Từ những luận cứ trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng, khoanh vùng rò rỉ và đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng nước cấp tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện nhằm mục
Trang 1MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
“Nước - hai tỷ người đang khát” chủ đề mà Liên Hợp Quốc đưa ra nhân ngày môi trường thế giới năm 2003 đã cho thấy sự cấp bách của vấn đề nước sạch hiện nay Đến năm 2005 chủ đề ngày nước thế giới được chọn là “Nước cho cuộc sống’’ Đồng thời, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng chọn thập kỉ 2005-2015 là thập kỉ của nước nhằm nâng cao nhận thức của con người đối với vai trò của nước sạch Vấn đề nước sạch là một vấn đề mang tính toàn cầu
Ô nhiễm nước và vệ sinh môi trường hiện nay đang thực sự trở thành vấn đề đáng báo động Nguồn nước trong lành đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm do các hoạt động của con người và khai thác quá mức Thiếu nước và nước dùng không đảm bảo chất lượng đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người Chất lượng nước, điều kiện vệ sinh kém là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong của con người, đặc biệt là trẻ em Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ở những nước mà phần lớn dân số không đảm bảo được cấp nước an toàn, nguy cơ bệnh
về đường ruột là rất lớn Bartram J cho rằng 88% tổng số ca bị tiêu chảy là do sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân chính gây tử vong của 2,2 triệu người, trên tổng số 3,4 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến nước [12] Tại Việt Nam, vấn đề này đã được Đảng và Chính phủ sớm quan tâm Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Từ đó tỉ lệ tiếp cận nước sạch của người dân tăng lên đáng kể (từ 18,4% năm 1992 lên đến 51% năm 2002 ở khu vực nông thôn) Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cùng với việc tăng tỉ lệ tiếp cận nước sạch của người dân thì liệu chất lượng nước sạch có đảm bảo hay không, khi mà có đến 80% các nhà máy cấp nước hiện nay cùng với hệ thống ống dẫn đã cũ kĩ, lạc hậu và xuống
Trang 2cấp nghiêm trọng Công tác bảo dưỡng, nâng cấp chúng còn có nhiều hạn chế Bởi vậy, việc đánh giá chất lượng nước cấp hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết [12]
Biên Hòa là thành phố của tỉnh Đồng Nai, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh, rất có lợi thế trong việc phát triển kinh tế - xã hội Với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã đẩy nhanh mức độ phát triển các khu công nghiệp – các khu chế xuất thì sông Đồng Nai hiện đang hứng chịu nhiều nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động của các doanh nghiệp và việc xả thải từ sinh hoạt dẫn tới chất lượng nước cấp phục vụ cho người dân đang bị đe dọa Ngoài ra, đây cũng là một thành phố có dân số tập trung rất đông, trong khi đó lượng nước thải sinh hoạt rất lớn lại chưa được xử lý triệt để thải thẳng ra sông Không chỉ vậy, nước thải y tế những khu vực này cũng chưa được thu gom, xử lý triệt để, nhất
là nước thải ở các bệnh viện công Tình trạng tràn dầu và các sự cố môi trường do hoạt động giao thông thủy vẫn thường xuyên xảy ra Đây chính là những yếu tố khiến cho chất lượng nước sông Đồng Nai, nguồn cung cấp nước thô cho nhà máy nước Biên Hòa (NMN), ngày càng suy giảm
Chất lượng nước cấp tại NMN Biên Hòa trong thời gian vừa qua nhìn chung là đáp ứng được quy chuẩn 01:2009/BYT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống Tuy nhiên, trong một số thời điểm nhất định khi chất lượng nước nguồn thay đổi xấu hơn, chất lượng nước cấp có biến động khi một số chỉ tiêu không đạt theo quy chuẩn Làm thế nào để đảm bảo nước sạch luôn đạt tiêu chuẩn chất lượng, đặc biệt về khía cạnh sức khỏe, khi tới tay người sử dụng là một vấn đề cần phải giải quyết triệt
để
Hiện nay, Biên Hòa có 3 NMN: NMN Long Bình có công suất 30000m3/ngày đêm, NMN Thiện Tân có công suất 100000m3/ngày đêm, và NMN Biên Hòa có công suất 50000m3/ngày đêm NMN Long Bình chủ yếu cung cấp nước cho người dân khu vực phường Tân Biên và KCN Bầu Xéo thuộc huyện Trảng Bom, NMN Thiện Tân cung
Trang 3cấp nước cho các KCN, khu dân cư các phường ngoại thành và hỗ trợ một phần cho NMN Biên Hòa Người dân sống tại khu vực thành phố Biên Hòa (Tp Biên Hòa) sử dụng nước sạch chủ yếu là nước của NMN Biên Hòa Nhà máy này được xây dựng từ năm 1930, với công nghệ xử lý truyền thống đã cũ, mạng lưới đường ống đã xây dựng quá lâu (hiện còn trên 20 km ống xây dựng trên 70 năm chưa được thay thế) nên ống bị
hư, đóng cặn và mục nát nhiều nên tỷ lệ rò rỉ tồn thất nước còn cao Theo báo cáo của NMN Biên Hòa thì tỉ lệ rò rỉ năm 2010 là 30%, đến năm 2011 thì tỉ lệ rò rỉ đã có giảm nhưng vẫn còn cao, 26% [3]
Rò rỉ trong hệ thống phân phối là một nguyên nhân chính gây lo ngại cho chất lượng nước ăn uống Khi đất được tràn ngập bởi nước thải từ cống bị rò rỉ hoặc từ các nguồn khác, sau đó đường ống bị rò rỉ sẽ được thâm nhập vào với nước bị ô nhiễm khi áp thấp Với những nguyên nhân như vậy cần phải sử dụng các phần mềm quản lý mạng lưới để xác định điểm rò rỉ, làm giảm thất thoát nước cho các nhà máy nước và cải thiện được chất lượng nước đến người tiêu dùng
Mặc dù lượng nước cấp bị thất thoát do rò rỉ tại khu vực Tp Biên Hòa là khá cao (26%), công ty TNHH MTV cấp nước Đồng Nai chưa sử dụng phần mềm quản lý mạng để làm giảm thất thoát nước, công ty chỉ thành lập một nhóm dò bể trực thuộc công ty, dùng thiết bị tai nghe khuếch đại âm để dò bể những khu vực nghi ngờ Biện pháp này không được khả quan vì rất tốn công và không được chính xác Hiện nay, có rất nhiều phần mềm phân tích thủy lực đã được ứng dụng tại các công ty cấp nước như WaterCAD, Epanet nhằm quản lý mạng lưới cấp nước Tuy nhiên, phần mềm WaterGEMS v8i là phần mềm được nâng cấp từ WaterCAD, được đánh giá cao so với phần mềm Epanet do chức năng tính toán, khoanh vùng rò rỉ và khả năng tích hợp với nhiều môi trường như Cad, GIS…giúp cho người kỹ sư sử dụng dễ dàng
Từ những luận cứ trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng, khoanh vùng rò rỉ và đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng nước cấp tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” được thực hiện nhằm mục đích đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn
Trang 4nước cấp, xác định được vị trí rò rỉ, thất thoát, dẫn đến nước cấp có thể bị ô nhiễm tại những vị trí đó dựa trên việc ứng dụng phần mềm WaterGems v8i và từ đó đề xuất, xây dựng nền tảng cho phát triển lâu dài và phát triển bền vững hệ thống cấp nước cho Tp Biên Hòa
2 MỤC TIÊU
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước cấp tại thành phố Biên Hòa một cách đầy
đủ nhất, giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý thuận lợi hơn trong việc quản lý chất lượng nguồn nước cấp, để bảo đảm cung cấp hệ thống nước máy tốt nhất
về mặt sức khỏe cho cộng đồng và từ đó ta có thể dự báo được chất lượng nước trong những năm sau này
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng nguồn nước thô (chất lượng nước sông Đồng Nai khu vực gần NMN Biên Hòa), nước cấp vào mạng lưới và nước trên mạng lưới tới các
hộ dân tại Tp Biên Hòa
- Áp dụng số liệu quan trắc mẫu nước để đánh giá, phân tích các rủi ro tại nhà máy nước Biên Hòa
- Xác định, khoanh vùng rò rỉ trên mạng lưới và kiểm tra chất lượng nước sau vùng
rò rỉ
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp để quản lý chất lượng nước cấp tại Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 53 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Các yếu tố môi trường tự nhiên có liên quan đến chất lượng nước cấp
- Chất lượng nước sông Đồng Nai tại khu vực Biên Hòa
- Hệ thống mạng lưới cấp nước và chất lượng nước cấp của Tp Biên Hòa
3.2 Giới hạn phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.2.1.Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài lấy Tp Biên Hòa làm địa bàn nghiên cứu, nhưng tập trung nghiên cứu ở vùng nội ô
Dân cư thành phố Biên Hòa chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt là nước cấp đã được xử
lý từ nguồn nước sông nên đề tài chỉ tập trung vào nguồn nước thô là nước sông Đồng Nai đoạn chảy qua Tp Biên Hòa Tại đoạn sông này chỉ nghiên cứu những điểm thuộc khu vực cấp nước, đó là khu vực cầu Hóa An, khu vực NMN Biên Hòa và khu vực cầu Rạch Cát
Nước ngầm chỉ được sử dụng với quy mô nhỏ nên đề tài không nghiên cứu
3.2.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu đề tài luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về các khía cạnh sau:
(1) Một số nguyên nhân làm ô nhiễm đến chất lượng nguồn nước thô
(2) Một số đặc điểm chính của nước cấp về thành phần vật lý, thành phần hóa học và
vi sinh vật
(3) Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cấp nước, mạng lưới cấp nước của Tp Biên Hòa
và phân tích các ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp
Trang 64 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các số liệu về hiện trạng môi trường, về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội tại Tp Biên Hòa
Thu thập các số liệu quan trắc về chất lượng nước sông Đồng Nai khu vực gần NMN Biên Hòa, số liệu quan trắc của nước sau xử lý của NMN Biên Hòa và nước cấp ngoài mạng lưới của khu vực Tp Biên Hòa trong những năm gần đây
Khảo sát các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp tại địa bàn nơi nghiên cứu
Khảo sát về mạng lưới cấp nước và tình trạng rò rỉ nước ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp của thành phố
Sử dụng phần mềm thủy lực WaterGEMS để khoanh vùng, xác định vị trí rò rỉ trên mạng lưới
Đề xuất các biện pháp giải quyết hợp lý và đưa ra hướng xử lý khả thi trong tương
lai
Trang 75 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Sơ đồ nghiên cứu
Hình 1: Sơ đồ trình tự nghiên cứu của đề tài
Số liệu quan trắc nước
sông Đồng Nai khu
vực gần NMN Biên
Hòa từ 2007-2011
Số liệu quan trắc nước ngoài mạng lưới từ 2009-2011
Tham khảo tài liệu liên quan
Đánh giá chất lượng nước cấp
Đánh giá chất lượng nước sau xử lý tại NMN Biên Hòa với QCVN 01:2009/BYT
Đánh giá chất lượng nước trên mạng lưới với QCVN 01: 2009/BYT
Sử dụng ma trận rủi ro để đánh giá rủi ro tại NMN Biên Hòa
Sử dụng phần mềm WaterGEMS để khoanh vùng, xác định vị trí rò rỉ
Lấy mẫu và phân tích mẫu tại các điểm rò rỉ
Đề xuất các giải pháp quản lý
Trang 8Để thực hiện được những mục tiêu đã nêu trong mục 2.2, đầu tiên là phải tìm hiểu, tham khảo các tài liệu liên quan đến đề tài Tiếp theo đó là tổng hợp các số liệu quan trắc đã thu thập được của trung tâm quan trắc môi trường Đồng Nai và phòng kiểm định của công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai từ năm 2007 - 2011 Với các số liệu quan trắc này đề tài đã tiến hành đánh giá chất lượng nước cấp tại Tp Biên Hòa bằng cách đánh giá từ nguồn nước thô đến nước sau xử lý tại NMN Biên Hòa và cuối cùng
là nước ra mạng lưới
Vì hệ thống xử lý nước của NMN Biên Hòa đã cũ kỹ và với các kết quả đã đạt được của việc đánh giá chất lượng nước cấp, đề tài thấy cần thiết phải đánh giá rủi ro tại NMN Biên Hòa xuyên suốt chu trình của nước từ việc thu nước để xử lý đến các điểm tiêu thụ nước
Tp Biên Hòa còn rất nhiều đường ống cũ nên vấn đề rò rỉ, thất thoát nước là điều không tránh khỏi Rò rỉ cũng là một trong các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp nên đề tài đã sử dụng phần mềm WaterGEMS để khoanh vùng rò rỉ, sau đó lấy mẫu và phân tích mẫu tại các điểm xung quanh vị trí rò rỉ nhằm xác định chất lượng nước cấp
Sau khi đã đạt được các kết quả trên, đề tài sẽ đưa ra các giải pháp quản lý thích hợp nhằm làm cho chất lượng nước cấp tại Tp Biên Hòa được tốt hơn
b Phương pháp thu thập số liệu:
- Thu thập, biên hội số liệu về điều kiện tự nhiên khu vực thành phố Biên Hòa
Trang 9- Thu thập, biên hội số liệu về hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Tp Biên Hòa
- Thu thập, biên hội các số liệu quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai khu vực gần NMN Biên Hòa, số liệu chất lượng nước thô lấy tại NMN Biên Hòa, số liệu chất lượng nước sau xử lý của NMN Biên Hòa và số liệu quan trắc nước cấp ngoài mạng lưới
c Sử dụng phương pháp thống kê, xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Office: tính sai số chuẩn, sử dụng phần mềm Excel để tính giá trị trung bình và sai số chuẩn
d Phương pháp so sánh, đánh giá: từ các số liệu đã tổng hợp được so sánh với các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước, chỉ số chất lượng nước WQI
e Đánh giá rủi ro được đánh giá xuyên suốt chu trình của nước từ việc thu nước đến các điểm tiêu thụ nước
f Sử dụng phần mềm Bentley WaterGEMS để khoanh vùng rò rỉ
Lấy mẫu, phân tích chất lượng nước tại các nơi bị rò rỉ
Đánh giá kết quả nghiên cứu
g Sử dụng phương pháp chuyên gia để đưa ra nhận xét, đánh giá
Các phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể trong phần phương pháp và vật liệu nghiên cứu ở chương 2
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu có sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, các phần mềm tin học hỗ trợ,…để đánh giá được chất lượng nước cấp Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được ứng dụng thực tế tại Tp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và các tỉnh thành trên cả nước
Trang 106.2 Tính thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu về điều kiện kinh tế tự nhiên, kinh tế xã hội
và mạng lưới cấp nước của thành phố Biên Hòa Từ đó đưa ra những đề xuất hợp lý giúp cho việc quản lý chất lượng nước sạch tại thành phố ngày một tốt hơn
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn được cấu trúc thành 3 phần: mở đầu, nội dung chính (năm chương) và kết luận – kiến nghị, cụ thể như sau:
Mở đầu bao gồm đặt vấn đề, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn và cấu trúc của đề tài
Nội dung chính:
Chương 1: Tổng quan, nói về tình hình cấp nước tại các đô thị Việt Nam và Tp Biên Hòa, đặc điểm khu vực nghiên cứu, các giải pháp quản lý chất lượng nước cấp tại Việt Nam và giới thiệu về phần mềm WaterGEMS
Chương 2: Phương pháp và vật liệu nghiên cứu Chương này trình bày cụ thể các phương pháp đề tài đã sử dụng như phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, số liệu, phương pháp thống kê…
Chương 3: Hiện trạng chất lượng nước thô, nước sau xử lý và nước trên mạng lưới tại Tp Biên Hòa Chương này đưa ra các kết quả so sánh của các thông số pH, độ đục, TSS, COD, sắt tổng… với các QCVN 08:2008/BTNMT, 01:2009/BYT, WQI
Chương 4: Đánh giá rủi ro tại NMN Biên Hòa và xác định vị trí rò rỉ, thất thoát nước trên mạng lưới Chương này đưa ra các rủi ro tại NMN và các kết quả tính toán khoanh vùng rò rỉ
Trang 11Chương 5: Đề xuất các giải pháp quản lý nước cấp tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai như các giải pháp quản lý tại NMN Biên Hòa, các biện pháp quản lý mạng lưới cấp nước của thành phố
Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1.THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC TẠI CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM
Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị còn nhiều bất cập:
- Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp: trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước
- Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước,
nhưng cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất
- Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao: tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát thất thu còn
cao như Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Tĩnh, Vinh Theo các số liệu tổng kết, hiện nay tỉ lệ nước thất thoát ở Việt Nam khoảng 30% Đây có thể là con số chưa thật chính xác, vì
đó mới chỉ là số trung bình của các tỉ lệ thất thoát của tất cả các đơn vị cấp nước, tổng khối lượng nước thất thoát thực tế của cả nước còn có thể lớn hơn Tuy nhiên, thất thoát nước với tỉ lệ lớn như vậy cũng là một tất yếu, là một thực tế hoàn toàn tương ứng với hiện trạng kỹ thuật của các hệ thống cấp nước của chúng ta đang có, trong đó phần lớn là nước thất thoát do nguyên nhân kỹ thuật (do rò rỉ trên mạng lưới đường ống)
- Chất lượng nước: tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng
nguồn nước mặt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân Việc chất lượng nguồn nước bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân gây ra:
+Tình hình khí tượng thuỷ văn trong những năm gần đây có nhiều biến động phức tạp, tình hình, hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do hậu quả của hiện tượng phá rừng kết hợp với ENNINO
Trang 13+Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá
+Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh +Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ đang là nguồn gây ô nhiễm cho việc khai thác
+Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng [17]
Tại Việt Nam có 68 công ty cấp nước, thực hiện cung cấp nước sạch cho các khu vực đô thị Nguồn nước mặt chiếm 70% tổng nguồn nước cấp và 30% còn lại là nước ngầm Có hơn 420 hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế đạt 5,9 triệu m3
/ngày Công suất hoạt động cấp nước đạt mức 4,5 triệu m3
/ngày tương đương 77% công suất thiết kế
- Tính đến cuối năm 2010, có 18,15 triệu người dân đô thị có thể tiếp cận được với nước sạch, chiếm 69% tổng số dân thành thị Phần trăm số dân sử dụng nước sạch ở các đô thị được thống kê như sau: 70% dân số ở đô thị đặc biệt và đô thị loại I, 45-55% dân số ở đô thị loại II và III, 30-35% dân số ở đô thị loại IV và 10-15% dân số ở đô thị loại V Theo đó, lượng nước sử dụng trung bình của các đô thị là 80-90 lít/người/ngày đêm; trong đó tại các thành phố lớn thì lượng nước này là 120-130 lít/người/ngày đêm (theo nghiên cứu Bench-marking, Ngân hàng Thế giới - Hội Cấp thoát nước Việt Nam) Các số liệu thực tế nêu trên đều thấp hơn kế hoạch mục tiêu quốc gia về phát triển cấp nước đô thị
- Hệ thống cấp nước: Công suất các hệ thống cấp nước còn hạn chế do sự đầu tư
không đầy đủ các nhà máy xử lý nước, các mạng lưới đường ống truyền dẫn và phân phối nước sạch
Trang 14- Do mạng lưới truyền dẫn và phân phối nước sạch hiện có không được cải tạo và nâng cấp đồng bộ với các nhà máy xử lý, do đó, theo Hội Cấp thoát nước Việt Nam, tỷ
lệ rò rỉ và thất thoát nước sạch là 30%, đặc biệt có một số thành phố tỷ lệ này rất cao như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh lên tới 38-40% [1]
- Mặc dù công suất cấp nước đô thị hiện tại đã tăng lên gấp 3 và gấp 2 lần so với năm 1975 và 1990, tuy nhiên so quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, rất nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được hình thành và dân số đô thị cũng tăng nhanh chóng, nên hệ thống cấp nước vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của dân cư thành thị Do
đó, hai phần ba thị tứ không có hệ thống cấp nước tập trung Bên cạnh đó, do những khó khăn về nguồn vốn đầu tư cũng như năng lực của các công ty cấp nước, sự thiếu đồng bộ khi quy hoạch phát triển hệ thống cấp nước và thực hiện quy hoạch, nên nhiều
hệ thống cấp nước đã nâng cấp và nâng cao công suất, nhưng không hoạt động hết công suất
- Theo số liệu Bench-marking của Hội Cấp thoát nước Việt Nam, chỉ có 35 trong số
67 thành phố được khảo sát (chiếm 60%) đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày Hầu hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14-20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể hoạt động 8-10 giờ/ngày Do việc giảm nhanh áp lực trong hệ thống phân phối, nước chỉ có thể chảy vào các bể chứa nước dưới đất của các hộ gia đình mà không thể tự chảy lên các bể ở cao hơn Hơn nữa, chất lượng nước cấp đến các hộ gia đình cũng không hoàn toàn đảm bảo theo tiêu chuẩn vệ sinh, mặc dù chất lượng nước xử lý tại các nhà máy nước có thể đạt các chỉ tiêu của nước cấp Nguyên nhân là do nước được phân phối trong đường ống có áp lực thấp hay không có áp lực hay thậm chí có áp suất
âm, và các đấu nối bị hỏng, những nguyên nhân trên khiến cho nước dễ dàng bị thấm khi vận chuyển trong đường ống nước Khi áp lực nước bên trong ống tăng cao đến mức đủ cho nước có thể tự chảy (lớn hơn 0,6m/s), những cặn bẩn lâu ngày trong hệ thống ống có thể chảy lẫn trong ống và làm giảm chất lượng nước khi nước được cấp
Trang 15đến các hộ gia đình Theo như kết quả khảo sát, hiện nay có khoảng 50% mạng lưới phân phối đạt tiêu chuẩn nước sạch
- Theo Bộ Xây dựng, việc tiếp tục cải tạo, mở rộng hệ thống phân phối nước sẽ là một vấn đề ưu tiên của ngành cấp nước đô thị ở Việt Nam Ở giai đoạn tới, các khoảng đầu
tư sẽ tập trung vào các công trình như cống lấy nước thô, đường ống truyền tải, nhà máy xử lý nước, đường ống vận chuyển và đường ống phân phối Ngành nước sẽ phải khắc phục sự chậm trễ, lệch pha giữa sự phát triển của các hạn mục công trình trên để đảm bảo hiệu suất khai thác của hệ thống là cao nhất.Công nghệ xử lý nước chủ yếu ở các nhà máy nước với nguồn nước mặt ở Việt Nam là trộn hóa chất keo tụ tạo bông (phèn, vôi, một số nơi dùng thêm chất trợ keo), lắng, lọc và khử trùng bằng Clo lỏng hay Javen Ở nhiều nơi, nhiều doanh nghiệp cấp nước đô thị đã mạnh dạn áp dụng các công nghệ mới trong quản lý hệ thống cấp nước, điển hình là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý mạng lưới cấp nước, kết hợp GIS và SCADA; lắp đặt các thiết
bị quản lý mạng như thiết bị kiểm soát chất lượng nước, các van giảm áp trên mạng lưới, các thiết bị phát hiện rò rỉ, thất thoát nước, các thiết bị biến tần trong trạm bơm,
sử dụng các biện pháp thau rửa đường ống tiên tiến như vòi thủy lực, quả mút, vv…
- Chất lượng nước nhìn chung tại các nhà máy nước cấp cho các đô thị đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT của Bộ Y tế Tuy nhiên,
do chất lượng đường ống kém và tỷ lệ thất thoát, rò rỉ còn cao, nước cấp đến hộ sử dụng thường không đảm bảo yêu cầu nước uống trực tiếp mà chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT Đối với các hệ thống cấp nước nông thôn, việc kiểm soát chất lượng nước còn rất nhiều thách thức và bất cập Ở nhiều nơi, vấn đề ô nhiễm các chất độc hại đang ngày càng nổi cộm như ô nhiễm asen, các hợp chất nitơ, hóa chất trừ sâu hay hóa chất công nghiệp độc hại, vv… Trong bối cảnh nguồn nước cấp ngày càng bị ô nhiễm, quy trình công nghệ truyền thống không cho phép loại bỏ các chất ô nhiễm đặc biệt như chất hữu cơ bền vững, kim loại nặng,
Trang 16các ion độc hại hòa tan, … đang đặt ra yêu cầu bảo vệ nguồn nước, cải tiến, nâng cấp các nhà máy xử lý nước và đổi mới phương thức quản lý hệ thống cấp nước [1]
1.2 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai, Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, Nam giáp huyện Long Thành, Đông giáp huyện Trảng Bom, Tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh Nằm 2 bên bờ sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90Km (theo Quốc lộ 51) [19]
Hình 1.1: Bản đồ thành phố Biên Hòa
Trang 17• Các cơ quan chuyên môn: phòng Nội Vụ; phòng Tư pháp; phòng Tài chính - Kế hoạch; phòng Tài nguyên và Môi trường; phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; phòng Văn hóa và thông Tin; phòng Giáo dục và Đào tạo; phòng Y tế; Thanh tra; phòng Kinh tế; phòng Quản lý Đô thị; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân [19]
1.2.1.4 Địa hình
Nhìn chung, địa hình Tp Biên Hoà phức tạp và đa dạng gồm đồng bằng, chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Địa hình dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông qua Tây
Khu vực phía Đông và Bắc thành phố, địa hình có dạng đồi nhỏ, dốc thoải không đều, nghiêng dần về phía sông Đồng Nai và các suối nhỏ Cao độ lớn nhất là 75m, cao
độ thấp nhất là 2m Về mùa mưa lũ tràn từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Nam Khu vực phía Tây và Tây Nam, địa hình chủ yếu là đồng bằng Ven bờ phải sông Đồng Nai là ruộng vườn xen lẫn nhiều ao hồ do lấy đất làm gạch, gốm cao độ tự nhiên trung bình từ 1- 2m Khu vực cù lao có cao độ thấp từ 0,5- 0,8m, hầu hết là ruộng vườn xen lẫn khu dân cư Khu vực trung tâm Tp Biên Hòa có cao độ trung bình từ 2-10m, mật độ xây dựng dày đặc
Trang 18Các suối phần lớn bắt nguồn từ ngoại ô chảy qua thành phố làm nhiệm vụ thu gom nước mưa của từng lưu vực và xả ra sông Đồng Nai Nhưng do địa hình phức tạp nên thời gian tập trung dòng chảy rất nhanh gây ra ngập lụt về mùa mưa kể cả ở thượng và
hạ lưu [5,15]
1.2.1.5 Đất đai
Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như đất xám (40,05%), nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch) Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…
1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.2.1 Dân số và lao động
Theo thống kê năm 2010, dân số thành phố khoảng 784.398 dân, mật độ dân số là 3.030 người/km² Nguyên nhân của sự gia tăng dân số thành phố là do số dân di cư rất lớn từ các nơi khác đến để làm tại các khu công nghiệp Thành phần dân cư thành phố Biên Hòa phần lớn là người Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận người gốc Hoa sinh sống chủ yếu ở xã Hiệp Hòa và phường Thanh Bình Có thể nói dân cư thành phố Biên Hòa quá đông từ các tỉnh phía Bắc đến tận miền Tây Nam Bộ tập ở đây rất đông và khó kiểm soát Số người theo đạo là rất lớn, chủ yếu là 4 tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành và Hòa Hảo) và các tôn giáo khác; trong đó đạo Thiên Chúa giáo tập trung đông ở các phường, xã (Tân Mai, Hố Nai, Tân Tiến, Thống Nhất, Quyết Thắng, Trảng Dài, Tân Phong, Long Bình, An Hòa, ) Hiện nay, thành phố Biên Hòa
là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất nước Việt Nam
Sự phân bố dân trong thành phố không đều, tập trung nhiều ở các phường nội Nhìn chung, sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn không lớn Trong các năm qua, thành phố đã thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình song song với việc phát triển các
Trang 19KCN nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm (bình quân mỗi năm giảm được 0,04%) và tỷ
lệ tăng dân số cơ học tăng
Bảng 1.1: Hiện trạng phân bố dân cư tại thành phố Biên Hòa
Phường Phân bố
dân cư (người)
Phường Phân bố
dân cư
dân cư (người)
Trung Dũng 23.757 Bình Đa 18.219 Hiệp Hòa 12.433
Quyết Thắng 19.214 An Bình 48.117 Hóa An 28.968
Quang Vinh 18.461 Long Bình 56.548 Tân Hạnh 8.792
Thanh Bình 5.727 Long Bình Tân 45.222 An Hòa 30.000
Hòa Bình 9.572 Tân Hiệp 25.000 Phước Tân 39.325 Bửu Long 24.559 Tân Hòa 37.913 Long Hưng 5.900 Thống Nhất 22.786 Tân Biên 32.519 Tam Phước 35.708
Tân Tiến 18.165 Hố Nai 31.568 Tổng cộng 161.126
Tân Mai 19.987 Trảng Dài 55.189
Tam Hiệp 18.165 Tân Phong 42.031
Tam Hòa 17.749 Bửu Hòa 19.372
Tân Vạn 13.432
Tổng cộng : 623.272 người
(Nguồn: phòng thống kê thành phố Biên Hòa năm 2010)
Trang 201.2.2.2 Phát triển ngành kinh tế
a Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Biên Hòa có 5 khu công nghiệp (KCN) được Chính phủ phê duyệt: KCN Biên Hòa
I, KCN Biên Hòa II, KCN Amata, KCN Tam Phước và KCN Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ
- KCN Biên Hoà I: Quy mô diện tích 335 ha Đã hình thành trước năm 1975 Đang xây dựng khu tái định cư, giải toả di dời dân và chỉnh trang mạng lưới kỹ thuật hạ tầng
- KCN Biên Hoà II: Quy mô diện tích 365 ha Được thành lập năm 1995, KCN Biên Hòa II là một trong những bước đi tiên phong trong việc phát triển các KCN tại Đồng Nai cũng như tại Việt Nam của Công ty Phát triển KCN Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) KCN Biên Hòa II đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư đến đầu tư tại Đồng Nai Kết quả là KCN này đã được lấp đầy năm 2002 với 116 dự án đầu tư và tổng vốn đầu
tư trị giá trên 1,3 tỉ USD
- KCN Amata: Với thế mạnh về vị trí (sát Tp Biên Hòa, cách Tp Hồ Chí Minh 25
km, tại trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), qui hoạch hiện đại, cơ sở hạ tầng chất lượng quốc tế và hoàn chỉnh, cùng với dịch vụ chuyên nghiệp và tận tâm, KCN Amata luôn là một trong những chọn lựa hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Hiện nay, KCN là nơi qui tụ 107 nhà đầu tư với giá trị đầu tư hơn 1 tỉ đô
la Mỹ Phần lớn các nhà đầu tư đến từ Nhật (40%), các công ty nổi tiếng thế giới hiện
có nhà máy tại KCN Amata như Ritek, NOK, San Miguel, YKK, Zamil Steel, Akzo Nobel, Gannon, Amway…
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư nước ngoài và nội địa, ngay
từ ban đầu, dự án đã được định hướng để trở thành một thành phố hoàn hảo, nơi mọi người có thể sống, làm việc, học tập và giải trí; công ty đã qui hoạch xây dựng dự án Khu Thương Mại, Dịch Vụ và Nhà ở qui mô quốc tế 19,19 ha ngay tại phần mặt tiền của khu công nghiệp Dự án đầu tư sẽ cung cấp nhiều dịch vụ, bao gồm các công trình
Trang 21như: ngân hàng, văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn, bưu điện, trung tâm y tế, khu giải trí thể thao và nhà ở… Dự án này hiện đang thu hút rất nhiều các nhà đầu tư quan tâm
- KCN Loteco: Diện tích quy hoạch: 100 ha, trong đó có khu chế xuất, diện tich 30
ha Hiện nay tỉ lệ đất cho thuê đạt 61% diện tích đất dành cho thuê, cơ sở hạ tầng được xây dựng tốt đáp ứng nhu cầu cho nhà đầu tư
- KCN Tam Phước: được thành lập theo quyết định số 3576/QĐCT-UBT ngày 06 tháng 10 năm 2003 Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh nên chỉ sau 2 năm triển khai dự án, KCN Tam Phước đã thu hút 50 nhà đầu
tư từ nhiều quốc gia khác nhau đến thuê đất xây dựng nhà máy, triển khai sản xuất kinh doanh và đã lắp đầy 100% diện tích đất cho thuê
Các cụm công nghiệp nhỏ:
- Cụm công nghiệp phường Tân Hiệp 6 ha, các xí nghiệp may, đồ gia dụng
- Cụm công nghiệp may mặc, thực phẩm tại đường 5 (phường Tân Tiến)
- Cụm công nghiệp gỗ, vật liệu xây dựng: 6 nhà máy (phường Long Bình)
- Cụm công nghiệp giày da và may mặc Pouchen, 19 ha (QL1K – xã Hoá An)
- Cụm công nghiệp giấy Tân Mai, diện tích 19 ha (phường Thống Nhất)
- Cụm công nghiệp sản xuất giày – phường Tam Hiệp
b Thương mại, dịch vụ
Đây là ngành kinh doanh đặc thù của đô thị Tp Biên Hoà ngay từ khi được Chính phủ công nhận là đô thị loại II, đã có sự phát triển bước đầu tạo ra mối quan hệ giữa trung tâm và các vùng lân cận, doanh số kinh doanh của các ngành ngày một tăng cao, ngành đang dần dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trong thu nhập GDP, trong thu nhập GDP, trong việc giải quyết việc làm và nhất là nâng cao đời sống
Trang 22Toàn thành phố có 11 chợ khu vực Ngoài ra có một số chợ nhỏ tại phường và mạng lưới dịch vụ dọc theo các đường phố Một số chợ được xây mới, phát huy năng lực phục vụ tốt, phù hợp quy hoạch, nhiều chợ hiện trạng chật hẹp, lấn ra xung quanh, ra vỉa hè đường phố, làm cản trở giao thông (chợ Sặt, Tân Mai, Biên Hoà…)
Hệ thống nhà hàng, khách sạn trên địa bàn thành phố đang phát triển hoàn thiện nhằm thu hút nhiều khách du lịch đặc biệt là khách nước ngoài
Hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh Tuy Tp Biên Hoà nằm gần trung tâm kinh tế cực lớn Tp Hồ Chí Minh, nhưng thành phố vẫn giữ được nguồn xuất khẩu ngày càng tạo ra nhiều mẫu mã phù hợp với thị hiếu của khách nước ngoài
c Du lịch
Thành phố Biên Hòa có những điểm du lịch khá hấp dẫn đã và đang được khai thác như: Tuyến du lịch trên sông Đồng Nai, cù lao Ba Xê, cù lao Tân Vạn, khu du lịch Bửu Long và nhiều di tích lịch sử văn hóa quốc gia
d Nông nghiệp
Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi có sự thay đổi đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu
về thịt ngày càng cao cho nhân dân Tp Biên Hoà Thành phố cũng là thực hiện chuyển dịch từng bước về cơ cấu cây trồng, từ cây lúa sang cây rau, tạo vành đai xanh cho thành phố
1.2.2.3 Khu vực quanh vùng khảo sát
Nhà máy nước Biên Hòa nằm ngay trung tâm thành phố, thuộc phường Quyết Thắng Tại khu vực cầu Hóa An đang thực hiện công trình cầu Hóa An 2 nên khu vực này có thể bị ô nhiễm Khu vực giữa cầu Hóa An và NMN Biên Hòa có bệnh viện tỉnh Đồng Nai và chợ Biên Hòa Khu vực nhà máy nước Biên Hòa là nơi tiếp nhận trực tiếp
từ hai nguồn thải đó và tiếp nhận nguồn thải từ các hoạt động sinh hoạt của dân cư Tp Biên Hòa
Trang 231.2.2.4 Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt
Theo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tp Biên Hòa tỉnh Đồng Nai năm 2010 và định hướng đến năm 2020” thì tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt năm 2010 là 150l/người ngày và năm 2020 là 165 l/người.ngày Dân số năm 2010 là 784.398, số dân tại khu vực nội thành năm 2010 là khoảng 653.000 người, dự báo năm 2015, dân
số khoảng 874.000 người, đến năm 2020 dân số khoảng 954.000 người
1.3 CÔNG TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC MẶT [20]
1.3.1 Đặc tính của nước mặt
Bao gồm các nguồn nước có trong các ao, đầm, hồ chứa và sông suối Do kết hợp từ các dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là:
- Chứa khí hòa tan đặc biệt là oxy
- Chứa nhiều chất rắn lơ lửng, riêng nước chứa trong các ao đầm, hồ do xảy ra quá trình lắng cặn nên chất rắn lơ lửng còn lại trong nước có nồng độ tương đối thấp và chủ yếu ở dạng keo
- Có hàm lượng chất hữu cơ cao
- Có sự hiện diện của nhiều loại tảo
- Chứa nhiều vi sinh vật
1.3.2 Các phương pháp xử lý
Có nhiều phương pháp để xử lý nước nguồn nước mặt, phương pháp xử lý phụ thuộc vào: nhu cầu cấp nước, tiêu chuẩn dùng nước, đặc điểm của nguồn nước mặt, các điều kiện tự nhiên, các điều kiện kinh tế xã hội,… Các quá trình xử lý cơ bản được tóm tắt như sau:
Trang 24Song chắn rác Loại trừ các vật trôi nổi theo dòng nước
Lưới chắn rác Loại trừ rác, các mảnh vỡ kích thước nhỏ, một phần rong
rêu trôi theo dòng nước
Bể lắng cát Loại ra khỏi nước các hạt có tỷ trọng ≥ 1,2 và kích thước ≥
0,2mm để bảo vệ cho máy móc không bị bào mòn, giảm lượng cặn trơ trong các bể tạo bông và bể lắng
Xử lý nước tại nguồn
bằng hóa chất
Loại trừ khả năng phát triển của vi sinh vật và thực vật gây
ra mùi, vị, màu của nước
Làm thoáng - Lấy oxy từ không khí để oxy hóa sắt hay mangan hóa trị
II hòa tan trong nước
- Khử khí CO2 nâng cao pH của nước để đẩy nhanh quá trình oxy hóa và thủy phân sắt, mangan trong dây chuyền công nghệ khử sắt và mangan
- Làm giàu oxy để tăng thế oxy hóa khử của nước, khử các chất bẩn ở dạng khí hòa tan trong nước
Clo hóa sơ bộ - Oxy hóa sắt và mangan hòa tan ở dạng các phức chất hữu
cơ
Trang 25- Loại trừ rong, rêu và tảo phát triển các thành bể trộn, tạo bông cặn, bể lắng và bể lọc
- Trung hòa amoniac dư, diệt các vi khuẩn tiết ra chất nhầy trên bề mặt lớp cát lọc
Quá trình khuấy trộn hóa
Quá trình lọc Loại trừ các hạt cặn nhỏ không lắng được trong bể lắng
nhưng có khả năng dính kết lên bề mặt của hạt lọc
Quá trình hấp thụ và hấp
phụ bằng than hoạt tính
Khử mùi, vị và màu của nước sau khi dùng phương pháp xử
lý truyền thống không đạt yêu cầu
Flo hóa nước Nâng cao hàm lượng flo trong nước từ 0,6 – 0,9 mg/l để bảo
vệ men răng và xương cho người dùng nước
Khử trùng nước Tiêu diệt vi khuẩn và vi trùng còn lại trong nước sau bể lọc Làm mềm nước Khử các ion Ca2+
và Mg2+ đến nồng độ yêu cầu
Khử muối Khử ra khỏi nước các cation và anion các muối hòa tan đến
nồng độ yêu cầu
Trang 261.4 TÌNH HÌNH CẤP NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Tp Biên Hòa (Đồng Nai) nằm kề bên sông Đồng Nai, nơi có NMN Biên Hòa công suất 50.000 m3/ ngày, nhưng tình trạng thiếu nước sạch đã diễn ra từ nhiều năm nay Trong 26 phường, xã của thành phố, đến nay chỉ có 2 phường nội ô là Thanh Bình và Quang Vinh có 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, các phường còn lại tỷ lệ chỉ đạt
từ 33% đến hơn 90%, trong đó thấp nhất là Trảng Dài 33% và Hố Nai 49% mặc dù đã
có NMN Thiện Tân công suất 100.000m3/ngày hỗ trợ cho khu vực Hố Nai và các KCN
Tại phường Trảng Dài hiện có 5 khu phố, nhưng chỉ có khu phố 1, một phần của khu phố 2 và 5 có nước máy dùng, còn lại khoảng 6.000 hộ dân vẫn đang phải dùng nước giếng khoan hoặc giếng đào Song phần lớn nguồn nước giếng bị phèn và ô nhiễm từ bãi rác, nên khi dùng cho ăn uống, thường phải lọc 2 - 3 lần nhưng vẫn không đảm bảo vệ sinh Đặc biệt với những hộ dân sống gần bãi rác Trảng Dài, nguồn nước đều bị ô nhiễm nặng, nhiều hộ không thể dùng để ăn uống, sinh hoạt, phải mua nước từ 100-200 ngàn đồng/ tháng Nhiều hộ do không có điều kiện nên phải dùng nguồn nước
ăn, việc giặt giũ, tắm rửa tiết kiệm tối đa
Chỉ cách nhà máy nước chừng 3-5 km, nhưng hàng ngàn hộ dân ở 4 xã, phường thuộc TP Biên Hòa gồm: Hóa An, Tân Hạnh, Bửu Hòa, Tân Vạn vào mùa khô chịu
Trang 27tình trạng thiếu nước sinh hoạt triền miên Vì vậy, hàng năm cứ đến mùa khô, thiếu nước trở thành nỗi ám ảnh của nhiều gia đình
Ở xã Tân Hạnh và phường Tân Vạn, nước máy chảy cũng rất yếu và 3-4 năm nay cứ đến mùa khô, cảnh thiếu nước sạch sinh hoạt cũng diễn ra thường xuyên Tuy nhiên, vào ban đêm, nước máy cũng chảy được 2-3 tiếng nên người dân đành phải thức đêm
để hứng nước dùng cho cả ngày
.Trước tình hình thiếu nước gay gắt ở 4 xã, phường trên, Công ty TNHH MTV cấp nước Đồng Nai đã “chữa cháy” bằng cách tổ chức tuần 2 lần vào thứ 3 và thứ 6 cho xe bồn chở nước tới xã Hóa An và phường Bửu Hòa cung cấp miễn phí cho người dân, thế nhưng cũng chỉ khắc phục phần nhỏ về tình trạng thiếu nước của người dân
Khu vực Hóa An, Tân Hạnh, Bửu Hòa và Tân Vạn thiếu nước là do nằm ở cuối nguồn, đường ống chuyển tải xa nên áp lực một số nơi yếu Công ty đã có biện pháp khắc phục như tăng công suất nước lên nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ theo nhu cầu của
bà con Hiện công ty đang tiến hành đầu tư cụm xử lý nước ở Hóa An với công suất 2 ngàn m3/ngày đêm, khi đó sẽ giảm thiếu nước thường xuyên cho các địa bàn này [9]
Hệ thống cấp nước hiện nay so với trước đây đã được cải thiện rõ rệt:
- Công suất từ 36.000m3/ngày đêm đã nâng lên 50.000m3/ngày đêm
- Mạng lưới phân phối đã tăng lên và tỷ lệ thất thoát giảm
- Tiêu chuẩn hệ thống cấp nước Tp Biên Hoà hãy còn nhiều yếu kém:
- Mới chỉ phục vụ được 70% dân số với tiêu chuẩn dùng nước còn thấp: 100 l/người/ngày (kể cả công nghiệp) nhưng do rò rỉ nên thực tế chỉ là 671/người/ngày
- Mạng lưới đường ống đã xây dựng quá lâu (hiện còn trên 20 km ống xây dựng trên 70 năm chưa được thay thế) nên ống bị hư, đóng cặn và mục nát nhiều nên tỷ lệ rò rỉ tồn thất nước còn cao Công trình thu nước của NMN Biên Hòa nằm ở hạ lưu khu dân cư và chợ
Trang 28Biên Hòa, nước bẩn không được xử lý thải ra hàng ngày hiện đang gây ô nhiễm cho nguồn nước sông Đồng Nai
1.5 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC BIÊN HÒA
1.5.1 Lịch sử hình thành NMN Biên Hòa
Nhà máy nước Biên Hòa thuộc công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai, là đơn vị sản xuất nước sạch cung cấp cho mạng nước sạch Tp Biên Hòa và các vùng phụ cận NMN Biên Hòa có công suất 50.000m3/ngày đêm đặt tại địa điểm 48 Cách mạng tháng 8, phường Quyết thắng Tp-Biên Hòa, cách sông Đồng Nai bằng con đường (Cách mạng tháng 8) khoảng 40m
NMN Biên Hòa là một nhà máy được xây dựng vào năm 1928 và bắt đầu đi vào hoạt động năm 1930 với một trạm bơm công suất nhỏ 1500 m3
/ngày đêm
Năm 1967-1969 được sự hỗ trợ của Australia, nhà máy đã được đầu tư mở rộng với công suất 18000 m3/ngày đêm, ứng dụng công nghệ xử lý: bể phản ứng kết hợp bể lắng đứng Accelator và bể lọc nhanh, điều áp bằng thủy lực
Năm 1982-1987 được sự giúp đỡ của Liên Xô và Pháp, nhà máy một lần nữa được đầu tư và mở rộng để nâng công suất lên 24000 m3/ngày đêm
Năm 1992-1994 để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nước ngày càng cao nên công ty đã nâng công suất xử lý của nhà máy nước Biên Hòa đạt 36000 m3
Để đánh giá chất lượng nước sạch cần tiến hành đánh giá thông qua các tiêu chí: chất lượng nước thô, chất lượng nước sau xử lý tại nhà máy và nước ra mạng lưới
Trang 291.5.2 Hệ thống cấp nước của nhà máy nước Biên Hòa
Hệ thống cấp nước Biên Hòa bao gồm:
+ Nguồn nước thô: Sử dụng nguồn nước sông Đồng Nai, lưu lượng nước sông 0,45m3/s Địa điểm lấy cách đáy sông 5m cách bờ sông 50m
- Ống dẫn nước thô D450 dài 125m
- Cầu bơm được lắp đặt các hệ thống cản rác
Hình 1.2: Trạm bơm nước thô của NMN Biên Hòa
+ Nhà máy xử lý nước Biên Hòa
+ Mạng lưới đường ống và thủy đài, bể chứa
Để đánh giá chất lượng nước cấp của hệ thống cấp nước của NMN Biên Hòa cần phải đánh giá từ chất lượng nước thô, chất lượng nước đã được xử lý tại nhà máy đến chất lượng nước ngoài mạng lưới
Trang 30
Hình 1.3: Quy trình công nghệ xử lý nước tại nhà máy nước Biên Hòa
1.6 VAI TRÒ VÀ HIỆN TRẠNG CỦA ĐOẠN SÔNG ĐỒNG NAI CHẢY QUA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
1.6.1 Vai trò của đoạn sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa
Đoạn sông Đồng Nai chảy qua Tp Biên Hòa thuộc vùng hạ lưu của sông Đồng Nai
có vai trò trong cấp nước phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế xã hội cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó là thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai
Nước sông Đồng Nai
Trạm bơm cấp 1
Bể phản ứng kết hợp bể lắng đứng Acelator
Lọc nhanh
Nước sạch
Bể chứa Trạm bơm cấp 2
Dung dịch clor
bùn
Trang 31Các công trình cấp nước tiêu biểu quan trọng cho thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương là: NMN Hóa An, NMN Biên Hòa và NMN Bình An Các công trình này nằm trên đoạn sông chảy qua Tp Biên Hòa Do vậy, đoạn sông Đồng Nai chảy qua Tp Biên Hòa có vai trò rất quan trọng trong việc cấp nước phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội [5]
1.6.2 Hiện trạng về sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa
Hình 1.4: Sông Đồng Nai khu vực cầu Hóa An
Sông Đồng Nai chia làm 2 chi lưu lớn khi đi qua trung tâm Tp Biên Hòa và có tên gọi là sông Cái (dài 4 km) và sông Đồng Nai (dài 14km), 2 chi lưu này hợp với nhau tạo nên vùng đất cù lao Hiệp Hòa (Cù lao phố ) Lưu lượng dòng chảy chính của đoạn sông này (sông Đồng Nai ) nằm về phía Đông Nam Sông Cái là chi lưu nhỏ có lưu lượng dòng chảy kém hơn nhiều so với dòng chảy chính nhưng lại nằm về phía Tây Bắc của đoạn sông này (phía trung tâm thành phố) nên hầu hết các loại nước thải phát sinh từ các hoạt đông kinh tế- xã hội của thành phố đều đổ vào chi lưu này Chính vì vậy chất lượng của chi lưu sông Cái kém hơn chi lưu sông Đồng Nai rất nhiều [5]
Trang 321.7 HIỆN TRẠNG MẠNG PHÂN PHỐI NƯỚC CHO DÂN CƯ
-Khu vực phường Quang Vinh :
Ống chính sử dụng chất liệu ống gang dẻo
Các ống nhánh vẫn sử dụng là ống sắt tráng kẽm
Tại phường đã được thay một số ống nhánh bằng ống HDPE
- Khu vực phường Thanh Bình, Hòa Bình, Trung Dũng:
Tại những phường này sử dụng ống lớn là ống gang xám, số lượng ống sắt tráng kẽm rất nhiều Những ống này có từ thời thành lập nhà máy đến nay nên chất lượng không còn tốt lắm
1.7.2 Hiện trạng rò rỉ nước tại thành phố
Hiện nay tại Tp Biên Hòa khối lượng ống cũ chiếm đa số nên vấn đề rò rỉ là vấn đề cần quan tâm Theo báo cáo của NMN Biên Hòa thì tỉ lệ rò rỉ năm 2010 là 30%, đến năm 2011 thì tỉ lệ rò rỉ đã có giảm nhưng vẫn còn cao, 26%
Nguyên nhân gây ra rò rỉ:
- Áp suất trên mạng lưới: lượng nước rò rỉ, tần suất xuất hiện các chỗ ống vỡ tỉ lệ thuận với áp lực trên mạng
- Đất chuyển động do thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, sụt lún, địa chấn…
- Tình trạng của đường ống
- Chất lượng vật liệu, nhân công
- Tính chất đất ảnh hưởng đến thời gian và khả năng phát hiện chỗ rò
- Tải trọng động từ giao thông
Trang 33- Tuổi thọ đường ống
- Các ống gang, thép không có lớp tráng xi măng bên trong (kể cả ống tráng kẽm), sau thời gian sử dụng dài tiếp xúc với nước, đặc biệt là với sự có mặt của chất khử khuẩn Clo dư trong nước, hoặc khi nước máy nhiễm mặn sẽ làm cho quá trình ôxy hoá mặt trong của ống tăng nhanh, tạo nên một lớp rỉ xốp ở lòng ống, gây nên hiện tượng nước đục, hàm lượng sắt cao
- Bên cạnh đó, kiểu ống gang, thép cũ thường sử dụng mối nối miệng xảm bằng xi măng và dây day (mối nối cứng) do đó mỗi khi bị tác động của lực bên ngoài, như xe chạy ngang qua, nền đất không ổn định thường hay bị sự cố làm mất nước trên diện rộng, hoặc gây rò rỉ tại mối nối
- Tình hình thổ nhưỡng tại khu vực cũng là nguyên nhân gây nên sự ăn mòn bên ngoài ống, dẫn đến ống có thể bị rò rỉ, ảnh hưởng đến chất lượng nước
- Các chất cặn lắng bên trong ống có thể tạo thành các chỗ trú cho các vi khuẩn và chúng làm hỏng chất lượng nước sạch
1.7.4 Quy chuẩn đánh giá chất lượng nước cấp
Để đánh giá chất lượng nước cấp thì cần phải đánh giá chất lượng nước thô và chất lượng nước đã được xử lý
Đánh giá chất lượng nước thô thì có các quy chuẩn Việt Nam sau:
- QCVN 08:2008/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
- QCVN 09: 2008/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
Trang 34- Chỉ số chất lượng nước tổng hợp WQI
Đánh giá chất lượng nước sau xử lý có các quy chuẩn sau:
- QCVN 01:2009/BYT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống
- CVN 02:2009/BYT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
1.8 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC CẤP
1.8.1 Tại Hà Nội
Hiện nay, nước máy ở Hà Nội sử dụng như là nguồn nước quan trọng trong sinh
hoạt Nước sinh hoạt bị nhiễm các kim loại nặng là một vấn đề đáng lo ngại Mô tả và
đánh giá hàm lượng các kim loại nặng trong nước máy tại các quận khác nhau tại Hà
Nội là rất có ý nghĩa đối với đời sống dân sinh trên địa bàn thủ đô Phương pháp đánh
giá là lấy mẫu nước sinh hoạt của một số gia đình tại các khu vực khác nhau tại Hà Nội
và phân tích các chỉ tiêu kim loại nặng như: As, Cd, Cr, Cu, Fe, Mn, Mo, Ni, Pb, Se,
Zn trên thiết bị phân tích quang phổ phát xạ nguyên tử ICP Kết quả nghiên cứu cho
thấy phần lớn nước máy tại khu vực khác nhau tại Hà Nội là đạt yêu cầu về các chỉ tiêu
kim loại nặng so với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (QCVN
01: 2009/BYT) Tuy nhiên, để đảm bảo độ tin cậy cao hơn trong phép phân tích các
kim loại như Asen, Selen cần phải sử dụng kỹ thuật tạo Hydride khi phân tích trên ICP Tuy nhiên với phương pháp lấy mẫu và đánh giá chỉ đánh giá được một phần chưa
đánh giá được chất lượng nước trên hệ thống Tại Hà Nội chưa thực hiện được việc tìm
kiếm, khoanh vùng rò rỉ để xác định được các điểm rò rỉ Tại các đường ống bị rò rỉ sẽ
được thâm nhập vào với nước bị ô nhiễm dẫn đến chất lượng nước cấp bị ảnh hưởng
[4]
1.9.2 Tại Huế
Theo công ty TNHH MTV Xây dựng và cấp nước Thừa Thiên Huế, vì tiêu chuẩn
chất lượng nước uống theo quy định của Bộ Y Tế về độ đục còn quá cao, mức tối đa
Trang 35cho phép lên đến 2NTU, do đó đã xảy ra tình trạng đóng cặn trong HTCN, làm ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp, gây đục nước
Trước thực trạng đó, công ty TNHH MTV Xây dựng và cấp nước Thừa Thiên Huế
đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự đóng cặn và các giải pháp khắc phục sự đóng cặn trong HTCN sạch nhằm đảm bảo cấp nước uống an toàn”
Quá trình nghiên cứu, phân tích hàm lượng cặn trong ống, xác định được nguyên nhân cơ bản của các chất gây nên đóng cặn chủ yếu, công ty đã đưa ra nhiều giải pháp khắc phục hiệu quả, cụ thể:
- Đối với loại cặn tích tụ tại các bể chứa và trong đường ống cấp nước, nguyên nhân
cơ bản là do tiêu chuẩn độ đục theo quy định của Bộ Y Tế còn quá cao, mức tối đa cho phép lên đến 2 NTU, nên còn tồn dư nhiều Al(OH)3 (chiếm gần 70% trọng lượng cặn)
và Fe2+ Mn2+ còn cao do hiệu quả quá trình xử lý nước không cao, keo tụ, lắng kết và lọc loại bỏ không hoàn toàn các cặn bẩn có kích thước bé Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã đề xuất áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp nhằm hạ độ đục nước sau xử lý xuống dưới 0,2 NTU như: Xây dựng yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn cho từng công đoạn
xử lý nước; xây dựng các quy trình, giám sát chặt chẽ quá trình xử lý nước theo ISO 9001:2000, ISO 17025; xử lý hạ thấp Sắt và Mangan tồn dư xuống dưới 0,02 mg/l
- Đồng thời sử dụng mút đặc chủng (với áp dụng sáng kiến cắt dọc quả mút thành 4 miếng, bọc vải áo giáp và chổi quét vào quả mút) để thông rửa bên trong các tuyến ống trên toàn mạng cấp Nhờ đó, đã loại bỏ hoàn toàn tất cả các loại cặn lưu cũ trong toàn
bộ HTCN với chi phí tiết kiệm nhất
- Đối với loại cặn phát sinh bên trong các tuyến ống là do các ống gang, thép không
có lớp bảo vệ bên trong hoặc có lớp bảo vệ không vững chắc Chúng tôi đã đề xuất xử
lý bề mặt và tráng bảo vệ bên trong các loại ống này bằng cách sử dụng máy quay ly tâm ở tốc độ cao để tạo một lớp vữa xi măng tráng phía trong thành ống; thử áp lực ống
Trang 36sau khi phục hồi; thay thế các mối nối cứng, xảm bằng dây đay và xi măng bằng mối nối mềm roăng cao su ty tông
- Đồng thời với các giải pháp trên, nghiên cứu cũng đề xuất thực hiện tốt công tác vệ sinh, súc rửa các tuyến ống trước khi đưa vào sử dụng bằng cách dùng mút để thông rửa, sử dụng mũi khoan điểm khởi thuỷ có thể lấy phế liệu sau khi khoan ra khỏi đường ống (do Cowasu sáng kiến chế tạo) Kiện toàn hệ thống van xả; tăng cường công tác vệ sinh, súc xả các tuyến ống trên toàn mạng cấp Sử dụng ống mới đảm bảo tiêu chuẩn trong thi công, nhất là ống gang, thép có lớp bảo vệ bên trong hoặc ống HDPE chất lượng cao nhằm loại bỏ cặn phát sinh bên trong ống [11]
1.9.3 Tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 3 năm 2006, mạng lưới cấp nước Tp Hồ Chí Minh xảy ra hiện tượng nước đục vàng hoặc nâu trên diện rộng làm cho người dân thiếu nước sạch để sử dụng đã có một số nghiên cứu kết luận về vấn đề này trong đó chất lượng nước cấp sau xử lý của NMN Tân Hiệp với nhiều biến động như nồng độ mangan, độ đục còn khá cao cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng nước đục với tình trạng như trên Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn đã tiến hành triển khai kế hoạch cấp nước an toàn cho NMN Tân Hiệp
Sau 6 tháng triển khai kế hoạch cấp nước an toàn, NMN Tân Hiệp đã thu được một số kết quả:
-Đã kiểm soát được các chỉ tiêu chất lượng nước mặt dao động bất lợi cho quá trình xử
lý
-Chất lượng nước cấp sau xử lý luôn đạt tiêu chuẩn
-Nồng độ mangan trong nước cấp được xử lý xuống thấp dưới 0,05 mg/l góp phần khắc phục được tình trạng nước đục trong mạng lưới [7]
Trang 371.9 WATERGEMS – GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ MÔ HÌNH HÓA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NƯỚC
WaterGEMS là một giải pháp mô hình hóa thủy lực và mô hình chất lượng nước, tích hợp cho hệ thống phân phối nước với tính tương thích cao, khả năng xây dựng mô hình không gian, tối ưu hóa, là một công cụ quản lý tài sản Từ việc phân tích họng cứu hỏa, cho tới lượng điện năng tiêu thụ và quản lý chi phí đầu tư, WaterGEMS cung cấp một môi trường đơn giản và thân thiện với kỹ sư trong công tác phân tích, thiết kế, tối
ưu hệ thống phân phối nước
Một sản phẩm, một tập tin mô hình, hỗ trợ bốn môi trường làm việc Người dùng WaterGEMS sẽ được tận hưởng sức mạnh linh hoạt của chương trình vì được hỗ trợ làm việc qua các môi trường CAD, GIS và môi trường độc lập chỉ bằng việc sử dụng một nguồn dữ liệu, dễ dàng chia sẻ và dùng chung giữa nhiều người Các tiện ích xây dựng sẵn của WaterGEMS hỗ trợ cả bốn môi trường tích hợp, tất cả chỉ trong một sản phẩm phần mềm Không cần phải lựa chọn vì tất cả các môi trường đều tương thích với WaterGEMS:
- Stand - alone: phiên bản chạy độc lập, dễ dàng sử dụng và tiếp cận, hiệu suất sử dụng cao
- Tích hợp trên ArcGIS: để tích hợp với môi trường GIS, lập bản đồ chuyên đề, và xuất bản
- Tích hợp trên MicroStation: là cầu nối giữa hai môi trường thiết kế kỹ thuật và môi trường dữ liệu không gian
-Tích hợp trên AutoCAD: cho sự thuận tiện trong thiết kế và giao diện đồ họa CAD Các đơn vị tư vấn, thiết kế có thể chia sẻ một bộ dữ liệu, được sử dụng trên nhiều phần mềm khác nhau, và đội ngũ kỹ sư mô hình hóa có thể được tận dụng kĩ năng của nhiều bộ phận khác Người kỹ sư sử dụng kiến thức và kĩ năng với môi trường sử dụng quen thuộc của mình trong khi trình diễn kết quả trong nhiều môi trường khác
Trang 38Giao diện WaterGEMS tích hợp trên ArcGIS cho phép những chuyên gia GIS sử dụng kiến trúc cơ sở dữ liệu không gian (Geodatabase) để đảm bảo khả năng mô hình hóa và thực hiện các tiến trình GIS chỉ trong một bộ dữ liệu Họ có thể tạo, chỉnh sửa, tính toán và trình diễn mô hình của WaterGEMS một cách trực tiếp trong ArcMap với đầy đủ quyền truy cập tới mọi công cụ mô hình hóa thủy lực, cũng như sử dụng các chức năng xử lý không gian một cách hiệu quả hơn trong tiến trình xây dựng mô hình
Các công cụ xây dựng mô hình không gian
Kỹ sư có thể sử dụng dữ liệu không gian, bản vẽ CAD, cơ sở dữ liệu, và bảng tính
dữ liệu để làm nguồn dữ liệu, phục vụ cho tiến trình xây dựng mô hình WaterGEMS cung cấp khả năng đồng bộ hóa kết nối dữ liệu, kết nối dữ liệu không gian, và một mô-đun xây dựng tiên tiến có thể kết nối với hầu hết các định dạng dữ liệu số WaterGEMS bao gồm các mô-đun:
- LoadBuilder™ và TRex™: giúp đỡ người kỹ sư trong công việc ấn định nhu cầu
sử dụng và cao trình nốt dựa trên dữ liệu không gian chẳng hạn như shapefile, cơ sở dữ liệu không gian Geodatabase, nhiều loại dữ liệu mô hình số độ cao DEM, DTM, thậm chí là bản vẽ CAD Những mô-đun này giúp cho người kỹ sư tránh các lỗi nhập liệu bằng tay quan trọng và sắp xếp hợp lý tiến trình xây dựng mô hình WaterGEMS cũng cung cấp công cụ xem và kết nối các bản vẽ để đảm bảo toàn tính liên kết giữa các đối tượng trong mô hình thủy lực
- Skelebrator®: tự động lược giản hóa các liên kết phức tạp trong mạng lưới , trong khi vẫn giữ gìn được tính tương đương về mặt thủy lực, để nâng cao tính hiệu quả trong ứng dụng mô hình Tối ưu hóa, hiệu chỉnh, thiết kế và vận hành mô hình WaterGEMS có một bộ công cụ tính toán tối ưu sử dụng thuật toán di truyền giúp hiệu chỉnh, thiết kế và phục hồi hệ thống một cách tự động, gồm có các mô - đun sau:
- Darwin® Calibrator : giúp người dùng nhanh chóng tìm ra một giả thiết hiệu chỉnh mô hình nhằm phù hợp với các kết quả đo về lưu lượng, áp lực và tình trạng thực
Trang 39tế Điều này cho phép người dùng có thể ra những quyết định có độ tin cậy cao dựa vào
sự chính xác khi mô phỏng thủy lực thế giới thực, Darwin Calibrator ước lượng hàng triệu giải pháp có thể xảy ra để cho ra một giả thuyết hiệu chỉnh phù hợp nhất
- Darwin® Designer: tự động tìm ra giải pháp thiết kế hoặc phục hồi, dựa trên các tiêu chí lợi ích tối đa hoặc chi phí tối thiểu, dựa trên vốn đầu tư, chi phí di chuyển, và các ràng buộc về mặt áp lực cũng như vận tốc nước [22]
Trang 40CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP, TỔNG HỢP TÀI LIỆU
Phương pháp này thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu: cần đến các Sở, Ban ngành địa phương, công ty cấp nước tỉnh để thu thập thông tin
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên
- Tình hình phát triển kinh tế – xã hội
- Báo cáo hiện trạng môi trường Tp Biên Hòa
- Các tài liệu về nước cấp trong nước và nước ngoài
- Tài liệu về NMN Biên Hòa
- Tìm hiểu về hệ thống xử lý nước của NMN Biên Hòa
+ Thu thập kết quả quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai đoạn chảy qua Tp Biên Hòa từ năm 2007-2011của trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường Đồng Nai gồm các thông số: pH, độ đục, DO, COD, BOD, TSS, NH3, NO2-, sắt tổng, coliform và độ mặn (chỉ thu thập các kết quả tại khu vực cấp nước )
+ Thu thập số liệu chất lượng nước thô từ họng thu tại NMN Biên Hòa từ 2007-2011 gồm các thông số: pH, độ đục, DO, COD, BOD, TSS, NH3, NO2-, sắt tổng, coliform + Thu thập số liệu chất lượng nước sau xử lý của NMN Biên Hòa từ 2007-2011 gồm các thông số: pH, độ đục, clo dư, nitrit, nitrat, sắt tổng, mangan, sulphat, độ cứng và vi sinh
+ Thu thập số liệu về mạng lưới cấp nước, tìm hiểu về tình trạng rò rỉ và thất thoát nước của Tp Biên Hòa