trò của nhà nước trong hoạt động thu hút đầu tư vào KCN, qua đó phát huy được khả năng đóng góp của các KCN đối với tiến trình CNH-HĐH đất nước

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào các vấn đề liên quan đến các

yếu tố phát triển khu công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc thu hút đầu tư vào KCN

Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài tác giả chủ yếu dựa vào phương

pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp

so sánh và tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn

Trang 3

- Tìm kiếm các nhân tố tác động đến vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển KCN qua đó có những giải pháp thích hợp để nâng cao vai trò của Nhà nước đối với hoạt động phát triển KCN.

Kết cấu dự kiến của đề tài như sau:

Chương I: Lí luận chung về KCN và vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển các KCN

Chương II: Thực trạng phát triển KCN và vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN thời gian vừa qua

Chương II: Phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN giai đoạn 2006-2010

Trang 5

CHƯƠNG I

LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP I/LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN

1/Khái niệm chung về KCN

1.1/Khái niệm KCN ở Việt Nam

Khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Trong thời gian đầu xuất hiện, các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp, tuy nhiên sau đó do những lợi ích thiết thực mà mô hình này đem lại, các KCN đã được xem như một công cụ để phát triển kinh tế Đến nay, lợi ích của việc phát triển các KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận và cùng với quá trình tồn tại, phát triển các KCN đã xuất hiện ngày càng nhiều dưới những hình thức khác nhau Khái niệm về KCN cũng được bàn cãi trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất

Trong thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển mạnh

mẽ ở nước ta Khái niệm về KCN đã được Nhà nước ta nêu rõ trong Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ Trong Quy chế này đã đưa ra các khái niệm về KCN, KCX, KCNC như sau:

KCN là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất” (Khoản 1, Điều 2)

Trang 6

KCX là “khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu

và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập” (Khoản

2, Điều 2)

KCNC là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu-triển khai khoa học-công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất” (Khoản 3, Điều 2)

Có thể thấy rằng, giữa ba khái niệm này có liên quan với nhau Nếu như khái niệm về KCN mang tính chất đặc trưng cơ bản thì KCX và KCNC là hai khái niệm mang tích chất là những hình thái đặc thù của KCN:

- KCX là khu công nghiệp mà theo đó hàng hoá sản xuất ra chủ yếu dùng để xuất khẩu

- KCNC là khu công nghiệp gắn với các hoạt động kĩ thuật, công nghệ cao

KCN, KCX, KCNC là các loại hình khác nhau của Khu công nghiệp tập trung Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu cả ba loại hình trên Tuy nhiên, các KCN được nghiên cứu nằm trong phạm vi điều chỉnh của Quy chế KCN, KCX, KCNC Đó là những KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

1.2/ Một số cách hiểu khác nhau về KCN

Như đã được trình bày trong phần trên, hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về KCN và vẫn chưa đưa đến một khái niệm thống nhất

về KCN

Trang 7

Trước tiên, đối với KCX, đây là một khu vực đặc biệt chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước, được thành lập với những điều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lí, quản lí và

cơ sở hạ tầng trên một phạm vi đã được xác định nhằm mục đích chủ yếu để thu hút đầu tư của các nước phát triển đặc biệt từ các công ty xuyên quốc gia KCX, ngày nay có các định nghĩa sau:

- Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA)

Theo Điều lệ hoạt động của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA),

“KCX bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kì khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận” Định nghĩa này về cơ bản đã đồng nhất KCX với khu vực được miễn thuế

- Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO):KCX được hiểu là “khu vực được giới hạn về mặt hành chính và địa lí, trong đó cách doanh nghiệp được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi cho phép

tự do nhập khẩu các trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu” Khác với định nghĩa thứ nhất, với định nghĩa này có thể xác định được hoạt động chính trong KCX là sản xuất công nghiệp

Như vậy, cách hiểu của Việt Nam về KCX tương đồng với cách hiểu của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc

KCX được thành lập với mục tiêu chính nhằm để thu hút vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài qua việc tạo ra các chính sách ưu đãi đặc biệt cho các nhà đầu tư hoạt động.Tuy nhiên, khi hoạt động trong KCX, một bất lợi rất lớn đối với các nhà đầu tư đó là sản phẩm được làm ra yêu cầu phải xuất khẩu hết hoặc phần lớn ra nước ngoài Do đó, một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài đó là thị trường bên trong của nước sở tại

Trang 8

đã không được đảm bảo cho các nhà đầu tư Điều này làm cản trở khả năng thu hút vốn trong KCX Ngoài ra, đối với nước sở tại nó cũng làm hạn chế

về lợi ích kinh tế do không phát huy được khả năng lan toả của các doanh nghiệp trong KCX

KCN là một mô hình linh hoạt hơn, hấp dẫn các nhà đầu tư hơn (đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài) vì họ có thể hi vọng vào thị trường nội địa, đối với một số nước dung lượng của thị trường nội địa là khá lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…) Việc khai thác được thị trường nội địa còn có thuận lợi cho các nhà đầu tư đó là tiết kiệm được chi phí vận chuyển hàng hoá hơn so với việc xuất khẩu ra nước ngoài… Đối với nước sở tại, ngoài việc khắc phục hạn chế về khả năng lan toả của KCX, việc phát triển

mô hình KCN, mở cửa thị trường nội địa cũng phù hợp với xu hướng tự do hoá mậu dịch của khu vực và thế giới Việc cho phép tiêu thụ hàng hoá trong thị trường nội địa cũng góp phần giúp cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, có khả năng cạnh tranh với hàng hoá của nước ngoài

Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về KCN:

- Cách hiểu thứ nhất:

KCN là “khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, trong đó tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống” Cách hiểu này cũng giống với khái niệm về KCN của Việt Nam trong Quy chế KCN, KCX, KCNC được ban hành kèm theo Nghị Định 36/CP

- Cách hiểu thứ hai:

KCN là “khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, bên cạnh đó là các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở…”

Trang 9

Khác với cách hiểu trên, ở đây trong KCN có hoạt động sinh sống của dân

cư Về thực chất đây là mô hình khu hành chính – kinh tế đặc biệt (Đặc khu kinh tế, Khu kinh tế mở…)

Bên cạnh hai loại hình KCN và KCX còn có mô hình KCNC Ở một số nước khái niệm Khu công nghiệp nói chung chỉ bao gồm KCN và KCX, một

số nước khác khái niệm Khu công nghiệp nói chung được hiểu bao gồm KCN, KCX và KCNC Ở Việt Nam khái niệm Khu công nghiệp nói chung bao gồm cả KCNC Có nước còn gọi KCNC là “thành phố khoa học”, “công viên khoa học” KCNC thường được xây dựng trên cơ sở hạt nhân là các viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, các cơ sở sản xuất ứng dụng các kĩ thuật cao… Mục tiêu nhằm phát triển công nghiệp kĩ thuật cao, thu hút công nghệ cao của nước ngoài, nâng cao năng lực nội sinh của các ngành công nghệ cao ở trong nước KCNC yêu cầu cần phải có một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại với những tiêu chuẩn hết sức khắt khe (không

bị mất điện, mật độ xây dựng thấp thường dưới 25%, liên hệ chặt chẽ với các trường Đại học và các cơ sở nghiên cứu…)

Tóm lại, KCN nói chung có thể hiểu theo nhiểu cách khác nhau tuỳ theo mục đích phát triển KCN của các nước trên thế giới Tuy vậy, trong đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về KCN trong giới hạn phạm vi lãnh thổ Việt Nam Những số liệu dẫn chứng thực trạng phát triển của KCN và các văn bản pháp quy có liên quan đến KCN đều dựa trên cơ sở các khái niệm hiện hành về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN, KCX và KCNC Do đó tác giả thống nhất sử dụng các khái niệm về KCN nói chung trong quy chế này

2/ Những đặc điểm của KCN liên quan đến vai trò của Nhà nước

KCN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỉ 19, xuất phát từ nước Anh Sau đó lần lượt xuất hiện ở các nước Tây Âu như Italia, Pháp, Thuỵ Điển, Hà Lan và các nước Bắc Mĩ như Hoa Kì, Canada Sau chiến

Trang 10

tranh thế giới lần thứ hai, KCN được xây dựng rộng khắp ở các nước đang phát triển trên thế giới Với khoảng thời gian tồn tại hơn 1 thế kỉ, ngày nay KCN không phải là một mô hình mới mẻ mà trở nên phổ biến trên thế giới Đối với Việt Nam, với khoảng thời gian 15 năm hình thành và phát triển (KCN đầu tiên ra đời tại Việt Nam là KCX Tân Thuận, Tp.Hồ Chí Minh vào năm 1991) Khoảng thời gian đó là không dài nếu so với sự tồn tại của KCN trên thế giới Việc phát triển các KCN muốn đạt được thành công, trước tiên cần phải có cái nhìn tổng quan về KCN, phát hiện được các đặc trưng của nó qua đó có những biện pháp thích hợp tác động vào nó để đem đến những thành quả mong muốn

Xuất phát từ các khái niệm của Nghị định 36/CP và các khái niệm khác

về KCN, đồng thời qua thực tiễn phát triển của các KCN, tác giả cho rằng,

để xem xét vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển của các KCN cần phải lưu ý các đặc trưng sau:

Thứ nhất: KCN thực chất là một khu vực tập trung các doanh nghiệp

sản xuất trong một phạm vi nhất định, các doanh nghiệp trong KCN về cơ bản vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống Luật pháp Việt Nam (Luật đầu

tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Pháp luật về thuế…)

Về cơ bản, KCN là một bộ phận cấu thành nền kinh tế đất nước, có mối quan hệ với các bộ phận khác và phải chịu sự quản lí của Nhà nước về kinh tế

Thứ hai: KCN thường được xây dựng ở những vị trí tương đối thuận lợi

(gần đường giao thông lớn, bến cảng, sân bay, trung tâm kinh tế…) Yêu cầu đặt ra là cần phải có công tác quy hoạch tổng thể nhằm xác định các vị trí xây dựng các KCN sao cho nó có thể phát huy được hiệu quả cao

Thứ ba: Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế

riêng của Nhà nước và địa phương sở tại, các quy chế này thể hiện sự quan

Trang 11

tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển Việc ban hành các chính sách thuộc về vai trò của Nhà nước Điều này đòi hỏi Nhà nước vẫn phải có những chính sách thích hợp nhằm phát huy ưu thế của các KCN.

Thứ tư: KCN được xây dựng với một kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại

nhằm phát huy khả năng liên kết giữa các xí nghiệp trong KCN với nhau, đồng thời giúp giảm chi phí sản xuất do sử dụng chung kết cấu hạ tầng Việc xây dựng kết cấu hạ tầng là tương đối tốn kém, thời gian thu hồi vốn lại khá lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ

sở hạ tầng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác

Thứ năm: KCN có Ban quản lí chung thống nhất, thực hiện quy chế

quản lí thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp khác phát triển

Thứ sáu: Trong KCN, Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh

nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh Do đó cần phải có công tác kiểm tra, thanh tra đối với các KCN

3/ Tác động của KCN đối với nền kinh tế đất nước

3.1/ Tác động tích cực

3.1.1/ Tác động mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Ở Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, lí luận và thực tiễn cho thấy nhân tố hàng đầu nếu không nói là quan trọng nhất đối với CNH-HĐH đất nước đó là phải có vốn lớn Tuy nhiên, sự khan hiếm nguồn vốn đang là vấn

đề mà Việt Nam cũng như các nước đang phát triển mắc phải Do đó muốn cho CNH-HĐH diễn ra với tốc độ nhanh, cần phải có biện pháp thu hút được nguồn vốn nhiều nhất Với tính chất là khu vực kinh tế đặc biệt, hoạt động theo một quy chế riêng trong một môi trường đầu tư chung của cả nước,

Trang 12

KCN là một công cụ hữu hiệu để thu hút đầu tư Đó là do khi đầu tư vào KCN, các nhà đầu tư có khả năng giảm chi phí sản xuất, tại đây các doanh nghiệp sẽ được hưởng những ưu đãi đặc biệt về thuế và các loại phí, thuận lợi trong các thủ tục hành chính… Đầu tư vào KCN sẽ giúp cho các nhà đầu

tư tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư do không cần phải giải toả và xây dựng

cơ sở hạ tầng như ngoài KCN, điều này giúp cho các nhà đầu tư rút ngắn được thời gian đọng vốn, nhanh chóng đưa dây chuyền sản xuất vào hoạt động để chiếm lĩnh thị trường

3.1.2/ Tác động của KCN đối với việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động

Các KCN được hình thành và phát triển sẽ thu hút được một lực lực khá lớn vào làm việc trong các KCN này Lao động được thu hút vào các doanh nghiệp KCN bao gồm lao động ở địa phương và lao động từ nơi khác đến Không những tạo việc làm trực tiếp cho người lao động trong các KCN, việc hình thành và phát triển các KCN còn tạo công ăn việc làm cho người lao động ở ngoài KCN với các hoạt động dịch vụ phục vụ cho công nhân trong các KCN Khi các KCN được hình thành, một bộ phận nông dân sẽ được vào làm trong các khu công nghiệp, với mức lương ổn định và thu nhập của công nhân thường cao hơn so với thu nhập của người nông dân Với mức thu nhập cao như vậy, các hoạt động dịch vụ có cơ hội phát triển hơn qua đó tạo được một số lượng lớn việc làm cho người dân ở địa phương, đây là số lao động gián tiếp mà các KCN tạo ra, và thực tế cho thấy số lao động gián tiếp này còn nhiều hơn so với số lao động trực tiếp mà các KCN thu hút vào KCN

Khi các KCN được hình thành nó còn có tác dụng kích thích sự hình thành và phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ ở địa phương và từ đó lại tạo thêm nhiều chỗ làm mới

Trang 13

3.1.3/ Tác động của KCN đối với việc nâng cao trình độ công nghệ của đất nước

Ngày nay, công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước Đối với Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, việc phát triển khoa học-công nghệ có một ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, hiện nay trình độ công nghệ của nước ta còn rất thấp so với thế giới Chúng ta lạc hậu từ 3-4 thế hệ (hay từ 50-100 năm về thời gian) so với các nước công nghiệp trên thế giới So với các nước trong khu vực ASEAN thiết

bị của Việt Nam cũng lạc hậu khoảng 20-30 năm Với hiện trạng như vậy thì quá trình CNH-HĐH của nước ta là rất khó thực hiện

Chúng ta biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh, chế tạo ra công nghệ và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Để tận dụng lợi thế của nước đi sau cần thực hiện việc chuyển giao công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài vào Việt Nam Qua việc phát triển các KCN, cùng với dòng vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư nước ngoài còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại Động lực khiến cho các chủ đầu tư nước ngoài đem công nghệ tiên tiến vào nước ta, là do khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN cũng như bất kì một nơi nào khác, điều mà chủ đầu tư rất quan tâm đó

là sản phẩm họ làm ra có chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới hay không Muốn vậy, một trong những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức cạnh tranh cho các sản phẩm đó là yếu tố công nghệ, đây

là các yếu tố mà các nước phát triển rất sẵn có

Công nghệ theo cách hiểu hiện nay, không chỉ là các trang thiết bị máy móc, khí cụ, nhà xưởng (phần cứng) Công nghệ còn là các “phần mềm” bao gồm: kĩ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, trình độ quản lí của

Trang 14

cán bộ… Lao động của Việt Nam khi làm việc trong các KCN, với những dây chuyền công nghệ tiên tiến, đòi hỏi cần phải có đủ trình độ để điều hành

nó Do đó bên cạnh sự chuyển giao về công nghệ là hoạt động đào tạo nâng cao tay nghề trong các KCN Người lao động Việt Nam khi được làm việc trong môi trường của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài còn được học hỏi tác phong làm việc, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các chuyên gia, các nhà quản lí từ nước ngoài

3.1.4/ Tác động lan toả của KCN đối nền kinh tế trong nước, làm cầu nối hội nhập kinh tế trong nước với kinh tế thế giới

Các KCN khi được hình thành và phát triển sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới, bên cạnh đó nó còn tạo ra được mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước thông việc cung cấp các sản phẩm đồng thời kí kết các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, hợp đồng gia công với các cơ sở sản xuất bên ngoài KCN, đây là thực tiễn diễn ra ở các nhiều KCN trên thế giới Ngoài ra nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của một số ngành dịch vụ như: ngân hàng-tài chính, dịch vụ thuê nhà, đào tạo và cung cấp nguồn lao động cho các KCN…

Sự phát triển của các KCN sẽ giúp cho cánh cửa kết nối giữa nền kinh

tế trong nước và nền kinh tế thế giới được mở rộng hơn Hàng hoá sản xuất trong các KCN không những đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu từ bên ngoài mà có thể xuất khẩu ra các nước khác Sự hội nhập kinh tế không dừng lại ở việc trao đổi hàng hoá, các KCN còn là nơi “ươm mầm” cho các chính sách mới ra đời, các chính sách này nhằm tạo điều kiện thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư, thu hẹp khoảng cách giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 15

3.2/ Một số tác động tiêu cực của KCN

- Các KCN khi được xây dựng lên, việc lấy đi đất nông nghiệp sẽ khiến cho một số bộ phận nông dân không có đất canh tác, do đó việc giải quyết việc làm cho người dân khi bị lấy đất là một vấn đề cần phải giải quyết

- Việc tập trung lao động quá cao ở một số khu vực phát triển KCN yêu cầu Nhà nước cần phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho đời sống của những người lao động: giao thông, điện nước, nhà ở, trường học…Đây là những khoản chi phí khá lớn mà Nhà nước cần phải thực hiện

- Phát triển các KCN, về lí thuyết sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệ môi trường tốt hơn do tập trung các doanh nghiệp sản xuất trên một địa bàn hẹp, việc kiểm soát môi trường sẽ được thực hiện dễ dàng và tốn kém ít chi phí hơn Tuy nhiên, đấy là trong trường hợp công tác quản lí của Nhà nước được thực hiện tốt cũng như khả năng xử lí chất thải trong các KCN được bảo đảm Trong trường hợp ngược lại, do nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước và nước ngoài, vì mục tiêu lợi nhuận, lợi dụng sự chưa đồng bộ hoặc chưa đầy đủ của pháp luật đã không chú ý đến vấn đề xử lí chất thải gây ô nhiễm môi trường Một khi vấn đề chất thải không được chú ý trong các KCN, hậu quả gây ra là rất nghiêm trọng do có nhiều xí nghiệp cùng hoạt động trong một phạm vi hẹp, lượng chất thải tập trung lớn khiến cho ảnh hưởng của nó càng lớn

Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực mà KCN tạo ra, việc phát triển các KCN còn gây ra nhiều tác động tiêu cực, gây ra nhiều vấn đề xã hội và môi trường bức xúc cấn phải giải quyết Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có

sự quản lí của Nhà nước trong việc phát triển các KCN nhằm phát huy những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực mà các KCN gây

ra Những tác động tích cực mà các KCN đem lại sẽ tạo động lực để Nhà nước tăng cường vai trò của mình Những hậu quả tiêu cực đòi hỏi Nhà nước

Trang 16

cần phải có những biện pháp thích hợp, giải quyết bài toán pháp triển các KCN một cách hợp lí, đảm bảo sự hài hoà trong quá trình phát triển nền kinh

Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tức lợi ích tài chính Trong khi đó mục tiêu mà Nhà nước theo đuổi trong các hoạt động phát triển kinh tế đó là lợi ích kinh tế Do đó Nhà nước cần sử dụng quyền lực và sức mạnh của mình để điều tiết và khống chế các hành vi không có lợi cho nền kinh tế và cho cộng đồng Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện vai trò của mình đối với sự phát triển của các KCN, Nhà nước cần phải tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát huy các điểm mạnh, lợi thế của nền kinh tế quốc dân, góp phần giúp cho các doanh nghiệp KCN sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và tạo ra được lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp đó, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái, chủ dộng phối hợp giữa các mục đích riêng của từng KCN nhằm đạt tới mục tiêu chung của nền kinh tế

1.2/ Cơ sở pháp lí

Cơ sở pháp lí để xác định vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN hiện nay dựa trên một số văn bản hiện hành, đặc biệt được quy định

Trang 17

trong Quy chế KCN, KCX, KCNC được ban hành kèm theo Nghị định

36-CP của Chính phủ ban hành ngày 24/4/1997

Nội dung quản lí Nhà nước đối với KCN được quy định tại Điều 21, Chương VI bao gồm:

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển KCN

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của KCN

- Quy định và hướng dẫn việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản

lí hoạt động của KCN

- Cấp, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy phép và thực hiện các thủ tục hành chính Nhà nước có liên quan

- Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ

- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động của KCN và giải quyết các vấn đề phát sinh

2/ Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN

Trên cơ sở các vấn đề lí luận đã được phân tích ở phần trên, cùng với một số văn bản pháp lí quy định hoạt động của Nhà nước đối với việc phát triển các KCN Theo ý kiến của tác giả, đối với hoạt động phát triển KCN, Nhà nước đóng góp các vai trò chủ yếu sau đây:

2.1/ Định hướng phát triển KCN thông qua việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển KCN

Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia; chiến lược phát triển vùng, lãnh thổ; chiến lược phát triển công nghiệp, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển KCN

Từ chiến lược phát triển KCN, Nhà nước cần phải quy hoạch phát triển các KCN nhằm thực hiện các chiến lược đã định Công tác quy hoạch tổng thể các KCN giữ một vai trò rất quan trọng Quy hoạch các KCN có tác

Trang 18

dụng hạn chế sự chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau trong hoạt động đầu tư, xây dựng, phát triển các KCN; đảm bảo phương hướng phát triển và cơ cấu kinh

tế theo đúng đường lối của Đảng; tạo nên sự bổ sung, tác động tích cực giữa các KCN; đảm bảo sự hài hoà, đồng bộ giữa các công trình kết cấu hạ tầng bên trong và ngoài hàng rào KCN; bảo vệ môi trường…

Việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống KCN ở nước ta hiện nay do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với sự phối hợp với các bộ, ngành khác như Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và sự tham gia của của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Việc phát triển KCN phải theo đúng quy hoạch tổng thể KCN đã được phê duyệt Trường hợp chưa có trong quy hoạch thì phải xin chủ trương hình thành trước khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi

Đối với quy hoạch ngành nghề trong KCN được thực hiện do sự phối hợp giữa Bộ Công nghiệp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ngành nghề công nghiệp và công nghệ ưu tiên đầu tư vào KCNC do Bộ khoa học và Công nghệ quy định

UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ lập quy hoạch chi tiết KCN trình Bộ Xây dựng phê duyệt trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quyết định khácvà thực hiện việc phát triển KCN theo quy hoạch tổng thể do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

2.2/ Ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi về kinh tế

Các cơ chế và chính sách ưu đãi được Nhà nước ban hành sẽ tạo môi

trường kinh doanh thuận lợi đối với hoạt động của các chủ đầu tư vào KCN Trong việc thu hút đầu tư vào KCN hiện nay, cần phải phân biệt hai hình thức đầu tư: đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN và đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN Đối với việc phát triển các KCN, mục tiêu Nhà nước đặt ra không phải là các KCN được thành lập càng nhiều càng tốt, mà quan trọng là các KCN đó hoạt động có hiệu quả hay không, tức có thu hút

Trang 19

được nhiều doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN Do đó, các chính sách ưu đãi mà Nhà nước ban hành cần tập trung vào đối tượng là các chủ đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp.

Hiện nay, ở Việt Nam ngoài các chính sách ưu đãi chung mà TW ban hành Nhằm khuyến khích đầu tư vào KCN trên địa bàn, các địa phương cũng ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư riêng Những chính sách này chủ yếu được ban hành ở các địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn nhằm thu hút đầu tư trên địa bàn của mình

Để đảm bảo cho Nhà nước thực hiện tốt vai trò này, yêu cầu đặt ra đó là trong quá trình soạn lập chính sách cần phải có sự thống nhất, đồng bộ giữa các chính sách, việc xây dựng các chính sách cần phải xuất phát từ lợi ích của nước chủ nhà và lợi ích lâu dài của các chủ đầu tư, các biện pháp ưu đãi cần phải thể hiện tính cạnh tranh cao đối với các khu vực bên ngoài khu vực KCN Trong quá trình thực hiện, cần phải có sự thống nhất từ TW đến địa phương, đảm bảo sự chấp hành nghiêm túc của các chủ thể có liên quan

2.3/ Thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN

Khi lựa chọn địa điểm đầu tư thực hiện dự án, điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm đó là cơ sở hạ tầng kĩ thuật và xã hội của khu vực vì nó có liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh sau này Việc xây dựng cơ sở

hạ tầng KCN đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn trong khi khả năng thu hồi vốn lại cần nhiều thời gian Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có sự đóng góp của nhiều thành phần kinh tế khác nhau

Công trình hạ tầng kĩ thuật bao gồm các công trình bên trong và bên ngoài hàng rào KCN Đối với các nước phát triển, việc xây dựng cơ sở hạ tầng bên trong hàng rào KCN chủ yếu do Nhà nước thực hiện Tuy nhiên với Việt Nam, là một nước đang phát triển, nguồn vốn ngân sách còn hạn chế do

Trang 20

đó Nhà nước thường huy động vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước.

Đối với công trình hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN, đây là những công trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phụ thuộc vào quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ Việc xây dựng các công trình này thường không được sự quan tâm của các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng Các chủ đầu tư khi xây dựng các KCN thường lựa chọn ở những vị trí đã có cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN khá phát triển (gần đường giao thông, bến cảng, sân bay…) Do đó công việc này chủ yếu do Nhà nước thực hiện

Phát triển KCN có tác động lan toả rất lớn, xung quanh các KCN thường tập trung một lượng dân cư đông, trong đó có cả dân di cư từ nơi khác đến Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội đi kèm (trường học, bệnh viện, các chợ, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí…) nhằm phát huy tác dụng lan toả của các KCN đồng thời phát huy tốt hơn lợi ích mà các KCN này tạo ra Cũng như các công trình hạ tầng ngoài hàng rào KCN khác, việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội thường do Nhà nước thực hiện

2.4/ Xúc tiến, vận động đầu tư

Việc xúc tiến, vận động đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng Công tác vận động xúc tiến đầu tư được thực hiện nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để cho họ có thể hiểu và nắm rõ môi trường đầu tư, các chính sách ưu đãi mà Nhà nước ban hành, các thủ tục đầu vào mà các nhà đầu tư cần thực hiện khi tiến hành đầu tư vào nước ta… Việc vận động xúc tiến đầu tư thể hiện sự thiện chí của nước sở tại, mong muốn tìm kiếm đối tác đầu tư Điều này khiến cho các nhà đâu tư có cảm giác an tâm, đồng thời giảm bớt thời gian đi lại của các nhà đầu tư để tiến hành tìm hiểu điều kiện đầu tư của nước sở tại

Trang 21

Trong việc vận động xúc tiến đầu tư, để đạt được hiệu quả cao, cần phải

có chiến lược xúc tiến đầu tư ngay từ đầu, trong đó đề ra các bước đi cụ thể, việc lựa chọn các đối tác đầu tư cũng cần phải được chú trọng nhằm đem lại lợi ích kinh tế lâu dài cho đất nước Đặc biệt, cần chú trọng đối với việc vận động xúc tiến đầu tư với các đối tác nước ngoài Do sự xa cách về địa lí, nhu cầu tìm hiểu thông tin của các đối tác này là rất cần thiết Vận động, xúc tiến đầu tư đối với các chủ đầu tư nước ngoài cần phải có sự vận động trọng tâm, chú ý đến các đối tác ở các nước phát triển, có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để góp phần nâng cao lợi ích mà KCN đem lại cho tiến trình CNH-HĐH đất nước

2.5/ Thực hiện các cơ chế, chính sách quản lí thích hợp

Để cho các KCN được hoạt động một cách thuận lợi và đạt được hiệu quả cao nhất, Nhà nước cần phải thực hiện các cơ chế và chính sách như: thực hiện các thủ tục hành chính, cơ chế quản lí đất đai Các nhà đầu tư mong muốn được hoạt động trong môi trường kinh doanh mà ở đó việc giải quyết các thủ tục hành chính được giải quyết một cách nhanh chóng, đơn giản, thuận lợi Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian cũng như tiền bạc trong hoạt động đầu tư của mình Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu tố thời gian là rất quan trọng Với những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, việc thực hiện các thủ tục hành chính của các cán

bộ quan lieu, gây phiền nhiễu cho các nhà đầu tư sẽ khiến cho các nhà đầu tư nản lòng vì họ mất đi cơ hội trong kinh doanh Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN, yêu cầu cần phải có một cơ chế quản lí đặc biệt, khác với cơ chế quản lí thông thường, có thể thành lập một bộ máy quản lí riêng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp KCN, đây là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào các KCN

Bộ máy quản lí KCN này cần đơn giản, gọn nhẹ nhưng vẫn có thể đáp ứng

Trang 22

được đầy đủ yêu cầu của các nhà đầu tư một cách nhanh chóng và kịp thời đồng thời có thể giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN một cách có hiệu quả.

Trong việc thực hiện vai trò này, Nhà nước cần phải xác định được một

mô hình quản lí thích hợp, trong đó sự phân công và phối hợp giữa các bộ phận có liên quan diễn ra một cách thuận lợi, tránh sự chồng chéo giữa các

bộ phận, phân cấp rõ công việc giữa các bộ phận… Ngoài ra, yếu tố năng lực của các cán bộ cũng hết sức quan trọng Hiện nay, ở Việt Nam có một thực trạng đó là sự không rõ ràng, thiếu rành mạch về từ ngữ và nội dung trong các văn bản pháp lí khiến cho có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Các cán bộ làm thủ tục hành chính có thể làm lãng phí tiền bạc và thời gian của các nhà đầu tư bằng cách buộc họ phải chờ các văn bản hướng dẫn thi hành Nếu có sự sáng tạo và nhanh nhạy, các cán bộ có thể giải quyết nhanh các thủ tục mà không trái với các quy định hiện hành tránh mất thời gian cho các nhà đầu tư

Các cơ chế quản lí được đưa ra cũng cần phải đảm bảo được tính hiệu quả của nó Áp dụng các cơ chế này phải đảm bảo sự công bằng đồng thời đạt được những mục tiêu đề ra

2.6/ Kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN

Công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các doanh nghiệp cần phải được thực hiện nhằm phát hiện các vấn đề ách tắc nảy sinh trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp, kiểm soát và xử lí các vi phạm của doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước về nghĩa

vụ nộp thuế, bảo vệ môi trường, kiểm tra hoạt động phát triển KCN ở các địa phương…

Trang 23

Công tác kiểm tra giám sát phải đảm bảo yêu cầu tránh gây phiền nhiễu cho các doanh nghiệp KCN đồng thời cần phải nhanh chóng phát hiện các vấn đề nảy sinh nhằm có những biện pháp khắc phục hợp lí

III/ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

Phát triển KCN hiện đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng do thấy được những mặt tích cực mô hình này Tuy nhiên, kết quả mà các nước thu được không hoàn toàn giống nhau Ở một số nước, việc phát triển KCN

đã đem lại những kết quả thành công rực rỡ, một số nước khác lại gặp khó khăn thậm chí thất bại trong việc phát triển KCN Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu thành công và thất bại của các nước, có thể thu được những bài học quý báu để phát triển các KCN ở Việt Nam

3.1/ Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan là một trong những nước đi tiên phong và có thành công đáng

kể trong việc phát triển các KCN Đài Loan là một trong những nước đầu tiên trên thế giới sáng lập ra Khu gia công chế biến hàng xuất khẩu, gọi tắt là KCX Kể từ khi KCX đầu tiên ra đời ở thành phố Cao Hùng vào ngày 3/12/1966 đến nay ở Đài Loan đã có 95 KCN với tổng diện tích hơn 13000

ha đã được hoàn thành và 19 KCN với tổng diện tích hơn 19000 ha đang trong quá trình xây dựng Các KCX ở Đài Loan đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra kì tích kinh tế trên hòn đảo này Đó là việc thu hút vốn đầu

tư cho phát triển kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp xuất khẩu hàng tiêu dùng ra thị trường thế giới, làm thay đổi cán cân ngoại thương theo hướng xuất siêu, thu hút công nghệ tiên tiến, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Với 95 KCN đã được hoàn thành, đến nay đã thu hút khoảng hơn

9000 nhà máy vào hoạt động với trên 30 vạn lao động trực tiếp vào làm việc cho các nhà máy, điều này tạo động lực rất lớn cho việc phát triển kinh tế ở Đài Loan Khi nhắc đến thành công của Đài Loan trong việc phát triển các

Trang 24

KCN phải kể đến thành công của các KCX Cao Hùng (3/12/1966), KCX Nam Tử (1/1969), KCX Đài Chung (8/1969) Chỉ riêng 3 KCN này, sau 27 năm hoạt động đã tạo ra khoảng 20 tỷ USD lợi nhuận và tạo việc làm cho trên 100.000 lao động trực tiếp.

Thành công của Đài Loan trong việc phát triển các KCN có công rất lớn của Chính phủ:

- Đối với công tác quy hoạch: Chính phủ Đài Loan rất coi trọng công tác quy hoạch phát triển KCN, việc phát triển các KCN được chính phủ căn

cứ vào điều kiện, tình hình kinh tế xã hội ở các địa phương, căn cứ vào các nguồn lực ở các địa phương để có hướng phát triển các KCN một cách hợp

lí Một trong những cách làm rất hay của Đài Loan đó là Chính phủ cho xây dựng ở những vùng đất cằn cỗi hoặc lấn biển với một hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, điều này giúp hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào việc xây dựng KCN, hạn chế việc thu hồi đất của nông dân

- Sự thành công của các KCN Đài Loan trong việc thu hút đầu tư vào KCN còn do chính phủ Đài Loan ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp hoạt động trong KCN Một số biện pháp cụ thể mà Đài Loan đã áp dụng như: cho các nhà đầu tư trong nước vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi khoảng 6,2%/năm; miễn giảm thuế đối với những ngành nghề được chính phủ khuyến khích phát triển; miễn thuế lợi tức 5 năm cho tất cả các doanh nghiệp đầu tư mới; đối với các công ty mới lập nghiệp được miễn thuế lợi tức cho 80% sản lượng trong một năm (sau khi đã hết thời hạn miễn thuế 5 năm); trong 5 năm kể từ khi có lãi các doanh nghiệp xuất khẩu trên 50% sản phẩm đầu ra và trong sản phẩm sản xuất sử dụng trên 50% nguyên liệu của Đài Loan sẽ được miễn hoặc giảm thuế lợi tức Ngoài ra để thu hút

di chuyển các doanh nghiệp bên ngoài vào KCN, chính phủ Đài Loan dành

ra một khoản vay ưu đãi đối với các hoạt động này đồng thời khi các doanh

Trang 25

nghiệp này đi vào hoạt động được giảm 20% thuế lợi tức phải nộp trong một

số năm

- Đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng KCN, ngoài việc bỏ vốn để xây dựng hạ tầng ở những khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, Chính phủ Đài Loan còn huy động sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác trong ở những nơi có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi Trong số 95 KCN đã

đi vào hoạt động, có 58 khu do chính quyền trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, còn lại do các tư nhân và các tổ chức đoàn thể đầu tư xây dựng

Đối với các cơ sở hạ tầng bên ngoài KCN, Đài Loan cũng có nhiều biện pháp để tăng cường vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Các công trình thuộc thành phần kinh tế công cộng và hợp doanh như đường quốc lộ, truyền thông, dịch vụ bưu chính… đã được tư nhân hoá nhằm hạ thấp cước phí của các dịch vụ có liên quan, tăng sức cạnh tranh của môi trường đầu tư

- Ngoài ra, cơ quan phát triển công nghiệp Đài Loan được thiết lập để xúc tiến đầu tư nước ngoài vào KCN và đóng vai trò là Trung tâm hợp tác đầu tư trong nước Chính phủ Đài Loan và các lãnh đạo của các KCN cũng thường xuyên có các đợt công tác ra nước ngoài để vận động các đối tác đầu

tư nước ngoài cùng với nhiều biện pháp khác như gửi thư trực tiếp, sử dụng công nghệ thông tin trong tiếp thị…

- Khi thực hiện đầu tư vào các KCN, cơ quan quản lí KCN ở Đài Loan thực hiện việc quản lí KCN theo cơ chế “một cửa” từ việc xét duyệt đầu tư, cho thuê mặt bằng đến việc cung cấp các dịch vụ

- Việc kiểm tra, thanh tra cũng được thực hiện nhằm giám việc xây dựng các KCN đồng thời quan tâm đến việc phát triển bền vững của KCN qua việc kiểm tra ảnh hưởng của KCN đối với môi trường và giám sát phúc lợi công cộng mà các doanh nghiệp này tạo ra

Trang 26

3.2/Kinh nghiệm của Thái Lan

Kể từ khi KCN đầu tiên của Thái Lan ra đời vào năm 1969 (KCN Bangchan với diện tích là 108 ha trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 81,6ha) Đến nay Thái Lan đã có khoảng 55 KCN với tổng diện tích đất của các KCN là 12.905 ha Có trên 3.000 doanh nghiệp đang thuê hoặc mua đất trong các KCN của Thái Lan với tổng vốn đầu tư là trên 37 tỉ USD và tổng số lao động trên 420.000 người

- Khác với Đài Loan, các KCN của Thái Lan không nằm tách biệt mà là một bộ phận nằm trong Industrial Estate Mỗi Industrial Estate thường gồm hai khu: KCN tổng hợp, gồm xí nghiệp sản xuất hàng tiêu thụ trong nước và/hoặc làm hàng xuất khẩu và KCN chỉ sản xuất hàng xuất khẩu-KCX.Một điểm khác biệt nữa của các KCN Thái Lan đó là nó chịu sự quản lí của một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ công nghiệp đó là Cơ quan quản

lí KCN Thái Lan (I-E-A-T hay Industrial Estate Authority of Thailand) Trong tổng số 55 KCN kể trên thì I-EA-T là chủ đầu tư và quản lí trực tiếp

12 KCN, còn lại là I-E-A-T góp vốn liên doanh và các khu do các chủ đầu tư thuộc khu vực tư nhân Có thể kể đến một số KCN đặc trưng của Thái Lan là: KCN Bangchan, KCN Hitech (KCN đầu tiên đạt chứng chỉ ISO 14.000), KCN Latkrabang, KCN Gemopolis (chuyên về chế tác đồ trang sức, KCN Amata Nakorn (chủ đầu tư KCN này cũng là chủ đầu tư KCN Amata tỉnh Đồng Nai)

- Các KCN ở Thái Lan được phân bố theo 3 vùng rõ rệt Vùng I bao gồm Băng Cốc và 5 tỉnh lân cận, có 11 KCN được thành lập; Vùng II bao gồm 12 tỉnh tiếp theo, có 19 KCN được thành lập; Vùng III bao gồm 58 tỉnh còn lại, có 25 KCN được thành lập Trong quá trình thực hiện quy hoạch

Trang 27

phát triển KCN, chính phủ Thái Lan đã dựa vào sự phân biệt giữa các vùng này để lập phương án quy hoạch Nhiều ngành công nghiệp không được phép đầu tư vào vùng I mà chỉ được phép đầu tư vào vùng II hoặc vùng III Chẳng hạn như ngành sản xuất sản phẩm cao su, sứ, chế tạo dụng cụ …phải đặt ở vùng II hoặc vùng III; ngành sản xuất thức ăn gia súc, đường ăn, sản phẩm may mặc… chỉ được đặt ở vùng III Có thể thấy, đối với những ngành cần nhiều lao động giản đơn, dễ gây ô nhiễm và sử dụng nhiều nguyên liệu lao động được không được quy hoạch trong vùng I là các thành phố phát triển Đây có thể xem là một bài học đối với Việt Nam trong việc quy hoạch phát triển KCN.

- Trong quá trình phát triển các KCN ở Thái Lan, một trong những bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần học tập trong việc thu hút đầu tư đó là chính sách thu hút đầu tư của Thái Lan Tại Thái Lan chính sách ưu đãi đầu

tư có sự phân biệt rõ rệt đầu tư bên trong và bên ngoài KCN So với việc đầu

tư vào bên trong KCN thì các nhà đầu tư bên ngoài KCN sẽ nhận được ít ưu đãi hơn và gặp nhiều thủ tục hơn trong quá trình đầu tư như: đăng kí thành lập doanh nghiệp, xin giấy phép sử dụng đất, giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (đối với doanh nghiệp khai thác tài nguyên)… và đặc biệt không được quyền sở hữu đất đai (trừ những doanh nghiệp liên doanh với Thái Lan theo tỷ lệ 49-50%) Trong khi đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong KCN chỉ cần duy nhất một giấy phép và nhận được rất nhiều ưu đãi như: được mua đất đai vĩnh viễn, không giới hạn thời gian thuê đất trong các KCN, được phép mang chuyên gia kĩ thuật từ nước ngoài sang làm việc, cho phép các chuyên gia này cùng gia đình họ được sống tại Thái Lan và được mang ngoại tệ ra khỏi Thái Lan (Chính phủ Thái Lan quản lý rất chặt việc mang ngoại tệ ra nước ngoài, chỉ cho phép các nhà đầu tư có trú quán ngoài lãnh thổ mới được phép đem theo tiền hoặc chuyển tiền ra khỏi

Trang 28

lãnh thổ bằng ngoại tệ nếu tiền đó là tiền vốn mà nhà đầu tư đưa vào trong KCN và là tiền chia cổ phần hoặc sinh lợi từ tiền vốn trên).

Ngoài ra các doanh nghiệp trong KCN còn được hưởng các ưu đãi như: miễn thuế nhập khẩu và thuế VAT đối với máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu nhập khẩu cho xây dựng nhà máy, đối với nguyên liệu khô; miễn thuế xuất khẩu và thuế VAT đối với hàng hoá dùng để xuất khẩu; miễn thuế hoặc hoàn thuế VAT đối với việc dùng sản phẩm trong nước để sản xuất Các ưu đãi về tài chính cũng được phân biệt theo các vùng Vùng III là vùng được

ưu đãi nhiều nhất

- Văn phòng dịch vụ “một cửa, tại chỗ” của I-EA-T được đặt ngay tại KCN và là đầu mối trong việc cấp phép cho doanh nghiệp hoạt động Ngoài

ra văn phòng “một cửa, tại chỗ” còn làm đầu mối hỗ trợ các chủ đầu tư trong việc xin Visa, chuyển ngoại tệ, tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính và làm trung tâm thông tin về cấp giấy phép, ưu đãi đầu tư và dịch vụ tư vấn trực tuyến trên mạng, thậm chí có cả Ngân hàng ngay trong văn phòng KCN để cho chủ đầu tư thực hiện các giao dịch thuận tiện hơn

Cơ chế “một cửa, tại chỗ” của Thái Lan cũng tương tự như ở Việt Nam tuy nhiên thời gian cấp giấy phép cho một doanh nghiệp trong KCN Thái Lan hoạt động có phần rút ngắn hơn nhờ chính sách nhất quán của Thái Lan

và chủ đầu tư chỉ cần thông qua một đầu mối duy nhất là trung tâm dịch vụ

“một cửa, tại chỗ” để nhận giấy phép

3.3/ Kinh nghiệm không thành công: Chương trình KCN và KCX của

Ấn Độ

Một trong những trường hợp không thành công của Ấn Độ là KCN KANDIA FREE Khu công nghiệp này được thành lập từ năm 1966 nhưng mãi đến năm 1972 chỉ mới thu hút được 17 xí nghiệp đầu tư vào hoạt động,

Trang 29

từ năm 1972-1975 tăng thêm 10 xí nghiệp trong khi đó có 8 xí nghiệp phải đóng cửa,tổng đầu tư chỉ được 9,11 triệu USD.

Nguyên nhân không thành công là do:

- Quy hoạch phát triển KCN không được coi trọng, sai lầm trong việc lựa chọn địa điểm

- Thủ tục thông qua hết sức quan liêu, phải hơn 1 năm mới được thông qua; thủ tục hải quan nặng nề; trình tự cho phép đầu tư cồng kềnh; yêu cầu

về báo cáo và điều hành quá mức

- Các chính sách đầu tư kém hấp dẫn, không cung cấp gì ngoài cơ sở hạ tầng

- Thiếu sự hợp tác giữa Trung ương và tư nhân trong hoạt động xúc tiến đầu tư; công tác Maketting yếu kém.Trong suốt thời gian phát triển KCN,

TW không chú ý đến việc tuyên truyền vận động đầu tư ở nước ngoài mà chỉ trông chờ vào những quan hệ hết sức hạn chế của Ban quản lí KCN Việc tăng cường quan hệ quốc tế chưa được mở rộng theo hình thức “đa phương hoá, đa dạng hoá” mà rất cứng nhắc trong một số nước phát triển

- Tổ chức bộ máy không phù hợp, có quá nhiều cơ quan liên quan đến việc quản lí KCN

3.4/ Bài học rút ra cho Việt Nam

Từ thực tiễn phát triển KCN của các nước trên thế giới, qua những thành công và thất bại của một số nước có thể rút ra được những bài học cho Việt Nam:

- Thứ nhất: công tác quy hoạch phát triển các KCN cần phải được coi

trọng Việc quy hoạch phải dựa trên tình hình thực tế kinh tế, xã hội ở các địa phương Quy hoạch các ngành nghề cần phải hợp lí, đối với các địa phương ở những khu vực xa các đô thị lớn, gần các nguồn nguyên liệu nông nghiệp nên quy hoạch các ngành nghề cần nhiều lao động và sử dụng nhiều

Trang 30

nguyên liệu này Bố trí các ngành gây ô nhiễm môi trường xã các trung tâm thành phố lớn Việc thực hiện quy hoạch phải được chấp hành nghiêm túc và

có sự kiểm tra định kì (Đài Loan tiến hành đánh giá theo định kì 3 năm một lần hoạt động của các KCN)

- Thứ hai: các chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư đặc biệt

là các về tài chính cần có sự phân biệt đối với đầu tư sản xuất kinh doanh trong và ngoài KCN theo hướng tăng cường ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất trong KCN Các chính sách ưu đãi cũng có thể có sự phân biệt giữa các vùng, những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn có thể đưa ra các biện pháp ưu đãi nhiều hơn so với các vùng kinh tế-xã hội phát triển

- Thứ ba: Nhà nước cần phải đảm bảo tốt việc xây dựng cơ sở hạ tầng

KCN, bên cạnh đó vận động, kêu gọi các nhà đầu tư trong nước xây dựng cơ

sở hạ tầng Nguồn vốn trong nước được đánh giá đóng vai trò quyết định trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

- Thứ tư: cần phải có một cơ quan xúc tiến đầu tư ở cấp TW, có thể

thành lập các văn phòng đại diện ở các nước cần xúc tiến đầu tư Chính phủ phải đóng vai trò tích cực xúc tiến đầu tư vào KCN, có mối quan hệ tốt với các quốc gia, gia nhập các diễn đàn, các tổ chức kinh tế trong khu vực để tăng cường quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

- Thứ năm: các dịch vụ hỗ trợ cần phải đảm bảo tính kịp thời, thủ tục

hành chính đơn giản, gọn nhẹ Các thủ tục hành chính có thể được giải quyết ngay tại cửa các KCN để giảm bớt thời gian và chi phí đi lại cho các doanh nghiệp KCN

- Thứ sáu: công tác kiểm tra cần phải được thực hiện một cách thường

xuyên nhất là đối với việc thực hiện vai trò của các cơ quan quản lí Nhà nước tránh tình trạng quan liêu của các cán bộ

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong Chương I đã đề cập đến các khái niệm về KCN ở Việt Nam và các nước trên thế giới, các đặc trưng của KCN và tác động của KCN đến quá trình CNH-HĐH của đất nước Tìm hiểu, phân tích và đúc kết những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đối với việc phát triển các KCN và vai trò của Nhà nước trong việc lại những thành công hay những sai lầm mà Nhà nước mắc phải qua đó rút ra được những bài học quý báu đối với Việt Nam

Tuy nhiên, phát triển KCN vẫn là một mô hình mới được áp dụng ở nước ta cho nên có thể Việt Nam sẽ không tránh khỏi những hạn chế và những vướng mắc trong quá trình hoạt động Vậy trong thời gian qua, phát triển mô hình KCN đã đem lại những thành quả gì cho đất nước, những vướng mắc mà các KCN gặp phải ra sao và Nhà nước có những vai trò gì trong việc đem lại những thành quả đó, đồng thời những công việc gì chưa được thực hiện tốt điều này sẽ được phân tích ở Chương II

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KCN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KCN Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA I/ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KCN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

1/ Khái quát chung tình hình phát triển KCN

1.1/ Số lượng KCN được thành lập

Bắt đầu vào năm 1991 đánh dấu sự ra đời KCN đầu tiên ở nước ta với

sự ra đời của KCX Tân Thuận tại T.p Hồ Chí Minh , đến hết năm 2005 cả nước có 130 KCN được phân bố trên 45 tỉnh, thành trong cả nước Trong đó

có 75 khu đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên là 16.381 ha và

55 khu) đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu hạ tầng KCN

Theo dõi quá trình hình thành phát triển các KCN ở Việt Nam, nhận thấy trong 5 năm đầu, số lượng các KCN được thành không đáng kể, chỉ có

12 KCN được thành lập trong giai đoạn này Đến giai đoạn từ năm

1995-1998 là khoảng thời gian “bùng nổ” các KCN ở Việt Nam Nguyên nhân là trong giai đoạn này đã kết thúc việc thí điểm thành lập các KCN, một số chính sách ưu đãi được áp dụng để khuyến khích đầu tư vào KCN Năm

1996 có 13 KCN được thành lập mới, tăng gần gấp 3 lần so với năm 1995 và hơn cả số KCN được thành lập trong cả giai đoạn 1991-1995 Đặc biệt là năm 1997, Quy chế quản lí KCN, KCX và KCNC ban hành kèm theo Nghị Định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ ra đời đã hướng dẫn cho việc thành lập và hoạt động của các KCN, do đó số KCN được thành lập tăng lên rất nhanh (năm 1997 thành lập được 21 KCN) Sau đó do sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam bị sụt giảm, số KCN được thành lập không đáng kể

Trang 33

Đến năm 2002 Việt Nam đã lấy lại được tốc tăng trưởng cao và từ năm

2002 số lượng các KCN được thành lập đã lấy lại được nhịp độ tăng trưởng của nó

Bảng 1: Số lượng các KCN được thành lập qua các năm 1991-2005

KCN được thành lập

Số KCN tăng thêm

Diện tích KCN được thành lập mới

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Riêng năm 2005, đã có 20 KCN được Thủ tướng chính phủ cho phép thành lập mới và mở rộng với tổng diện tích đất tự nhiên là 3.387 ha trong

đó có 16 KCN được thành lập mới với tổng diện tích 3.001 ha đó là: KCN Đại Đồng-Hoàn Sơn, KCN Mỹ Phước II, KCN Rạch Bắp và Nam Tân Uyên (Bình Dương), KCN Nhơn Trạch 6 (Đồng Nai), Vĩnh Lộc II (Long An), KCN Tân Trường (Hải Dương), KCN Hòn La và KCN Tây Bắc Đồng Hới

Trang 34

(Quảng Bình), KCN Giao Long (Bến Tre), KCN Sao Mai (Kon Tum), KCN Trung Hà (Phú Thọ), KCN Ninh Phúc (Ninh Bình), KCN An Nghiệp (Sóc Trăng), KCN Long Đức (Trà Vinh), KCN Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình); 4 KCN được mở rộng diện tích với diện tích đất tự nhiên là 398 ha Như vậy

có thể thấy năm 2005 là một trong những năm có số KCN được thành lập nhiều nhất, cho thấy xu hướng thành lập các KCN có dấu hiệu bùng nổ trở lại, đây là những tín hiệu đáng mừng thể hiện nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng, những tác động của Nhà nước đối với việc phát triển các KCN đã đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức mới cho Nhà nước, yêu cầu cần phải có quản lí tốt hơn nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của các KCN đã được thành lập đồng thời giảm bớt những hạn chế và tiêu cực trong hoạt động phát triển của các KCN

1.2/ Phân bố KCN ở các vùng, miền

Sự phát triển KCN ở các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam có sự phân

bố không đồng đều Các KCN tập trung chủ yếu tại 3 vùng: Đông Nam Bộ

và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (62 KCN); Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ và vùng KTTĐ miền Trung (27 KCN); Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (23 KCN)

Sự phân bố KCN nếu xét theo các miền Nam tập trung nhiều KCN với

73 KCN, sau đó là miền Trung với 30 KCN, miền Bắc là 27 KCN Trên cả nước đã có 45 tỉnh có KCN

Bảng 2: Số KCN được thành lập tại các vùng, miền

Miền Bắc

Đồng Bằng sông Hồng và

Trang 35

Trung du và miền núi Bắc

Miền Trung và Tây

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Miền Nam: có 73 KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh

- Đồng Nai: 17 khu với diện tích đất tự nhiên là 4264 ha

- Bình Dương: 15 KCN với diện tích là 3051 ha

- Bà Rịa-Vũng Tàu: 7 KCN với diện tích là 3347 ha

Miền Trung và Tây Nguyên: có 30 KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh

- Đà Nẵng: có 4 KCN với diện tích là 1133 ha

- Quảng Ngãi, Quảng Bình: mỗi tỉnh có 2 KCN

Miền Bắc: có 27 KCN tập trung chủ yếu ở các tỉnh

- Hà Nội: có 6 KCN với diện tích là 974 ha

- Hải Dương: 4 KCN với diện tích là 522 ha

- Hải Phòng: 3 KCN với diện tích là 467 ha

- Bắc Ninh, Hưng Yên: mỗi tỉnh có 2 KCN

Sự phân bố không đều các KCN ở các vùng miền trên cả nước như thể hiện trong bảng số liệu (Bảng 2) có thể nói là một hiện tượng khách quan,

Trang 36

bởi những vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển các KCN.

1.3/ Quy mô, diện tích các KCN

Tính đến hết năm 2005, nước ta đã có 130 KCN với tổng diện tích đất

tự nhiên là 26.157 ha và diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 18.085

ha (không kể KCN Dung Quất đã được chuyển đổi thành Khu kinh tế Dung Quất với diện tích 10.300 ha) Như vậy diện tích đất bình quân của mỗi KCN là 201ha/KCN, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê bình quân là 139ha/KCN

Khu công nghiệp có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước là KCN Phú Mĩ

I với diện tích là 954 ha nằm trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ngoài ra tỉnh này còn một khu công nghiệp lớn thứ 2 so với cả nước đó là KCN Cái Mép với diện tích là 670 ha Năm 2004, trước thành công của KCN Phú Mĩ

I, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã xin phép Chính phủ thành lập thêm KCN Phú Mĩ

II với diện tích 572 ha Như vậy trong số các KCN có diện tích lớn nhất cả nước thì Bà Rịa-Vũng Tàu đã có 3 khu Ngoài ra một điều đặc biệt nữa mà

ta có thể thấy đó là hầu hết các KCN lớn đều nằm ở Miền Nam KCN có diện tích nhỏ nhất là KCN Bình Đường ở tỉnh Bình Dương có diện tích là 17

ha Điều này cho thấy các KCN ở miền Nam rất phát triển cả về số lượng, quy mô đồng thời có sự đa dạng trong việc phát triển các KCN ở vùng này

Trang 37

Bảng 3: Các KCN lớn nhất cả nước

Diện tích đất tự nhiên(ha)

Theo đánh giá của các chuyên gia, một KCN được xem là hoạt động có hiệu quả nếu tỷ lệ lấp đầy KCN đạt trên 80% Qua bảng số liệu (Bảng 4) ta thấy, các KCN được xem là hoạt động có hiệu quả chỉ chiếm 33,8% Điều này cho thấy số KCN hoạt động thực sự có hiệu quả (chỉ xét ở chỉ tiêu tỷ lệ lấp đầy KCN) của cả nước còn ít Trong số các KCN hoạt động có hiệu quả, phải kể đến sự thành công của các KCN như: KCN Biên Hoà II, KCN Hố Nai, KCN Tam Phước, KCN Nhơn Trạch II, KCN Tân Bình, KCN Tân Thới

Trang 38

Hiệp, KCN Vĩnh Lộc, KCN Cát Lái II, KCN Sài Đồng B, KCN Thăng Long, KCN Quang Minh, KCN Đồng Văn, KCN Trà Nóc I đã lấp đầy hoàn toàn Thậm chí, có một số KCN đã cho thuê vượt cả khả năng hiện tại như: KCN Việt Hương (103,7%), KCN Tân Đông Hiệp A (116%), KCN Thuận Đạo-Bến Lức (115,8%), KCN Linh Trung 1 (100,6%), KCN Bình Chiểu (126,7%), KCN Nguyễn Đức Cảnh (117,5%)…

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong tình hình số KCN trên cả nước hoạt động có hiệu quả chưa thực

sự nhiều như vậy, số KCN chưa cho thuê chiếm đến 18,5% (24 khu) và số KCN có tỷ lệ lấp đầy dưới 50% là 40 khu (chiếm 30,8%) Như vậy số KCN hoạt động hiệu quả và số KCN hoạt động chưa hiệu quả là tương đương nhau Có thể lí giải điều này là do một số KCN được quyết định thành lập trong thời gian gần đây đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản nên tỷ lệ lấp đầy chưa cao Tuy nhiên, điều này không thể giải thích được nguyên nhân tại sao có những KCN được thành lập từ rất lâu nhưng lại “trì trệ” trong việc lấp đầy, có thể kể đến đó là KCN Đài Tư (Hà Nội) được thành lập năm

Trang 39

1995, sau 10 năm hoạt động tỷ lệ lấp đầy chỉ đạt 10% Ngược lại, có những KCN chỉ vừa mới được quyết định thành lập nhưng lại đã lấp đầy hoàn toàn (KCN Nguyễn Đức Cảnh-Thái Bình thành lập năm 2005 đã lấp đầy 117,5%) Do đó, trách nhiệm của Nhà nước đóng vai trò nhất định đối với việc nâng cao tỷ lệ lấp đầy KCN.

Nếu xem xét sự phát triển của KCN theo một chuỗi thời gian Theo số liệu thống kê gần đây thì hoạt động của các KCN trong việc lấp đầy diện tích đã có những diễn biến tích cực, những KCN hoạt động hiệu quả (lấp đầy

>80%) đã tăng cả về số lượng lẫn tỷ trọng Nếu năm 2003 số KCN hoạt động hiệu quả là 20 khu trên tổng số 99 KCN (chiếm 20,2%) Đến năm 2004

số KCN hoạt động hiệu quả là 25 khu chiếm tỷ lệ gần 22% (trong tổng số

114 KCN) Như vậy, năm 2005 đã chứng kiến sự biến đổi rất mạnh mẽ khi

số KCN hoạt động có hiệu quả đã chiếm tỷ lệ 30,8% Tuy nhiên, như đã nhận xét, số lượng cũng như tỷ lệ này là vẫn còn thấp, Nhà nước cần phải có những cố gắng hơn nữa trong việc thực hiện vai trò của mình trong thời gian tới để nâng cao số lượng và tỷ lệ KCN hoạt động có hiệu quả hơn

2/ Đánh giá tác động của KCN đến nền kinh tế

2.1/ Những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua

2.1.1/ Thu hút vốn đầu tư

Nếu như đến năm 1995, các KCN trên cả nước chỉ thu hút được khoảng

200 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng vốn đăng kí 1550

Trang 40

triệu USD và 190 tỷ đồng thì đến cuối năm 2005 các KCN đã thu hút được trên 4.400 dự án đầu tư bao gồm 2.170 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng kí gần 17,3 tỷ USD và 2418 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng kí là trên 100 ngàn tỷ đồng (chưa tính 1.059 triệu USD và 31,3 nghìn tỷ đồng đầu tư phát triển hạ tầng các KCN), trong đó khoảng 2.700 dự

án đã đi vào sản xuất kinh doanh và trên 700 dự án đang triển khai xây dựng nhà xưởng

Qua bảng số liệu (Bảng 5), ta thấy trong những năm đầu phát triển các KCN chủ yếu thu hút các dự án đầu tư từ nước ngoài, các dự án đầu tư trong nước là rất ít (năm 1995 số dự án ĐTTN chỉ bằng 1/3 so với dự án ĐTNN) Những năm sau đó, sự gia tăng số dự án ĐTTN rất chậm chạm trong khi số

dự án ĐTNN liên tục gia tăng với tốc độ cao Tuy nhiên trong những năm gần đây, bắt đầu từ năm 2003 ĐTTN nước tăng lên đáng kể và gần bằng với các dự án đầu tư nước ngoài cho thấy các doanh nghiệp trong nước đang có

xu hướng chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh vào các KCN Nguyên nhân đó là do trong giai đoạn đầu, Nhà nước cho xây dựng các KCN với mục đích chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nguồn vốn đầu tư trong nước còn rất hạn chế do đó không được chú ý khai thác Những chính sách ưu đãi của Nhà nước trong các năm sau chủ yếu dành cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do đó ĐTNN tăng mạnh trong khi các doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu sản xuất kinh doanh ngoài KCN Đến năm 2003, nhận thức được vai trò của nguồn vốn ĐTTN, Nhà nước đã quan tâm hơn đến nguồn vốn này do đó nguồn vốn ĐTTN vào các KCN tăng mạnh

Bảng 5: Tình hình thu hút vốn đầu tư vào các KCN đến năm 2005

Ngày đăng: 13/04/2013, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Những thành quả hoạt động của các KCN Việt Nam 2005”, Tạp chí KCN Việt Nam tháng2-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành quả hoạt động của các KCN Việt Nam 2005
2. “Một số vấn đề xã hội trong việc xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam”, Tạp chí KCN tháng 3-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội trong việc xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam
3. “Định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2010”, Tạp chí Thông tin Khu công nghiệp Việt Nam thang5- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2010
6. “Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tê”, NXB Khoa học xã hội (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội (1994)
7. “ Giáo trình Chính sách trong quản lí kinh tế-xã hội”, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính sách trong quản lí kinh tế-xã hội
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
8. “Các nhân tố không bền vững trong phát triển các KCN ở nước ta hiện nay”, Tạp chí kinh tế và phát triển(2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố không bền vững trong phát triển các KCN ở nước ta hiện nay
9. “Về việc ban hành chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương đối với doanh nghiệp KCN”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam tháng 9- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ban hành chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương đối với doanh nghiệp KCN
11. “Chính sách ưu đãi và phát triển Khu công nghiêp”, Lê Tuyển Cử (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ưu đãi và phát triển Khu công nghiêp
5. Nghị dịnh 36/CP ngày 24/4/1997 về Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao Khác
10. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam: Một số văn bản, Nghị định, quyết định của Chính phủ về KCN Khác
12. Một số đề tài Luận văn có liên quan đến KCN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng các KCN được thành lập qua các năm 1991-2005 - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Bảng 1 Số lượng các KCN được thành lập qua các năm 1991-2005 (Trang 33)
Bảng 2: Số KCN được thành lập tại các vùng, miền - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Bảng 2 Số KCN được thành lập tại các vùng, miền (Trang 34)
Bảng 3: Các KCN lớn nhất cả nước - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Bảng 3 Các KCN lớn nhất cả nước (Trang 37)
Bảng 4: Tình hình lấp đầy KCN tính đến hết tháng 12/2005 - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Bảng 4 Tình hình lấp đầy KCN tính đến hết tháng 12/2005 (Trang 38)
Hình 1: Sự gia tăng số lượng lao động trực tiếp ở các KCN trong cả  nước - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Hình 1 Sự gia tăng số lượng lao động trực tiếp ở các KCN trong cả nước (Trang 43)
Bảng 5: Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN - thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của Khu công nghiệp đối với đất nước
Bảng 5 Hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCN (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w