Các Khu công nghiệp phát triển, nhà máy mọc lên khắp nơi nhất là các nhà máy dọc theo lưu vực của sông đã thải ra một lượng không nhỏ chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu ch
Trang 1CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tây Ninh với đặc thù là một trong những khu vực đầu nguồn của lưu vực hệ thống sông Đồng Nai (LVHTSĐN) và Tây Ninh cũng thuộc một trong các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) với các hoạt động kinh tế -
xã hội (KT-XH) ngày một phát triển Biểu hiện rõ là sự hình thành và phát triển các Khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiêp (CCN) và khu đô thị tập trung ngày càng nhiều Các Khu công nghiệp phát triển, nhà máy mọc lên khắp nơi nhất là các nhà máy dọc theo lưu vực của sông đã thải ra một lượng không nhỏ chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn trong đó lưu vực sông Vàm Cỏ Đông là một trong những lưu vực trực tiếp tiếp nhận lượng lớn các nguồn thải trên Trong thời gian gần đây chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông có dấu hiệu bị ô nhiễm hữu
cơ và vi sinh kèm theo đó là các sự cố cá chết trên sông Vàm Cỏ Đông ngày càng nhiều gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho nông dân.Do vậy, nếu như không có các hành động kiểm sóat và khống chế nguồn nước thải sẽ dẫn đến làm hại đến môi trường nước mặt của các khu vực thuộc hạ lưu sông Đồng Nai nơi tiếp nhận nước sông Vàm Cỏ Đông nói chung
Chính tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (BVMT) tại khu vực nhạy cảm này, nhiều Quyết định và Thông tư được ban hành để hướng tới mục tiêu bảo
vệ nguồn nước Cụ thể, Thủ tướng chính phủ đã ký các Quyết định : Quyết định 187/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 03/12/2007 về việc phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, Quyết định số 157/2008/QĐ-TTg ngày 01/12/2008 về việc thành lập Ủy Ban BVMT LVHTSĐN, gồm các thành viên là lãnh đạo 12 tỉnh thành trong lưu vực và các Bộ ngành liên quan Tiếp theo đó là Thông tư 02/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 19/03/2009
về Quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước …
Tuy nhiện, tại lưu vực sông Vàm Cỏ Đông trên địa phận tỉnh Tây Ninh vẫn chưa được tập trung nghiên cứu sâu, chưa có các chương trình quản lý chất lượng nguồn nước sông VCĐ đặc thù
Trang 2Do vậy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu hiện trạng, dự báo chất lượng nước sông do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là các hoạt động sản xuất công nghiệp cũng như đưa ra được tình trạn chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông để làm tiền đề cho việc xây dựng các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông
Do đó luận văn cao học “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất công nghiệp đến chất lượng sông Vàm Cỏ Đông đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Tây Ninh” là cần thiết và cấp bách
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng thể của đề tài là đánh giá hiện trạng và dự báo chất lượng nước sông bị ảnh hưởng bởi các hoạt động phát triển kinh tế xã hội cụ thể là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp từ đó đề xuất các biện pháp hạn chế ảnh hưởng của nước thải tới chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông trên địa phận tỉnh Tây Ninh
1.3 ĐỐI TƯỢNGVÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thu thập tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnhTây Ninh và đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường công nghiệp và môi trường đô
thị trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Trang 3- Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước lưu vực hệ thống sông Vàm
Cỏ Đông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
- Điều tra, đánh giá các nguồn thải công ngiệp thải ra lưu vực hệ thống sông
Vàm Cỏ Đông đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Tây Ninh
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với nguồn thải trên lưu vực sông
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được tập trung chủ yếu vào chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông và các nguồn thải phát sinh do các nguồn thải đổ vào sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Từ đó đề xuất ra các biện pháp hạn chế ảnh hưởng do hoạt động sản xuất công nghiệp đến chấ lượng nước sông chảy qua sông Vàm Cỏ Đông
1.4 GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đánh giá ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp và đô thị hóa đến môi trường nước của sông Vàm Cỏ Đông đoạn chảy qua địa phận tỉnh Tây Ninh Chưa đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động công nghiệp, đô thị đến các thành phần khác đối với đối tượng nghiên cứu, và mở rộng hơn là trên phạm vi toàn tỉnh Tây Ninh
Công tác thu thập thông tin gặp khó khăn do sự thận trọng của các doanh nghiệp cho nên số liệu thu thập được có độ chính xác không cao
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá chất lượng môi trường nước mặt của sông Vàm Cỏ Đông do hoạt động công nghiệp Từ đó, đánh giá chất lượng môi trường đất, không khí, sức khỏe của cộng đồng do hoạt động công nghiệp gây nên
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp luận
Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Tây Ninh là nơi sinh sống của rất nhiều dân cư, hoạt động công nghiệp đang phát triển, vì thế khi nghiên cứu môi trường nước chúng ta phải tổng hòa các yếu tố tự nhiên và xã hội, chúng có
Trang 4mối quan hệ mật thiết với nhau và là nguyên nhân gây nên biến đổi về chất lượng nước khu vực nghiên cứu
Môi trường nước được xem là thành phần môi trường, trong đó có sự sống Sự vận động và phản ứng của chúng đối với đối với chất ô nhiễm có những đặc điểm riêng, chất bẩn được chuyển tải từ nơi này đến nơi khác (dưới dạng hòa tan hoặc lơ lửng) Do đó khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các chất bẩn đến môi trường nước, cần tiến hành phân loại các chất bẩn dựa trên tính chất hóa lý và khả năng biến đổi của chúng
1.5.2 Phương pháp cụ thể
1.5.2.1 Phương pháp tổng hợp số liệu, kế thừa các nghiên cứu đã công bố:
Cách thức thực hiện: Thu thập, kế thừa các thông tin, số liệu sẵn có từ các đề tài/dự án/nhiệm vụ đã triển khai thực hiện trước đây trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, các báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, Niên giám thống kê của tỉnh; Mục đích: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Tây Ninh Tìm hiểu diễn biến chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông đoạn chảy qua địa phận tỉnh Tây Ninh
1.5.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa:
- Cách thức thực hiện: Xây dựng tiêu chí lựa chọn danh nghiệp điều tra, Lập mẫu phiếu điều tra, tổng hợp xử lý số liệu điều tra
- Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp tiến hành điều tra: Dựa vào tình hình phát triển kinh tế Khu vực nghiên cứu Lựa chọn ngẫu nhiên các cơ sở sản xuất công nghiệp theo các loại hình có khả năng gây ô nhiễm cao như cao su, chế biến cồn, chế biến đường, tinh bột mì thuộc da, khu công ngiệp …
- Lập mẫu phiếu điều tra: Bộ phiếu điều tra được xây dựng hoàn chỉnh và phải ảnh tương đối đầy đủ bản chất, đặc tính nguồn thải của các loại hình sản xuất công nghiệp chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Phiếu điều tra phải đảm bảo các thông tin
cơ bản của doanh nghiệp như sau:
+ Thông tin cơ bản của DN: bao gồm tên DN, địa chỉ, ngành nghề hoạt động, tổng
số lao động, tổng diện tích và diện tích nhà xưởng, số lượng ống khói…;
Trang 5+ Thông tin trong quá trình sản xuất:
Quy trình sản xuất, nguyên vật liệu và hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất, sản phẩm chính của DN;
Tổng lượng nước sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất, tổng lượng nước thải, chất lượng nước thải ra môi trường loại nào (A, B, C hay tuân theo quy định khác)
và nguồn tiếp nhận nước thải ở đâu (cống chung, kênh, rạch hay sông suối…)
Chất ô nhiễm phát sinh (thông tin về các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động tại DN):
o Nước thải: DN có phát sinh nước thải sản xuất không, có HTXL nước thải không, nếu có thì hệ thống đã được nghiệm thu chưa
o Chất thải rắn: xem xét việc phát sinh chất thải rắn tại DN, nếu DN có phát
sinh chất thải nguy hại thì DN có Giấy đăng ký chủ nguồn thải và Hợp đồng xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại không
1.5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Nhập, xử lý các số liệu điều tra bằng phần mềm excel Nhập các kết quả thống
kê, điều tra được thực hiện trên các kết quả phân tích mẫu và Dùng phần mềm excel tính toán tải lượng chất ô nhiễm qua các kịch bản 1,2 và 3 Phương pháp này được
sử dụng trong chương 3 để tính toán tải lượng chất ô nhiễm của các nguồn thải công nghiệp chính trên lưu vực sông Vàm Cỏ Đông
1.5.2.4 Phương pháp đánh giá nhanh: dựa vào các số liệu điều tra, kết quả
phân tích chất lượng nước, hiện trạng, điều phát triển kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu thu thập được, tiến hành đánh giá chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông, phân tích và dự báo các tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động công nghiệp gây ra Phương pháp này sử dụng trong các chương 2,3
1.5.2.5 Phương pháp chuyên gia, hội thảo khoa học: Từ các cuộc hội thảo,
báo cáo chuyên đề, tổng hợp ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý về các giải pháp xử lý chất thải và bảo vệ môi trường lưu vực sông
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trang 61.6.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu sẽ hổ trợ đánh giá và dự báo diễn biến chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế xã hội phục vụ quy hoạch và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Vàm Cỏ Đông nói riêng và hệ thống lưu vực sông Vàm Cỏ Đông nói chung
Nghiên cứu này cũng đề xuất cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tổng hợp chất lượng nước phục vụ bảo vệ và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước sông
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý địa phương trong việc quản lý chất lượng nước trong lưu vực sông và phục vụ cho các nghiên cứu khác có liên quan sau này;
- Nghiên cứu còn đề ra các giải pháp quản lý cụ thể và thiết thực nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 7CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TÂY NINH
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG-TỈNH TÂY NINH [10], [15],
2.1.1 Vị trí địa lý
Là một chi lưu của sông Vàm Cỏ thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông Vàm
Cỏ Đông bắt nguồn từ vùng đồi núi bên lãnh thổ Campuchia chảy vào Việt Nam tại
xã Biên giới, huyện Châu Thành, Tây Ninh, rồi qua các huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng (thuộc tỉnh Tây Ninh) và đi vào địa phận tỉnh Long An qua các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Cần Đước và kết hợp với sông Vàm
Cỏ Tây tạo nên sông Vàm Cỏ và đi ra biển Đông
Tại Tây Ninh, sông Vàm Cỏ Đông chảy từ phía Tây Bắc hướng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hướng Đông Nam chảy qua Thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu lại (tại Tân Trụ) thành sông Vàm Cỏ Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của Vàm Cỏ Đông nên
nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác
Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông – tỉnh Tây Ninh nằm trong khoảng tọa độ từ
10057’08” đến 11046’36” vĩ độ Bắc và từ 105048’43” đến 106022’48” kinh độ Đông (Hình 2.1) Diện tích tự nhiên lưu vực sông Vàm Cỏ Đông khoảng 5.650 km2 (tính
từ thượng nguồn thuộc tỉnh Kompong Chàm – Campuchia đến Gò Dầu Hạ)
Trang 8Hình 2.1 Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh
Trang 92.1.2 Đặc điểm địa hình – địa mạo
Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồi núi cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, do đó địa hình của lưu vực vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng Sông Vàm Cỏ Đông là ranh giới tự nhiên phân chia một cách tương đối hai khu vực tây nam và đông bắc; giữa vùng đồng bằng thấp với các dạng địa hình tích tụ và vùng đồng bằng cao với các núi sót bóc mòn như núi Bà Đen, Trại Bí, B2 Lưu vực sông có địa hình nghiêng dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, được phân làm hai vùng rõ rệt Phía Bắc với địa hình gò đồi dốc, độ cao trung bình từ 10 – 15m Phía Nam địa hình mang đặc điểm của đồng bằng, với độ cao trung bình từ
3 – 5m Địa hình lưu vực sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh nhìn chung là khá bằng phẳng với các bề mặt phù sa cổ được nâng cao trên diện tích rộng Mặt bằng thấp nhất có độ cao từ 3 – 5m so với mực nước biển (phía Tây Gò Dầu) và được chia thành 2 dạng chính:
Địa hình đồi dốc thoải:
Là những bề mặt có độ cao thay đổi trong phạm vi từ 15 – 25m, có khi lên tới trên 30m so với mực nước biển Địa hình này có một ít ở nam Tân Biên và xuất hiện khá nhiều ở các huyện Dương Minh Châu, Hòa Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu
và một ít ở Bến Cầu Các đồi ở đây có đỉnh bằng, tròn, sườn lồi, rất thoải, độ dốc sườn chỉ khoảng 2 – 30 Phần trên của mặt bằng các đồi này có vật liệu thô (bột cát) màu vàng (từ đậm đến nhạt) với độ dày từ 1 – 7 m Phía dưới là lớp laterit khá rắn chắc
Địa hình đồng bằng:
Là địa hình các thềm sông bậc 1 có độ cao tuyệt đối từ 5 đến 10m, các bãi bồi hiện đại chỉ cao hơn mức nước biển từ 2 đến 5m phân bố dọc các lòng sông thành từng dãy rộng từ 20 đến 150m với chiều dài khoảng vài km Với thế nằm thấp, đất ở đây được hình thành từ các sản phẩm tích tụ mà chủ yếu là các aluvi hiện đại Khối vật liệu từ thô đến mịn chứa nhiều xác thực vật kém phân hủy tạo nên than bùn, đất than bùn, đất lầy than bùn với diện tích hẹp và rải rác
Trang 10Nhìn chung, địa hình quanh lưu vực tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng
2.1.3 Đặc điểm khí hậu – khí tượng
Khí hậu ở lưu vực sông Vàm Cỏ Đông mang tính đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nên khí hậu nóng ẩm, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 04 năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11
2.1.3.1 Nhiệt độ không khí:
Chế độ nhiệt quanh năm cao, tương đối ôn hòa, ít biến động, thường chỉ dao động trong khoảng 0,5 – 10C
Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 26 – 270C
Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4, thấp nhất là tháng 1 và tháng
12 Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 3,70C
Nhiệt độ trong ngày luôn thay đổi, nhiệt độ thường đạt giá trị cao nhất lúc 13 –
14 giờ và thấp nhất lúc 4 – 5 giờ Chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm khá lớn, nhất là vào mùa khô (8 – 100C hoặc hơn nữa)
2.1.3.2 Chế độ mưa:
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 đến 2.200 mm
Lượng mưa năm lớn nhất từ 2.300 đến 2.500 mm
Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chiếm 83,6 – 94,5% tổng lượng mưa của cả năm Mùa mưa thường xảy ra dạng mưa rào to, nặng hạt, mau tạnh, vào những tháng đầu mùa mưa thường có giông, sấm sét Mưa phân bố rất không đồng đều, vào mùa mưa (tháng 5 – 11) trong khoảng 120 – 140 ngày mưa với trị số trung bình hàng tháng 200 – 300 mm Lượng mưa lớn ngày, tuần, tháng phần nhiều xuất hiện vào tháng 09 và tháng 10 hàng năm
Mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc Mùa khô kéo dài trong 5 tháng (tháng 12 – 4) với lượng mưa rất ít và bức xạ mặt trời lớn làm tăng quá trình bốc hơi một cách
Trang 11mãnh liệt, dẫn đến hiện tượng khan hiếm nước, xảy ra hạn hán vào cuối mùa khô, nhất là các vùng đất cao
Chế độ gió:
Chế độ gió ở khu vực này phản ánh rõ rệt chế độ hoàn lưu của gió mùa Hướng gió thịnh hành trong năm thay đổi theo mùa, khác nhau theo cường độ và phạm vi hoạt động
Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2, là thời kỳ lưu vực chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới phía Bắc, hướng gió thịnh hành trong các tháng này chủ yếu là hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc Tốc độ gió trung bình 5 – 7m/s, tần suất 25 – 45%;
Gió mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 10, là thời kỳ chịu ảnh hưởng các khối không khí nóng ẩm ở phía Tây Nam Tháng 5 hướng gió thịnh hành là Đông Nam, từ tháng 6 đến cuối tháng 10 thịnh hành gió Tây Nam Tốc độ gió 3 – 5m/s, chiếm 35 – 45%;
Giữa 2 mùa chính có một thời kỳ chuyển tiếp ngắn (tháng 3 và tháng 4) xen kẽ gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc
2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng – lớp phủ thực vật
2.1.4.1 Thổ nhưỡng:
Quanh lưu vực sông Vàm Cỏ Đông chủ yếu là các nhóm đất phù sa, đất than bùn
và nhóm đất phèn
Nhóm đất phù sa: đây là loại đất được hình thành trên phù sa sông hiện đại,
với diện tích khoảng 1.755ha, chiếm 0,44% diện tích đất tự nhiên Gồm:
- Đất phù sa có tầng loang lổ: có diện tích khoảng 1600ha, chiếm tuyệt đại bộ phận đất phù sa trong tỉnh Tây Ninh
- Đất phù sa gley: có diện tích khoảng 90ha, tập trung ở huyện Trảng Bàng, xuất hiện ở địa hình thấp không xa các sông lớn hoặc các rạch, ngòi ngập nước trên
8, 9 tháng hoặc gần như thường xuyên trong năm
Nhóm đất than bùn: ở tỉnh Tây Ninh chỉ có dạng đất than bùn chon vùi với
diện tích hơn 1000ha, chiếm 0.26% quỹ đất, xuất hiện thành từng vệt rải rác, thường
Trang 12xen trong vùng phèn dọc theo hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông tại những địa hình thấp trũng ở Châu Thành, nam Hoà Thành, Gò Dầu và Bến Cầu
Nhóm đất phèn: với tổng diện tích khoảng 25.359ha, chiếm 6,3% diện tích
đất tỉnh Tây Ninh Gồm 3 loại:
- Đất phèn tiềm tàng: có diện tích khoảng 5000 ha, chiếm 1/5 tổng diện tích đất phèn, xuất hiện ở các địa hình thấp, trũng, thường ngập nước thời gian dài Đất này
có ở các khúc uốn sông Vàm Cỏ Đông, phân bố rải rác ở tây nam Châu Thành, Hoà Thành và nối liền trên diện tích khá lớn ở Gò Dầu, Bến Cầu
- Đất phèn hoạt động: có diện khoảng 9300ha, chiến 2/5 tổng diện tích đất phèn, phân bố rải rác chung quanh sông Vàm Cỏ Đông từ nam Châu Thành tới bắc Bến Cầu và Gò Dầu, xuất hiện thành những vùng rộng lớn ở nam Bến Cầu, Gò Dầu và Tây Trảng Bàng
- Đất phèn thuỷ phân: có diện tích khoảng 11000ha, chiếm 2/5 tổng diện tích đất phèn, xuất hiện khá tập trung ở nam Châu Thành, tới Hoà Thành, chung quanh sông Vàm Cỏ Đông
2.1.4.2 Lớp thảm thực vật:
Quanh lưu vực sông Vàm Cỏ Đông là những loại cây thích hợp với vùng nước lợ: thấy xuất hiện một ít dừa nước, các loại thực vật khác như cà na, bình bát, trâm mốc, trâm bột, cứt chuột, nút áo, mua, dành dành, sơn máu đỏ đọt Ngoài ra còn có các loại dây leo như bòng bong, dây choại, mây nước, dây vác…
Dọc theo lưu vực sông từ Châu Thành, Bến Cầu đến Trảng Bảng còn gặp các loại cây cỏ thủy sinh như sen, súng, năn ống, năn kim, năn nỉ, cỏ mồm, cỏ bắc, bang, đưng, sậy, tràm, mua, dứa gai…
2.1.5 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ thôn Suông tỉnh Kompong Chàm – Campuchia ở độ cao 150m so với mực nước biển, chảy qua các huyện Tân Biên, Châu Thành, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đến cửa Rạch Tràm rồi đổ vào địa phận tỉnh Long An qua các thị trấn Đức Huệ, Hiệp Hòa, Bến Lức, Tân Trụ chảy đến ngã ba Bầu Quỳ (Cần Đước –
Trang 13Long An) và hợp lưu với sông Vàm Cỏ Tây thành sông Vàm Cỏ rồi đổ ra sông Soài Rạp và cuối cùng đổ ra biển Đông
Chiều dài sông Vàm Cỏ Đông khoảng 270km Đoạn chảy qua tỉnh Tây Ninh dài
151 km với hệ số uốn khúc 1,78 và độ dốc lòng sông 0,4% Diện tích lưu vực của sông Vàm Cỏ Đông tính đến Gò Dầu hạ là 5.650 km2, lưu lượng bình quân nhiều năm vào khoảng 94 m3/s, lưu lượng bình quân vào những mùa kiệt đạt 10m3/s
Lưu vực sông Vàm Cỏ Đông tương đối kín, trừ trường hợp lũ sông Mêkông lớn
và lượng nước xả từ hồ Dầu Tiếng xuống khoảng 10 – 12 m3/s (năm 1996) sẽ làm
lưu vực bị ảnh hưởng mạnh
Sông Vàm Cỏ Đông bị ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều của Biển Đông Dòng chảy các sông suối tỉnh Tây Ninh phân phối không đều trong năm theo sự phân phối không đều của mưa năm, hình thành 2 mùa rõ rệt là mùa lũ (bắt đầu từ tháng 7 đến hết tháng 11) và mùa cạn (bắt đầu từ tháng 12 đến hết tháng 6 năm sau)
Dòng chảy mùa lũ trên sông bị ảnh hưởng triều rất phức tạp, ảnh hưởng bởi chế
độ bán nhật triều không đều và chế độ nước thượng nguồn Chế độ bán nhật triều trong mùa lũ trên sông Vàm Cỏ Đông lên quá Bến Sỏi
Dòng chảy mùa cạn trên sông bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố mưa, nước ngầm, các nhân tố lưu vực (diện tích lưu vực lớn, độ dốc lưu vực nhỏ, lớp phủ thực vật phong phú, mật độ ao, hồ, sông, suối lớn thì lượng mưa cung cấp cho mùa cạn càng lớn và ngược lại) và chế độ bán nhật triều không đều Về mùa kiệt, triều ảnh
Trang 14hưởng đến Gò Dầu trên sông Vàm Cỏ Đông Trong một ngày có hai lần triều lên và triều xuống, tương ứng với hai đỉnh và bốn chân liên tiếp không bằng nhau Giới hạn triều phụ thuộc vào địa hình lưu vực, độ dốc lòng sông và trữ lượng nước trong sông Sự xâm nhập của dòng triều biến đổi theo thời gian Vào mùa cạn, khi mực nước trên thượng nguồn sông càng ít, triều tiến vào sông càng sâu và đỉnh triều càng giảm, chân triều càng cao làm cho biên độ triều lên cũng như triều xuống càng nhỏ Như vậy, vào mùa cạn triều đưa mặn xâm nhập vào hự lưu các sông thông qua mạng lưới kênh rạch
Bảng 2.1 Hiện trạng các tuyến sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
TT Tên sông
Chiều dài (km)
Chiều rộng (m)
Cao độ đáy trung
kính cong (m)
Cầu, phà, bến đò qua sông
Ma
Đáy sông
Vực sâu
1 Đoạn từ Campuchia đến cầu Bến Sỏi
Đoạn từ biên giới
Đoạn từ Bến Cừ 5 160 100 - 10,5 - 15 > 300
Trang 15ấp Long Vân
Gò Dầu) Bc=40m, To=6,5m Đoạn từ TT Gò
Trang 16- Rạch Bến Đá: có lưu lượng lớn nhất 57,2 m3/s và lưu lượng trung bình mùa kiệt là 3,05 m3/s, là phụ lưu lớn nhất của sông VCĐ, bắt nguồn từ Campuchia chảy qua các huyện Tân Biên, Châu Thành và chảy vào sông Vàm Cỏ Đông tại vị trí xã Phước Vinh, huyện Châu Thành Rạch Bến Đá đang sử dụng làm rạch tiêu thoát nước chính cho khu vực phía Nam huyện Tân Biên và phía Bắc huyện Châu Thành (vẫn còn một số dân cư sử dụng nước cho mục đích nông nghiệp) Từ thị trấn Tân Biên đến hợp lưu với sông VCĐ dài 35 km, bề rộng (10 ÷ 20m), độ sâu (-1,5 ÷ -2m); trong đó đoạn có khả năng khai thác vận tải là đoạn từ cầu Vịnh – xã Hảo Đước đến sông VCĐ (cửa rạch) dài 6 km Hiện tại đoạn sông này chỉ có các phương tiện sông (ghe nhỏ trọng tải 10 – 15T) đang khai thác
- Rạch Tây Ninh: bắt nguồn từ suối Tà Hợp (khu vực ven bờ Tây hồ Dầu Tiếng, huyện Tân Châu) chảy qua trung tâm Thị xã Tây Ninh, huyện Hòa Thành và huyện Châu Thành sau đó ra sông VCĐ Rạch Tây Ninh là phụ lưu lớn thứ 2 của sông VCĐ, hiện đang được sử dụng làm rạch tiêu nước chính cho khu vực thị xã Tây Ninh và một phần các huyện Hòa Thành và Châu Thành (thượng lưu đang sử dụng nước cho nông nghiệp) Tổng chiều dài 25 km, trong đó đoạn có khả năng khai thác vận tải từ thị xã Tây Ninh ra cửa rạch (đổ ra sông VCĐ) có chiều dài 10 km, bề rộng (10 ÷ 15m), độ sâu (-10 ÷ 1,5m) Hiện tại rạch này chỉ có các phương tiện sông loại nhỏ (ghe ≤ 10T) đang khai thác
- Rạch Trảng Bàng: nằm trong địa bàn xã An Hòa (điểm đầu tại TT Trảng Bàng, điểm cuối đổ ra sông Vàm Cỏ Đông, chiều dài 10 km), rộng (10 – 15 km), độ sâu (-1 ÷ -1,5m) Hiện tại rạch này chỉ có các phương tiện nhỏ (ghe ≤ 10T) đang khai thác
Ngoài ra còn có một số rạch như rạch Bàu Nâu (dài 17 km), rạch Rễ (dài 14 km), rạch Nàng Dình (dài 42 km), rạch Bảo (dài 17 km)
- Sông Vàm Cỏ Đông nối với sông Vàm Cỏ Tây bằng các con kênh ngang Mareng – Rạch Gốc, Trà Cú Thượng, kênh Thủ Thừa và các kênh đào T1-T2, T3-T4, T5-T6; nối với sông Sài Gòn bởi các kênh Thầy Cai, An Hạ, Rạch Trà và sông Bến Lức
Trang 17Tây Ninh còn có một hệ thống thủy lợi có nhiệm vụ cung cấp nước và hạn chế quá trình xâm nhập mặn trên sông Vàm Cỏ Đông và các sông rạch khác trên địa bàn tỉnh Hệ thống thủy lợi bao gồm hồ Dầu Tiếng với dung tích thiết kế tối đa là 1,58
tỷ m³ và 1.053 tuyến kênh với tổng chiều dài 1.000 km có nhiệm vụ cung cấp nước cho các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt của tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Long An và thành phố Hồ Chí Minh Lưu lượng và nhiệm vụ một số tuyến kênh chính
- Kênh Đông: lưu lượng 64,5 m3/s làm nhiệm vụ cấp nước cho nhà máy nước Sài Gòn (1,75 m3/s), nhà máy nước Tây Ninh (5 m3/s) và nhà máy nước Long An (4m3/s)
- Kênh Tây: lưu lượng 71,9 m3/s có nhiệm vụ tưới phía bờ tả sông Vàm Cỏ Đông thuộc các huyện Dương Minh Châu, Hòa Thành, thị xã Tây Ninh, Châu Thành, Tân Biên, Gò Dầu và 12.000 ha của Bến Cầu, bờ hữu sông Vàm Cỏ Đông
- Kênh Tân Hưng: lưu lượng 12,8 m3/s làm nhiệm vụ tưới cho 10.071 ha và cấp nước cho nhà máy đường Bourbon Tây Ninh (5,9 m3/s)
Trang 18Bảng 2.2 Đặc trưng hình thái lưu vực các nhánh sông Vàm Cỏ Đông trên lãnh thổ Tây Ninh
Tên sông S Vàm Cỏ R.Nàng
Dình R Bến Đá
R.Tây Ninh
Rạch
Rễ Rạch Bảo
R.Bàu Nâu
R.Trảng Bàng
Diện tích giữa 2 phụ lưu
Trang 19Tên sông S Vàm Cỏ R.Nàng
Dình R Bến Đá
R.Tây Ninh
Rạch
Rễ Rạch Bảo
R.Bàu Nâu
R.Trảng Bàng
Trang 202.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI [14],[15],[18],[20]
2.2.1 Tình hình phân bố dân cư và diễn biến gia tăng dân số
2.2.1.1 Tình hình phân bố dân cư và diễn biến dân số
Tây Ninh đứng thứ 4 trong khu vực miền Đông Nam Bộ Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của tỉnh thay đổi qua các năm, tỉ lệ gia tăng dân số trung bình hàng năm khoảng 1%/năm (cả nước 1,2%), tỉ lệ dịch chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị khoảng 3%/năm
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ lệ trong khu vực nông nghiệp Tỷ trọng lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - thương mại, dịch vụ tương ứng: 53% - 18% - 29% vào năm 2005; 51% - 18.1% - 30.9% vào năm 2007 và đến năm 2009 là 48% - 16,4% - 35,6% Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng lên liên tục từ 23,12% năm 2005 lên khoảng 40% năm 2009
Bảng 2.3 Diễn biến dân số tỉnh Tây Ninh từ năm 2005 đến 2011
Năm Tổng dân số
(người)
Tỷ lệ tăng
tự nhiên (%)
Dân số trung bình (người) Cơ cấu dân số (%) Thành thị Nông thôn Thành thị Nông thôn
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2011
Theo Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh, tổng dân số trên toàn lưu vực sông Vàm
Cỏ Đông vào năm 2011 khoảng 841.849 người, với mật độ dân số bình quân là 598,17 người/km2 (Bảng 2.4)
Trang 21Bảng 2.4 Thống kê các huyện thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông năm 2011
phường
Diện tích (km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2011
Dân số quanh lưu vực sông Vàm Cỏ Đông phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các khu vực thị xã, thị trấn, dọc theo các quốc lộ lớn, khu vực buôn bán sầm uất, phát triển và nơi tập trung nhiều hoạt động công nghiệp như Thị xã Tây Ninh và các huyện phía Nam lưu vực (Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng) Trong khi diện tích đất ở những vùng này ít nên dẫn đến mật độ dân số ở những vùng này cao Các huyện còn lại như Bến Cầu, Châu Thành và Tân Biên có mật độ dân cư tương đối thấp (thấp nhất là 111,4 người/km² thuộc huyện Tân Biên) do các khu vực này có hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp
Trang 22Biểu đồ 2.1 Dân số các huyện thuộc lưu vực sông VCĐ năm 2011
Trang 23Biểu đồ 2.2 Mật độ dân số các huyện thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông năm 2011
Cơ cấu dân số quanh lưu vực sông Vàm Cỏ Đông trong năm 2011 với nữ chiếm 50,4%, dân số thành thị chiếm 18,4% trong tổng số 841.849 người trên toàn lưu vực Nguồn lao động trong tỉnh tương đối phong phú do cơ cấu dân số trẻ, số dân trong độ tuổi lao động là 813.568 người, chiếm 76,20%; trong đó số lao động nữ từ 15 tuổi trở lên là 414.087 người (chiếm 50,90% tổng số lao động của tỉnh) Số lao động tập trung
ở thành thị chiếm 16,26%, trong đó nữ chiếm 52,66%
Bảng 2.5 Dân số trung bình sơ bộ năm 2011 của các huyện thuộc lưu vực sông Vàm
Cỏ Đông – tỉnh Tây Ninh
Đơn vị: người
STT Quận/huyện Tổng số Phân theo giới tính
Phân theo T.thị, nông
thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn
1 Thị xã 126.539 61.902 64.637 69.798 56.741
2 Châu Thành 129.605 65.198 64.407 8.843 120.762
Trang 24STT Quận/huyện Tổng số Phân theo giới tính
Phân theo T.thị, nông
thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh tây Ninh năm 2011
2.2.1.2 Sức ép của dân số và vấn đề di cư đến chất lương môi trường
Dân số tỉnh Tây Ninh qua các năm tăng tương đối chậm, tỉ lệ gia tăng dân số bình quân hàng năm khoảng 1% (cả nước 1,2%) Năm 2011 toàn tỉnh có 1.080.738 người, tăng 1,02 lần so với năm 2006 và tăng 1,08 lần so với năm 2001
Dân số tỉnh phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở Thị xã và các huyện phía Nam của tỉnh như huyện Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng (nơi tập trung các cơ
sở sản xuất và các KCN) với mật độ dân số lần lượt là 904 – 1.685 – 533 – 451 người/km2 Các huyện giáp biên giới với hoạt động nông nghiệp là chủ yếu có mật độ dân số thấp nhất: huyện Tân Châu (111 người/ km2), huyện Tân Biên (110 người/
km2)
Giai đoạn 2006 – 2010, dân số đô thị tăng khoảng 2.686 người/năm, tỉ lệ gia
tăng dân số đô thị khoảng 1,68%/năm [8] Dân số đô thị tăng một phần do di chuyển
lực lượng lao động từ nông thôn lên thành thị Di chuyển lực lượng lao động sẽ làm tăng áp lực đối với các nhà quản lý trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như giao thông, việc làm, nhà ở, trật tự an ninh địa phương, dịch vụ tiện ích công cộng, thoát nước Ngoài ra, di chuyển lực lượng lao động cũng sẽ làm gia tăng tác động đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường do nhu cầu sử dụng nước sạch gia tăng, nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ cho sản xuất kinh doanh gia tăng, gia tăng lượng rác thải
Trang 25đô thị… Đây thực sự là một sức ép lớn do tình trạng cơ sở hạ tầng và quản lý đô thị hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại Do đó, tất cả những tác động này sẽ góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường nếu như các nhà quản lý không có những biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu một cách hợp lý và thích đáng
Bảng 2.6 Tỉ lệ gia tăng dân số tự
nhiên tỉnh Tây Ninh
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên (%)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây
Bảng 2.7 Thống kê dân số tỉnh Tây
Ninh qua các năm
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Trang 26Bảng 2.8 Ước tính lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn
tỉnh Tây Ninh đến năm 2020
Năm
Dân số (người) (*)
Tỉ lệ cấp nước
(l/người.ngày) (**) Tổng lượng
nước cấp sinh hoạt (m³/ngày)
Tổng lượng nước thải sinh hoạt (m³/ngày) (***)
Ghi chú : (*) – Dựa vào tỉ lệ gia tăng dân số 1%/năm;
(**) – Tỷ lệ cấp nước lấy theo TCXDVN33:2006
(***) – Ước tính bằng khoảng 80% tổng lượng nước cấp sinh hoạt
Dự báo lượng nước thải ước tính phát sinh do gia tăng dân số đến năm 2015 và
2020 lần lượt tăng gấp 3,0 lần và 3,2 lần so với năm 2005; gấp 1,3 lần và 1,4 lần so với năm 2010 Đây sẽ là một trong những áp lực chính tác động gây ô nhiễm và suy thoái chất lượng nguồn nước mặt, đặc biệt là nguy cơ gây ô nhiễm đối với các nguồn nước mặt quan trọng của tỉnh là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và hồ Dầu Tiếng, ảnh hưởng tới khả năng sử dụng các nguồn nước mặt để cấp nước đầy đủ cho các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh
Bên cạnh đó, một lượng đáng kể chất thải rắn đô thị cũng sẽ phát sinh do vấn đề gia tăng dân số Theo kết quả nghiên cứu của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, thì hệ số phát thải rác thải sinh hoạt tại các đô thị lớn là 0,8 – 1,2 kg/người/ngày và nhỏ là khoảng 0,5 – 0,7 kg/ người/ngày, dự báo lượng rác thải đô thị phát sinh hàng ngày ở Tây Ninh vào năm 2015 và 2020 sẽ lần lượt tăng lên gấp 1,3 và 1,4 lần so với năm 2005
Trang 27Bảng 2.9 Dự báo tải lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị tỉnh Tây
Ninh đến năm 2020
Năm Dân số đô thị
(người)
Hệ số phát thải CTRSH (kg/người.ngày)
Tổng lượng CTRSH (kg/ngày)
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Tây Ninh đến năm 2030
Đến nay tỉnh chỉ mới xây dựng được một phần của bãi chôn lấp rác có diện tích
20 ha tại xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, còn khu xử lý chất thải rắn có diện tích 30 ha tại ấp Bùng Binh, xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng có công suất 20 tấn rác/ngày và khu xử lý chất thải rắn có diện tích 20 ha tại ấp Bến Rộng, xã Thạnh Đức, huyện Gò Dầu vẫn chưa triển khai được
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị xã Tây Ninh và các thị trấn Hòa Thành, Châu Thành, Tân Châu, Trảng Bàng và Dương Minh Châu được Công ty Công trình đô thị Tây Ninh thu gom và xử lý tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở huyện Tân Châu Các huyện còn lại như Bến Cầu, Gò Dầu, Tân Biên chủ yếu được các địa phương tự thu gom và xử lý thủ công, kém hiệu quả tại các bãi chôn lấp tạm của địa phương nên chưa đáp ứng yêu cầu của bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh, năng lực thu gom và xử lý rác thải của toàn tỉnh ước đạt khoảng 50%
Như vậy, vấn đề rác thải đô thị sẽ gây ra một áp lực đáng kể đối với môi trường
và vệ sinh môi trường đô thị của tỉnh
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế
Nền kinh tế Tây Ninh phát triển tương đối toàn diện, tiếp tục tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, lợi thế trong từng ngành, lĩnh vực được phát huy, khai thác tốt hơn
Trang 28Theo Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 – 2015)[23], tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm 14%/năm; GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 26.410.000 đồng, tương đương 1.390 USD
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Trang 29Bảng 2.11 Tỷ trọng các ngành kinh tế chủ yếu tỉnh Tây Ninh qua các năm
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Tây Ninh năm 2011
Trong những năm gần đây, tỷ trọng của ngành dịch vụ có xu hướng gia tăng, ngành nông lâm ngư nghiệp có xu hướng giảm, còn ngành công nghiệp và xây dựng hầu như thay đổi không đáng kể
2.2.2.1 Phát triển nông nghiệp [21]
Sản xuất nông – lâm – thủy sản tiếp tục duy trì được tăng trưởng cao trong điều kiện khó khăn và thách thức do dịch bệnh, thời tiết Giá trị sản xuất tăng bình quân
hàng năm 6,6% vượt mức tăng bình quân hàng năm đề ra là 5,5 – 6,0% [21]
Tỷ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế có xu hướng giảm, tuy nhiên giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng dần qua các năm, năm
2010 đạt 20.074.994 triệu đồng, tăng 1,4 lần so với năm 2009 và cao hơn năm 2005 khoảng 3,0 lần
Bảng 2.12 Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh phân theo ngành ngành kinh
Trang 302008 5.043.147 4.180.961 710.764 151.422 -
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh, 2011
Nông nghiệp vẫn được xem là một ngành quan trọng, quyết định bước đi lên của tỉnh trong giai đoạn hiện nay Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa thực chất là quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Nông nghiệp phải thực sự trở thành ngành sản xuất hàng hoá, phục vụ cho công nghiệp, tiêu dùng và cho xuất khẩu
Tổng diện tích gieo trồng các cây trồng chính năm 2010 so với năm 2009 như sau: cây thuốc lá tăng 39,8%; cây mía tăng 3,4%; cây cao su tăng 1,6%; cây lúa xấp xỉ năm 2009; Năng suất các loại cây trồng hầu hết đều tăng Chế biến mía đường niên vụ
2010 – 2011 tính đến 12/11/2010 thì cả 03 nhà máy đường đã ký hợp đồng đầu tư, bao tiêu sản phẩm là 31.343 ha bằng 86,6% so với niên vụ 2009 – 2010
Bảng 2.13 Diện tích và năng suất một số cây trồng chủ lực tỉnh Tây Ninh
Trang 31Biểu đồ 2.6 Diện tích các loại cây trồng chủ lực tỉnh Tây Ninh
Nhận xét:
Ngoài cây lúa là cây lương thực chủ yếu thì cây mía, mì, cao su, thuốc lá ….góp phần đáng kể trong việc phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến các loại cây công nghiệp trên Tuy nhiên đây cũng là vấn đề khiến cho môi trường nước sông Vàm Cỏ Đông bị ảnh hưởng do nguồn nước thải chưa qua xử lý từ các nhà máy chế biến gây ra
2.2.2.2Hiện trạng, tiềm năng và sức ép của phát triển công nghiệp đến chất lượng môi trường tỉnh Tây Ninh [14],[15],[18],[20]
a.Hiện trạng phát triển công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 17,6% Trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 25,9%, khu vực dân doanh tăng 15,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,3%
Công nghiệp chế biến nông sản, khai thác khoáng sản, công nghiệp thu hút nhiều lao động tiếp tục phát triển, phát huy được lợi thế, phù hợp với định hướng phát
Nă m 2005
Nă m 2007
Nă m 2008
Nă m 2009
Nă m 2010
Nă m 2011
Trang 32triển Công nghiệp khoáng sản với việc hình thành Nhà máy xi măng Fico Tây Ninh công suất 1,5 triệu tấn xi măng/năm đã đưa tỷ trọng của ngành công nghiệp khoáng sản trong tổng giá trị công nghiệp trên địa bàn từ 1,8% vào năm 2005 lên 13,1% vào năm
2010 Số lượng các dự án công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, đưa giá trị sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 42,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn
Công nghiệp chế biến là thế mạnh của tỉnh Hiện có 3 nhà máy chế biến mía đường với tổng công suất 12.500 tấn mía cây/ngày, mỗi vụ chế biến khoảng 1,2 triệu tấn mía cây; 12 nhà máy chế biến khoai mì với tổng công suất 820 tấn bột/ngày và gần
70 cơ sở chế biến khoai có quy mô nhỏ với tổng công suất 300 tấn bột/ngày; 13 nhà máy chế biến mủ cao su với công suất 38.110 tấn mủ/năm; chế biến hạt điều đạt công suất 16.000 tấn/năm
Theo Báo cáo Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2010 và định hướng kế hoạch năm 2011 [20], đầu tư khu công nghiệp, khu kinh tế
cửa khẩu trên địa bàn tỉnh tính đến ngày 15/11/2010 như sau:
- KCN Trảng Bàng có 153 dự án (118 dự án đầu tư nước ngoài, 35 dự án đầu tư trong nước), tổng vốn đăng ký 419,3 triệu USD và 2.136,7 tỷ đồng
- Khu công nghiệp và chế xuất Linh Trung III có tổng diện tích 203,8 ha với 66
dự án đầu tư sản xuất
- KCN Bourbon – An Hòa, đã chi bồi thường 994 ha, đạt 98,9% diện tích của dự
án (1.005 ha); giá trị bồi thường 514 tỷ đồng; hiện đang xây dựng hạ tầng và đã thu hút
08 dự án (05 dự án đầu tư nước ngoài, 03 dự án đầu tư trong nước), diện tích 12,34 ha với vốn đăng ký 16,59 triệu USD và 64 tỷ đồng
- KCN Liên hợp Công nghiệp – Đô thị - Dịch vụ Phước Đông – Bời Lời đã hoàn thành việc chi bồi thường diện tích 1.176,4 ha (diện tích giai đoạn 1 của dự án 1.212,2 ha); hiện đang xây dựng hạ tầng và đã thu hút 02 dự án đầu tư trong nước và ngoài nước, diện tích 11 ha với vốn đăng ký 15 triệu USD và 15 tỷ đồng
Trang 33- KCN Chà Là đang triển khai đầu tư hạ tầng, đã thu hút 02 dự án đầu tư, diện tích 20,35 ha, vốn đăng ký 18 triệu USD
- KKT Cửa Khẩu Mộc Bài, lũy kế có 46 dự án đầu tư, trong đó có 4 dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩng vực sản xuất và dịch vụ: vận chuyển hành khách, sân goft, kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp và sản xuất giày xuất khẩu Đã có 40 dự án đăng ký vốn 6.217 tỷ đồng và 219 triệu USD; có 14 dự án đi vào hoạt động, 32 dự án đang triển khai thực hiện đầu tư; vốn thực hiên 1.872 tỷ đồng
- KKT Cửa Khẩu Xa Mát, lũy kế có 14 dự án đầu tư trong nước được cấp chủ trương đầu tư; dự kiến tổng vốn đầu tư là 822 tỷ đồng và 200 triệu USD
Theo Quy hoạch phát triển công nghiệp Tây Ninh đến năm 2010 có xét đến năm
2020, mục tiêu chung là giá trị tăng trưởng bình quân tăng thêm hàng năm là 17,5%/(2011 – 2015) và 15%/(2016 – 2020) Cơ cấu giá trị tăng thêm ngành công nghiệp (theo giá hiện hành) trong GDP toàn tỉnh năm 2015 là 43,7% và năm 2020 là 49,5% Nhu cầu về lao động công nghiệp năm 2015 khoảng 123.000 người, trong đó lao động đã qua đào tạo trên 50% Riêng đối với việc phát triển các KCN, CCN tập trung trên địa bàn tỉnh, thì đến năm 2020 dự kiến dành khoảng 10.000 ha đất cho phát triển khu và cụm công nghiệp
Nhìn chung, tốc độ phát triển ngành công nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh là rất cao Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp sẽ làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, song cũng sẽ là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường
Theo tiêu chuẩn của Bộ xây dựng năm 2006 (TCXD 33-2006) thì chỉ tiêu cấp nước cho 1 ha diện tích đất sản xuất công nghiệp tối đa là 45m3 Đến năm 2020, do xu hướng ngày càng tiết kiệm nước, sử dụng nước trong sản xuất có hiệu quả, ước tính lượng nước thải trung bình cho khu công nghiệp còn khoảng 40 m3/ha.ngàyđêm, đây cũng là giá trị thường dùng tính toán cho các dự án cấp nước đối với khu vực các nước Đông Nam Á và tại các đô thị Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 34Dự báo lượng nước thải công nghiệp phát sinh từ các KCN/CCN so với năm
2005 sẽ tăng lên gấp 4,6 lần vào năm 2015 và 5,3 lần vào năm 2020 Lượng nước thải này sẽ được thải vào nguồn tiếp nhận chính là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn, là
2 nguồn nước mặt chính quan trọng của tỉnh Như vậy có thể nói, cùng với nước thải sinh hoạt đô thị, đây cũng là một áp lực lớn đối với chất lượng các nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh, nếu như không có biện pháp giải quyết triệt để và kịp thời việc thu gom, xử lý nước thải công nghiệp tập trung
Bảng 2.14 Dự báo lượng nước thải phát sinh từ các KCN, CCN tỉnh Tây Ninh đến
năm 2020
Năm Diện tích
KCN/CCN (ha)
Tỉ lệ cấp nước KCN/CCN (m³/ha.ngày) (*)
Tổng lượng nước thải (m³/ngày) (**)
(**) – Ước tính bằng khoảng 80% tổng lượng nước cấp
Tải lượng ô nhiễm không khí tại các KCN, CCN tập trung (tính toán dựa vào hệ
số ô nhiễm khí thải trung bình tại một số KCN khảo sát điển hình, so với năm 2005sẽ lần lượt tăng lên khoảng 5 lần vào năm 2015 và 5,98 lần vào năm 2020 Bên cạnh đó, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp– làng nghề và các nhà máy, xí nghiệp nằm ngoài phạm
vi KCN, CCN cũng có thể gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường không khí cục bộ trên các địa bàn cụ thể [15]
Bảng 2.15 Hệ số ô nhiễm khí thải trung bình tại một số KCN khảo sát điển hình
Khu công nghiệp
Trang 35Bảng 2.16 Dự báo tải lượng khí thải phát sinh từ các KCN, CCN tập trung của tỉnh
Tây Ninh đến năm 2020
Năm 2005 (1.003 ha) 7,17 128,68 13,46 2,08 0,90 Năm 2010 (4.000 ha) 28,60 513,20 53,68 8,28 3,60 Năm 2015 (5.000 ha) 35,75 641,50 67,10 10,35 4,50 Năm 2020 (6.000 ha) 42,90 769,80 80,52 12,42 5,40
Nguồn: Báo cáo xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Tây Ninh đến năm 2020
Trang 36hoạt sẽ tăng lên gấp 10,47 lần Đây sẽ là một áp lực lớn đối với công tác quản lý chất thải rắn công nghiệp và sinh hoạt tại tỉnh Tây Ninh, nếu như không giải quyết triệt để
và kịp thời việc thu gom, xử lý chất thải công nghiệp không nguy hại và chất thải nguy hại tập trung Vì theo tình hình thực tế hiện nay, chất thải công nghiệp không nguy hại được thu gom, xử lý đạt khoảng 70% và chất thải nguy hại là khoảng 40-50% (số còn lại được tồn trữ và chờ xử lý) Do đó, vẫn còn tồn tại nguy cơ ô nhiễm nhất định do chất thải công nghiệp không nguy hại chưa được thu gom và xử lý phù hợp Ngoài ra, hiện tượng phổ biến ô nhiễm do chất thải rắn công nghiệp trong quá trình vận chuyển,
xử lý và trao đổi trên thị trường liên tỉnh trong vùng cũng chưa được phòng ngừa và kiểm soát tốt
b.Tình hình vi phạm về xả nước thải chưa qua xử lý do hoạt động sản xuât công nghiệp ra sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn tinh Tây Ninh
Trong nhiều năm qua, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ngày càng được chú trọng Năm 2011 trên địa bàn toàn tỉnh kiểm tra được 726 cơ sở ( trong đó cấp Bộ 06
cơ sở, cấp tỉnh 210 cơ sở, cấp huyện 510 cơ sở) xử phạt vi phạm hành chính 40 cơ sở với tổng số tiền 1,12 tỷ đồng và tạm đình chỉ 10 cơ sở để khắc phục ô nhiễm môi trường Năm 2012 tổ chức thanh tra, kiểm tra 1186 cơ sở ( trong đó cấp tỉnh 358 cơ sở, cấp huyện 828 cơ sở), xử phạt vi phạm hành 34 cơ sở với tổng số tiền 1.195,2 triệu đồng (Sở Tài nguyên và Môi trường xử phạt 10 cơ sở với tổng số tiền phạt là 1.1011,2 triệu đồng; UBND các huyện thị xã xử phạt 24 cơ sở với tổng số tiền là 183 triệu đồng
và tạm đình chỉ 07 cơ sở để khắc phục ô nhiễm môi trường
Bảng 2.18 : Các vụ vi phạm về xả nước thải chưa qua xử lý vào sông Vàm Cỏ Đông
trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ năm 2009-2012
xảy ra
Thời gian xảy ra
Mức độ thiệt hại
Cách ứng cứu khắc phục
Nguồn
1 Ô nhiễm nước
thải của nhà
ấp Suối Dộp, xã 2009
Làm ảnh hưởng
Sở tài nguyên và
Báo cáo đề án Xây dựng quy
Trang 37máy mì Hình
Chang
Thái Bình huyện Châu Thành
mạch nước ngầm của Khu vực
Môi trường tham mưu UBND tỉnh đình chỉ hoạt động
định bảo vệ môi trường Tây Ninh
5/2009
Xử phạt hành chính
và buộc phải hoàn tất công trình xây dựng HTXLNT
Báo cáo đề án Xây dựng quy định bảo vệ môi trường Tây Ninh
xã Tây Ninh
22/06/2010
Ô nhiễm suối Núc (chảy ra Rạch Tây Ninh)
09/05/2012
Xả n ước thải chưa
ra suối Dộp (chảy
ra sông Vàm Cỏ Đông)
UBND tỉnh
ra quyết định xử phạt 170.000.000 đồng
11/07/2012
Xả nước thải chưa qua xử lý
ra suối Đoạn Trần (chảy ra sông Vàm
Cỏ Đông)
Phòng Cảnh sát Môi trường lập biên bản và
xử lý vi phạm hành chính
Thanh niên.com.vn
Trang 38Hình 2.2 :3 lò mì xả nước thải chưa qua xử
lý ra suối Đoạn Trần (12/07/2012)[26]
Hình 2.3Nhà máy đường Biên Hòa xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường (08/07/2012) [25]
c Các sự cố môi trường và hậu quả của sự cố xảy ra tại tỉnh Tây Ninh do hoạt động sản xuất công nghiệp[16]
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước và khả năng tự làm sạch yếu kém của rạch Tây Ninh:
Chất lượng nước rạch Tây Ninh có thể nói là đã bị ô nhiễm nặng nề, không còn chức năng cấp nước sinh hoạt, gây mất mỹ quan trầm trọng nhất là đoạn chảy ngang qua trung tâm thị xã, tuy nhiên ở phía thượng lưu thị xã nguồn nước hiện vẫn đang được sử dụng để tưới Kết quả quan trắc trong năm 2006, 2010 cũng như trong những lần quan trắc trước đây cho thấy nguồn nước này không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt Nhiều đợt quan trắc cho thấy cá chết trôi nổi nhiều trên bề mặt nước và có mùi hôi khó chịu Tại một số vị trí, các chỉ tiêu ô nhiễm về oxy hòa tan, hữu cơ, vi sinh đều vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn đối với nguồn loại B, trong đó, rạch Rỗng Châu là ô nhiễm nặng nhất Mức độ ô nhiễm các chỉ tiêu vi lượng còn rất thấp, đảm bảo đối với nguồn nước loại B cho các loại hình sản xuất công nghiệp trên lưu vực rạch Tây Ninh chủ yếu liên quan đến các ngành chế biến thực phẩm Các giá trị BOD và COD cao hơn vào
Trang 39mùa mưa cho thấy rất nhiều cơ sở sản xuất trên lưu vực đã tập trung xả thải rất nhiều vào thời điểm này
Các nguyên nhân chính yếu và trực tiếp:
- Do các hộ dân sống trên và ven kênh rạch vứt bỏ mọi thứ chất thải và rác rưởi
trực tiếp và nguồn nước một cách vô tội vạ
- Do thị xã chưa có hệ thống xử lý nước thải đô thị tập trung, song song đó, các
công trình xử lý nước thải cục bộ ngay tại các nguồn thải (hộ gia đình, cơ quan, nhà hàng, khách sạn, trường học, bệnh viện, nhà máy, cơ sở chăn nuôi…) còn rất hạn chế
- Do việc xả nước thải ô nhiễm từ các cơ sở công nghiệp ở phía thượng nguồn
rạch Tây Ninh (các cơ sở sản xuất bột mì và mía đường)
- Các nguồn thải do hoạt động nông nghiệp như: các hóa chất trừ sâu, diệt cỏ, các
chất bảo quản hoa quả, kích thích sinh trưởng …
- Lòng rạch Tây Ninh ngày càng bị bồi lắng, gây tắc nghẽn dòng chảy, ảnh hưởng
rất lớn đến khả năng tự làm sạch của rạch
Khả năng tự làm sạch của một con sông hay một con rạch trên thực tế rất khó có thể xác định vì nó phụ thuộc vào rất nhiều như tốc độ dòng chảy, mức độ xả thải, độ sâu của đoạn rạch…Tuy nhiên ta có thể dựa vào sự thay đổi của dòng chảy mà chính xác là vận tốc của dòng chảy, độ sâu…kéo theo nó là khả năng hòa trộn DO và tốc độ tiêu thụ BOD để đánh giá một cách tương đối khả năng tự làm sạch của một con sông, một đoạn rạch
Nhìn chung trên toàn rạch Tây Ninh thì khả năng tự làm sạch là trung bình, có một vài đoạn do sự thay đổi của mặt cắt ướt dẫn đến vận tốc dòng chảy tăng khiến cho khả năng hòa trộn của rạch tăng cao, đưa đến là đoạn sông này có khả năng làm sạch cao
Việc lựa chọn điểm xả thải ứng với các các đoạn sông có khả năng tự làm sạch cao sẽ tốt hơn là xả vào các đoạn có khả năng tự làm sạch kém; đó là các đoạn ứng với các điểm xả thải như cống thoát nước, cầu Mới, cầu Thái Hòa Tuy nhiên, việc xả thải vào môi trường cũng cần phải tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn xả thải ra môi trường
Trang 40Hiện nay, tại những đoạn này dù có khả năng làm sạch tốt nhưng đang có hiện tượng bị
ô nhiễm do việc xả thải ra quá nhiều mà không qua xử lý, không có sự kiểm soát chặt chẽ đối với nguồn thải trước khi được thải bỏ ra tự nhiên
Môi trường nước mặt của tỉnh Tây Ninh có nguy cơ bị ô nhiễm :
Các nguồn nước mặt trên địa phận tỉnh Tây Ninh ngoài 2 hệ thống sông lớn là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn còn có khá nhiều kênh rạch là phụ lưu và chi lưu của 2 con sông chính kể trên Ngoài ra còn phải kể đến các hồ chứa nhân tạo như hồ Dầu Tiếng, hồ nước Tân Châu, hồ suối Nước Trong và những hệ thống kênh mương khác (kênh Đông, kênh Tây )
Hiện trạng chất lượng nước của các hệ thống sông và kênh rạch ở tỉnh Tây Ninh tuy chưa bị ô nhiễm nhiều nhưng xu hướng đang ngày dần xấu đi ở một số nơi: hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông đang chịu ảnh hưởng của dòng nước thải chứa nhiều chất ô nhiễm khó phân hủy từ các nhà máy sản xuất mì ở phía thượng nguồn huyện Trảng Bàng; chất lượng nước kênh Cầu Mương đã bị ô nhiễm và không thể sử dụng để phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt của các hộ dân xung quanh do bị ảnh hưởng từ nguồn nước thải của khu chế xuất và công nghiệp Linh Trung III; chất lượng nước sông Cầu Quan và sông Vàm Cỏ Đông bị ảnh hưởng bởi các hoạt động san lấp mặt bằng và xây dựng vườn công nghiệp Bourbon An Hòa; nước tại kênh Đông không thể sử dụng cho sinh hoạt vì đã bị ô nhiễm nặng SS, COD, BOD và tảo là chủ yếu, khiến cho diện tích bề mặt nước bị suy giảm, hàm lượng oxy hòa tan ít, lượng thủy sinh trong nước chết dần…do hoạt động xây dựng bờ kè, xây đập, phục vụ cho việc xây dựng khu liên hợp công nghiệp – đô thị – dịch vụ Phước Đông – Bời Lời
Nhìn chung một số khu công nghiệp đã có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng công tác đấu nối chưa hoàn thành 100% là nguyên nhân chính làm ô nhiễm nước sông và kênh rạch Chính vì thế mà chất lượng nguồn nước mặt ngày càng không tốt và có xu hướng ô nhiễm tăng dần vì ngày càng có nhiều nhà máy được xây dựng trên thượng nguồn cũng như hạ nguồn Với việc phát triển các hoạt động công nghiệp tập trung như hiện nay mà không chú trọng nhiều đến các biện pháp xử lý nguồn thải đầu ra sẽ tác động rất lớn đến chất lượng nguồn nước mặt của tỉnh, đặc biệt
là phía khu vực hạ lưu các con sông, là nơi hứng chịu nhiều nhất những thiệt hại từ