Chuỗi cung ứng: chuỗi các quá trình kinh doanh và thông tin để cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ thông qua sản xuất và phân phối đến khách hàng cuối cùng [2].. Nói cách khác chuỗi cung
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề
Công nghệ bao bì là ngành công nghiệp có vị trí quan trọng nền kinh tế quốc dân của Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm gần đây Trong đó ngành bao bì giấy đã và đang phát triển khá nhanh trên thế giới nhằm đáp ứng được tính năng kỹ thuật hợp với ưa thích của các sản phẩm thuộc ngành hàng tiêu dùng nhanh Vì vậy có sự cạnh tranh rất lớn đến nền kinh tế thế giới ngày càng gây gắt Vì thế các công ty cần phải liên kết lại với nhau để tạo ra sự vững chắc, để giảm chi phí và tăng lợi thế cạnh tranh
Đứng trước tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt và những thay đổi trong công nghiệp bao bì giấy Do đó, xây dựng chuỗi cung ứng gắn kết chặt chẽ các bên liên quan là phương thức để đạt được sự hợp tác dọc vì mục tiêu chung là tối đa hóa giá trị và giá cả cho tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng
Với một chuỗi cung ứng hợp tác dọc hoàn toàn sẽ nâng cao chất lượng, tăng cừng hiệu quả, cho phép tạo ra những sản phẩm khác biệt và làm tăng lợi nhuận Những lợi ích chính của chuỗi cung ứng kiểu này sẽ tạo cơ hội tiếp thị duy nhất, thị trường được đảm bảo, tạo ra những giá trị lớn hơn, chống lại việc cạnh tranh ở cấp
độ toàn cầu và tăng khả năng quản lý rủi ro Trên thực tế, các nhà quản lý làm thế nào có thể kiểm soát và nâng cao hiệu suất hoạt động để tăng cường khả năng cạnh tranh trong các chuỗi này
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Bao bì giấy là ngành công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới Việt Nam là một trong những nước có ngành bao bì phát triển nổi bật hiện nay Chính vì thế các công ty luôn cạnh tranh với nhau để cùng tồn tại và phát triển lâu dài bằng cách phải nỗ lực không ngừng về thay đổi sản phẩm như hình dáng, chất lượng, ra nhiều sản phẩm mới đạt được sự hài lòng của người tiêu dùng
Trang 2Ngành bao bì phải có sự tướng tác, kết hợp rất mật thiết và hài hòa giữa các ngành công nghiệp, dịch vụ như một chuỗi giá trị và giá trị tăng thêm theo từng cá nhân trong chuỗi cung ứng
Vì vậy chuỗi cung ứng rất cần thiết cho mỗi doanh nghiệp vì nó giúp các nhà quản lý biết được công ty mình đang gặp những khó khăn gì, những chỗ cần cải tiến
để làm cho chuỗi cung ứng của công ty liên kết chặt chẽ giữa các phòng ban để cải tiến hiệu suất động hoạt chuỗi cung ứng của mình
Trước tình hình kinh tế có nhiều biến động trên toàn cầu nói chung, ngành bao bì nói riêng Với lại Detmold Packaging đầu tư vào Việt Nam đã và đang gặp những khó khăn do chưa quản lý được chuỗi cung ứng của mình một cách hiệu quả.Vì vậy công ty có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến kết quả, mục tiêu kinh doanh Kết quả công ty thể hiện liên tục những khó khăn thường xuyên xảy ra trong chuỗi cung ứng như năng suất sản xuất không tiến triển, số lần đơn hàng bị trễ thường xuyên trong tháng, tỷ lệ phế phẩm ngày càng tăng, khiếu nại từ khách hàng tăng, không có khách hàng ở thị trường nội địa, chi phí sản xuất tăng
Để thực hiện chiến lược cải tiến này thì công ty thực hiện một kế hoạch hành động cảo tiến trên toàn chuỗi cung ứng của công ty, thông qua việc vận dụng mô hình cải tiến chuỗi cung ứng như thế nào để áp dụng vào việc cải tiến hiệu suất chuỗi cung ứng của công ty Thông qua những vấn đề đang gặp phải, công ty đã có chiến lược cải tiến hiệu suất trên toàn chuỗi với kế hoạch hành động cải tiến từ cuối quý 3 đến quý 4 năm 2013
Chính vì sự cần thiết để nâng cao việc cải tiến hiệu suất chuỗi cung ứng của công ty để có thể cạnh tranh cho mặt hàng ngành bao bì giấy ở thị trường trong và ngoài nước của Công ty Detmold Packaging Việt Nam nói riêng Và cộng với sự đam đam mê tìm hiểu nghiên cứu về chuỗi cung ứng Từ đây em quyết định chọn đề
tài nghiên cứu “cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng của công ty Detmold Packaging Việt Nam”
Trang 3Công ty Detmold Packaging Việt Nam là một doanh nghiệp có vốn đầu tư 100%
từ nước ngoài Hiện công ty đã và đang gặp những vấn đề trong chuỗi cung ứng như
Tỷ lệ phế phẩm, năng suất sản xuất, sự tăng đột ngột về sự phàn nàn của khách hàng, số lượng đơn hàng trễ tăng
Trình trạng thiếu nguyên vật liệu, chậm nguyên vật liệu và chi phí sản xuất tăng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và phân tích lý thuyết chuỗi cung ứng
Đánh giá một số mô hình điển hình trong chuỗi cung ứng, liên hệ tình hình thực tế tại Việt Nam
Áp dụng để cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty Detmold Packaging Việt Nam
Một số biện pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng tại công ty Detmold Packaging Việt Nam và kiến nghị
1.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số lý thuyết trong chuỗi cung ứng và đưa ra biện pháp khắc phục các vấn đề đang xảy ra nhằm cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng của công ty Detmold Packaging Việt Nam
Ý nghĩa đề tài:
Người tiêu dùng
Các nhà
cung cấp
đầu vào
Detmold Packaging Việt Nam
Các trung tâm phân phối
Hình 1.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu
Khách hàng
Trang 4 Nghiên cứu một số lý thuyết trong chuỗi cung ứng, sau đó liên hệ phân tích
tình hình thực tế Việt Nam
Về thực tiển là phân tích, đánh giá và các giải pháp nhằm cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng của công ty Detmold Packaging Việt Nam
1.5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên tại bàn (Desk Research):
- Thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn: tài liệu các dự án, báo cáo tại các hội thảo, báo chí, internet
- Tổng quan Detmold và thông qua phân tích các số liệu từ Ban Giám Đốc, Các Phòng Ban, các chuyên gia nước ngoài để đo lường hiệu suất hoạt động của chuỗi cung ứng công ty Detmold Packaging Việt Nam
- Phân tích đánh giá các số liệu thực tế công ty Detmold Packaging Việt Nam
từ các phòng ban chính: Nhân Sự ( HR), Chất Lượng( QA), Dịch Vụ và chăm sóc khách hàng(CS), Kế Hoạch(P), Sản xuất(Pr), Kỹ Thuật(E), Thu mua (PR), Tài chính(F)
Phương pháp nghiên cứu hiện trường (Field Research):
- Phân tích và thu thập các thông tin định tính để nhận định sơ bộ vấn đề
- Nghiên cứu và phân tích lý thuyết, mô hình vào thực tế
- Áp dụng các giải pháp để tiến hành đo lường thực tế rồi lấy số liệu sơ cấp
1.5.2 Phương pháp luận
Nghiên cứu lý thuyết chuỗi cung ứng và đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện hiệu suất hoạt động của công ty Detmold Packaging Việt Nam, qua đó được trình bày như sơ đồ (hình 1.2)
1.6 Bố cục luận văn
Luận văn gồm những chương sau:
Chương 1: Tổng quan
Trang 5Chương 2: Giới thiệu chuỗi cung ứng
Chương 3: Những cải tiến hiệu suất trong chuỗi cung ứng
Chương 4: Cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty Detmold
Việt Nam
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Hình 1.2: Sơ đồ tóm tắt quá trình nghiên cứu
- Đặt vấn đề
- Mục tiêu nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
-Một số định nghĩa
- Phân loại chuỗi cung ứng
- Các chức năng hoạt động chuỗi cung ứng
- Quản lý chuỗi cung ứng
Chương 2
Giới thiệu chuỗi cung ứng
Chương 3
Những cải tiến hiệu suất trong chuỗi cung ứng
- Hiệu suất của chuỗi cung ứng
- Những mô hình đo hiệu suất chuỗi cung ứng
-Cải tiến hiệu suất chuỗi cung ứng
Chương 4
Cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty Detmold Packaging Việt Nam
-Giới thiệu Detmold Packaging Việt Nam
-Chuỗi cung ứng Detmold Packaging
- Đo lường hiệu suất hoạt động của công
ty
- Thực hiện cải tiến
- Thực hiện kế hoạch cải tiến
- Kết quả đo lường kết quả thực hiện
Chương 1
Tổng quan
Trang 6CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU CHUỖI CUNG ỨNG
2.1 Một số định nghĩa chuỗi cung ứng
2.1.1 Chuỗi cung ứng (Supply Chain)
Chuỗi cung ứng có nhiều định nghĩa khác nhau:
Chuỗi cung ứng: là một hệ thống các dòng chảy và phân phối thể hiện các chức năng từ thu mua nguyên liệu, chuyển đổi thành các sản phẩm trung gian đến sản phẩm cuối cùng sau đó là phân phối đến khách hàng [1]
Chuỗi cung ứng (hay chuỗi cung cấp): là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng [5]
Chuỗi cung ứng: chuỗi các quá trình kinh doanh và thông tin để cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ thông qua sản xuất và phân phối đến khách hàng cuối cùng [2]
Chuỗi cung ứng: bao gồm tất cả các quá trình liên quan, trực tiếp hay gián tiếp để đáp ứng nhu cầu khách hàng Nó không chỉ bao gồm nhà máy và các nhà cung cấp mà còn tất cả các nhà vận chuyển, kho vận, các nhà bán hàng và cả khách hàng [3]
Chuỗi cung ứng: một hệ thống những công ty liên kết với nhau để mang các sản phẩm hoặc dịch vụ đến thị trường [4]
Nói cách khác chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng
Các yếu tố trong chuỗi cung ứng:
- Nhà sản xuất: Là các công ty làm ra sản phẩm, bao gồm các nhà sản xuất
nguyên vật liệu và các công ty sản xuất thành phẩm
Trang 7- Nhà phân phối (nhà bán sỉ): là các công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối sỉ các dòng sản phẩm cho khách hàng và bán sản phẩm với số lượng lớn hơn so với số lượng người tiêu dùng thông thường mua
- Nhà bán lẻ: bán cho khách tiêu dùng cuối cùng
- Khách hàng: là bất kỳ cá nhân hay công ty nào mua và sử dụng sản phẩm
- Nhà cung cấp dịch vụ: là những công ty cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng, tập trung phục vụ một hoạt động đặc thù mà chuỗi cung ứng cần
2.1.2 Quản lý chuỗi cung ứng (SCM- Supply Chain Mamangement)
Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật
và khoa học nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm/dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm/dịch vụ đó và phân phối tới các khách hàng Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp SCM nào,
dù sản xuất hàng hoá hay dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên và mối tương quan giữa chúng trong toàn bộ dây chuyền cung ứng sản xuất [10]
Là sự giám sát nguyên vật liệu, thông tin và tài chính khi chúng di chuyển trong một quá trình từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, người bán sỉ, người bán lẻ cho đến khách hàng Quản lý chuỗi cung ứng gồm tích hợp những dòng này cả bên trong và bên ngoài giữa các công ty [6]
Là sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện phương thức tìm nguồn cung cấp nguyên vật liệu, phương thức sản xuất sản phẩm dịch vụ và cuối cùng là chuyển sản phẩm dịch vụ hoàn thành đến khách hàng [7]
Là quản lý mọi hoạt động của chuỗi cung ứng, mục tiêu chính quản lý chuỗi cung ứng là tối thiểu những hoạt động không đưa được giá trị vào trong chuỗi Nó tăng cường khả năng cạnh tranh dựa vào việc nâng cao hiệu suất và giảm chi phí [8]
Trang 82.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng là khi chỉ có một sản phẩm dịch chuyển qua một loạt các tổ chức và mỗi tổ chức tạo thêm một phần giá trị cho sản phẩm
Lấy một tổ chức nào đó trong chuỗi làm qui chiếu, nếu xét đến
các hoạt động trước nó - dịch chuyển nguyên vật liệu đến - được gọi là ngược
dòng; những tổ chức phía sau doanh nghiệp- dịch chuyển vật liệu ra ngoài - được
gọi là xuôi dòng
Các hoạt động ngược dòng được dành cho các nhà cung cấp Một nhà cung cấp dịch chuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến nhà sản xuất là nhà cung cấp cấp một; nhà cung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà cung cấp cấp một được gọi là nhà cung ứng cấp hai, cứ ngược dòng như vậy sẽ đến nhà cung cấp cấp ba rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc
Xét quá trình cung cấp xuôi dòng, khách hàng nhận sản phẩm một cách trực tiếp từ nhà sản xuất là khách hàng cấp một, khách hàng nhận sản phẩm từ khách hàng cấp một chính là khách hàng cấp hai, tương tự chúng ta sẽ có khách hàng cấp
ba và tận cùng của dòng dịch chuyển này sẽ đến khách hàng cuối cùng
Trong thực tế, đa số các tổ chức mua nguyên, vật liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau và bán sản phẩm đến nhiều khách hàng, vì vậy chúng ta có khái niệm chuỗi hội tụ và chuỗi phân kỳ [11]
2.3 Phân loại chuỗi cung ứng
2.3.1 Hoạt động của các chuỗi cung ứng
Joseph L Cavinato [12] đã phân tích chuỗi cung ứng bằng cách đo lường chi phí
hoạt động, số lượng lao động, các bước trong qui trình, mức độ kiểm soát nguồn nhân lực,… và phân chia thành 16 dạng chuỗi cung ứng phân bố trên các mặt trận sau:
Trang 9-Hoạt động chức năng không hiệu quả
-Bị thương tổn về khà năng cạnh tranh và tài chính
Nguy hiểm
2 Bị bắt giữ bởi
các tổ chức hậu
-Bị nắm giữ bởi tổ chức hậu cần
3.Chuỗi hoạt
động hiệu
quả
4.Chuỗi hỗ trợ sản xuất
5 Chuỗi cân bằng
6.Chuỗi dự
án hậu cần
8 Chuỗi điều phối
9 Theo yêu cầu khách hàng
10 Chuỗi
mở rộng
11 Chuỗi có ưu thế về thị trường
12.Chuỗi tích hợp
13.Chuỗi tốc
độ
14.Chuỗi cải tiến
Truyền thống Tác động thương mại Lợi thế cạnh tranh/lợi nhuận
15.Chuỗi giá trị
16.Chuỗi cạnh tranh bằng thông tin
Hình 2.1: Biểu đồ ma trận chuỗi cung ứng
Trang 10cần bên ngoài -Hoạt động chức năng không hiệu
quả
-Bị thương tổn về khả năng cạnh tranh và tài chính
3 Chuỗi hoạt động
kém hiệu quả
-Chi phí cố định cao, lượng nhân công lớn, nhiều cấp quản lý -Quá trình xử lý công tác hậu cần tại trung tâm rất lầu, nó làm chậm hoạt động thu mua sản xuất và bán hàng
-Tồn kho lớn, tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp
Không hiệu quả
-Có thể chuyển sự tập trung của các nguồn lực đến những hoạt động và qui trình mang tính chiến lược khác
-Có sự liên kết lưu chuyển các nguồn lực với tồn kho và quản lý đơn hàng
-Có quan tâm vấn đề quản lý tài sản
-Cải tiến cách dịch vụ khách hàng
Sản xuất có hiệu quả nhưng tính cạnh tranh không
cao
Trang 11-Cân bằng dòng sản phẩm sản xuất bên trong nhà máy với dòng chuyển vận bên ngoài Dòng này bắt đầu ở việc phân phối sản phẩm tới khách hàng phản hồi xuyên qua nhà máy sản xuất và đôi khi đến cả quá trình mua hàng
Cùng có tính cạnh tranh thấp như chuỗi hỗ trợ sản xuất nhưng phức tạp hơn
6 Chuỗi dự án hậu
cần
-Tạo và cung cấp một cách hiệu quả những giá trị trong dự án hậu cần
-Đáp ứng nhu cầu dự án tại thời điểm kết thúc
-Thiết lập khả năng tích hợp với nhà cung cấp để thực hiện các mục tiêu dự án
-Vai trò của người thu mua và nhà cung cấp quan trọng trong việc bảo đảm yếu tố thời gian
Thích hợp cho các loại dự án
7 Tiền đến tiền
-Tập trung chủ yếu vào mục tiêu tài chính sau đó là dịch vụ hậu cần, cuối cùng là xây dựng cả chuỗi
-Cung cấp vốn cho các công ty đang hoạt động với số vốn âm.Sau đó sẽ nắm quyền phân
Giống hình thức thuê tài chính, nhưng chuỗi bị mất đi một số quyền kiểm soát nhất định vào tay nhà đầu tư
Trang 12phối sản phẩm đến khác hàng
-Dòng sản phẩm lưu chuyển rất nhanh
-Phần vốn đầu tư sẽ được rút ra và đưa vào nơi khác khi chuỗi cung ứng đã hoạt động hiệu quả
8 Chuỗi điều phối
-Thường lấy ở các công ty đa quốc gia nơi có mức tập quyền thấp khó quản lý
-Hoạt động chức năng không hiệu
-Bị tổn thương về tài chính, chi phí cao
-Không tạo được các lợi thế cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh thấp
9 Theo yêu cầu
khác hàng
-Liên minh chặt chẽ với khác hàng
-Sử dụng các phần mềm ERC, CPR trong quản lý
-Yêu cầu công ty có hệ thống phục vụ khác hàng tốt và thích hợp với các dạng khách hàng khác nhau
Mức độ cạnh tranh cao nhưng mức độ phức tạp trong chuỗi cung ứng không lớn
10 Chuỗi mở rộng
-Vòng đời sản phẩm ngắn, tốc độ lưu chuyển nhanh
-Sự tìm kiếm lợi nhuận và giảm chi phí thông qua nỗ lực liên kết với các nhà cung cấp (nhà cung
Công ty đang quan tâm đến vấn đề hiệu quả, cải tiến
có tính đột phá
Trang 13cấp thứ 2 và 3) và khách hàng ở bất cứ nơi nào có thể
-Việc phân tích chi phí và giá trị
là chìa khóa của quyết định làm hay mua, tự sản xuất hay thuê ngoài
về chi phí để ngăn chặn sự xâm nhập của các đối thủ vào thị trường
Có khả năng cạnh tranh cao
12 Chuỗi tích hợp
-Các công ty tích hợp với nhau nhằm giảm chi phí và khoảng cách giữa chúng
-Mỗi người vừa là nhân viên trong tổ chức vừa là thành phần của chuỗi
-Mỗi người của chuỗi được thành lập những nhóm suốt từ khách hàng tới nhà cung cấp, họ được yêu cầu xác định chi phí và tìm mọi cách để giảm thiểu chúng
Là xu hướng mới của chuỗi ngày nay
13 Chuỗi tốc độ -Thị trường được chọn lựa trước
-Tập trung vào việc phát triển sản
Khả năng cạnh tranh và thích ứng
Trang 14phẩm
-Thời gian được kiểm soát chặt chẽ và là thang đo xuyên suốt của mọi quá trình
-Sản xuất linh hoạt kết hợp thuê ngoài
thị trường cao
14 Chuỗi cải tiến
-Nhà cung cấp thường là những người cung cấp, hỗ trợ các ý tưởng
-Việc phát triển các chu kỳ sản phẩm mới là liên tục, áp lực bộ phận R&D cực kỳ lớn
-Dòng đời sản phẩm ngắn, doanh thu tập trung vào các sản phẩm mới
-Mối quan hệ nhà cung cấp mang chủ đích tìm kiếm sự cải tiến hơn chỉ là thương lượng để mua với giá thấp nhất có thể
-Nhiệm vụ mua hàng của bộ phận thu mua sẽ giảm tính giao dịch đàm phán và tăng vai trò tạo dựng mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp
Lợi thế cạnh tranh
cao
Liên minh với đối tác để tăng thêm lợi thế cạnh tranh
16 Chuỗi cạnh -Lợi thế cạnh tranh là thông tin, Lợi thế cạnh tranh
Trang 15và dung lượng của tổ chức khác khi cần
-Cần có cơ sở vật chất để phục vụ cho việc mua bán và giao nhận các sản phẩm và dịch vụ
-Ứng dụng công nghệ thông tin cao
rất cao, mức độ kết hợp giữa các thành phần trong chuỗi rất lớn
Tổng cộng có 16 chuỗi cung ứng trên được phân thành thành 3 nhóm mô hình chính:
1 Từ 1 - 3: Các mô hình truyền thống cũ và hoạt động không hiệu quả
2 Từ 4 – 10: Cấu trúc từ đơn giản đến phức tạp, hướng tới lợi nhuận lâu dài nhưng khả năng cạnh tranh thấp
3 Từ 11-16: Có lợi thế cạnh tranh cao, độ tích hợp sâu, lợi nhuận lớn
Việc phân chia theo ma trận giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quát về chuỗi,
để định vị được chuỗi cung ứng của mình trên ma trận, qua đó thiết lập các hướng cải tiến phù hợp Cách phân chia này cho thấy chuỗi cung ứng qua các giai đoạn khác nhau luôn thay đổi để thích nghi nhu cầu thị trường
Căn cứ vào vị trí tương quan của các chuỗi cung ứng trên ma trận ta thấy càng đi
về phái bên phải các chuỗi các được đánh giá có lợi thế cạnh tranh cao, lợi nhuận lớn:
Độ linh hoạt sản phẩm lớn
Thời gian đáp ứng nhanh
Năng lực hoạt động tăng cường
Trang 16 Quản lý chi phí tốt
Hiệu quả trong hoạt động
Từ những phân tích ở trên, ta thấy độ phức tạp của chuỗi không là yếu tố quyết định đến hiệu suất hoạt động của chuỗi
2.3.2 Đặc tính sản phẩm
Có hai loại đặc tính ảnh hưởng đến sản phẩm là cải tiến và chức năng:
Loại chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional): Đặc tính sản
phẩm ít thay đổi, nhu cầu trên thị trường ít biến động (lương thực, thực phẩm, các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam) Để tăng hiệu suất hoạt động của chuỗi, nên tìm cách giảm chi phí trong sản xuất, vận chuyển và giao dịch Quản lý chuỗi chú trọng tới việc giảm tồn kho và tăng chia sẽ thông tin giữa các thành viên với nhau Lợi thế cạnh tranh giữa các chuỗi là chi phí thấp
Loại chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovation): Các sản phẩm thay
đổi liên tục trên thị trường như quần áo thời trang, phần mềm tin học,… Đặc điểm thông tin chia sẽ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ thông qua chuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, mức độ tồn kho ít Việc dự báo nhu cầu thị trường và thiết kế sản phẩm rất quan trọng Lợi thế cạnh tranh là đưa sản phẩm mới ra thị trường Cấu trúc chuỗi linh hoạt, các lớp chức năng trong chuỗi này tích hợp sâu đề đẩy nhanh hàng hóa qua chuỗi
2.3.3 Đưa sản phẩm ra thị trường
Trong chuỗi cung ứng có hai dạng chuỗi là chuỗi kéo và chuỗi đẩy:
Chuỗi kéo (Pull Supply Chain): Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trên thị trường, họ tìm kiếm các nhà sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu của họ Các nhà sản xuất lại tìm những nhà thầu phụ, nhà cung cấp khác có thể giúp họ hoàn thành thương vụ và quá trình cứ thế lặp lại, chuỗi cung ứng được hình thành Khách hàng có cơ hội chọn lựa những nhà cung cấp mà họ cảm nhận giá trị sản phẩm là tốt nhất Những chuỗi tồn tại phải là những chuỗi hoạt động có hiệu quả
Trang 17Đặc điểm này là sản xuất theo đơn hàng, cấu trúc chuỗi linh hoạt, rủi ro tương đối thấp do nhu cầu trên thị trường được báo trước
Chuỗi đẩy (PSC-Push Supply Chain): Sản phẩm được sản xuất dạng tồn kho, sản xuất song song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ Các nhà quản lý cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi kho của mình đến lớp tiếp theo trong kênh phân phối Đến lượt các lớp này lại cố gắng đẩy nó lên phía gần khách hàng hơn Quyền lực nằm trong tay người cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán về giá cả, nhất là các sản phẩm mới, khách hàng không có nhiều cơ hội chọn lực Đặc điểm chuỗi (PSC) là tồn kho cao, các dòng sản phẩm thường bị gián đoạn và rủi ro lớn (nếu sản phẩm không được thị trường chấp nhận) Sự hợp tác, liên kết giữa các lớp thường không cao Trong chuỗi này chức năng tìm hiểu và dự báo nhu cầu thị trường, tiếp thị sản phẩm rất quan trọng Việc sản xuất hàng loạt theo cảm tính, thiếu định
hướng thường gây những hậu quả nghiêm trọng Để chuỗi đẩy hoạt động hiệu quả, nhà quản lý phải có năng lực và tầm nhìn chiến lược
2.4 Các chức năng hoạt động của chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng tham gia vào việc đáp ứng mục tiêu cung cấp những sản phẩm dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng bằng cách sử dụng những nguồn lực và xây dựng cho mình những lợi thế cạnh tranh [4]
Chuỗi cung ứng có nhiều mô hình để phân tích hoạt động, sau đây phân tích mô hình SCOR
2.4.1 Chuỗi cung ứng theo mô hình SCOR
Mô hình SCOR là mô hình tổng quan, đưa ra hướng dẫn khung để phát triển cấu trúc chuỗi cung ứng Mô hình SCOR (Supply Chain Operation Reference) của hội đồng chuỗi cung ứng SCC (Supply Chain Concil).Bên cạnh SCOR, còn có các
mô hình bổ sung khác được phát triển tương thích với từng tình hình cụ thể của các ngành công nghiệp và chi tiết đến mức ứng dụng – chẳng hạn như yêu cầu chuẩn về
dữ liệu
Trang 18Mô hình chuỗi cung ứng bao gồm bốn quy trình: hoạch định, mua hàng, sản xuất
và phân phối Để đặt chỉ tiêu và quản lý hiệu quả hoạt động, cần định ra bảng các chỉ tiêu đánh giá cho từng quy trình và cho hiệu quả của tổng thể chuỗi cung ứng Phạm vi của chuỗi cung ứng bao gồm các mối tương tác “từ nhà cung cấp của nhà cung cấp đến khách hàng của khách hàng” – một mạng lưới các tổ chức, công
ty kết nối với nhau bởi các dòng chảy hàng hóa, thông tin và tài chính, được tạo ra
để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng cuối
Muốn đảm bảo các chuỗi cung ứng có thể được mô tả một cách trung thực,
thống nhất, tái cấu trúc để đạt được lợi thế cạnh tranh, có thể đo lường, quản lý,
kiểm tra và tinh chỉnh cho phù hợp với mục đích cụ thể
Chuỗi cung ứng có thể biểu diễn bằng chuỗi các quá trình cơ bản như sau:
Với: KH: Kế hoạch, SX: sản xuất, PP: Phân phối, CC: Cung cấp, TL: Trả lại Theo đó, SC được chia làm 4 lớp phân tích theo quá trình:
Mức 1: Định nghĩa chuỗi cung ứng bằng quá trình: lập kế hoạch, tìm nguồn
cung cấp, sản xuất, phân phối, trả lại
Mức 2: Phân tích 5 dạng quá trình theo danh mục cụ thể để hạn chế các quá
Nhà cung
cấp của
nhà cung
cấp
Trang 19 Mức 3: Cho phép định nghĩa chi tiết các quá trình đã được xác định ở mức 2
Các công cụ hỗ trợ từ máy tính, phần mềm được đáp ứng Mức này định nghĩa các quá trình được dung để xác định mức độ tích hợp với nhà cung cấp và khách hàng
Mức 4: Mô tả chi tiết nhiệm vụ của các hoạt động trong mức 3 để triển khai
các hoạt động tác nghiệp hàng ngày
Phạm vi đề tài giới hạn tìm hiểu cách thức hoạt của chuỗi đến giữa mức 2, qua
đó các hoạt động cung cấp sẽ được thay bằng thu mua:
Hình 2.3: Biểu đồ của quá trình cấp 1 trong định nghĩa
Trang 20Quá trình lập kế hoạch theo mô hình SCOR, việc thiết lập kế hoạch được thực hiện trước tiên và thông qua tất cả các quá trình, từ phân tích thông tin phản hồi về nhu cầu thị trường đến kiểm tra, đánh giá các nguồn lực hiện có, dung lượng sản xuất, tồn kho, khả năng giao hàng
Trong SCOR mức 2, việc lập kế hoạch sẽ được phân chia làm 5 quá trình nhỏ
là 1/ Hoạch định nhu cầu chung của chuỗi; 2/ Hoạch định nguồn cung cấp; 3/ Sản xuất; 4/ Giao hàng; 5/ Quản lý hàng trả về
Đầu vào của việc lập kế hoạch là nguồn thông tin được cung cấp từ tiếp thị và thông tin phản hồi từ các bộ phận khác Kế hoạch được đánh giá là tốt khi cân đối được cung cầu, tiếp cận mục tiêu, kết nối được các bộ phận Kế hoạch phải chủ động quản lý được các hoạt động khác, phát hiện và thu ngắn các khoảng cách giữa các bộ phận, loại bỏ những công việc trùng lắp Thông thường kế hoạch thể hiện dưới dạng lịch sản xuất chính (Master Production Schedule), theo đó, mọi bộ phận
tự xác định và thi hành công việc của mình Chìa khóa để kế hoạch thành công là thông tin, chìa khóa để kiểm soát kế hoạch cũng là thông tin
Theo Dinesh Garg [15]: việc xác lập kế hoạch cho chuỗi cung ứng là sự nỗ lực nhằm đạt mục tiêu chính của “sản xuất và phân phối sản phẩm trong thương mai, bảo đảm đúng số lượng, đúng nơi, đúng thời điểm với chi phí là nhỏ nhất” Như vậy, bản thân kế hoạch phải giải quyết nhiều mục tiêu mâu thuẫn nhau
Trang 21ứng phó với sự thay đổi của nhu cầu thị trường, và có dự phòng những rủi ro bất trắc
2.4.3 Thu mua (Source)
Là các quá trình liên quan tới việc thu mua nguyên liệu, hàng hóa theo kế hoạch để cung cấp cho nhu cầu sản xuất hoặc bán hàng
Thu mua hàng theo mô hình SCOR được thực hiện tại giao diện của mỗi lớp
trong chuỗi với lớp phía sau, nó được định hướng bằng kế hoạch chung của chuỗi
và được thực hiện bởi bộ phận thu mua (Purchasing) Các chức năng khác có thể kể đến là:
Tổ chức xây dựng, điều phối hoạt động mạng lưới cung cấp và các hoạt động vận chuyển bên trong (từ nhà cung cấp đến nhà máy và ngược lại)
Tìm kiếm và lựa chọn các nhà cung cấp mới cũng như sàng lọc các nhà cung cấp không đạt yêu cầu Cấp chứng nhận cho những nhà cung cấp đạt tiêu chuẩn
Kiểm soát nguồn nguyên liệu (thông qua kho và sản xuất) Bảo đảm chất lượng nguồn hàng Cung cấp thông tin kỹ thuật cần thiết cho các nhà cung cấp
Thực hiện đàm phán, thương thuyết để có được mức giá lợi nhất
Thực hiện ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp Đảm bảo thủ tục để bộ phận kế toán có thể thực hiện việc chi trả cho các nhà cung cấp một cách thuận lợi Như vậy có thể thấy đây là bộ phận rất quan trọng, là mắc xích liên kết giữa công ty và thị trường cung cấp Một bộ phận thu mua được đánh giá mạnh khi nó có thể tìm được nguồn nguyên liệu hàng hóa rẻ, đạt chất lượng; đảm bảo cung cấp đầy
đủ nguyên liệu cho quá trình tiếp theo và xây dựng được mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp.Để thực hiện tốt chức năng hoạt động của mình, bộ phận này phải phối hợp hoạt động chặt chẽ với các bộ phận như kế hoạch, sản xuất, kho, kỹ thuật,
QC và kế toán
Trong mô hình SCOR mức 2, chức năng tìm nguồn cung cấp được phân tích thành 3 quá trình:
Trang 22 Tìm nguồn cung cấp cho dạng sản xuất tồn kho: Nhu cầu sản phẩm chưa biết trước nên mức lưu kho bị dao động rất lớn, các nhà máy buộc phải tăng dự trữ
để đối phó với những đơn hàng đột xuất Bộ phận thu mua thường vất vả trong việc thiết lập các mối quan hệ dài hạn với các nhà cung cấp và phải xây dựng mạng lưới cung cấp dự phòng để phòng tránh rủi ro Để giảm gánh nặng tồn kho do hiệu ứng sợi dây thừng, yêu cầu thông tin thị trường phải được chia sẻ trung thực tới nhà cung cấp
Tìm nguồn cung cấp cho dạng sản xuất theo đơn hàng: Nhu cầu được báo trước, bộ phận thu mua dễ xây dựng các mối quan hệ dài hạn với nhà cung cấp, giúp họ thiết lập quy trình theo tiêu chuẩn yêu cầu Bộ phận thu mua lựa chọn và phân bổ các đơn hàng cho các nhà cung cấp khác nhau theo năng lực và giá cả của
họ Hàng hóa được đặt theo đơn hàng, tỉ lệ thay đổi nhà cung cấp tương đối thường thấp
Tìm nguồn cung cấp cho dạng thiết kế theo đơn hàng: yêu cầu nguồn nguyên liệu phong phú và các nhà cung cấp phải có năng lực thiết kế thực sự Giá trị sản phẩm thể hiện qua ý tưởng, thiết kế và cách thức thực hiện của họ Bộ phận thu mua xây dựng mối quan hệ rộng với các nhà cung cấp để đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản phẩm Cơ hội cải tiến trong dạng sản xuất này rất lớn nó tạo cho họ cơ hội phát huy khả năng của mình Quá trình hợp tác phát triển sản phẩm mới giúp các công ty thu ngắn khoảng cách giữa chúng và giúp phát hiện ra những nhà cung cấp có tiềm năng
Theo Brian Fynes [16] mối quan hệ bền vững với các nhà cung cấp phải được thiết lập dựa trên các yếu tố:
Trang 23Hình 2.5: Những yếu tố tạo nên mối quan hệ bền vững
Sự liên kết: Cách thức liên kết rất khác nhau tùy theo thế mạnh của một thành viên Phần lợi thu được từ các mối quan hệ này tùy thuộc vào tỷ trọng đóng góp và
vị thế của các bên
Sự thỏa mãn: Các doanh nghiệp liên kết nhau không ngoài mục tiêu tăng lợi ích bản thân họ (hai bên cùng có lợi) Sự thay đổi quan hệ từ đối tác này sang đối tác khác cũng vì lợi ích thu được từ các mối quan hệ này khác nhau
Sự tận tụy: để đạt được mục tiêu chung, mỗi bên phải nỗ lực để đạt được nó, đôi khi họ phải đánh đổi những lợi ích nội tại trước mắt với những cơ hội tiềm tàng
mà các doanh nghiệp kỳ vọng có được khi liên kết với những đối tác khác
Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các thành viên phải có sự ràng buộc lẫn nhau về lợi nhuận hay mục tiêu Họ phải dựa vào các nguồn lực của nhau để bù vào các điểm yếu của mình
Sự thích nghi: Mỗi công ty phải có cấu trúc tương đối linh hoạt để có thể tương thích với các hoạt động của các công ty khác nhau
Thông tin: Là yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳ mối quan hệ nào Mức
độ hợp tác giữa các công ty thể hiện ở mức độ chia sẻ thông tin
Sự thật: nhất là thông tin, muốn có quan hệ lâu dài và bền chặt thì các bên phải có thể tin cậy lẫn nhau
Mối quan hệ bền vững Sự phụ thuộc lẫn nhau
Trang 24Để các nhà cung cấp có thể đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu, các nhà cung cấp nên có chương trình huấn luyện, đào tạo bằng nhiều phương pháp như:
Cùng chia sẻ thông tin thông qua hệ thống máy tính hoặc trong những buổi họp kỹ thuật
Cung cấp các tiêu chuẩn kỹ thuật, sẵn sàng hỗ trợ khi có vấn đề phát sinh
Cử chuyên gia, cán bộ kỹ thuật đến các nhà máy, tham gia làm việc nhóm
Xây dựng hệ thống phản hồi thông tin tốt để giúp các nhà cung cấp giải quyết kịp thời các vấn đề Nó giúp tăng cường hiệu suất của cả hai bên Ở một số chuỗi cung ứng, giám đốc sẽ đi gặp các nhà cung cấp của mình theo định kỳ để lắng nghe, giải quyết các vấn đề của họ đồng thời thu thập, chia sẻ kinh nghiệm quản lý
Có thể thấy những nhà cung cấp là chìa khóa để các công ty giảm chi phí nguyên liệu và đảm bảo các quá trình hoạt động của mình Thế nên chọn lựa các nhà cung cấp chính là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất dẫn đến thành công Nếu nhiều nhà cung cấp có năng lực ngang nhau thì các tiêu chí tiếp theo được chọn là thời gian vận chuyển, hậu mãi…
Mabmut Sommez [17] đã tiến hành khảo sát và xây dựng mô hình chọn lựa nhà cung cấp Nó là quá trình ra quyết định đa mục tiêu, các yếu tố ảnh hưởng bao gồm:
Trang 25Hình 2.6: Biểu đồ lựa chọn nhà cung cấp
Mô hình này không phải là chuẩn mực cho tất cả các nhà quản lý nhưng nó cung cấp cho họ một số ý tưởng khi chọn lựa nhà cung cấp Tùy từng loại hình sản xuất, từng hoàn cảnh, thời điểm mà trọng số của các tiêu chí này có thể sẽ rất khác nhau
Các nhà quản lý phải lựa chọn việc tự sản xuất hay thuê ngoài Các quyết định này căn cứ đầu tiên là chi phí
Tổng chi phí tự sản xuất TCsx và TCtn: tổng chi phí thuê ngoài
TCtn = FCtn + Q Ptn Với FCsx và FCtn: chi phí cố định khi tự sản xuất và thuê ngoài
Psx và Ptn: giá đơn vị khi tự sản xuất và thuê ngoài Q: sản lượng
Các cân nhắc sản xuất hay thuê ngoài xảy ra khi hai mức tổng chi phí này bằng nhau Khi đó sản lượng làm hay thuê sẽ được tính:
Trang 26FCtn - FCsx
Q =
Psx – Ptn Ngoài ra còn căn cứ vào:
Năng lực: xem xét năng lực thực tế của công ty còn có thể tiếp nhận những đơn hàng khác hay không
Thời gian đáp ứng: tự sản xuất hay thuê ngoài nhanh hơn
Độ tin cậy: thời gian giao hàng của nhà cung cấp có đáng tin cậy hay không? Việc kiểm soát các quá trình sản xuẩt bên trong luôn dễ thực hiện hơn thuê ngoài
2.4.4.Sản xuất (Make)
Trong chuỗi cung ứng thường được phân tích ở công ty trung tâm, nơi mà nguyên liệu và bán thành phẩm được tập trung các nguồn để tạo thành sản phẩm cuối cùng theo kế hoạch Nó bao gồm cả hoạt động sản xuất, thử nghiệm sản phẩm
mới, đóng gói và lưu trữ
Sản xuất theo mô hình SCOR được bố trí sau quá trình thu mua và trước
phân phối sản phẩm Quá trình này được phân tích thành 3 dạng là: sản xuất tồn kho MTS (Make To Stock), sản xuất theo đơn hàng MTO (Make To Order), thiết kế theo đơn hàng ETO (Engineer to Order) Dạng lắp ráp theo đơn hàng ATO
(Assemply to Order) là dạng đặc biệt của MTO
Các dạng được mô tả như sau:
Sản xuất tồn kho (MTS: Make To Stock): là một môi trường sản xuất mà sản phẩm được hoàn thành trước khi nhận được đơn đặt hàng của người mua
Làm theo đơn hàng (MTO: Make To Order): là một môi trường sản xuất
mà hàng hóa hoặc dịch vụ được tạo ra sau khi nhận được yêu cầu của khách hàng
Thiết kế theo yêu cầu (ETO: Engineer To Order): khách hàng yêu cầu nhà sản xuất thực hiện thiết kế toàn bộ các đặc điểm kỹ thuật cũng như quy trình sản xuất
Trang 27 Lắp ráp theo đơn hàng (ATO: Assemble-to-order): là môi trường sản xuất nơi hàng hóa hoặc dịch vụ được lắp ráp sau khi nhận được yêu cầu của người mua [19]
Bảng 2.2: Các dạng sản xuất
hàng
Chủng loại hàng
Các vấn đề phải đối phó
ATO
Các bộ phận của các thành
phẩm được tồn kho và khi
được mua nó sẽ lắp ráp lại
Các hoạt động hỗ trợ:
Quy trình sản xuất và các bộ phận liên quan:
Trang 28Theo kế hoạch sản xuất, nó được đưa vào dây chuyền sản xuất và xử lý qua các đoạn khác nhau trước khi đến trạm làm việc cuối cùng Bộ phận kỹ thuật thiết lập các thông số kỹ thuật cần thiết cho nhà máy và phổ biến xuống từng bộ phận
Bộ phận triển khai sản xuất tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật và thực hiện theo kế hoạch được giao Trên mỗi công đoạn làm việc đều bố trí bộ phận kiểm tra giám sát chất lượng Các sản phẩm sai hỏng nếu không thể sữa chữa đều bị loại ra, số còn lại
bị trả về công đoạn trước đó Các khuyết tật được ghi nhận, tổng hợp, báo cáo đến
bộ phận sản xuất, thu mua và kỹ thuật nhằm có biện pháp khắc phục, hiệu chỉnh cần thiết
Quá trình sản xuất được thiết kế theo nguyên tắc sao cho đường đi của sản
phẩm và người thao tác là ngắn nhất hạn chế mọi hoạt động dư thừa
Quản lý tồn kho: Tồn kho là quá trình tích lũy hàng hóa nó được dùng để thỏa mãn những nhu cầu trong tương lai Các loại hình sản xuất khác nhau có mức tồn kho khác nhau
Quản lý chất lượng trong chuỗi cung ứng
Nói đến chất lượng trong chuỗi cung ứng là nói đến người tiêu dùng, các chính phủ và cộng đồng đều quan tấm đến việc quá trình sản xuất hàng tiêu dùng có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của người lao động, đến cộng đồng, đến môi trường, cũng như mức độ an toàn của sản phẩm đó Vì vậy chúng ta có nhiều cách định nghĩa về chất lượng, nhưng điều căn bản là các nhà quản lý phải chuyển tải chất lượng vào trong sản phẩm để khách hàng có thể cảm nhận được
Qua mỗi lớp trong chuỗi cung ứng, chất lượng được đánh giá bởi hàng hóa/ dịch vụ mà họ cảm nhận được từ nhà cung cấp trước đó Như vậy để có được sự thỏa mãn của người tiêu dùng thì chất lượng trong từng công đoạn phải được bảo đảm
Để đạt được sự đồng nhất trong chất lượng sản phẩm một số khách hàng đã yêu cầu các vệ tinh của mình phải đạt được những tiêu chuẩn chất lượng như là hệ thống ISO, TQM TQM một phương pháp nhằm cải thiện chất lượng và hiệu suất
mà sẽ đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng, điều này có thể đạt được
Trang 29bằng cách tích hợp tất cả các chức năng và quy trình chất lượng liên quan đến toàn công ty Vì vậy mỗi ngành thường có tiêu chuẩn riêng theo đặc thù của ngành Trong quá trình sản xuất, nhà quản lý thường dùng 7 công cụ thống kê để phân tích và kiểm soát quá trình (sơ đồ dòng chảy, biểu đồ nhân quả, biểu đồ Paretto, phiếu kiểm tra, biểu đồ kiểm soát, đồ thị, biểu đồ phân hóa) Ngoài ra 7 công cụ quản lý cũng được sử dụng để phân tích những thông tin mang tính định tính (biểu
đồ tương đồng, biểu đồ tương quan, biểu đồ ma trận, ma trận về mức độ ưu tiên, biểu đồ mạng lưới hoạt động, biểu đồ cây, biểu đồ quá trình ra quyết định)
Để đảm bảo chất lượng là đi đầu trong mỗi công ty phải quản lý chất lượng từ nguồn nguyên liệu đầu vào, trong quá trình sản xuất lẫn phân phối Có nhiều khách hàng sử dụng các công ty kiểm hàng độc lập bên ngoài để đảm bảo tính khách quan
và chuyên nghiệp khi kiểm tra chất lượng hàng hóa tại các nhà cung cấp
Trong quản lý, để đảm bảo chất lượng nhà quản lý phải xây dựng được “cái nhìn chất lượng”, “suy nghĩ chất lượng” và “hành động chất lượng” cho mỗi thành viên, cá nhân đang thao tác vì họ là những người trực tiếp tạo ra chất lượng trong sản phẩm
Đặc tính của chất lượng là không bền vững (những gì được đánh giá tốt ngày nay chưa chắc được xem tốt ở ngày mai), vì thế quá trình cải tiến chất lượng phải là một quá trình liên tục và được tham gia của tất cả các thành viên
2.4.5 Phân phối sản phẩm (Delivery)
Phân phối sản phẩm dược thực hiện thông qua các kênh phân phối, nó bao gồm việc phân phối sản phẩm dịch vụ, vận chuyển, lưu trữ quản lý thành phẩm và đảm bảo chất lượng hàng hóa thông qua hệ thống kho bãi và hậu cần
Theo mô hình SCOR được phân bố theo quá trình sản xuất, nó mang sản phẩm
từ nhà máy tới tay người tiêu dùng Quá trình này được chia làm 3 quá trình riêng là phân phối sản phẩm được thiết kế theo đơn hàng, phân phối sản phẩm làm theo đơn
hàng, phân phối hàng tồn kho
Trang 30Đối với dạng sản xuất hàng tồn kho, việc phân phối sản phẩm chỉ thực hiện sau khi tìm được thị trường, khách hàng có yêu cầu mua hàng thì kế hoạch giao hàng mới được thiết lập Khi đó, giống với 2 dạng sản xuất còn lại, cách thức giao hàng sẽ do thỏa thuận 2 bên và thể hiện trên hợp đồng mua bán
Có 2 vấn đề cần quan tâm trong quá trình phân phối hàng hóa là:
Vận chuyển hàng hóa từ nhà máy đến người tiêu dùng
Tổ chức quản lý mạng lưới phân phối
-Hạn chế các trung gian, hàng hóa được phân phối
thẳng tới khách hàng từ các kho phân phối trực
tiếp
-Giảm thiểu tồn kho và các chi phí liên quan đến
tồn kho và bảo quản Giảm hư hỏng và nguy cơ lạc
hậu Giảm rủi ro
-Thời gian hàng nằm trên kệ giảm
-Dự báo tốt, tăng khả năng sản xuất, bán hàng và
phục vụ
-Chi phí vận chuyển cao Tăng công việc giấy tờ,
Dell nhận màn hình máy tính đặt
từ Sony và chuyển tới khách hàng
Nhà máy
Trung tâm phân phối
docking
Cross-Trực tiếp
Người tiêu dùng
Trang 31giao nhận
-Không có tồn kho dự trữ khi nhà cung cấp có sự
cố
-Không phù hợp với các ngày lễ hoặc những dịp
đặc biệt khi nhu cầu cá nhân tăng
Cross-
Docking
-“Cross-Docking” là một khái niệm về dòng sản
phẩm thông suốt và chúng tôi không muốn sản
phẩm dừng lại bất cứ điểm nào vì không gian, gạch
và vôi vữa đều rất đắt dạo gần đây
-Giao nhận không qua kho, giảm chi phí tồn kho
-Hỗ trợ JIT, phối hợp tốt với kế hoạch và thông tin
Trang 32Bảng 2.4: Các dạng phương tiện vận chuyển
-Số lượng hàng có thể chuyển chở lớn nhất với khoảng cách địa lý lớn, có đường biển
4 Xe tải -Linh hoạt
-Có thể đến được rất nhiều nơi
Tùy điều kiện vận chuyển
Nhanh
bay
-Số lượng hàng hạn chế -Chỉ sử dụng ở những nơi có sẵn tuyến bay Rất đắt Rất
nhanh
tử
-Chỉ sử dụng ở một số loại hàng hóa đặc biệt như âm nhạc, thư tín,…
-Phải có hệ thống cơ sở vật chất phục vụ
Thấp nhât
Nhanh nhất
Lịch phân phối được thực hiện theo kế hoạch định trước Trong các nhà máy sản xuất, bộ phận xuất nhập khẩu kết hợp với bộ phận sản xuất và kho đề ra lịch vận chuyển chi tiết JIT và Crossdocking được sử dụng nhằm giảm thiểu tồn kho và giảm thời gian, chi phí trong các quá trình vận chuyển Các nhà quản lý hậu cần đã chuyển xu hướng mở rộng kho bãi, cơ sở vật chất sang hướng xây dựng mạng lưới phân phối tinh gọn và hiệu quả bằng cách phối hợp kiểm soát kịp thời các nguồn thông tin trong suốt quá trình vận chuyển
Trang 332.4.6 Trả lại (Return Management)
Việc xử lý hàng lỗi, bù đắp hàng thiếu hụt, xử lý hàng dư thừa, thay thế hàng sai hỏng và hỗ trợ khách hàng gặp rắc rối với hàng đã nhận [19]
Vì vậy quá trình này được đánh giá là khá rắc rối, phiền toái và nhiều rủi ro nhất
Theo mô hình SCOR được thực hiện ở bất cứ quá trình nào xảy ra trong chuỗi đặc
biệt là ở các giao diện giữa các lớp Nó bao gồm 2 quá trình:
Xử lý hoặc trả lại nguồn nguyên liệu vị sai hỏng, thiếu hụt, dư thừa
Nhận về và xử lý các hàng hóa dịch vụ đã phân phối bị trả lại
Trong chuỗi khi xảy ra những vấn đề này, thông tin và sản phẩm lỗi được trả ngược về các lớp phía sau đến nơi là nguồn gốc phát sinh lỗi Bộ phận này chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả và gánh chịu những chi phí phát sinh
Quá trình trả lại được thực hiện nhằm bảo đảm uy tín trong kinh doanh Khi thực hiện việc trả lại thì chi phí, thời gian đều tăng lên, lợi nhuận giảm xuống Đặc biệt với MTO, hàng hóa không được dự trữ sản trong kho, nếu phải làm hàng thay thế, thời gian đáp ứng bị tăng gấp đôi, chưa kể các hậu quả mới có thể xuất hiện do việc phải ngừng hoặc can thiệp vào các hoạt động tại các công đoạn khác
Quá trình này thường cản trở dòng lưu thông trong chuỗi và không phù hợp với cấu trúc bên trong lẫn bên ngoài vì phải chia sẻ nguồn lực hiện có Nó yêu cầu phải có hệ thống làm hàng lại, phân tích thông tin và đo lường kết quả công việc
Dù có các động thái khắc phục hậu quả nhưng sự cảm nhận chất lượng sản phẩm/ dịch vụ của khách hàng đều giảm sút
Tuy nhiên, có thể coi đây là nguồn cung cấp thông tin, số liệu trung thực về chất lượng sản phẩm và sự phản ứng khách hàng làm cơ sở cho các doanh nghiệp thực hiện các thay đổi và cải tiến thích hợp
Trang 342.5 Quản lý chuỗi cung ứng (SCM-Supply Chain Management)
Một khi bạn đã nhận thức ra quản lý chuỗi cung ứng là một nồi lẩu của mọi thứ bạn, khách hàng và nhà cung cấp của bạn làm, thì bước tiếp theo là cẩn hiểu nó phải có một quy trình để có thể quản lý
Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là một sự quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thặng
dư (value-added), từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất rồi tới các nhà bán buôn, bán lẻ
và cuối cùng là tới khách hàng đầu cuối SCM có 3 mục tiêu chính:
Như vậy quản lý chuỗi cung ứng là công việc không chỉ dành riêng cho các nhà quản lý về chuỗi cung ứng Tất cả những bộ phận khác của một tổ chức cũng cần hiểu về chuỗi cung ứng bởi họ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của chuỗi cung ứng Để xây dựng được chuỗi cung ứng hiệu quả, tất cả các thành viên trong tổ chức đều phải thông hiểu và hỗ trợ chứ không chỉ là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động của chuỗi cung ứng
Mặc khác chuỗi cung ứng cũng là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật
và khoa học nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm hay dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụ
đó và phân phối tới các khách hàng Điều quan trọng đối với bất kỳ giải pháp chuỗi cung ứng nào, dù sản xuất hàng hoá hay dịch vụ, chính là việc làm thế nào để hiểu được sức mạnh của các nguồn tài nguyên và mối tương quan giữa chúng trong toàn
bộ dây chuyền cung ứng sản xuất Về cơ bản, chuỗi cung ứng sẽ cung cấp giải pháp
Trang 35cho toàn bộ các hoạt động đầu vào của doanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn kho an toàn của công ty
[13]Hội thảo “Định hướng phát triển quản trị chuỗi cung ứng trên thế giới và cách ứng dụng hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam” do Trường Đào tạo Quản lý Doanh nghiệp (CBAM thuộc VCCI) tổ chức tại TP.HCM ngày 20/4/2011
Ngày 20/4/2011, tại Hội thảo “Định hướng phát triển quản trị chuỗi cung ứng trên
thế giới và cách ứng dụng hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam” tổ chức
ở TP.HCM, các diễn giả gồm ông Trần Tuấn Anh, Thứ trưởng Bộ Công Thương; bà Margareta Funder, Giám đốc Tư vấn Quản lý chuỗi cung ứng, Chuyên gia tổ chức ITC/UN/WTO đến từ Geneva - Thụy Sĩ; ông Kevin Nguyễn, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Global CyberSoft Việt Nam; ông Enrique Martinez, Chuyên gia tư vấn cao cấp Chuỗi cung ứng Tập đoàn Bayan Trade – Philippines; các chuyên gia, các nhà quản lý doanh nghiệp đã cùng chia sẻ kinh nghiệm quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM)
Ông Trần Tuấn Anh nói: “Sắp tới, Việt Nam sẽ tiếp tục mở cửa thị trường nên đòi hỏi nhiều ở sự tham gia tích cực của cả nền kinh tế và các doanh nghiệp Bộ Công Thương ủng hộ việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm và phát triển SCM, giúp các doanh nghiệp tiếp cận, hội nhập Bộ sẽ tiếp tục quan tâm phối hợp các cơ quan liên quan đưa ra các chính sách khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng SCM, phát triển bền vững, đào tạo nguồn nhân lực cho công việc”
Bà Margareta Funder cho biết, ITC thành lập năm 1964 bởi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Liên Hợp Quốc (UN), tập trung hoạt động vào khối tư nhân, thúc đẩy xuất khẩu ITC hỗ trợ một số mục tiêu như để cho các doanh nghiệp thiểu
số tham gia vào chuỗi cung ứng chung; tạo sự bình đẳng; hỗ trợ các sáng kiến bảo
vệ môi trường, giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững; xúc tiến các liên kết toàn cầu; cung cấp các khoá huấn luyện cung cấp thông tin cho doanh nghiệp; hỗ trợ các đối tác phát triển xuất khẩu đặc biệt là giúp các doanh nghiệp ở các quốc gia nghèo hơn phát triển xuất khẩu… ITC hoạt động ở 3 cấp độ: một là với các nhà làm chính
Trang 36sách, giúp họ đưa ra các chính sách hỗ trợ cả một ngành kinh tế; hai là với các viện, trường; ba là trực tiếp với các doanh nghiệp để họ có thể xúc tiến được xuất khẩu…
Bà Margareta Funder cho biết Chương trình đào tạo về SCM (Modular Learning System in Supply Chain Management - MLS-SCM) do ITC xây dựng, đào tạo theo mô-đun, đã cung cấp khoá đào tạo cho nhiều doanh nghiệp, người học sẽ trở thành chuyên gia về quản lý chuỗi cung ứng Bà Margareta Funder là Giám đốc của chương trình này Năm ngoái, chương trình đã có 7.000 cá nhân tham gia Đến nay, Chương trình đã cung cấp cho 120 tổ chức tại 61 quốc gia, 1.500 người huấn luyện; 25.000 người hưởng lợi đến 100.000 mô đun kiến thức
Bà Magareta Funder nói: “SCM là chủ đề ít được các doanh nghiệp các nước đang phát triển biết đến, họ thích được nghe nói về tiếp thị và bán hàng hơn Kỳ thực, quản lý chuỗi cung ứng là một bí mật quan trọng Nó không liên quan đến một cá nhân riêng lẻ mà là cả một chuỗi từ nhà xuất khẩu qua các trung gian đến người tiêu dùng và càng này càng phức tạp Các chuỗi cung ứng ngày càng cạnh tranh với nhau để giành lợi thế Việt Nam nổi tiếng thế giới về xuất khẩu cà phê, thuỷ sản, dệt may, gia công… Các doanh nghiệp quản lý tốt chuỗi cung ứng luôn có các lợi thế như đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, tăng năng lực nội tại, giảm chi phí, duy trì chất lượng, ổn định…
Ông Enrique Jose B Martinez, đối tác của Chương trình MLS-SCM tại Philippines trình bày các giải pháp quản lý chi phí Từ kinh nghiệm của người phụ trách việc mua hàng của Công ty, ông Enrique Martinez chia sẻ kinh nghiệm mua hàng trực tuyến, từ đó cổ vũ cho các giải pháp mua bán trực tuyến Ông Kevin Nguyễn cũng nói, “Chuỗi cung ứng ảnh hưởng rất lớn đến thương mại điện tử” và cho biết, GCS thành lập từ 10 năm trước, chuyên gia công cho Mỹ, Nhật, Đức, nay đã mang được kiến thức toàn cầu về Việt Nam GCS rất quan tâm đến hạ tầng CNTT, đặc biệt là yếu tố con người Với SCM, bản thân GCS đã làm tốt các dự án SCM ở Silicon Valey (Thung lũng Silicon, Mỹ) Theo ông Kevin Nguyễn, phải thiết kế được các quy trình, tìm ra các mối liên hệ trong chuỗi cung ứng Ông đã giới thiệu sơ lược về
Trang 37các giải pháp, công cụ CNTT do GCS phát triển phục vụ các doanh nghiệp thực hành quản lý chuỗi cung ứng
2.5.1 Những lợi ích và sức mạnh từ chuỗi cung ứng mang lại
Quản lý hiệu quả hơn toàn mạng lưới của mình bằng việc bao quát được tất
cả các nhà cung cấp, các nhà sản xuất, các kho lưu trữ và hệ thống các kênh phân phối
Tối thiểu hóa chi phí tồn kho và tăng chu trình lưu chuyển tiền mặt bằng cách quản lý tốt hớn mức tồn kho
Có cơ hội xây dựng và củng cố mối quan hệ với các thành viên khác trong chuỗi
Làm giảm chi phí, nâng cao năng lực phục vụ khách hàng và tăng lợi nhuận
Sức mạnh và lợi ích của chuỗi được tạo ra từ tất cả các thành viên, một mắc xích yếu sẽ làm suy giảm năng lực toàn chuỗi
Tạo cơ hội cho các công ty phát triển bền vững cũng như thâm nhập vào thị trường mới đồng thời tăng lợi thế cạnh tranh thông qua chuỗi
Một đặc điểm của chuỗi cung ứng là sự phân hóa lao động Mỗi công ty được phân chia vai trò và chức năng khác nhau trong chuỗi Sự phân hóa này giúp các thành viên có cơ hội đầu tư phát triển chuyên sâu vào lĩnh vực của mình
Sắp xếp hợp lý và tập trung vào các chiến lược phân phối để có thể loại bỏ các sai sót trong công tác hậu cần cũng như sự thiếu liên kết có thể dẫn đến sự chậm trễ
Việc liên kết để cùng hướng tới mục tiêu chung giúp các công ty có những đối tác tích cực hỗ trợ hoạt động và chia sẻ rủi ro Sự yếu kém của thành viên này được bù đắp bằng thế mạnh của những thành viên khác tạo khối sức mạnh tập thể
Khi chuỗi lớn mạnh, thì chuỗi sẽ tích hợp sâu hơn để hình thành các tập đoàn
đa quốc gia Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nó thôn tính các đối thủ hình thành thế độc quyền (hay ít ra cũng thiết lập cho mình những lợi thế cạnh tranh vượt trội)
Trang 38 Tăng mức độ kiểm soát công tác hậu cần để sữa chữa kịp trong các vấn đề phát sinh trong chuỗi cung ứng trước khi quá muộn
Khi hoạt động của những tập đoàn này ảnh hưởng tới nền kinh tế quốc gia,
nó thường được chính phủ hỗ trợ để tăng vị thế kinh doanh trên trường quốc tế Khi
đó, các tập đoàn này luôn có chính phủ đứng sau lưng
Sự liên kết có chọn lọc của các thành viên trong chuỗi làm triệt tiêu (hay giảm thiểu) những điểm thắt cổ chai cục bộ, nó rút ngắn khoảng cách địa lý, lấp đầy
sự cách biệt về thời gian, văn hóa, loại bỏ những công việc bị trùng lắp giữa các bộ phận Sự tương tác giữa các thành viên trong chuỗi rất mạnh do đó nó dễ dàng tạo
ra những xung lực lan truyền khắp cả chuổi Khi đạt được tần số cộng hưởng từ các thành viên là lúc chuỗi hình thành sức mạnh chung vô cùng to lớn… Với sức mạnh này cộng với những ưu thế về kinh doanh và đầu tư khác, chuỗi thu hút những nguồn lực (từ phái khách hàng, đối thủ cạnh tranh) về phía mình Khi phát triển, chuỗi không ngừng mở rộng biên giới hoạt động của mình ra phạm vi toàn thế giới
và càng dài hơn Sự thuê ngoài gia tăng làm các công ty nắm quyền kiểm soát chuỗi thêm củng cố vị trí và mạnh hơn về tài chính
2.5.2 Những biện pháp quản lý chuỗi cung ứng
Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý những thành viên độc lập riêng lẻ với nhau
Nó không đơn thuần là việc tổ chức các hoạt động thương mại giữa các thành viên
mà phải bất đầu từ việc xây dựng các mối quan hệ bên trong (khách hàng bên trong)
và các đối tác bên ngoài phạm vị công ty
Mỗi thành viên lúc này vừa là thành viên của doanh nghiệp vừa là thành viên của chuỗi cung ứng bên ngoài, họ cần được đào tạo các kỹ năng cần thiết cho công việc Lập cơ sở dữ liệu lưu trữ thông tin của mọi thành viên trong chuỗi cũng như các thành viên trong tương lai Tài liệu cần được cập nhật kịp thời Xây dựng hệ thống thông tin để đảm bảo kiểm soát được mọi dòng chảy trong chuỗi
Thiết lập nguyên lý để vận hành chuỗi cung ứng phù hợp năng lực của từng thành viên Nguyên lý này phải đảm bảo:
Trang 39+ Tạo được sự hợp tác đồng bộ, chủ động và tích cực của mọi thành viên + Phân chia rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên Huy động sức mạnh tập thể bằng những kế hoạch phối hộp hoạt động giữa họ
+ Duy trì những yếu tố là nguồn gốc liên kết của các thành viên trong chuỗi
2.5.3 Vấn đề rủi ro chuỗi cung ứng trong các doanh nghiệp Việt Nam
Rủi ro là khả năng một sự kiện hay hành động có thể tác động đến hoạt động kinh doanh và chuỗi cung ứng Nó đại diện cho tính biến đổi hay sự không chắc chắn vượt ra khỏi phạm vi mong muốn Các chuyên gia đã xếp rủi ro trong chuỗi cung ứng thành các nhóm: thiết kế, chất lượng, chi phí, sự sẵn sàng, khả năng sản xuất, cung, tài chính, pháp luật, môi trường, sức khỏe và sự an toàn
Bởi vậy các chuyên gia trong chuỗi cung ứng phải phát triển những cách thức hiệu quả về chi phí để ngăn ngừa rủi ro, và nếu rủi ro lượng hóa được thì cần tìm cách giảm thiểu nó
Giữa các công ty luôn có những rủi ro do tình hình kinh tế, mặc dù họ gia nhập vào chuỗi cung ứng lớn mạnh hoặc công ty đa quốc gia
Đối tình hình kinh tế có nhiều biến chuyển như hiện nay thì khi các chuỗi được mở rộng qui mô hoạt động sản xuất thì những chuỗi cung ứng lớn sẽ đè hay là một sát thủ đối với các doanh nghiệp mới nhỏ
[20] Chuỗi cung ứng là quá trình theo dõi hàng hóa thông qua việc thống kê
và điều khiển từ khâu cung cấp hàng, bổ sung nguyên vật liệu, đến khâu bán lẻ, hay nói cách khác là quá trình điều hành và quản lý sự lưu thông hàng hóa Xu hướng tiến tới việc giao hàng đúng lúc, kết hợp với các khuyến mãi hấp dẫn để tiếp cận các
nguồn cung ứng tốt nhất khiến cho chuỗi cung ứng nào cũng chứa đầy rủi ro Tuy
nhiên, ở VN hiện nay, một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất trong lĩnh vực này là rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng
[21] Hội thảo “Quản lý rủi ro chuỗi cung ứng” do Viện Nghiên cứu và Phát triển logistics Việt Nam, Viện Nghiên cứu sáng tạo chuỗi cung ứng Malaysia, Chương trình MIT Global Scale Network tổ chức tại TP HCM vừa cung cấp thông tin sâu về quản trị rủi ro trong quản lý chuỗi cung ứng, chia sẻ những kinh nghiệm
Trang 40thực tiễn trong quản trị chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp có phương án quản lý các rủi ro tiềm ẩn, biến nguy cơ thành cơ hội
Tại hội thảo, ông Lý Trường Chiến - chuyên gia tư vấn tái cấu trúc, quản trị chiến lược và phát triển nguồn lực - trình bày về chuỗi cung ứng trong ngành nông nghiệp Việt Nam Chuỗi cung ứng không chỉ giới hạn trong một bộ phận vận hành của doanh nghiệp, cũng không nằm trong mối quan hệ giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất và phân phối mà rộng hơn gồm nhiều chuỗi hữu hình và vô hình đan xen nhau; những xu hướng về quản trị, hợp tác giữa các nước
Các chuyên gia còn cho biết về những rủi ro thường gặp và nên sử dụng công cụ nào trong quản lý phân phối Trong đó, có nhiều vấn đề rủi ro mang tính toàn cầu,
sự tập trung hóa, sự phụ thuộc vào một nhà sản xuất, tác động mang tính toàn cầu đến những hoạt động thường nhật mà ít người nghĩ đến
[22] Theo ông Nguyễn Đăng Hiến, Giám đốc Công ty Bidrico, các chuyên gia nước ngoài chia sẻ với ông rằng định hướng trong tương lai có thể thấy là các nhãn hàng yếu khó có khả năng tồn tại trong siêu thị, trừ những thương hiệu lớn Ai cảm thấy đủ mạnh thì không gia công NHR, ai thấy vừa vừa có thể làm vừa bán hàng của mình, đến lúc không cầm cự được thì thôi Riêng Bidrico khẳng định không làm nếu mình gia công ra một sản phẩm cùng chất lượng và cạnh tranh ngay với sản phẩm của mình mà họ lợi thế hơn Thì mình thua là cái chắc vì họ hơn về giá cả, về
vị trí trưng bày, chăm sóc khách hàng tốt…
Một số DN không muốn nêu tên cho biết họ cũng sống khỏe được nhờ gia công cho NHR vì giúp nâng cao công suất nhà máy, tăng sản lượng, giúp giá thành giảm Ví
dụ nếu không có làm NHR công suất nhà máy chỉ đạt 40 , hiện nay tìm đầu ra đã khó
Một số chuyên gia ngành bán lẻ nhận định một số đơn vị làm NHR và sản phẩm của
họ không có chỗ đứng: Do không đầu tư sản phẩm đúng nghĩa, không phân tích đúng về thị trường để đưa ra quyết định Nếu đơn vị nào quyết định làm NHR phải xác định là đối tác chiến lược và đối với nhãn của mình thì tìm hướng ngắt ra để đầu tư, hai bên cùng phát triển