Nâng cao chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc tế ASEAN Hà Nội
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trương Tử Nhân đã tận tình giúp emhoàn thành chuyên đề này Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáotrong khoa Du lịch & Khách sạn đã tạo điều kiện để em thực hiện chuyên đềnày
Em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên khách sạn quốc tếASEAN đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình em thực tập tại khách sạn
Trang 2TÓM TẮT CHUYÊN ĐỀ
Sau quá trình tích lũy kiến thức từ bài giảng kết hợp với kiến thức thực
tế từ quá trình thực tập tại khách sạn ASEAN em đã lựa chon đề tài « Nângcao chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc tế ASEAN Hà Nội » Chuyên
đề được xác định rõ ràng nội dung và mục đích nghiên cứu là tìm hiểu, phântích thực trạng chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc tế ASEAN, từ đó đề
ra những giải pháp để nâng cao chất lượng
Chuyên đề gồm 3 chương :
CI : Đưa ra những cơ sở lí thuyết để nghiên cứu vấn đề Chương nàytìm hiểu về hoạt động kinh doanh khách sạn, hoạt động kinh doanh ăn uốngtrong khách sạn và đặc điểm của chúng, đồng thời đi sâu nghiên cứu về chấtlượng phục vụ tiệc, các yếu tố ảnh hưởng, các chỉ tiêu đánh giá, phương phápđánh giá… Đó là cơ sở để đánh giá chất lượng phục vụ tiệc hiện tại ở kháchsạn
CII : Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá đã nêu ở chương II, chương III đisâu phân tích hoạt động phục vụ tiệc thông qua thống kê ý kiến đánh giá củakhách dự tiệc, đồng thời nghiên cứu hoạt động kinh doanh chung của toànkhách sạn như các dịch vụ khách sạn cung cấp, đội ngũ lao động trong kháchsạn…
CIII : Chương III khái quát tình hình kinh doanh tiệc trên địa bàn HàNội cũng như xác định phương hướng kinh doanh tiệc của khách sạn ASEAN.Bên cạnh đó xuất phát từ lí thuyết về các yếu tố ảnh hưởng chất lượng phục
vụ tiệc đã nêu ở chương I, kết hợp với phân tích thực trạng hoạt động kinhdoanh tiệc ở chương II, chương III nêu ra một số giải pháp nhằm nâng caochất lượng phục vụ tiệc
Phần kết bài khái quát lại nội dung chuyên đề
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Hiện nay nghành du lịch Việt Nam nói chung và nghành kinh doanhkhách sạn nói riêng đang phát triển rất mạnh Trong con mắt bạn bè quốc tế,Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện trong khu vực châu Á
- Thái Bình Dương Bằng chứng là tháng 9-2007, Việt Nam lọt vào danh sách
20 điểm đến du lịch được yêu thích nhất năm theo khảo sát của Tạp chí dulịch Conde Nast Traveller, một trong hai tạp chí du lịch uy tín của Mỹ Khôngchỉ có vậy, hãng nghiên cứu RNCOS cũng dự báo Việt Nam sẽ lọt vào danhsách 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới vào năm 2016
Trong lĩnh vực khách sạn hiện Việt Nam có trên 7.000 điểm cho thuêphòng bao gồm khách sạn, nhà trọ với tổng số 140.000 phòng Trong số này
có 25 khách sạn 5 sao, 64 khách sạn 4 sao, 135 khách sạn 3 sao, còn lại làkhách sạn 1 hoặc 2 sao Hiện nay, một lượng vốn đầu tư đổ vào quỹ đầu tưkhách sạn tại Việt Nam và nhiều cuộc chuyển nhượng, mua bán lại khách sạn
đã và đang diễn ra, như Hilton, Sofitel Metropole và Gouman ở Hà Nội, Omni
và Duxton ở Tp.HCM và Furama ở Đà Nẵng Ngày càng nhiều tập đoàn đầu
tư và quản lý quốc tế quan tâm đến thị trường du lịch, khách sạn, khu du lịchnghỉ dưỡng, spa 5 sao ở Việt Nam, trong đó có Kingdom Hotels tập đoànđang sở hữu 4Seasons, Raffles và Movenpick, tập đoàn Banyan Tree, ColomyResorts và Intercontinental Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nghành dulich, khách sạn mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn cho cácdoanh nghiệp kinh doanh nội địa Cạnh tranh khốc liệt hơn buộc các doanhnghiệp phải tìm ra lợi thế cạnh tranh của mình Nâng cao chất lượng sản phẩmdịch vụ là lựa chọn hàng đầu mang tính sống còn đối với các khách sạn ViệtNam
Trang 4Trải qua 4 tháng thực tập tại nhà hàng Á khách sạn quốc tế ASEAN, emđược trực tiếp phục vụ tiệc giúp em thêm hiểu về vai trò của chất lượng trongphục vụ, cùng với những suy nghĩ trên em đã lựa chọn đề tài : « Nâng cao chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc tế ASEAN ».
2 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu chuyên đề này chỉ dừng lại ở phạm vi nhà hàng Á kháchsạn quốc tế ASEAN
- Phương pháp nghiên cứu : Thu thập thông tin, phân tích và xử lí số liệu
3 Nội dung nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vấn đề :
- Những cơ sở lí luận chất lượng phục vụ tiệc trong kinh doanh khách sạn
- Thực trạng chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc tế ASEAN
- Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ tiệc tại khách sạn quốc
Kết luận
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng biểu :
Biểu đồ 2.1: Doanh thu của khách sạn 3 năm 2005, 2006, 2007 51 Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo độ tuổi của khách sạn ASEAN năm 2007 55 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lao động của khách sạn theo độ tuổi 55 Bảng 2.6: Trình độ của đội ngũ quản lí 56
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ TIỆC
TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN1.1 Tổng quan về kinh doanh khách sạn
1.1.1 Khái niệm cơ bản về kinh doanh khách sạn
Trang 6Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, kinh doanhkhách sạn ngày càng được mở rộng về quy mô và phong phú về thể loại Mầmmống của kinh doanh khách sạn là nhà dân ven đường cho khách đường xa,khi ở không phải trả tiền mà để lại vật kỷ niệm cho chủ nhà Khi nhu cầu đi lạităng lên, nhu cầu ăn, nghỉ của khách tăng lên các cơ sở kinh doanh lưu trúxuất hiện ở các tụ điểm như bến xe, thành phố, thị xã…Tuy nhiên nó chỉ làhoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm bảo đảm chỗ ngủ qua đêm cho khách cótrả tiền Sau đó cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, nhu cầu củakhách du lịch ngày một tăng thêm, khách sạn đã mở thêm các dịch vụ ănuống, dịch vụ bổ sung như dịch vụ giải trí, thể thao, y tế, giặt là, chăm sóc sắcđẹp…nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng, làm họ hài lòng, tăngkhả năng thu hút khách, tăng khả năng cạnh tranh của khách sạn trên thịtrường Hiện nay trên thế giới đã có 7 tập đoàn khách sạn lớn có mạng lướikinh doanh khách sạn xuyên quốc gia : ACCOR (Pháp) ; Hilton (Mỹ, Anh) ;Hyatt (Mỹ) ; Newworlo, Sheraton, Shangrila của các nước châu Á Thuật ngữ
"kinh doanh khách sạn" không còn mới mẻ với nhiều người nhưng không phảibất cứ ai kinh doanh khách sạn đều hiểu rõ bản chất của nó Có nhiều cáchtiếp cận khác nhau nhưng một cách chung nhất, trong giáo trình quản trị kinhdoanh khách sạn, khoa Du lịch & Khách sạn, trường Đại học Kinh tế Quốcdân đưa ra định nghĩa :
"Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ xung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi "
1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm dulịch
Sản phẩm của khách sạn muốn đáp ứng nhu cầu của khách hàng cầndựa vào yếu tố cơ bản đầu tiên là tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch ảnh
Trang 7hưởng tới hoạt động kinh doanh khách sạn trên ba phương diên : vị trí, quy
mô và thứ hạng khách sạn Một trong các yếu tố quan trọng cần cân nhắc khitiến hành xây dựng một khách sạn là chọn vị trí xây dựng bởi lẽ vị trí củakhách sạn là một yếu tố quan trọng để đánh giá vị thế cạnh tranh của doanhnghiệp, nó không thể thay đổi được khi khách sạn đã được xây dựng Vì thế vịtrí xây dựng khách sạn phải được cân nhắc kỹ trước khi tiến hành xây dựng,đảm bảo sự tồn tại lâu dài của khách sạn trong tương lai Vị trí khách sạn gắnliền với tài nguyên du lịch tại khu vực đó, một khách sạn được coi là có vị tríđẹp nếu gần các nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch có ảnh hưởngrất mạnh đến việc kinh doanh khách sạn, nó là yếu tố thu hút khách du lịch tớiđiểm du lịch và cùng với đó là sự tiêu dùng các dịch vụ du lịch nói chung,dịch vụ khách sạn nói riêng Do đặc điểm của các dịch vụ trong khách sạn làtính đồng thời của quá trinh sản xuất và tiêu dùng, dịch vụ khách sạn chỉ đượcbán ra tại nơi tạo ra nó Do đó khách sạn xây dựng tại nơi không có tài nguyên
du lịch sẽ không thể kinh doanh thành công Tài nguyên du lịch còn ảnhhưởng tới quy mô và thứ hạng khách sạn, loại tài nguyên quy định loại kháchsạn còn sức hấp dẫn của tài nguyên sẽ quyết định cơ cấu chủng loại dịch vụ
mà khách sạn cung cấp Khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch tại mỗiđiểm du lịch là hữu hạn, vì vậy để khách sạn có thể phát triển bền vững dựavào tài nguyên du lịch thì khi đầu tư xây dựng và thiết kế khách sạn cần tínhtoán sức chứa của tài nguyên du lịch để xác định các chỉ số kỹ thuật của côngtrình cũng như các chính sách kinh doanh của khách sạn Thông thường chiềucao của khách sạn không được vượt quá chiều cao của cây cao nhất trong khuvực xây dựng khách sạn Tài nguyên du lịch là một phạm trù mở, không khépkín ở những đối tượng sẵn có mà mở rộng theo sự phát triển công nghệ, sựsáng tạo của con người Kinh doanh khách sạn không chỉ phụ thuộc vào tàinguyên du lịch mà chúng có mối quan hệ hai chiều, các khách sạn nếu được
Trang 8xây dựng, đẹp, độc đáo, hấp dẫn sẽ trở thành tài nguyên du lịch tô điểm thêmcho bức tranh tài nguyên du lịch tại đó.
Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn
Có thể nói kinh doanh khách sạn là trò chơi của của các đại gia bởi lẽhoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn, không chỉ
là đầu tư ban đầu mà cả đầu tư cơ bản đều lớn Chi phí đầu tư vào khách sạntrước hết là chi phí bất động sản, đó là phí thuê đất nhằm có được vị thế đẹp,thu hút khách du lịch Tại các nước đang phát triển việc tập trung xây dựngthiếu quy hoạch, đẩy giá đất lên cao làm chi phí đất đai trong xây dựng kháchsạn rất lớn Tại các nước phát triển tổng chi phí cho đất cũng chiếm tới 5%quỹ đầu tư xây dựng khách sạn Ngoài chi phí đất đai, chi phí xây dựng kháchsạn, chi phí mua sắm trang thiết bị tiện nghi cũng chiếm tỷ lệ vốn đầu tư khálớn bởi sản phẩm dịch vụ trong khách sạn là những sản phẩm cao cấp đáp ứngnhu cầu tổng hợp, cao cấp của khách du lịch, do vậy để đảm bảo đem đến chokhách hàng sự hài lòng cao nhất đòi hỏi trang thiết bị lắp đặt trong khách sạnphải sang trọng, đồng bộ ngay từ đầu và tăng lên cùng sự tăng lên của thứhạng khách sạn Đặc biệt chi phí đầu tư vào trang thiết bị tại các khu vui chơigiải trí ngoài trời rất lớn Chẳng hạn tại các khu resort gần biển thường xâydựng nhiều bể bơi để hạn chế tác hại của thời tiết xấu Ngoài ra khi xây dựngkhách sạn còn phải đảm bảo hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống cấp thoátnước, điện, bưu chính viễn thông,…
Trong đầu tư xây dựng khách sạn ngoài chi phí đầu tư ban đầu rất lớnthì chi phí đầu tư cơ bản cũng rất lớn " Đầu tư vào khách sạn là đầu tư liêntục, tăng lên trên những nấc thang mới " Đó là chi phí đầu tư thường xuyên
để bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp khách sạn nhằm đảm bảo trang thiết bị củakhách sạn luôn ở tình trạng hoạt động tốt, chất lượng sản phẩm khách sạnluôn nhất quán mọi lúc, mọi nơi, với mọi khách hàng sao cho mỗi một ngườikhách bước vào khách sạn đều có cảm giác họ là người đầu tiên sử dụng dịch
Trang 9vụ của khách sạn Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng ngày một tăng, đốithủ cạnh tranh ra sức đầu tư trang thiết bị đã tạo ra sức cản thị trường vớidoanh nghiệp buộc doanh nghiệp phải có năng lực đầu tư lớn để chạy đua vớithị trường Chính vì thế kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tưlớn.
Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớnMột doanh nghiệp dù có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú vàhiện đại đến mấy nhưng đội ngũ lao động lại tỏ ra yếu kém thì cũng không thểđảm bảo được chất lượng phục vụ bởi sản phẩm trong khách sạn chủ yếu làdịch vụ, do con người tạo ra Mặt khác lao động trong khách sạn có tínhchuyên môn hóa khá cao, thời gian lao động lại phụ thuộc vào thời gian tiêudùng của khách, thường kéo dài 24/24h mỗi ngày Do vậy, cần phải sử dụngmột số lượng lớn lao động trực tiếp trong khách sạn Theo số liệu của tổngcục du lịch Việt nam số lượng lao động trong nghành du lịch năm 1994 là150.000 nghìn người, tăng 20 lần so với năm 1992 trong đó lao động trực tiếptrong các khách sạn nhà hàng là 95000 người, chiếm tới 63.3%
Để giảm thiểu chi phí lao động trực tiếp nhưng không ảnh hưởng xấu tới chấtlượng dịch vụ, các nhà quản lý khách sạn luôn phải đối mặt với những khókhăn trong tuyển mộ, tuyển chọn và bố trí nhân lực của mình
Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật
Kinh doanh khách sạn cũng giống như các nghành kinh doanh khác đềuchịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế - xã hội hay quyluật tâm lí con người Sự tồn tại và tác động của các quy luật này gây nên tínhthời vụ trong kinh doanh khách sạn Chẳng hạn một khách sạn mà đối tượngphục vụ chính là khách công vụ thì thời gian kinh doanh hiệu quả của kháchsạn này phụ thuộc vào thời gian họp tổng kết của các doanh nghiệp Do đặcđiểm của kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nên nóchịu tác động mạnh của các quy luật tự nhiên bởi vì những biến động lặp đi
Trang 10lặp lại của thời tiết khí hậu trong năm có ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của tàinguyên đối với khách du lịch, gây ra sự biến động của lượng cầu du lịch.Khách du lịch nghỉ biển ở xứ lạnh như châu Âu thì đi du lịch vào khoảngtháng 6 tới tháng 8 còn ở xứ nóng như châu Phi mùa du lịch có thể là quanhnăm Do đó vào mùa du lịch các khách sạn thường hoạt động hết công suấtcòn ngoài mùa vụ thường rất vắng khách Nhưng dù chịu sự chi phối của quyluật nào đi chăng nữa thì quy luật ấy cũng có tác động hai chiều cả mặt tíchcực lẫn tiêu cực tới hoạt động kinh doanh khách sạn Do đó các nhà quản líkhách sạn phải nghiên cứu kỹ các quy luật và sự tác động của chúng tới kháchsạn để chủ động có những chính sách phù hợp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực,phát huy ảnh hưởng tích cực nhằm phát triển hoạt động kinh doanh một cáchhiệu quả.
Với những đặc điểm trên của kinh doanh khách sạn, việc tạo ra một sảnphẩm cao cấp của khách sạn không chỉ phụ thuộc vào đội ngũ lao động trựctiếp mà còn phụ thuộc vào khả năng kết hợp các yếu tố cũng như năng lực vậnhành khách sạn của các nhà quản lý
1.2 Hoạt động kinh doanh ăn uống trong khách sạn
1.2.1 Khái niệm về kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống là một trong ba mảng hoạt động không thể thiếucủa các cơ sở kinh doanh khách sạn hiện đại Trong thời đại ngày nay, nhucầu ăn uống ở bên ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sốngcon người Do đó nhà hàng, khách sạn chính là lựa chọn tốt nhất để thỏa mãnnhu cầu của họ Hoạt động kinh doanh ăn uống trong khách sạn cũng giốngnhư hoạt động kinh doanh ăn uống công cộng, chúng đều tổ chức chế biếnthức ăn theo hướng chuyên môn hóa cao, phục vụ nhu cầu tiêu thụ thức ăn đồ
Trang 11uống của số lượng lớn khách hàng ngay tại cơ sở của mình Tuy nhiên hoạtđộng ăn uống trong du lịch được phân biệt với hoạt động ăn uống công cộng ởmột số điểm như quỹ tiêu dùng, mục đích phục vụ hay tính thẩm mỹ Hoạtđộng ăn uống trong du lịch được hạch toán trên cơ sở quỹ tiêu dùng cá nhânvới nhu cầu đòi hỏi cao hơn về chất lượng các món ăn đồ uống và chất lượngphục vụ Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ tại khách sạn khách hàng có thểcùng một lúc thưởng thức đồ ăn thức uống và xem biểu diễn nghệ thuật, khiêu
vũ hay hát Karaoke, do đó khách được thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của mìnhngay tại khách sạn Ăn uống trong du lịch lấy kinh doanh làm mục đích chính.Các doanh nghiệp kinh doanh ăn uống trong du lịch phải tự hạch toán và theođuổi mục tiêu lợi nhuận để đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của mình.Ngoài ra, riêng với lĩnh vực du lịch quốc tế, kinh doanh ăn uống còn có thêmnhiệm vụ quan trọng là tích cực góp phần làm tăng thêm thu nhập ngoại tệ chovùng và cho đất nước với chi phí ngoại tệ bỏ ra nhỏ nhất Kinh doanh ăn uốngtrong du lịch gồm ba nhóm hoạt động chính :
- Hoạt động sản xuất vật chất : chế biến thức ăn cho khách
- Hoạt động lưu thông : bán sản phẩm chế biến của mình và hàng chuyểnbán
- Hoạt động tổ chức phục vụ : tạo điều kiện để khách hàng tiêu thụ thức ăntại chỗ và cung cấp điều kiện để nghỉ ngơi, thư giãn cho khách
Như vậy, kinh doanh ăn uống trong du lịch có ba loại hoạt động cơ bản là :hoạt động chế biến thức ăn, hoạt động lưu thông, hoạt động phục vụ Hoạtđộng chế biến ra các món ăn là khâu thứ năm trong sáu khâu của quy trình tổchức hoạt động kinh doanh ăn uống Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọnggóp phần nâng cao chất lượng của thực phẩm thông qua quá trình biến đổinguyên liệu thành dạng thành phẩm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của kháchhàng Quản lý tốt giai đoạn này không chỉ đưa đến cho khách hàng nhữngmón ăn ngon miệng, đủ dinh dưỡng, an toàn, làm tăng tín nhiệm của khách
Trang 12hàng với khách sạn, tăng khả năng thu hút khách hàng mà còn tiết kiệm chiphí đáng kể trong sản xuất, tạo lợi thế về giá làm tăng khả năng cạnh tranh củakhách sạn Còn trong lưu thông, kinh doanh ăn uống trong khách sạn khôngchỉ cung cấp cho khách những dịch vụ mà mình đảm nhiệm như trao đổi vàbán các thành phẩm là các món ăn đồ uống đã được chế biến sẵn mà còn báncác sản phẩm thuộc các nghành và các lĩnh vực khác của nền kinh tế như nôngnghiệp, dịch vụ vận chuyển, điện, nước…Như vậy hoạt động kinh doanh ănuống trong khách sạn cung cấp cho khách những dịch vụ của mình đồng thờicòn là trung gian phân phối sản phẩm của nghành khác Ngoài ra, ăn uốngtrong du lịch còn có nhiệm vụ tổ chức hoạt động phục vụ trực tiếp việc ănuống của khách Đây là giai đoạn cuối cùng trong quy trình tổ chức hoạt độngkinh doanh ăn uống, nó có nhiệm vụ bán thức ăn đồ uống đã được chế biếnsẵn cho khách hàng thông qua hình thức dịch vụ phục vụ trực tiếp Ba hoạtđộng nêu trên có mối quan hệ trực tiếp và phụ thuộc lẫn nhau Nếu thiếu mộttrong ba loại hoạt động này không những sự thống nhất giữa chúng bị pháhủy, mà còn dẫn đến sự thay đổi về bản chất của kinh doanh ăn uống trong dulịch Bởi vì nếu không có chế biến thức ăn thì không thể gọi là nghành ănuống, vì đặc trưng của nghành ăn uống là phải chế biến thức ăn, đồ uống Cònnếu thiếu hoạt động trao đổi, lưu thông thì không phải là hoạt động kinhdoanh, mà là hoạt động mang tính xã hội – như phục vụ ăn uống trong nhà trẻ,bệnh viện…Còn nếu thiếu chức năng phục vụ, thì lại trở thành hoạt động củacửa hàng bán thức ăn chế biến sẵn Ba hoạt động chính trên đây của các doanhnghiệp kinh doanh ăn uống trong du lịch gắn bó với nhau mà không thể xácđịnh được tỷ trọng tương đối của từng hoạt động trong tổng thể Tỷ trọngtương đối của chúng không ngừng thay đổi dưới tác động của nhiều nhân tốkhác nhau Một mặt, là xu hướng tập trung hóa cao độ trong sản xuất thức ănvào những cơ sở chuyên sản xuất thức ăn và đồ uống với quy mô lớn Điều đó
sẽ dẫn đến việc giảm tỷ trọng của các doanh nghiệp sản xuất chế biến thức ăn
Trang 13đồ uống Mặt khác ngày nay yêu cầu về các cơ sở kinh doanh theo hình thức
tự phục vụ đang ngày càng tăng lên, do đó làm giảm khối lượng của hoạt độngphục vụ Còn nhiệm vụ trao đổi thì giữ nguyên không đổi về giá trị tuyệt đối,nhưng khi tỷ trọng tương đối của hai nhiệm vụ kia giảm đi thì tỷ trọng tươngđối của nhiệm vụ trao đổi sẽ tăng lên Ngày nay, trong các cơ sở kinh doanh
ăn uống du lịch cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu dùng trựctiếp các thức ăn đồ uống, các điều kiện để giúp khách giải trí tại nhà hàngcũng được quan tâm và ngày càng được mở rộng, mà thực chất đây là dịch vụphục vụ nhu cầu bổ sung và giải trí cho khách tại các nhà hàng Có thể nóiviệc cung cấp thêm các dịch vụ bổ sung là một giải pháp mà các nhà quản líđưa ra nhằm tăng tính dị biệt cho khách sạn mình góp phần thu hút kháchnhiều hơn đồng thời làm tăng doanh thu vì dịch vụ bổ xung là dịch vụ duynhất trong ba dịch vụ cung cấp cho khách du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầutổng hợp của họ mà không bị giới hạn như dịch vụ thiết yếu và dịch vụ đặctrưng Vậy có thể rút ra định nghĩa :
" Kinh doanh ăn uống trong du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các nhà hàng (khách sạn) cho khách nhằm mục đích có lãi".
1.2.2 Đặc điểm kinh doanh ăn uống trong khách sạn
Cùng với đặc điểm chung của kinh doanh khách sạn, kinh doanh ăn uốngtrong khách sạn cũng có một số nét đặc trưng cơ bản sau :
Tổ chức ăn uống chủ yếu cho khách ngoài địa phương, và nguồn kháchnày rất đa dạng
Trang 14Đứng trên quan điểm người tiêu dùng khách của khách sạn bao gồm ba đốitượng, đó là khách du lịch, khách tham quan và khách địa phương Trong đókhách du lịch là thị trường quan trọng hàng đầu, là lí do ra đời khách sạn Tuynhiên do cầu du lịch bấp bênh nên nguồn khách tham quan và khách địaphương cũng khá quan trọng với khách sạn bởi nó giúp giảm tính mùa vụtrong kinh doanh Kinh doanh ăn uống trong khách sạn chủ yếu là phục vụnhu cầu ăn uống của khách tham quan và khách du lịch lưu trú tại khách sạn,
họ đến từ nhiều quốc gia với những phong tục tục tôn giáo, đặc điểm tâm lí rấtkhác nhau Đây là hai đối tượng chính mà khách sạn tập trung khai thác bởidoanh thu từ hoạt động phục vụ hai đối tượng này cao hơn nhiều so với đốitượng khách địa phương Tuy nhiên hiện nay bất kỳ một khách sạn nào bêncạnh tổ chức ăn uống cho khách lưu trú tại khách sạn thì cũng tổ chức phục vụ
ăn uống cho khách dự tiệc hội nghị, hội thảo hay đám cưới để đa dạng hoạtđộng của mình Có những khách sạn như ASEAN, Kim Liên hoạt động phục
vụ ăn uống cho khách địa phương chiếm tỷ trọng cao thông qua việc kinhdoanh tiệc cưới
Xuất phát từ đặc điểm này khách sạn cần tổ chức phục vụ ăn uống phù hợpvới yêu cầu và tập quán của khách, không nên bán cái khách sạn có mà cốgắng bán cái mà khách hàng cần Mọi sự coi thường tập quán ăn uống củakhách đều dẫn đến thỏa mãn nhu cầu của khách ở mức thấp, ảnh hưởng xấutới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Các khách sạn thường nằm ở những nơi cách xa địa điểm cư trú thườngxuyên của khách, nên phải tổ chức ăn uống toàn bộ cho khách du lịch,
kể cả các bữa ăn chính, các bữa ăn phụ và phục vụ đồ uống
Các khách sạn thường gắn liền với nơi chứa tài nguyên du lịch, mà những giátrị tài nguyên này mang tính vô hình không di dời được, khách du lịch muốnthưởng thức phải đến tận nơi để cảm nhận Do đó họ phải rời nơi cư trúthường xuyên của mình để đến nơi có tài nguyên, trong quá trình này họ vẫn
Trang 15có nhu cầu sử dụng các sản phẩm thiết yếu như thức ăn, nơi ở do vậy kháchsạn cần đảm bảo toàn bộ nhu cầu của họ, giúp họ cảm thấy như ở nhà minh.
Phải tạo ra những điều kiện và phương thức phục vụ nhu cầu ăn uốngthuận lợi nhất cho khách tại các điểm du lịch và tại khách sạn như tổchức phục vụ ăn sáng và đồ uống ngay tại nơi mà khách ưa thích nhất(ngoài bãi biển, ở các trung tâm thể thao, các phòng họp…)
Việc phục vụ ăn uống cho khách du lịch đồng thời cũng là hình thứcgiải trí cho khách
Ăn uống trong khách sạn không chỉ đơn thuần mang nghĩa đen mà nó còn là
cả một quá trình thưởng thức nghệ thuật Trong quá trình ăn uống khách còncảm nhận không gian, cách bài trí, cách phục vụ hay thưởng thức những bảnnhạc du dương Vì thế ngoài các dịch vụ ăn uống, khách sạn thường tổ chứccác hoạt động giải trí cho khách như cách bài trí phòng ăn, cách mặc đồngphục của nhân viên phục vụ hay hình thức bày bàn, các món ăn đặc sản…nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của thực khách tại khách sạn Chẳng hạn tạikhách sạn ASEAN nhân viên nữ phục vụ ăn uống thường mặc váy ngắn màuđen kết hợp với áo sơ mi vàng có buộc nơ trước ngực làm nổi bật nét trẻ trungcủa nhân viên
1.2.3 Sản phẩm trong kinh doanh ăn uống
1.2.3.1 Khái niệm sản phẩm trong kinh doanh ăn uống
Trong kinh doanh, nếu như mỗi doanh nghiệp đều có hệ thống sảnphẩm của riêng mình thì mỗi một hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệpcũng có sản phẩm riêng Bởi vì mỗi hoạt động kinh doanh khác nhau phục vụnhu cầu khác nhau của khách hàng, nó có những đặc điểm khác nhau Chẳnghạn sản phẩm trong kinh doanh lưu trú là dịch vụ buồng ngủ, sản phẩm trongkinh doanh dịch vụ bổ xung là dịch vụ sauna, dịch vụ làm đẹp…còn trongkinh doanh ăn uống chính là dịch vụ ăn uống Dịch vụ ăn uống là một trong
Trang 16hai dịch vụ chính đem lại nguồn doanh thu cao cho khách sạn, nó cung cấpthức ăn đồ uống thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của khách trong thời gian lưu trútại khách sạn Như vậy : Nếu xét trên góc độ về hình thức thể hiện thì sảnphẩm trong kinh doanh ăn uống bao gồm cả sản phẩm hàng hóa và sản phẩmdịch vụ.
- Sản phẩm hàng hóa trong kinh doanh ăn uống là những sản phẩm hữuhình, khách hàng có thể nhìn thấy được trước khi tiêu dùng nó như thức ăn, đồuống Do tính hữu hình nên sau khi trao đổi khách hàng có toàn quyền sở hữu
và sử dụng những sản phẩm hàng hóa này
- Sản phẩm dịch vụ trong kinh doanh ăn uống là những giá trị về mặtvật chất hay tình thần mà khách hàng đồng ý bỏ tiền ra để đổi lấy chúng nhưkhông gian ấm cúng trong một bữa tiệc, thái độ nhiệt tình, niềm nở của nhânviên phục vụ…Đây là những dịch vụ mang lại giá trị gia tăng lớn cho sảnphẩm ăn uống của khách sạn, nó tạo nên nét khác biệt giữa các khách sạn vớinhau, và có tác động mạnh vào sự hài lòng của khách hàng Mặc dù các sảnphẩm trong kinh doanh ăn uống tồn tại dưới cả hai hình thức hàng hóa và dịch
vụ nhưng do thời gian, không gian tiêu dùng trùng nhau nên hầu hết các sảnphẩm hàng hóa đều được thực hiện dưới hình thức dịch vụ khi đem chào báncho khách Vì vậy, có thể nói sản phẩm ăn uống trong kinh doanh khách sạn
- Phương tiện thực hiện dịch vụ trong kinh doanh ăn uống chính là cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ nhu cầu ăn uống của khách như phòng tiệc, quầybar, bếp…được trang bị đầy đủ thiết bị, tiện nghi
Trang 17- Hàng hóa bán kèm là hàng hóa được khách hàng mua trong thời gian
sử dụng dịch vụ tại khách sạn, thông thường nó không phải là sản phẩm củakhách sạn mà nó là sản phẩm của doanh nghiệp khác, khách sạn chỉ có chứcnăng lưu thông nó Trong kinh doanh ăn uống đó chính là các đồ uống ở quầybar như nước suối, các loại rượu, thuốc lá…
- Dịch vụ hiện là những lợi ích mà khách hàng trực tiếp cảm nhận đượckhi tiêu dùng và cũng là khía cạnh chủ yếu mà khách muốn mua Đó là cácmón ăn ngon hợp khẩu vị khách, các món đặc sản đặc trưng cho khách sạnhay những cốc sinh tố, những ly cootail dịu nhẹ đủ màu sắc do bàn tay nhânviên pha chế tạo thành
- Dịch vụ ẩn là những lợi ích mang tính chất tâm lý mà khách hàng chỉ
có thể cảm nhận được sau khi tiêu dùng dịch vụ Trong kinh doanh ăn uống
đó là thái độ phục vụ chu đáo, niềm nở của nhân viên phục vụ hay cảm giácthư thái, hài lòng sau khi dùng bữa tại khách sạn
Dịch vụ ấn và dịch vụ hiện đều yếu tố con người quyết định Đồ ăn có ngonhay không phụ thuộc tay nghề của nhân viên bếp, bầu không khí có thư tháihay không không phụ thuộc thái độ của nhân viên bàn Họ là những người ảnhhưởng trực tiếp tới tâm trạng khách trong quá trình phục vụ và để lại ấn tượngvới khách về khách sạn
1.2.3.2 Đặc điểm sản phẩm trong kinh doanh ăn uống
Sản phẩm trong kinh doanh ăn uống chủ yếu là dịch vụ vì vậy nó mangcác đặc tính của dịch vụ như tính vô hình, khó lưu kho cất trữ, tính cao cấp,khách hàng tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ, dịch vụchỉ được thực hiện trên nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định
Trang 18khi mua và trước khi bán Trước khi tới sử dụng dịch vụ ăn uống của kháchsạn khách hàng không có gì cả ngoại trừ lời hứa hẹn đảm bảo chất lượng sảnphẩm của khách sạn Nhân viên phục vụ không thể đem không gian phòngtiệc bán cho khách qua những cuộc gọi đặt tiệc Trên thực tế họ không thể bánkhông gian phòng tiệc mà chỉ bán quyền sử dụng trong một khoảng thời giannhất định Khi khách rời khách sạn, họ cũng không mang theo một thứ gì khácngoài một biên lai tính tiền Khi mua dịch vụ ăn uống trong khách sạn khách
có nhiều kỷ niệm có thể chia sẻ với bạn bè, có nghĩa là họ "có thể rỗng taynhưng không thể rỗng đầu" Để giảm sự bất định về tính chất vô hình, kháchhàng thường tìm hiểu những dấu hiệu hữu hình qua việc cung cấp thông tincủa khách sạn và sự tin tưởng chắc chắn về dịch vụ Chẳng hạn khi dự tiệc tạikhách sạn khách được giới thiệu về các món ăn mà khách sạn sẽ phục vụthông qua thực đơn Tuy nhiên thông tin khách có được chỉ là một vài hìnhảnh về một phần sản phẩm mà những hình ảnh này cũng chỉ phản ánh mộtphần đặc tính sản phẩm, nên nhiều khách sạn đôi khi quá thổi phồng về sảnphẩm làm cho khách cảm thấy mình bị đánh lừa khi sử dụng sản phẩm kémchất lượng so với những lời quảng cáo trước khi mua Tính vô hình làm choviệc đưa ra tiêu chuẩn dịch vụ của khách sạn (nhân viên phục vụ nhanh nhẹn,mềm dẻo, thông minh…) mang tính tương đối nhưng cũng tạo nên sự khácbiệt giữa các khách sạn với nhau Các khách sạn chỉ có thể cung cấp dịch vụgiống hệt nhau với mức chất lượng cao nhưng không thể bắt chước được nghệthuật phục vụ của khách sạn khác bởi nó được tạo thành từ sự nhận thức rènluyện của nhân viên
* Tính tổng hợp
Tính tổng hợp xuất phát từ nhu cầu tổng hợp của khách Ngày nay, khi đờisống ngày một nâng cao, ăn uống không đơn thuần chỉ mang nghĩa đen nữa,khách tới nhà hàng hay khách sạn ăn uống còn muốn thưởng thức thêm nhữngbản nhạc du dương, ngắm nhìn lối kiến trúc độc đáo của khách sạn hay chỉ
Trang 19đơn thuần là được giao lưu, trò chuyện Vì vậy trong cơ cấu sản phẩm ăn uốngcủa nhà hàng, khách sạn bên cạnh các món ăn đặc trưng cho kháh sạn chúng
ta thấy có thêm các dịch vụ bổ trợ như dịch vụ hát theo yêu cầu, dịch vụ MC
và nhạc đám cưới, dịch vụ bắn pháo…nhằm tăng tính hấp dẫn đối với kháchhàng mục tiêu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
* Tính không lưu kho cất trữ
Dịch vụ ăn uống không thể tồn kho, nghĩa là nó không thể để dành đến ngàymai Thật vậy, một phòng tiệc trong khách sạn có khả năng tổ chức tiệc vớisức chứa 300 khách, nếu hôm nay khách chỉ đặt tiệc cho 200 khách thì ngàymai không thể bán không gian tổ chức còn lại được Tuy nhiên khách sạn cóthể cất trữ đồ ăn trong khoảng thời gian ngắn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng
* Tính hiện hữu của khách
Do sự trùng nhau giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng, dịch vụ ăn uống trongnhà hàng, khách sạn chỉ được thực hiện khi có sự tham gia trực tiếp của kháchhàng Khách hàng tiếp xúc với nhân viên phục vụ là một phần của sản phẩm.Thực phẩm trong khách sạn có thể không hoàn hảo nhưng nếu nhân viên phục
vụ thiếu sự ân cần, hời hợt hay cung cấp dịch vụ thiếu chu đáo, khách hàng sẽđánh giá thấp về kinh nghiệm của khách sạn Tính hiện hữu của khách chothấy khách hàng là một phần của sản phẩm, họ góp phần tạo nên chất lượngsản phẩm Trong khách sạn nếu có một vài người khách gây ồn ào, huyên náo
sẽ ảnh hưởng đến khách khác không cùng nhóm, làm cho họ khó chịu Vàđiều này vô hình chung làm cho bầu không khí không được thoải mái vớikhách, chất lượng dịch vụ của khách sạn sẽ kém đi Do đó, đòi hỏi người quản
lý trong khách sạn phải đảm bảo sự quản lý chặt chẽ cả nhân viên lẫn kháchhàng, đôi khi phải nhắc nhở khách hàng về văn hóa tiêu dùng trong khách sạn
* Tính cao cấp
Khách của khách sạn chủ yếu là khách du lịch, họ có khả năng thanh toán vàkhả năng chi trả cao hơn mức tiêu dùng thông thường Vì thế yêu cầu của họ
Trang 20về chất lượng sản phẩm ăn uống rất cao Chất lượng dịch vụ ăn uống rất dễ thayđổi do một số nguyên nhân như : Dịch vụ ăn uống được cung cấp và tiêu thụcùng lúc nên giới hạn việc kiểm tra chất lượng sản phẩm ; sự dao động về nhucầu tạo khó khăn cho việc cung cấp chất lượng đồng nhất trong thời gian cónhu cầu cao điểm như phục vụ tiệc ; chất lượng sản phẩm ăn uống tùy thuộcvào kỹ năng chuyên môn của đầu bếp và kỹ năng tiếp xúc giữa khách hàng vànhân viên phục vụ, gây khó khăn để đạt tiêu chuẩn đầu ra của dịch vụ Vì vậy
để tồn tại và phát triển các khách sạn phải đảm bảo cung cấp cho khách hàngsản phẩm ăn uống có chất lượng cao, đây là một thách thức không nhỏ đối vớicác nhà quản lý
* Tính phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất
Sản phẩm trong kinh doanh ăn uống chỉ được thực hiện khi có những điềukiện về cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định Trước hết để đủ điều kiện kinhdoanh, các khách sạn phải đảm bảo đủ điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật.Các điều kiện này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia chotừng loại, hạng và tùy thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh
du lịch ở đó Ở Việt Nam các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của mộtkhách sạn phải tuân theo quy định của Pháp lệnh Du lịch, nghị định của ChínhPhủ về kinh doanh lưu trú và ăn uống, thông tư hướng dẫn của Tổng cục Dulịch và thỏa mãn các điều kiện về mức độ trang thiết bị tiện nghi theo tiêuchuẩn phân hạng khách sạn của Tổng cục Du lịch Việt Nam
1.3 Lí luận chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn
1.3.1 Khái niệm chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về chất lượng phục vụ Nhưng trước khi đưa
ra các định nghĩa thì cần làm rõ «Chất lượng » là gì ? và thế nào là « Phục
vụ » ?
Chất lượng
Trang 21" Thông thường chúng ta có khuynh hướng cho rằng chất lượng cao cónghĩa là vượt trội hơn so với chất lượng thấp Qua đó chúng ta muốn ám chỉđến một số đặc tính, chẳng hạn như thời gian sử dụng của sản phẩm được thiết
kế sao cho chúng ta sử dụng lâu bền hơn Nghĩa là một đôi giày có chất lượngcao nếu nó sử dụng được năm năm thay vì chỉ dùng được hai năm Tuy nhiênđiều gì sẽ xảy ra đối với những người không muốn chỉ đi duy nhất một đôigiày trong năm năm ? Đối với những khách hàng này thì một đôi giày hợpthời trang có khi còn được ưa chuộng hơn là một đôi giày mang vừa cỡ châncủa họ ! Tóm lại các khách hàng có sở thích khác nhau về đặc tính của sảnphẩm Đối với một sản phẩm bất kỳ, rõ ràng có rất nhiều đặc tính Khách hàng
sẽ tìm kiếm những đặc tính thích hợp nhất với mong muốn của họ" Đoạntrích trên của tác giả John Naylor cho thấy chúng ta sẽ gặp khó khăn khi cốgắng tìm hiểu ý nghĩa của chất lượng, bởi vì mỗi người có sự hiểu biết riêng
về chất lượng mặc dù đoạn trích trên đã hàm chứa một định nghĩa về chấtlượng Chất lượng là gì ?
Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khóđịnh lượng, chúng ta không thể trực tiếp cân đo, đong đếm nó được Dưới mỗicách tiếp cận khác nhau thì chất lượng sẽ có quan niệm khác nhau Người ta
có thể tiếp cận trên góc độ sản phẩm, sản xuất, người tiêu dùng hay quan điểmgiá trị Một số chuyên gia nổi tiếng về chất lượng đã đưa ra định nghĩa chấtlượng là :
• "Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng" (W Edwards Deming)
• "Thích hợp để sử dụng" (J.M Juran)
• "Làm đúng theo yêu cầu" (Philip B Crosby)
Ngoài ra, một số sách cũng đưa ra những định nghĩa về chất lượng :
• " Thỏa mãn, hoặc đáp ứng nhiều hơn mong muốn của khách hàng"
Trang 22• " Mức độ mà một sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của kháchhàng".
Như vậy cần có sự thống nhất về định nghĩa chất lượng
Theo quan điểm cổ điển, người ta coi chất lượng là mức phù hợp vớiquy định định sẵn về một số đặc tính của sản phẩm
Theo quan điểm hiện đại thì chất lượng là sự phù hợp với mục đích sửdụng và là mức độ thỏa mãn khách hàng
Theo TCVN 5200 – 90 (ISO 9000) thì : «Chất lượng là mức phù hợpcủa sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước củangười mua »
Như vậy một cách chung nhất chất lượng là sự thỏa mãn khách hàng, làthứ mà khách hàng muốn sao thì nó là như vậy
Chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn
Trang 23Từ cách tiếp cận trên, chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn là mứccung cấp dịch vụ ở mức tối thiểu mà một khách sạn đã lựa chọn nhằm thỏamãn ở mức độ cao nhu cầu ăn uống của khách dự tiệc Đồng thời mức cungcấp dịch vụ đó đòi hỏi phải được duy trì nhất quán trong suốt quá trình kinhdoanh của khách sạn.
Chất lượng phục vụ là kết quả của một quá trình tích lũy của kháchhàng dựa trên sự so sánh giữa chất lượng mong đợi (hay dự đoán) và mức độchất lượng khách hàng đã nhận được Hay có thể nói một cách khác : Chấtlượng phục vụ luôn được so sánh với mức độ thỏa mãn của khách hàng saukhi đã tiêu dùng dịch vụ
Chất lượng phục vụ = Sự thỏa mãn của khách hàng
Mà sự thỏa mãn, theo kết quả nghiên cứu của ông Donald M Davidof, lạiđược đo bằng biểu thức tâm lý :
Sự thỏa mãn = Sự cảm nhận - Sự mong đợi
• Thông tin truyền miệng
• Nhu cầu khác nhau của khách
• Kinh nghiệm trong tiêu dùng dịch vụ
Trang 24P : Perception (cảm nhận) của khách phụ thuộc vào các yếu tố :
• Sự hiểu biết và giúp đỡ khách của nhân viên phục vụ
• Thái độ lịch sự nhã nhặn của nhân viên
• Sự quan tâm chú ý đặc biệt đến khách hàng
Nếu S<0 : chất lượng dịch vụ tồi
Nếu S=0 : chất lượng dịch vụ thỏa mãn
Như vậy khách hàng hài lòng và đánh giá chất lượng dịch vụ là tốt nếu những
gì họ cảm nhận được vượt mức họ mong đợi, chất lượng dịch vụ chỉ ở mứctrung bình nếu những gì khách cảm nhận được đúng như kỳ vọng của họ, cònnếu những gì họ cảm nhận được thấp hơn mong đợi thì họ thất vọng về dịch
Trang 25hàng thường không tác động vào kỳ vọng của khách và mặc định nó là yếu tốkhông đổi Như vậy giải pháp cho vấn đề này là tác động đẩy P(cảm nhận)của khách lên Cảm nhận của khách phụ thuộc nhiều vào trực giác của họ và
bị nhiều nhân tố chi phối trong đó có những yếu tố doanh nghiệp có thể kiểmsoát được nhưng có những yếu tố bên ngoài tác động Mục tiêu mà doanhnghiệp khách sạn phải đạt được là thiết kế một mức cung cấp dịch vụ ở mức
độ cao hơn so với những gì mà khách hàng kỳ vọng Đồng thời loại bỏ đượcnhững yếu tố tác động ngoài Vấn đề là ở chỗ, các khách sạn phải xác địnhđược chính xác những nhu cầu đòi hỏi của khách hàng mục tiêu để hình thànhnhững tiêu chuẩn bắt buộc cho toàn khách sạn mà mọi nhân viên đều phảituân thủ Khách sạn nên có những phương án phòng hờ và cung cấp dịch vụtheo công thức :
• Eplus : Làm khách cảm nhận cao hơn
• Phục vụ đi trước một bước : Phục vụ phải dựa trên cảm nhận của khách,tùy đặc điểm cá nhân từng khách mà cung cấp dịch vụ, không chờkhách yêu cầu nhân viên phải đọc được yêu cầu của khách để phục vụ
1.3.2 Đặc điểm chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn
Chất lượng phục vụ tiệc trong khách sạn khó đo lường và đánh giáNhư đã trình bày ở phần trên, để tạo ra một buổi tiệc thành công thì không thểthiếu bốn thành phần: cơ sở vật chất kỹ thuật, hàng hóa, dịch vụ ẩn, dịch vụhiện Vì vậy, khách sạn muốn đánh gía buổi tiệc được tổ chức có thành cônghay không, cần phải đánh giá cả bốn thành phần trên Cơ sở vật chất kỹ thuật
và hàng hóa là những yếu tố hữu hình dễ dàng nhìn thấy, chúng có tính chất lýhóa cụ thể như độ dài, chiều rộng, màu sắc, mùi vị do đó dễ đo đếm, đánhgiá thông qua các thông số Còn dịch vụ ẩn và dịch vụ hiện là những yếu tố vôhình, rất khó lượng hóa khi đánh giá Nếu đánh giá trên cảm nhận của ngườitiêu dùng mặc dù manh tính khách quan nhưng xét trên khía cạnh nào đó cũngmang tính chủ quan bởi cảm nhận là một phạm trù tâm lý, chịu tác động của