Đề tài luận văn: Hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng từ BIDV Hà Thành
Trang 1h¹n chÕ rñi ro trong thanh to¸n quèc tÕ theo ph¬ng thøc tÝn dông chøng tõ t¹i bidv hµ thµnh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 2
1.1 Tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán quốc tế tại NHTM 2
1.1.1 Các phương thức thanh toán quốc tế: 2
1.1.2 Tín dụng chứng từ- một phương thức thanh toán quốc tế của NHTM: 4
1.2 Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ : 17
1.2.1 Rủi ro tín dụng: 17
1.2.2 Rủi ro đạo đức: 19
1.2.3 Rủi ro hàng hóa: 21
1.2.4 Rủi ro quốc gia: 22
1.2.5 Rủi ro pháp lý: 23
1.2.6 Rủi ro ngoại hối: 23
1.2.7 Rủi ro tác nghiệp: 24
1.3 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C 25
1.3.1 Do sự biến động của nền kinh tế thị trường 25
1.3.2 Do thông tin không đầy đủ 25
1.3.3 Các nhân tố vĩ mô và các nhân tố bất khả kháng: 25
Trang 21.3.5 Các nguyên nhân khác: 28
1.4 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C của ngân hàng thương mại: 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI BIDV HÀ THÀNH 32
2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV Hà Thành: 32
2.1.1 Khái quát về tình hình hoạt động của BIDV Hà Thành: 32
2.1.2 Thanh toán quốc tế theo tín dụng chứng từ tại BIDV Hà Thành: 34 2.2 Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV Hà Thành: 40
2.2.1 Trong thanh toán L/C xuất: 44
2.2.2 Trong thanh toán L/C nhập: 45
2.3 Những nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức L/C tại BIDV Hà Thành: 46
2.3.1 Nguyên nhân từ phía khách hàng: 46
2.3.2 Nguyên nhân từ phía BIDV Hà Thành: 47
2.3.3 Nguyên nhân trên giác độ vĩ mô: 48
2.4 Đánh giá thực trạng quản lí rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV Hà Thành: 51
2.4.1 Ban hành hệ thống các qui chế, qui trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế mới chặt chẽ .52
2.4.2 Xác lập qui chế, thể lệ cho nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả chậm: 53
2.4.3 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lí 53
2.4.4 Qui định hạn mức tín dụng, hạn mức mở L/C, định mức kí quĩ đối với từng loại hình doanh nghiệp : 54
2.4.5 Nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro: 55
Trang 3CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
BIDV HÀ THÀNH 58
3.1 Định hướng hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV HT: 58
3.1.1 Định hướng hoạt động thanh toán quốc tế của BIDV HT: 58
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV HT: 59
3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV HT: 61
3.2.1 Giải pháp về nghiệp vụ trong thanh toán quốc tế: 61
3.2.2 Giải pháp về nguồn ngoại tệ để thanh toán L/C: 68
3.2.3 Giải pháp trong công tác tổ chức, đào tạo cán bộ: 69
3.2.4 Giải pháp về công tác kiểm tra, kiểm soát: thành lập bộ phận quản lí và phòng ngừa rủi ro 71
3.2.5 Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng: 71
3.2.6 Nâng cao chất lượng hiệu quả sử dụng công nghệ: 73
3.3 Một số kiến nghị: 73
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và các ngành liên quan: 73
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước: 76
3.3.3 Kiến nghị đối với khách hàng: 78
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1:Quy trình tiến hành nghiệp vụ
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu qua BIDV HT từ 2006 đến 2008
Bảng 2.2 Kim ngạch thanh toán nhập khẩu qua BIDV HT từ
Bảng 2.7 Tỉ lệ nợ quá hạn trong thanh toán L/C tại BIDV HT
Bảng 2.8 Tổn thất trong thanh toán L/C tại BIDV HT
Bảng 2.9/2.10 Thực trạng hạn chế rủi ro tại BIDV HT
Bảng 2.11.Danh sách các khách hàng thường xuyên hoạt động tại BIDV Hà Thành
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng phát triển kinh tế hiện nay, các quan hệ kinh tế diễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng, phức tạp của chu chuyển hàng hóa quốc tế Đồng thời với nó là sự vận động của các dòng tiền trong thanh toán Quá trình thanh toán có vai trò quan trọng đối với các hoạt động của các doanh nghiệp và cá nhân Hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra trên thị trường rộng, phức tạp bởi khoảng cách giữa người mua và người bán, bởi thông lệ của mỗi quốc gia và sự khác biệt trong đồng tiền thanh toán Phần lớn, các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều không thể độc lập thực hiện được các hình thước thanh toán quốc tế Do vậy, đã xuất hiện nhu cầu thanh toán đc thực hiện qua các ngân hàng NHTM là một thành viên thực hiện việc thanh toán góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế Ngân hàng tài trợ cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ thanh toán và dịch vụ mua bán ngoại tệ, đảm bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu được thông suốt, an toàn, hiệu quả
Mặt khác, nghiệp vụ thanh toán quốc tế đối với các NHTM Việt Nam là nghiệp vụ quan trọng nhất trong các nghiệp vụ ngoại bảng và có tốc độ tặng trưởng mạnh mang lại cho ngân hàng khoản thu phí ngày một lớn Thanh toán quốc tế quyết định sự phát triển của hoạt động ngoại thương, là cầu nối cho hoạt động xuất nhập khẩu được diễn ra suôn sẻ và thuận lợi
Tuy nhiên, thanh toán quốc tế là hoạt động phức tạp, bởi các chủ thể tham gia có sự cách biệt về biên giới cũng như chế độ chính trị, kinh tế, xã hội Do đó, các bên tham gia luôn quan tâm tới việc tìm ra phương thức thanh toán quốc tế có hiệu quả nhất đồng thời thực hiện các biện phát hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế
Trang 7CHƯƠNG 1: RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
1.1 Tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán quốc tế tại NHTM.
1.1.1 Các phương thức thanh toán quốc tế:
1.1.1.1 Khái quát về NHTM:
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, NHTM luôn được là một trung gian tài chính quan trọng trong hệ thống tài chính và chiếm vị trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ Hoạt động chủ yếu của NHTM là chuyển tiết kiệm thành đầu tư Thông qua NHTM, vốn nhàn rỗi từ người không có khả năng đầu tư tới tay người có nhu cầu, có khả năng đầu tư nhưng thiếu hay không có vốn Với chức năng là một kênh dẫn vốn gián tiếp
từ người tiết kiệm tới người đầu tư, NHTM đã khắc phục được những trở ngại
về thiếu hụt thông tin, giảm chi phí giao dịch và đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn NHTM trở thành một trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Trên phương diện cung cấp các loại hình dịch vụ thì Ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục cái dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
Đặc biệt trong dịch vụ thanh toán quốc tế, Với vai trò trung gian thanh
Trang 8quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài Mặt khác, trong qua trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động
và tích cực Nhìn chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn hảo các loại hình dịch vụ kĩ thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho các khách hàng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế Nếu không có hệ thống ngân hàng thương mại hiện đại như ngày nay thì hoạt động thương mại quốc tế không những không phát triển mà còn rất khó tồn tại theo đúng nghĩa của nó Như vậy ngày nay hoạt động thương mại quốc tế luôn cần đến sự tham gia hỗ trợ về kĩ thuật nghiệp
vụ và tài chính của ngân hàng Ngân hàng cung cấp các phương án lựa chọn các phương thức thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khâủ, đảm bảo an toàn
và quyền lợi cho cả 2 bên mua bán, thông qua đó thúc đẩy ngoại thương phát triển và mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giớ
1.1.1.2 Các phương thức thanh toán quốc tế
Khái niệm: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức ,cá nhân nước này với tổ chức,cá nhân nước khác,hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế ,thông qua quan hệ giữa ngân hàng của các nước liên quan
Các phương thức thanh toán hiện nay bao gồm :
1- Phương thức ứng trước (Advanced payment ): là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (Người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền
Trang 92- Phương thức ghi sổ ( Open account): là phương thức mà nhà xuất khẩu mở một tài khoản để ghi nợ nhà nhập khẩu sau khi nhà xuất khẩu đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kì nhà nhập khẩu trả tiền cho nhà xuất khẩu.
3- Phương thức chuyển tiền ( Remittance): là phương thức trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
4- Phương thức nhờ thu ( Collection of payment ): là phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khác hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra
5- Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary credit)
1.1.2 Tín dụng chứng từ- một phương thức thanh toán quốc tế của
NHTM:
Là phương thức thanh toán thông dụng nhất hiện nay, khối lương thanh toán ngày càng lớn Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ- chi hộ mà còn là người đại diên bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu đảm bản cho bên xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ cung ứng, đồng thoài đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng, chất lượng hàng hóa tương ứng số tiền mình phải thanh toán
1.1.2.1 Nội dung cơ bản của tín dụng chứng từ (L/C):
Khái niệm: Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong
đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (Người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người
Trang 10người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định của thư tín dụng.Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
- Người yêu cầu mở thư tín dụng là người nhập khẩu hoặc là người nhập khẩu uỷ thác cho một người khác
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng là Ngân hàng của người nhập khẩu,
nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng là người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng là Ngân hàng đại lý của Ngân hàng phát hành ở nước người hưởng lợi
Sơ đồ 1:Quy trình tiến hành nghiệp vụ
8 5 2
8 5 3
4
(1) Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ
(2) Phát hành LC qua Ngân hàng đại lý cho người xuất khẩu, hưởng lợi
Ngân hàng thông báo
(Advising bank)
Chi nhánh NHPH (Applicant bank)
Người hưởng lợi
(Beneficiary)
Người yêu cầu (Applicant) Ngân hàng phát hành (Issuing bank)
Trang 11(3) Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo LC và chuyển bản gốc LC cho người hưởng lợi
(4) Giao hàng
(5) Xuất trình chứng từ đòi tiền Ngân hàng phát hành LC
(6) Ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho người yêu cầu
(7) Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán
(8) Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ
Những nội dung chủ yếu của một thư tín dụng thương mại:
- Số hiệu chứng từ: Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi thư từ, điện tín, hoặc để ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ chứng từ thanh toán L/C
- Địa điểm phát hành L/C: Là nơi NH mở L/C cam kết thanh toán tiền cho nhà XK Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng vì liên quan đến việc tham chiếu luật áp dụng giải quyết những tranh chấp về L/C
- Ngày phát hành L/C là ngày:
NHPH chính thức thừa nhận đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu
Ngày phát sinh sự cam kết của NHPH với nhà XK
Bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C
Là mốc để nhà xuất khẩu kiểm tra xem người NK có mở L/C đúng hạn như quy định trong hợp đồng ngoại thương hay không
Thông thường L/C được nhà nhập khẩu mở trước ngày giao hàng một thời gian nhất định, để nhà xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hàng hóa gửi đi
Trang 12- Tên,địa chỉ của người liên quan đến L/C:
Các thương nhân: Người yêu cầu mở L/C, người thụ hưởng ( hoặc người thụ hưởng thứ nhất và người thụ hưởng thứ hai nếu là L/C chuyển nhượng)
Các ngân hàng: NHPH, NHXN, NHTB,…
Các cơ quan, tổ chức: là người cung cấp các chứng từ lien quan như:
Bộ thương mại, Phòng thương mại và công nghiệp, cơ quan hải quan, tổ chức kiểm định hàng hóa, công ty bảo hiểm…
- Thời hạn hiệu lực của L/C:
Là thời hạn mà NHPH cam kết trả tiền cho nhà XK nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với nhũng điều quy định trong L/C
Thời hạn L/C được tính từ ngày mở L/C (Date of Issue) đến ngày hết hiệu lực của L/C (Expiry Date)
Việc xác định thời hạn hiệu lực của L/C phải đảm bảo các nguyên tắc sau :
Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn của L/C
Trang 13Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý và không được trùng với ngày giao hàng Thời gian hợp lý này được tính tối đa thiểu bằng tổng số ngày cần thiết để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở NHTB,
số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập
Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý Thời gian này bao gồm số ngày chuyển chứng từ từ nơi giao hàng đến
cơ quan của nhà XK, số ngày lập bộ chứng từ, số ngày lưu giữ chứng từ tại NHTB, số ngày vận chuyển chứng từ đến NHPH (hay NH trả tiền)
- Thời hạn trả tiền của L/C:
Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả chậm, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào ngày quy định trong hợp đồng ngoại thương
Nếu trả tiền ngay (L/C at sight) thì điều khoản về ký phát hối phiếu của L/C sẽ là “ available against presentation of your draft at sight on…” thời hạn trả tiền ngay phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C
Nếu trả tiền có kỳ hạn, tức L/C trả chậm (Usance / Deferred L/C) thì thời hạn trả tiền có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C, nhưng điều quan trọng là những hối có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C
- Ngày giao hàng: Căn cứ vào hợp đồng ngoại thương mà ngày giao hàng cũng được quy định trong L/C Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C
Có nhiều cách quy định thời hạn giao hàng, như:
Ngày giao hàng chậm nhất
Không được giao hàng trước một ngày nhất định
Trong một khoảng thời gian nhất định…
Trang 14- Những nội dung liên quan tới hàng hóa: Như tên hàng, số lượng, trong lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu.v.v cũng được ghi vào L/C
- Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa
- Những chứng từ nhà xuất khẩu phải xuất trình: đây là nội dung then chố trong L/C vì là bằng chứng của nhà xuất khẩu chứng minh nghĩa vụ mình
đã hoàn thành và làm đúng theo những điều qui định trong L/C
Bản gốc thư tín dụng
Hóa đơn thương mại
Giấy tờ bảo hiểm
Vận đơn
Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ
Bản kê khai hàng hóa
Một số giấy tờ khác theo yêu cầu của nhà nhập khẩu
Đặc điểm của phương thức tín dụng thương mại:
- Thư tín dụng thương mại là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ
Thư tín dụng L/C là một chứng thư (điện hay ấn chỉ), trong đó ngân hàng
mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được một bộ chứng từ phù hợp với nội dung L/C
- L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và người thụ hưởng Mọi yêu cầu và chỉ thị của người xin mở L/C là do NHPH đại diện
- NH và các bên liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không dựa trên hàng hóa, dịch vụ Về bản chất, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NHPH phải
Trang 15thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng
từ
- Chứng từ được coi như không phù hợp với L/C nếu chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản qui định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn với nhau
- Sau khi nhận được chứng từ NHPH có một khoảng thời gian hợp lí không quá 5 ngày làm việc để kiểm tra và xác định tính phù hợp của chứng
từ, nếu quá thời gian, NHPH không có quyền thông báo sai sót
- NH không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không qui định trong L/C
- Nếu NH từ chối chứng từ thì phải thông báo trước lúc đóng cửa của ngày làm việc thứ 7
- NH không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính
tả phát sinh trong quá trình chuyển giao chứng từ
Ưu điểm của L/C :
* Đối với người xuất khẩu
- Hoàn toàn được đảm bảo thanh toán khi bộ chứng từ xuất trình hoàn hảo
- Tránh được rủi ro không thanh toán do sự quản chế ngoại hối của nước người nhập khẩu, vì khi mở thư tín dụng, người nhập khẩu buộc phải có giấy phép chuyển ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối ở nước mình Như vậy, người xuất khẩu sẽ được đảm bảo có nguồn thu nhập hợp pháp và rõ ràng
* Đối với người nhập khẩu
- Chất lượng của hàng hoá được đảm bảo hơn vì bị ràng buộc bởi điều
Trang 16được bộ chứng từ hoàn hảo như vậy thì phải dựa trên cơ sở chất lượng hàng hoá thực tế phải tốt, phải đúng như hai bên đã thoả thuận.
- Nhờ có sự tham gia của các ngân hàng mà người nhập khẩu có thể giảm bớt được rủi ro khi tham gia quan hệ với đối tác nước ngoài
* Đối với ngân hàng
Tham gia phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng có điều kiện tạo lập và củng cố mối quan hệ của mình với các ngân hàng nước ngoài, từ đó có
sơ hội phát triển, mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình trên toàn thế giới Điều này sẽ giúp ngân hàng đa dang hóa các loại sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng thông qua học hỏi, trao đổi kinh nghiệm hoạt động với các nước, từ đó thu hút ngày càng nhiều khách hàng Nói một cách khái quát, qua phương thức này, ngân hàng còn thu được một lợi ích vô hình to lớn, đó là: uy tín và địa vị của ngân hàng trên thị trường tài chính tín dụng quốc tế
Nhược điểm của L/C:
* Đối với nhà nhập khẩu:
- Việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng
từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa, NH chỉ kiểm tra tính chân thật “bề ngoài ” của chứng từ mà không chịu trách nhiệm về tính chất “bên trong” của chứng từ cũng như chất lượng và số lượng hàng hóa, như vậy sẽ không có sự bảo đảm nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa sẽ được đảm bảo đúng như đơn đặt hàng, trong khi nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ số tiền đã thanh toán cho NHPH
- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C làm kéo dài thời gian giao dịch, tăng chi phí
Trang 17- NHXN hay một NHCĐ mà do người nhập khẩu chỉ định mắc sai lầm trong thanh toán bộ chứng từ sai sót và đã ghi nợ NHPH thì NHPH có quyền truy đòi số tiền đã bị ghi nợ, trong một số trường hơp, NH mắc sai lầm do NHPH chỉ định thì nhà nhập khẩu vẫn phải chấp nhận điều khoản hoàn trả cho NHPH.
- Nhà NK chưa nhận được bộ chứng từ trong khi hàng đã cập cảng nên chưa thể nhận hàng, nếu nhà nhập khẩu cần hàng gấp thì phải trả một khoản phí cho NH để được bảo lãnh nhận hàng Nếu để hàng quá lâu thì có thể gây
hư hại cho hàng hóa hoặc nếu nhận hàng chậm thì có thể phải bồi thường cho việc giữ tàu quá hạn
- Nếu không quy định “bộ vận đơn đầy đủ ” thì một người khác có thể lấy được hàng hóa khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi người trả tiền lại là nhà nhập khẩu
* Đối với nhà xuất khẩu :
- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C
- Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán/chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải
tự xử lý hàng hóa (dỡ hàng, lưu kho, tìm người mua mới,…) hoặc chịu các chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho, mua bảo hiểm cho hàng hóa… trong khi chờ đợi động thái từ phía nhà nhập khẩu
- Trường hợp L/C không có xác nhận, nếu NHPH mất khả năng thanh toán thì dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì nhà xuất khẩu cũng không được thanh toán, hoặc NH chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền
- Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ NHPH (không gửi
Trang 18* Đối với NHPH:
- NHPH phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không hoàn trả hoặc không cá khả năng hoàn trả
- NHPH cần xem xét xem liệu NH có thu lại được một phần hay toàn bộ
số tiền đã thanh toán từ việc bán hàng nếu nhà nhập khẩu bị phá sản
- L/C không có xác nhận thi NHCĐ có thể yêu cầu NHPH chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ, nên NHPH
sẽ gặp rủi ro nếu bộ chứng từ có sai sót mà vẫn thanh toán khi chưa có sự nhất trí của nhà nhập khẩu
- NHPH chấp nhận thanh toán hối phiếu mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà nhập khẩu không chấp nhận thanh toán thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu
- Nếu L/C yêu cầu chứng từ bảo hiểm thì trong hợp đồng mua bán phải quy định điều kiện cơ sở giao hàng là CIF, CIP,…thì mọi rủi ro được bảo hiểm, nếu L/C không yêu cầu chứng từ bảo hiểm thì NH phải chắc chắn rằng người mở L/C đã mua bảo hiểm cho hàng hóa
- L/C phải yêu cầu xuất trình Giấy kiểm định của bên thứ ba Khi L/C quy định như vậy và giấy kiểm định được xuất trình phù hợp, hàm ý hàng hóa đạt được tiêu chuẩn yêu cầu, nếu giấy kiểm định không được xuất trình, thì NHPH được miễn trách và được từ chối trả tiền bởi vì chứng từ có sai sót
- Nếu L/C quy định vận đơn hàng không, thì NHPH phải quyết định xem
có muốn ghi tên mình là người nhận hàng hay không, nếu NH muốn kiểm soát hàng hóa thì L/C phải quy định người nhận hàng là NH phát hành
- NH xem xét chứng từ chứ không phải xem xét hàng hóa, nhưng vì hàng hóa có giá trị như là vật bảo đảm và mức độ rủi ro tùy thuộc vào ai là người kiểm soát hàng hóa, việc sở hữu hàng hóa được chuyển nhượng bằng cách
Trang 19chuyển giao chứng từ sở hữu hàng hóa Nếu hàng hóa được chuyên chở bằng đường biển và NHPH muốn duy trì việc kiểm soát hàng hóa thi NHPH phải yêu cầu trọn bộ chứng từ vận đơn sạch, đã bốc hàng kên tàu, ký phát theo lệnh, và ký hậu để trống.
* Đối với NH thông báo/chỉ định/xác nhận:
- Đối với NHTB: NHTB chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý ”
để đảm bảo rằng L/C là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa
mã, mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà XK, do đó, nếu kiểm tra không chính xác và đưa ra những quyết định sai lầm thì NHTB phải chịu trách nhiệm về sai phạm của mình
- Đối với NHCĐ: Trừ khi là NHXN, NHCĐ không có một trách nhiệm nào phải thanh toán cho người XK trước khi nhận được tiền từ NHPH, tuy nhiên trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuất trình, các NHCĐ thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi (with recourse) để trợ giúp cho nhà
XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NHPH hoặc nhà XK
- Đối với NHXN:
+ Nếu bộ chứng từ là hoàn hảo thi NHXN phải trả tiền cho người XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NHPH hay không, như vậy NHXN chịu rủi
ro tín dụng đối với NHPH cũng như rủi ro cơ chế của nước NHPH
+ Nếu NHXN trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, NHPH không chấp nhận thì không thể đòi tiền NHPH
Trang 20phát hành đối với người hưởng lợi LC Vì vậy, LC này được áp dụng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế.
- LC có thể huỷ bỏ (Revocable LC): là loại LC mà sau khi được phát hành thì Ngân hàng phát hành có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần có sự đồng ý của người hưởng lợi LC LC loại này là một lời hứa trả tiền không chắc chắn cho người hưởng lợi Do đó, nó ít được giới thương gia sử dụng
- Thư tín dụng xác nhận (Confirmed LC): là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một Ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành LC LC loại này đã được 2 Ngân hàng cùng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, do vậy, độ an toàn trong thanh toán của nó rất cao
Trong đa số trường hợp, trách nhiệm của Ngân hàng xác nhận giống như Ngân hàng phát hành LC, do đó Ngân hàng phát hành LC phải trả thủ tục phí xác nhận, có khi còn phải đặt cọc tiền với 100% trị giá LC tại Ngân hàng xác nhận (full cash cover)
Ngân hàng xác nhận là một Ngân hàng khác, Ngân hàng này có thể ở nước thứ 3, cũng có thể là Ngân hàng khác ở nước người hưởng lợi LC, trong nhiều trường hợp có thể ngay là Ngân hàng thông báo LC
Muốn tu chỉnh LC xác nhận đều phải có sự đồng thuận của Ngân hàng xác nhận thì sự tu chỉnh mới có giá trị thực hiện
- Thư tín dụng miễn truy đòi (Irrevocable without recourse LC): là loại
LC mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì Ngân hàng phát hành LC không còn quyền đòi lại tiền người hưởng lợi LC trong bất cứ trường hợp nào
Khi dùng loại LC này, người hưởng lợi phải ghi lên hối phiếu câu “Miễn truy đòi lại người ký phát” (Without recourse to drawer) và trong LC cũng
Trang 21phải ghi như vậy LC miễn truy đòi cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable LC): là thư tín dụng trong
đó qui định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành LC, hoặc là Ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện LC cho một hay nhiều người khác.LC chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần Chi phí chuyển nhượng là do người hưởng lợi đầu tiên chịu
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving LC): là loại LC không thể huỷ bỏ
sau khi sử dụng xong thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy nó cứ tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back LC): Người hưởng lợi một LC
dùng LC này như một tài sản thế chấp để yêu cầu phát hành một LC khác cho người hưởng lợi khác hưởng, LC phát hành sau gọi là LC giáp lưng
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal LC): là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu
có hiệu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra Trong LC ban đầu thường phải ghi: “LC này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở một LC khác đối ứng với nó để cho người mở LC này hưởng” và trong LC đối ứng phải ghi câu “ LC này đối ứng với LC số…mở ngày…qua Ngân hàng…” Thư tín dụng đối ứng thường được sủ dụng trong phương thức mau bán hàng đổi hàng (barter), ngoài ra không ngoại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công xuất khẩu Tuy nhiên, việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp
- Thư tín dụng thanh toán trả chậm (Deferred payment LC): là loại thư
tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó Ngân hàng phát hành LC hay là Ngân hàng xác nhận LC cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ
số tiền của LC trong những thời hạn qui định rõ trong LC đó Đây là một loại
Trang 22- LC điều khoản đỏ (Red clause LC): là loại LC ứng trước một phần tiền
cho người hưởng lợi LC trước khi giao hàng Ngân hàng phát hành LC điều khoản đỏ quy định, người hưởng lợi LC trước ngày giao hàng x ngày được quyền ký phát một hối phiếu đòi tiền Ngân hàngphát hành kèm với một LG của Ngân hàng cam kết hoàn trả tiền ứng trước nếu không thực hiện LC điều khoản đỏ, hoặc một LC dự phòng hoặc một kỳ phiếu có ký bảo lãnh của Ngân hàng
Tên của LC điều khoản đỏ có thể khác nhau, nhưng cùng một nội dung như trên VD: Advance LC, Anticipatory LC….Gọi là “Red clause LC” bởi vì trong nội dung LC có một điều khoản ứng trước tiền in bằng mực đỏ Ngày nay, người ta thay điều khoản in bằng mực đỏ bằng dòng chữ in nghiêng và đậm
1.2 Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ :
1.2.1 Rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là những rủi ro về mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia phương thức L/C
Trang 23Có thể có các khả năng dẫn tới rủi ro tín dụng:
1.2.1.1 Rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu
L/C là một cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành L/C đối với người bán,thực chất là ngân hàng đã dùng uy tín của mình để thay mặt nhà nhập khẩu cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ trong L/C Nếu L/C được kí quĩ 100% thì sẽ không xảy ra rủi ro cho các bên liên quan, song phần lớn các ngân hàng phát hành L/C đều thực hiện tài trợ cho nhà nhập khẩu dưới hai hình thức hoặc cho mượn uy tín (tức là chỉ yêu cầu khách hàng kí quĩ một phần giá trị của L/C , đến hạn thanh toán mới phải nộp đủ tiền vào ngân hàng) và cho vay để nhập khẩu Nếu nhà nhập khẩu
bị mất khả năng thanh toán thì sẽ gây rủi ro cho ngân hàng phát hành, đây chính là những rủi ro tín dụng của nhà nhập khẩu
1.2.1.2 Rủi ro tín dụng từ phía nhà xuất khẩu
Rủi ro này thường xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu
Có hai loại chiết khấu chứng từ hàng xuất khẩu là chiết khấu miễn truy đòi và chiết khấu có bảo lưu quyền truy đòi Khi ngân hàng phát hành từ chối thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán thì ngân hàng chiết khấu có quyền truy đòi lại nhà xuất khẩu số tiền họ đã thanh toán Tuy nhiên, nếu nhà xuất khẩu không còn khả năng hoàn lại số tiền đó thì ngân hàng chiết khấu đã gặp rủi ro, đó chính là rủi ro tín dụng của nhà nhập khẩu
1.2.1.3 Rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng phát hành
Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hay đóng cửa hay vỡ nợ… thì cũng dẫn đến rủi ro cho nhà xuất khẩu và ngân hàng chiết khấu Điều này phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tín nhiện của ngân hàng phát hành, vì vậy nhà xuất khẩu nên yêu cầu nhà nhập khẩu chọn những ngân hàng thương mại lớn, có uy tín để phát hành L/C
Trang 241.2.2 Rủi ro đạo đức:
Rủi ro đạo đức là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của người khác Đạo đức hay còn được hiểu là tín nhiệm trong kinh doanh Đây là vấn đề quan trọng trong buôn bán quốc tế, bởi vì các bên đối tác thường ở cách xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trong quá trình mua bán
1.2.2.1 Rủi ro đạo đức của nhà xuất khẩu:
Khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, nhưng lại xuất trình được một bộ chứng từ hoàn hảo, phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C hoặc nhà xuất khẩu lập chứng từ giả mạo (mà không giao hàng) thì ngân hàng buộc phải thanh toán cho người hưởng lợi, khi đó nhà nhập khẩu phải gánh chịu mọi rủi ro Song, nếu ngân hàng phát hành là người tài trợ vốn (cho vay vốn) cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu cũng là rủi ro của ngân hàng phát hành Vì vậy, người mua phải có những biện pháp kiểm tra thông tin qua các hãng vận tải xem hàng hóa có thực sự đã được giao lên phương tiện vận tải hay không? Nếu phát hiện được những dấu hiệu của lừa đảo thì cần phải kết hợp với ngân hàng để có được những biện pháp ngăn chặn kịp thời
Ngoài ra,có thể do giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế tăng lên, người bán không muốn giao hàng cho người mua nữa nên mặc dù L/C đã được mở nhưng không có giá trị thanh toán Điều này sẽ gây thiệt hại cho người mua vì đã phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ
Tất cả những vi phạm trên của nhà xuất khẩu đều được coi là những rủi
ro đạo đức
1.2.2.2 Rủi ro về đạo đức của nhà nhập khẩu
Rủi ro về đạo đức của nhà nhập khẩu có thể xảy ra nếu khách hàng nhập khẩu không phải là bạn hàng lâu năm, có tin nhiệm thì rất dễ có những hành
Trang 25vi lừa người bán xếp hàng lên tàu rồi trì hoãn hoặc từ chối thanh toán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán để thu lợi cho mình Trong nhiều trường hợp nhà nhập khẩu đành chịu bán lỗi còn hơn thuê tàu chở hàng quay về Cũng có khi do giá cả hàng hóa nhập khẩu giảm, nhà nhập khẩu sợ thua lỗ không muốn nhận bộ chứng từ để đi lấy hàng hoặc trì hoãn thanh toán nên đã đẩy ngân hàng vào tình thế khó khăn Đặc biệt trong nghiệp vụ L/C trả chậm, khách hàng nhập khẩu đã lợi dụng uy tín của ngân hàng để bảo lãnh cho họ nhập hàng trả chậm của nước ngoài, song tiền hàng bán được họ đã dùng vào việc khác chứ không nộp vào ngân hàng Chính vì thế, người bán phải cùng với ngân hàng của mình kiểm tra tính chân thực của các L/C cũng như các bản sửa đổi để tránh gặp phải tình trạng những thư tín dụng giả mạo được phát hành bởi một ngân hàng "ma" không có thực.
1.2.2.3 Rủi ro đạo đức của nhà chuyên chở:
Rủi ro đạo đức của nhà chuyên chở là trường hợp người giao hàng cho nhà chuyên chở, nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng, lấy tiền cước rồi biến mất, hoặc có tìm thấy tàu nhưng hàng thì không còn Khi đó ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho nhà xuất khẩu, còn việc kiện hãng tàu, chủ tàu hoặc đòi bồi thường của bảo hiểm là việc làm hoàn toàn tách rồi với L/C Do các bên tham gia thường ở những nước khác nhau nên việc kiện tụng thường
bị kéo dài, rất khó khăn và tốn kém
1.2.2.4 Rủi ro đạo đức của ngân hàng:
Rủi ro đạo đức của ngân hàng là trường hợp ngân hàng phát hành cũng
vi phạm những cam kết của mình như trì hoãn, hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu Đối với L/C được phép đòi tiền bằng điện, nếu ngân hàng chiết khấu không trung thực, bộ chứng từ có sai sót mà vẫn gửi điện cam kết rằng bộ chứng từ là hoàn hảo và đòi tiền ngân hàng phát hành, ngân hàng phát hành tin tưởng và thanh toán, như vậy sẽ rặp rủi ro
Trang 26Nhìn chung nguyên nhân sâu xa dẫn tới những rủi ro đạo đức là vấn đề thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác Chẳng hạn một bên không có những thông tin về khả năng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của phía bên kia, đồng thời lại bị họ cố tình che dấu hoặc lừa gạt,nên đã đưa ra những quyết định sai lầm gây ra rủi ro trong thanh toán.
Ngoài ra, do bản thân L/C chưa phải là một phương thức thanh toán quốc tế hoàn hảo, theo quy định của UCP, việc thanh toán quốc tế L/C chỉ căn
cứ trên chứng từ mà không căn cứ vào thực trạng hàng hóa, sự tách biệt giữa hàng hóa và chứng từ trong thanh toán quốc tế tạo ra khe hở cho một số tổ chức, cá nhân tiến hành lừa đảo, vì thế rủi ro đạo đức vẫn tồn tại
đó người bán và người mua phải hiểu rõ quyền hợp pháp của mình để đòi hỏi những đền bù xứng đáng cho những thiệt hại trên đối với hãng tàu hay hãng bảo hiểm Ngoài ra, ngân hàng phát hành L/C còn là người tài trợ cho nhà nhập khẩu và chịu trách nhiệm thanh toán nên họ phải quan tâm tới mặt an toàn của hàng hóa Để giảm bớt những rủi ro mất mát và hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển, ngân hàng phát hành L/C phải chắc chắn rằng hàng hóa đã được bảo hiểm một cách tốt nhất (tức là mua theo giá CIF/CIP)
Trang 271.2.4 Rủi ro quốc gia:
Rủi ro quốc gia là những rủi ro về chính trị, kinh tế, chính sách của một quốc gia khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa Chính vì vậy việc phân tích rủi ro quốc gia trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong thương mại quốc tế Nguyên nhân chính gây nên rủi ro quốc gia là những biến động về hệ thống chính trị- kinh tế của quốc gia đó
Những biến động này như: chiến tranh, nổi loạn, đảo chính và các biến
cố chính trị xã hội khác Do thay đổi về thể chế chính trị, chính phủ mới ở các nước nhập khẩu có thể từ chối các cam kết thanh toán quốc tế, hoặc do chiến tranh, cách mạng bạo động, đình công nổ ra đã gây cản trở cho việc giao nhận hàng và thanh toán qua ngân hàng của các doanh nghiệp
Bên cạnh những biến động về chính trị, chúng ta cũng cần phải quan tâm tới những nhân tố ảnh hưởng tới tình hình kinh tế của một quốc gia, ví dụ như:
- Nợ nước ngoài: nếu nước nhập khẩu bị rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất, không có khả năng trả nợ và chính phủ tuyên bố vỡ nợ hoặc hoãn thanh toán các khoản nợ nước ngoài thì sẽ đẩy các ngân hàng vào tình thế không thanh toán được các khoản ngoại tệ cho nước ngoài
- Dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán của một quốc gia: nếu dự trữ ngoại hối quá ít hoặc cán cân thanh toán bị thâm hụt, chính phủ nước nhập khẩu có thể dùng các biện pháp cấp bách để dừng thanh toán với nước ngoài
- Sự cấm vận kinh tế: khi một nước bị cấm vận kinh tế thì mọi hoạt động thương mại quốc tế và các khoản NOSTRO của nước đó ở nước ngoài sẽ bị kiểm soát gắt gao, thậm chí bị phong tỏa nên ngân hàng không thể thanh toán tiền hàng cho nước ngoài
Trang 28- Chính sách quản lí ngoại hối của nước nhập khẩu: đó là các chính sách kiểm soát ngoại hối, việc cấp giấy phép sử dụng và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài… Nếu chính phủ của nước nhập khẩu đột ngột áp dụng chính sách ngoại hối thắt chặt hoặc cấm vận trong thanh toán quốc tế thì gây ra rủi ro cho nhà xuất khẩu và ngân hàng của họ.
- Chính sách thương mại và các quy định về xuất nhập khẩu của các quốc gia: đôi khi việc thay đổi các chính sách, những quy định này sẽ tạo nên những biến cố gây thiệt hại cho các bên tham gia
1.2.5 Rủi ro pháp lý:
Rủi ro pháp lý xảy ra khi có sự vận dụng không đồng nhất giữa các nguồn luật điều chỉnh L/C ngoài UCP 600 Như chúng ta biết thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức L/C được các ngân hàng trên thế giới thực hiện trên cơ sở UCP 600 Nhưng ở từng quốc gia, giao dịch này còn bị điều chỉnh
và chi phối bởi hệ thống pháp luật quốc gia UCP và luật pháp quốc gia tạo thành hành lang pháp lý cho giao dịch L/C của các ngân hàng thương mại thế giới Tuy nhiên mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của từng nước lại có nhiều sự khác biệt, phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của quốc gia đó Mặc dù luật quốc gia thường tôn trọng và ít có mâu thuẫn với thông lệ quốc tế, tuy nhiên không thể tránh hoàn toàn được việc không xảy ra sự khác biệt, đối đầu với UCP
1.2.6 Rủi ro ngoại hối:
Rủi ro ngoại hối là những rủi ro xảy ra khi việc thanh toán quốc tế được
ấn định bằng đồng tiền nước ngoài Khi tỉ giá ngoại tệ biến động sẽ gây nên
sự có lợi cho phía bên này và thiệt hại cho phía còn lại Cụ thể hơn, khi ngoại
tệ lên giá sẽ có lợi cho nhà xuất khẩu và ngược lại, nếu ngoại tệ giảm giá thì
sẽ có lợi nhà nhập khẩu
Trang 29Sự biến động tỉ giá này phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như: tốc độ lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, nợ nước ngoài, cung cầu ngoại tệ, chính sách điều hành tỉ giá… của mỗi quốc gia.
Trong giao dịch thanh toán L/C các ngân hàng cũng có những rủi ro về ngoại hối, những rủi ro này xuất hiện khi các ngân hàng có trạng thái ngoại hối về loại ngoại tệ đó khác 0 Nếu trạng thái ngoại hối âm thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro hối đoái khi đồng tiền đó lên giá, ngược lại nếu trạng thái ngoại hối dương thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro hối đoái khi đồng tiền
đó giảm giá so với đồng bản tệ
ví dụ như sai sót trên vận đơn, xuất xứ hàng hóa, kiểm định…hoặc những chứng từ do bên thứ ba lập Vì vậy, những rủi ro do sai sót của chứng từ là thường gặp nhất trong phương thức L/C
Trang 301.3 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C
1.3.1 Do sự biến động của nền kinh tế thị trường
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các ngân hàng thương mại luôn chịu sự chi phối khắt khe của quy luật cung cầu, giá cả thị trường… nên cũng phải thường xuyên đối mặt với các rủi ro từ mọi phía Ngoài ra,những yếu tố như giá cả thay đổi, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lí,điều hành kém, khủng hoảng tài chính… cũng là tác nhân gây ra khó khăn đối với các doanh nghiệp, thua lỗ, thậm chí là phá sản, vỡ nợ…
Ngoài ra,sự biến động trong thị trường tài chính, sự thay đổi tỉ giá, các chỉ tiêu về nợ nước ngoài, dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán của một quốc gia cũng gây nên sức ép và rủi ro đối với việc thanh toán quốc tế
1.3.2 Do thông tin không đầy đủ
Thông tin đối nghịch chính là nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro tín dụng
và rủi ro đạo đức trong thanh toán quốc tế
Thông tin là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi bên tham gia thanh toán quốc tế Nếu một bên không nắm vững tình hình tài chính cũng như uy tín hay khả năng thanh toán của bên đối tác, không am hiểu và kiểm tra được các thông số kĩ thuật và hiệu quả kinh tế của dự án mình tài trợ thì rủi ro tín dụng xảy ra là điều khó tránh khỏi
Việc thiếu thông tin hay sự thiếu trung thực của đối tác, đồng thời lại bị
họ cố tình che dấu hay lừa gạt nên đưa ra những quyết định sai lầm đã gây ra rủi ro đạo đức
1.3.3 Các nhân tố vĩ mô và các nhân tố bất khả kháng:
Những biến động về chính trị như chiến tranh, nổi loạn, đảo chính…hay
sự thay đổi về bộ máy,thể chế chính trị, chính phủ ở nước nhập khẩu hay sự bất thống nhất giữa luật điều chỉnh L/C ngoài UCP 600, luật quốc gia của
Trang 31Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng chủ yếu trong thanh toán xuất nhập khẩu, mà quan hệ này lại phụ thuộc nhiều vào môi trường vĩ mô của hai nươc xuất nhập khẩu như: chính trị, xã hội, môi trường kinh tế, tình hình an ninh…Bên cạnh đó, các chính sách kinh tế cũng như những chính sách quản lý của từng quốc gia đều tác động ảnh hưởng mạnh
mẻ, chăng hạn như việc ban bố chính sách hạn chế nhập khẩu hay chính sách kiểm toán ngoại hối thắt chặt sẽ có tác động làm ảnh hưởng lớn đến quá trình thanh toán Giá trị thanh toán xuất nhập khẩu được tính bằng ngoại tệ nên tỉ giá hối đoái thường xuyên biến động sẽ gây thiệt hại cho cả hai bên Vì vậy, trong điều kiện các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội…ổn định thì chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ sẽ được đảm bảo và ngược lại
Ngoài ra, phương thức tín dụng chứng từ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố bất khả kháng như bất kỳ một quan hệ kinh tế nào Các hiện tượng như: chiến tranh, đình công, khủng bố, thiên tai, hoả hoạn, các vụ tấn công nhà băng…được coi là các trường hợp mà ngân hàng có thể thoát khỏi trách nhiệm thanh toán cho người hưởng, chấm dứt ngay lập tức quy trình thanh toán nhưng với thiệt hại thuộc về hầu như tất cả các bên
Nhìn một cách tổng quát, quy trình thanh toán tín dụng chứng từ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố Để nâng cao hiệu quả phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, chung ta phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có thể điều chỉnh với khả năng tốt nhất của mình
1.3.4.Năng lực và đạo đức kinh doanh của các nhà nhập khẩu:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định sự suôn sẻ hay không của cuộc thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế được coi là quyền lợi của bên xuất khẩu và đồng thời là trách nhiệm của người nhập khẩu Thanh toán diễn ra tốt đẹp khi mà các bên tham gia tôn trọng hợp đồng đã ký và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong cả chu trình đó
Trang 32Người nhập khẩu là người có trách nhiệm trả tiền cho người xuất khẩu
Họ có nghĩa vụ phải thông qua ngân hàng để mở thư tín dụng hợp lệ chủ động trong việc thanh toán, nhận hàng, mua bảo hiểm… Nếu người nhập khẩu do năng lực hạn chế không thực hiện tốt các nghĩa vụ trên thì quá trình thanh toán diễn ra không thuận lợi Tương tự nếu người nhập khẩu không có thiện ý tốt, anh ta sẽ tìm mọi cách gây khó khăn cho ngân hàng cũng như cho người xuất khẩu như bắt bẻ mọi sơ suất dù là nhỏ nhất để từ chối thanh toán, hoặc kéo dài thời gian thanh toán…trong các trường hợp trên thì quy trình thanh toán sẽ bị gián đoạn ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên
Đối với người xuất khẩu năng lực và hành vi của họ cũng ảnh hưởng nhiều đến quy trình thanh toán Nghĩa vụ của người xuất khuẩu là kiểm tra thư tín dụng do người nhập khẩu mở, giao hàng đúng hợp đồng, lập bộ chứng
từ phù hợp với các điều khoản của L/C…Trong đó, lập bộ chứng từ phù hợp
là khâu gặp nhiều trở ngại nhất vì người xuất khẩu phải qua nhiều công đoạn, thủ tục Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến trường hợp người xuất khẩu lập bộ chứng từ giả mạo, trốn tránh việc kiểm tra chất lượng hàng hoá của cơ quan có thẩm quyền để lừa gạt người nhập khẩu Hoặc, người xuất khẩu không nghiêm túc khu thực hiện hợp đồng, lập được bộ chứng từ phù hợp nhưng trong thực tế giao hàng lại không đúng với quy định trong hợp đồng Từ đó, dẫn đến quá trình thanh toán chậm lại, thậm chí có khi phải huỷ bỏ hợp đồng đã ký
Như vậy, năng lực và đạo đức kinh doanh của các bên có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thanh toán tín dụng chứng từ Nếu người mua và người bán có kiến thức và có kinh nghiệm trong thương mại quốc tế thì quy trình thanh toán trở nên nhanh chóng và thuận lợi hơn Vì vậy, sự hiểu biết rộng, có kinh nghiệm và tính làm việc nghiêm túc của cả hai bên người xuất và người nhập là những yêu cầu cần thiết để thúc đẩy quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Trang 331.3.5 Các nguyên nhân khác:
- Trình độ của cán bộ NH: Tham gia vào quy trình thanh toán, các ngân hàng là những trung gian không thể thiếu được Nếu là ngân hàng phục vụ người mua thì ngân hàng có trách nhiệm mở thư tín dụng, cam kết sẽ trả tiền cho người bán Việc ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người bán đồng nghĩa với việc ngân hàng cấp cho người mua một khoản tín dụng Vì vậy, trước khi phát hành L/C, ngân hàng phải phân tích, đánh giá tình hình tài chính của người mua, xem hiệu quả hoạt động của họ như thế nào, có uy tín hay không, từ đó, quyết định xem người mua có cần phải thực hiện điều kiện đảm bảo cho khoản vay hay không Thực hiện các khâu trên đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải là những người có kinh nghiệm, có năng lực chuyên môn vững vàng, có khả năng phân tích và tổng hợp tốt…để đảm bảo đánh giá đúng khách hàng trong thời gian ngắn nhất, trên cơ sở đó, thu hút thêm khách hàng mới ngoài ngoài những khách hàng có uy tín và làm ăn lâu dài với ngân hàng Tương tự, nếu là ngân hàng phục vụ người bán thì ngân hàng có trách nhiệm thông báo thư tín dụng cho người xuất khẩu và tiếp nhận bộ chứng từ từ người này Với trách nhiệm là ngân hàng được uỷ thác thanh toán, ngân hàng này phải đặc biệt lưu ý trong khâu kiểm tra tích hợp lý của bộ chứng từ Vì đây là khâu quyết định xem người bán có được thanh toán hay không nên các cán bộ phụ trách khâu này phải hết sức cẩn thận, làm việc tập trung và có trách nhiệm
Trên thực tế, có nhiều trường hợp do trình độ của cán bộ ngân hàng hạn chế làm cho quy trình thanh toán bị chậm lại Chẳng hạn như, các điều khoản trong L/C thường được thể hiện bằng ngôn ngữ nước ngoài nên nếu trình độ cán bộ ngân hàng hạn chế thì sự hiểu lầm là điều không thể tránh khỏi Hay như trong khâu kiểm tra bộ chứng từ do người bán gửi đến, cán bộ ngân hàng kiểm tra quá lâu vừa gây chậm trể thanh toán cho người xuất khẩu vừa kéo
Trang 34dài thời gian để có thể nhận được hàng của người nhập khẩu, làm ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá và kế hoạch sử dụng vốn của người xuất khẩu…
Có thể nói, bản thân các ngân hàng tham gia có ảnh hưởng lớn đến sự nhanh chậm của quá trình thanh toán, trong đó, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cũng như phong cách phục vụ khách hàng của cán bộ ngân hàng là yếu tố quyết định Đây là yếu tố phản ánh rõ nét nhất và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chất lượng của dịnh vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng
- Công nghệ trong thanh toán : Đây là yếu tố phản ánh tính chất hiện đại
và sự tiện lợi của hệ thống thiết bị, công nghệ kỹ thuật được sử dụng trong quy trình thanh toán quốc tế, Hệ thống công nghệ càng hiện đại thì quy trình thanh toán diễn ra càng nhanh, chất lượng càng được đảm bảo Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng chủ yếu thanh toán qua mạng thanh toán viễn thông liên ngân hàng quốc tế SWIFT (Society For Worldwide Interbank Financial Telecommunications) nhiều hơn hình thức thư từ (mail) Việc mở
và thông báo L/C bằng SWIFT có tác dụng rút ngắn tối đa khoảng thời gian, tránh thất lạc tài liệu và đảm bảo thông tin được truyền đi một cánh đầy đủ, chính xác Trong khi đó, việc mở và thông báo L/C bằng thư tuy có ưu điểm chi phí thấp nhưng lại kéo dài thời gian của quy trình thanh toán, hơn nữa, khả năng thất lạc thư từ là điều có thể xảy ra
1.4 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo L/C của ngân hàng thương mại:
- Khắc phục tình trạng thông tin không cân xứng trong các bên tham gia thanh toán quốc tế Để hạn chế rủi ro, các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp phải thường xuyên điều tra thu nhập các thông tin về khách hàng nước ngoài, có thể thông qua hệ thống các đại lý của mình hoặc mua thông tin từ các hãng thông tin và phòng ngừa rủi ro quốc tế Vì vậy, vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế vẫn là uy tín của khách hàng
Trang 35- Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như các ngân hàng thương mại cần
có những trợ lí pháp luật giỏi hoặc cộng tác với các công ty tư vấn luật,…để
có được ý kiến tư vấn pháp lí nhằm ngăn ngừa rủi ro ngay từ khâu đầu tiên giao dịch và soạn thảo hợp đồng tới khâu cuối cùng trong buôn bán quốc tế là thanh toán
- Các ngân hàng cần sử dụng các công cụ tài chính cũng như quản lý và bảo hiểm rủi ro hối đoái như: hợp đồng mua bán ngoại tệ có kì hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ…để phòng tránh các rủi ro ngoại hối
Thanh toán quốc tế trong hoạt động ngân hàng nói riêng và trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung có một vị trí đặc biệt quan trọng Nó là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế, kể từ khi chuẩn
bị các bước cần thiết để sản xuất ra hàng hóa tới khi bán hàng thu tiền về cho nhà xuất khẩu hay chi tiền ra để nhập hàng về phục vụ sản xuất, đời sống con người sao cho đủ số lượng
Chiếm tỉ trọng lớn trong thanh toán quốc tế, vai trò và tính hữu dụng của phương thức tín dụng chứng từ là không thể phủ nhận Nghiên cứu nội dung nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, lựa chọn
và xử lí yếu tố nội dung của nó, hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ kỹ thuật sao cho phù hợp với những đặc điểm tính chất nền kinh tế của mỗi quốc gia là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Hạn chế rủi ro luôn là vấn đề mà các chủ thể quan tâm trong mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh Rủi ro không chỉ làm tổn hại tới chủ thể tham gia trực tiếp, mà rộng hơn, thông qua các giao dịch thanh toán, sẽ cần thiết phải có sự tham gia của các chủ thể gián tiếp như ngân hàng xuất khẩu, ngân hàng nhập khẩu, bảo hiểm…Và do vậy, rủi ro trong thanh toán L/C bao trùm lên tất cả các chủ thể trực tiếp tham gia vào giao dịch ngoại thương Rủi ro gây ra những mất mát,
Trang 36Chương 1 của khoá luận làm sáng tỏ những vấn đề lí luận cơ bản về thanh toán L/C và các loại rủi ro trong quá trình thực hiện Từ đó, phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro thanh toán L/C để tạo cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá ở chương sau.
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI BIDV HÀ THÀNH.
2.1 Hoạt động thanh toán quốc tế theo L/C tại BIDV Hà Thành:
2.1.1 Khái quát về tình hình hoạt động của BIDV Hà Thành:
Tháng 9/2003 Phòng giao dịch Tràng Tiền trực thuộc Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam, theo đề án cơ cấu lại hoạt động của BIDV trong giai đoạn 2001- 2005 và tầm nhìn 2010 đã được nâng cấp lên thành chi nhánh cấp
1 với tên gọi là BIDV- Chi nhánh Hà Thành- là đơn vị thành viên thứ 76 Từ khi chính thức đi vào hoạt động đến nay, ngân hàng luôn luôn được hướng hoạt động theo hướng hiện đại hoá và phục vụ chủ yếu cho khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do sự phát triển không ngừng của mình mà BIDV- Chi nhánh Hà Thành được coi là mô hình bán lẻ kiểu mẫu trong hệ thống của BIDV Tuy mới thành lập nhưng chi nhánh đã tạo được uy tín với khách hàng trong và ngoài nước về chất lượng dịch vụ
Kể từ ngày thành lập, số lượng cán bộ của chi nhánh không ngừng tăng
Từ 50 nhân viên nay chi nhánh đã có trên 190 nhân viên, và có khoảng 10,3% cán bộ có trình độ trên đại học, 76% có trình độ đại học
Ban giám đốc chi nhánh bao gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc, hiện nay chi nhánh có 10 phòng nghiệp vụ là: Phòng tín dụng 1, Phòng tín dụng 2, phòng thanh toán quốc tế, phòng quản lý tín dụng, Phòng thẩm định, phòng
kế hoạch nguồn vốn, Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp, Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân, Phòng tài chính kế toán,phòng tổ chức hành chính Các phòng chức năng là: Phòng tiền tệ kho quỹ, Phòng điện toán, Phòng giao dịch địa ốc, Phòng kiểm tra- kiểm toán nội bộ Và 6 phòng giao dịch: Phòng giao dịch Bách Khoa, Phòng giao dịch Lê Đại Hành, Phòng giao dịch 19/8, Phòng
Trang 38giao dịch Tôn Thất Tùng, Phòng giao dịch Tràng Tiền, Phòng giao dịch Nguyễn Công Chứ.
Trong các hoạt động của BIDV Hà Thành, thanh toán quốc tế luôn chiếm tỉ trọng lớn và đạt hiệu quả cao Với ưu thế của mình đến nay đã có hơn 100 ngân hàng mở tài khoản thanh toán, thực hiện hàng triệu giao dịch với độ chính xác an toàn cao
Được định hướng là mô hình Ngân hàng chuyên bán lẻ điển hình đầu tiên của hệ thống BIDV trên địa bàn Thủ đô, nhiệm vụ chủ yếu của Chi nhánh
là cung cấp các dịch vụ tài chính cho đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, các hộ kinh doanh cá thể Với phương châm lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mục tiêu hoạt động của mình, trong những năm qua, Chi nhánh đã không ngừng đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để cùng các doanh nghiệp đi lên trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.Sau một thời gian đi vào hoạt động, Chi nhánh đã bước đầu hình thành một mô hình mẫu về một ngân hàng hiện đại hoạt động trong cơ chế thị trường: vững chắc về năng lực và uy tín; sản phẩm, dịch vụ đa dạng, chất lượng cao; phong cách giao dịch chuyên nghiệp, tận tình Là một trong những đơn vị luôn đi đầu toàn hệ thống trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, Chi nhánh đã nhanh chóng làm chủ công nghệ ngân hàng hiện đại, triển khai tốt việc áp dụng các sản phẩm, dịch vụ mới của hệ thống như dịch
vụ Home Banking, chuyển tiền Western Union, thu mua séc du lịch, thanh toán thẻ Visa, Master, đầu mối chi trả kiều hối Đài Loan, dịch vụ trả lương cho các cơ quan v.v Nhờ áp dụng triệt để mô hình giao dịch một cửa, Chi nhánh đã rút ngắn được thời gian phục vụ giao dịch với khách hàng, giản tiện các thủ tục nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác, an toàn, đem lại sự tiện ích, hài lòng và niềm tin tới đông đảo các khách hàng Đặc biệt, với đặc điểm giao
Trang 39dịch cả thứ 7, Chủ nhật, ngày lễ tết, thời gian giao dịch kéo dài đến 18h hàng ngày, Chi nhánh Hà Thành đã trở thành sự lựa chọn số một của đông đảo khách hàng trên địa bàn Đến nay, sau 3 năm hoạt động, Chi nhánh đã mở mới thêm được 17.000 tài khoản cá nhân, 550 tài khoản doanh nghiệp, phát hành mới thêm được 17.000 thẻ ATM, thu dịch vụ chiếm xấp xỉ 40% tổng lợi nhuận của Chi nhánh Về hoạt động tín dụng, với định hướng hoạt động ngay
từ lúc thành lập là phục vụ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Chi nhánh đã nhanh chóng thay đổi nhận thức, đổi mới tác phong làm việc, xây dựng chính sách, cơ chế phù hợp để có thể tiếp cận và hỗ trợ khách hàng một cách tốt nhất Những nỗ lực phấn đấu của Chi nhánh sau 3 năm hoạt động đã phần nào được đền đáp Từ chỗ ban đầu chỉ có 12 khách hàng doanh nghiệp
có quan hệ tín dụng, bảo lãnh với Chi nhánh với tổng dư nợ 65 tỷ VND đến nay Chi nhánh đã có 130 khách hàng doanh nghiệp, hơn 100 khách hàng cá nhân có quan hệ vay vốn thường xuyên với dư nợ tín dụng đạt gần 1.300 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm đến 90% Hình ảnh Chi nhánh Hà Thành với tư cách là một NHTM quốc doanh chuyên phục vụ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được rất nhiều các đơn vị biết tới và lựa chọn Trong số các khách hàng đó, có rất nhiều các đơn vị đã có thương hiệu trên thị trường, tiêu biểu có thể kể đến như: Công ty
CP FPT, Tập đoàn Việt Á, Tập đoàn Hoà Phát, Công ty TNHH Hoà Bình, Công ty CP VPP Hồng Hà, Công ty CP Cơ giới lắp máy và xây dựng Vimeco v.v
2.1.2 Thanh toán quốc tế theo tín dụng chứng từ tại BIDV Hà Thành:
Hiện nay các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu mà các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường thực hiện là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ Trong đó, tín dụng chứng từ vẫn là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến và chiếm tỷ trọng cao trong doanh số thanh toán (trên 70%) Sở dĩ phương thức chứng từ được sử dụng rộng rãi trong hoạt động
Trang 40thanh toán xuất nhập khẩu chính là vì những ưu điểm của nó như chúng ta đã biết Hơn nữa, phương thức này cũng khá phù hợp với điều kiện và tình hình của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung Sau đây, chúng ta hãy cùng xem xét các số liệu dưới đây:
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu qua BIDV HT từ 2006 đến 2008
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của BIDV Hà Thành
Đối với thanh toán xuất khẩu: qua bảng trên ta có thể thấy, mặc dù tình hình XNK còn gặp nhiều khó khăn- hoạt động XNK có những thách thức mới
do môi trường cạnh tranh ngày càng chặt chẽ- nhưng doanh số thanh toán xuất khẩu tại BIDV Hà Thành trong các năm vẫn liên tục tăng
Năm 2006 hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội có nhiều khó khăn, môi trường cạnh tranh gay gắt, các quy định về rào cản đối với hang xuất khẩu của Việt Nam ngày càng chặt chẽ, giá một số vật tư, dịch vụ đầu vào tăng làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tuy nhiên với nhiều cơ chế chính sách tạo điều kiện của Chính phủ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng Đặc biệt là những nỗ lực chủ quan của ngân hàng khiến hoạt động thanh toán quốc tế tại cũng tăng trưởng tại BIDV HT, kim ngạch thanh toán xuất khẩu qua chi nhánh đạt 54 triệu USD, tăng 14,3% so với năm 2005