Kết hợp mô hình SIM và phương pháp Markowitz xây dựng danh mục đầu tư tối ưu có cơ cấu ngành
Trang 1Theo lí thuyết thì rủi ro ở thị trường chứng khoán gồm rủi ro hệ thống
-là loại rủi ro không đa dạng hóa được và rủi ro phi hệ thống - -là loại rủi ro cóthể đa dạng hóa được Vì vậy, để đạt được mức lợi nhuận kì vọng với mức rủi
ro nhất định nhà đầu tư phải áp dụng nguyên tắc đa dạng hóa Muốn đạt đượcđiều này, nhà đầu tư phải lập được một danh mục cho riêng mình Đa dạnghóa sẽ làm cho nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro phi hệ thống ở mức thấp nhất Khinhà đầu tư thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ sẽ lập được một danhmục có mức lợi nhuận kỳ vọng mong muốn ở mức rủi ro mà nhà đầu tư có thểchịu đựng
Thiết lập danh mục tối ưu bằng phương pháp Markowitz là phương pháp
cổ điển nhưng rất hiệu quả Để thiết lập danh mục tối ưu cần xác định biênhiệu quả mà trong thực tế do có nhiều tài sản rủi ro nên việc tính toán, ướclượng ma trận hiệp phương sai để xác định biên hiệu quả rất phức tạp Nếu lợisuất tài sản tuân theo mô hình chỉ số đơn - SIM ( Simple Index Model) thì ta
sẽ xác định danh mục tiếp tuyến của nhóm tài sản thông qua thuật toán EGP(Elton – Gruber – Padbercy), sau đó tổ hợp danh mục tiếp tuyến cúa cácnhóm theo phương pháp Markowitz để xây dựng danh mục tối ưu
Trong quá trình tìm hiểu và thực tập tại Công ty Chứng khoán Ngânhàng Đầu tư và Phát triển (BSC), Phòng Tư vấn và Đầu tư tài chính có đưa ra
đề nghị thiết lập danh mục tối ưu có cơ cấu ngành bằng phương pháp toán Và
Trang 2
-áp dụng những kiến thức đã được học nên em đã chọn chuyên đề thực tập
“Kết hợp mô hình SIM và phương pháp Markowitz xây dựng danh mục
đầu tư tối ưu có cơ cấu ngành”
Chuyên đề thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư chứng khoán và danh mục đầu tư chứng khoán Chương này trình bày tổng quan kiến thức về chứng khoán và đầu tư
chứng khoán
Chương 2: Lí thuyết lựa chọn danh mục tối ưu Chương này trình bày
các lí thuyết ứng dụng để thiết lập danh mục tối ưu
Chương 3: Xác định danh mục đầu tư có cơ cấu ngành Chương này trình
bày mô hình chỉ số đơn - SIM đươc áp dụng để lọc danh mục hiệu quả cho ngànhbằng thuật toán EGP, sau đó dùng làm đầu vào cho phương pháp Markowitz xâydựng danh mục đầu tư hiệu quả có cơ cấu ngành
Trong thời gian thực tập chuyên ngành tại Công ty BSC em đã được sựgiúp đỡ rất tận tình của các anh chị trong Phòng Tư vấn và Đầu tư Tài chính
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ nhân viêntrong công ty BSC, đặc biệt là Phòng Tư vấn và Đầu tư Tài chính đã tạo cơhội và điều kiện cho em được thực tập chuyên ngành tại quý công ty
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Toán Kinh
tế đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực tập Đặc biệt,
em xin chân thành cảm ơn Giảng viên TS Ngô Văn Thứ - Trưởng Bộ môn
Toán Tài Chính - Khoa Toán Kinh tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đãgiúp em lựa chọn và định hướng đề tài, chỉ bảo tận tình, giúp đỡ để em hoànthành chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
-CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ DANH
MỤC ĐẦU TƯ
I CHỨNG KHOÁN VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán Đó là những tài sảntài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán đểthu tiền về Theo sự phát triển của thị trường hàng hóa ngày càng phong phú,
đa dạng Nói chung, người ta phân chia chứng khoán làm bốn nhóm chính:
Cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi và chứng khoán phái sinh
1 Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sởhữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần
Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hailoại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
1.1 Phân loại cổ phiếu
Trang 4-cho cổ đông là tùy thuộc vào kết quả và chính sách của công ty và do hộiđồng quản trị quyết định Vì thế, thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lạicho cổ đông là thu nhập không cố định Khi công ty phải thanh lí tài sản, cổđông phổ thông là những người cuối cùng được nhận những gì còn lại(nếu có)sau khi công ty trả xong các nghĩa vụ như thuế, nợ và cổ phiếu ưu đãi.
Quyền mua cổ phiếu mới
Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiệnđang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới,trước khi đợt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhấtđinh Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỉ lệ
cổ phiếu đang nắm giữ Như vậy, quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duytrì tỉ lệ sở hữu của mình trong công ty sau khi công ty đã tăng thêm vốn
Mỗi cổ phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyền mua trước
Số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới sẽ được quy định cụ thểtrong từng đợt chào bán, cùng với giá mua, thời hạn của quyền và ngày pháthành cổ phiếu mới
Cổ phiếu bán theo quyền thường có mức giá thấp hơn so với giá thị trườnghiện hành Khi cổ đông thực hiện quyền, công ty sẽ huy động được thêm vốn Nếu cổ đông không muốn thực hiện quyền thì họ có thể bán quyền trên thịtrường
Quyền bỏ phiếu
Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào các chức vụ quản
lí trong công ty; có quyền tham gia các đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của công ty Nếu không tham dự được, cổ đôngthường có thể ủy quyền cho người khác thay mặt họ biểu quyết, theo chỉ thịcủa họ hoặc tùy ý người được ủy quyền
Trang 5
-Tuỳ theo quy định, mỗi cổ đông có thể được bỏ số phiếu tối đa cho mỗiứng cử viên bằng số cổ phiếu nắm giữ, hoặc được dồn toàn bộ số phiếu có thểchi phối( bằng tổng số phiếu nhân với số ứng cử viên) để bầu cho một ( hoặchơn), tuy có ít phiếu bầu nhưng họ lại có thể tập trung phiếu để tăng thêm giátrị quyền bổ phiếu của mình.
Ngoài những quyền lợi cơ bản về kinh tế trên đây, cổ đông phổ thông còn
có những quyền lợi pháp lí khác nữa, như quyền được kiểm tra số sách củacông ty khi cần thiết, quyền được yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bấtthường…
1.1.2 Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi dành cho cổ đông những ưu đãi so với cổ đông phổ thông.Kiểu ưu đãi lâu đời nhất và phổ biến nhất là ưu đãi về cổ tức
Cổ phiếu ưu đãi cổ tức ấn định một tỉ lệ cổ tức tối đa so với mệnh giá, haymột mức cổ tức tuyệt đối tối đa Trong điều kiện công ty hoạt động bìnhthường, cổ đông cổ tức ưu đãi sẽ hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập từ cổtức của cổ phiếu ưu đãi nói chung là cố đinh Đổi lại điều đó, cổ đông ưu đãikhông được tham gia bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của côngty
Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỉ lệ đó, công
ty sẽ trả theo khả năng có thể Đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả
cổ tức ưu đãi, nhưng một khi cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đôngphổ thông cũng chưa được trả Trong trường hợp công ty thanh lí tài sản, cổđông ưu đãi được nhận lại vốn trước cổ đông phổ thông nhưng sau người cótrái phiếu
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo đó những điều khoản để tăng thêmtính hấp dẫn của nó như:
Trang 6
Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định rằng nếu chưa trả cổ tức cho cổ
đông ưu đãi thì xem như công ty còn mắc nợ, cho đến khi nào có đủ lợi nhuận
để trả và tất nhiên cho tới khi đó cổ đông phổ thông mới nhận được cổ tức
Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi được tham chia
sẻ thành quả hoạt động của công ty khi công ty làm ăn phát đạt Cổ đông sẽnhận lượng cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định nếu cổ tức trả cho cổ đôngthường vượt quá một mức nhất định
Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi cho phép cổ đông, trong những
điều kiện cụ thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường,thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt
Ngoài cổ phiếu ưu đãi về cổ tức, còn có thể có cổ phiếu ưu đãi về quyền
bỏ phiếu ( được nhiều phiếu bầu hơn) hay được quyền đòi lại vốn góp( theoLuật daonh nghiệp Việt Nam)
ty trong từng ngành có sự khác nhau
1.2.2 Lãi vốn
Lãi vốn là khoản chênh lệch giữa giá thu được khi bán cổ phiếu và giá đãmua vào Lãi vốn cấu thành một phần quan trọng trong tổng lợi tức mà cổphiếu đem lại cho cổ đông Tuy nhiên, chỉ khi nào giá cổ phiếu tăng lên thì
Trang 7
-mới có lãi vốn Nếu giá cổ phiếu giảm xuống thì sẽ gây tổn thất (lỗ vốn).Người đầu tư vì thế phải quan tâm tới khả năng tăng giá của cổ phiếu.
Giữa mức cổ tức được chi trả và khả năng tăng giá của cổ phiếu không cómối liên hệ cố định Có hai loại cổ phiếu có mức chi trả cổ tức cao và ổn định,nhưng lại kém tiềm năng tăng giá Trái lại có loại cổ phiếu trả cổ tức thấp,thậm chí không trả cổ tức, nhưng lại hứa hẹn tiềm năng tăng giá mạnh Tùytheo mục tiêu và mức độ chấp nhận rủi ro của từng người, người đầu tư có thểlựa chọn mua những loại cổ phiếu mà những đặc điểm về khả năng đem lạilợi tức là khác nhau Nếu nhìn nhận từ giác độ khả năng đem lại lợi tức, cổphiếu bao gồm các loại sau:
Cổ phiếu thượng hạng là cổ phiếu do những công ty có thành
tích lâu dài và liên tục về lợi nhuận và chi trả cổ tức phát hành Đó là cổ phiếucủa những công ty lớn, có tên tuổi, ổn định và trưởng thành, có tiểm lực tàichính to lớn Loại cổ phiếu này ít khi bị mất giá, nhưng không nhất thiết là giá
sẽ tăng mạnh, đồng thời cổ tức được chi trả ổn định và tăng đều đặn
Cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu của một công ty có doanh số,
thu nhập và thị phần đang tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ của nền kinh tếnói chung và nhanh hơn mức trung bình cả ngành Công ty này thường quantâm đến việc mở rộng và đến lĩnh vực nghiên cứu, phát triển, do đó nó thườnggiữ lại phần lớn lợi nhuận để tái tài trợ cho mở rộng và nghiên cứu, cũng vìthế cổ tức thường được trả với tỉ lệ thấp hoặc không trả Tuy nhiên loại cổphiếu này có tiềm năng tăng giá mạnh
Cổ phiếu phòng vệ là cổ phiếu của những công ty có sức chống
đỡ với suy thoái Đặc trưng của những công ty này là mức độ ổn định củachúng trong những thời kì mà toàn bộ nền kinh tế suy thoái Đó thường lànhững công ty kinh doanh các sản phẩm thiết yếu như thuốc là, nước giảikhát, bánh kẹo và thực phẩm Loại cổ phiếu này có mức chi trả cổ tức ổn định
Trang 8
-và -vào thời kì đi xuống của nền kinh tế khi các cổ phiếu khác suy giảm thìloại cổ phiếu này không bị mất giá Song khi nền kinh tế phát đạt và các cổphiếu khác tăng giá thì loại cổ phiếu này cũng lại khó tăng giá hơn.
Cổ phiếu thu nhập là cổ phiếu của những công ty trả lãi cao hơn
mức trung bình Loại cổ phiếu này nói chung có sức hấp dẫn đối với nhữngngười mua cổ phiếu để có thu nhập thường xuyên, đặc biệt là người già vàngười về hưu nhưng nó cũng không có tiềm năng tăng giá Thường đây là cổphiếu của những công ty thuộc lĩnh vực công ích
Cổ phiếu chu kì là cổ phiếu của những công ty có mức lợi
nhuận biến đổi theo chu kì kinh doanh Khi điều kiện kinh doanh tốt lên, khảnăng thu lợi nhuận của công ty phục hồi, giá cổ phiếu thường của công tytăng Khi điều kiện kinh doanh xấu đi, kinh doanh sa sút mạnh, lợi nhuậngiảm và do đó giá cổ phiếu cũng giảm Các ngành kinh doanh có tính chu kì
là thép, xi măng, máy công cụ và ôtô…
Cổ phiếu thời vụ là cổ phiếu của những công ty mà thu nhập
của nó có khuynh hướng biến động theo thời vụ, mà tiêu biểu là công ty bán
lẻ Doanh số và lợi nhuận của những công ty này thường tăng lên vào nhữngthời điểm nhất định trong năm (như dịp khai, giảng, giáng sinh…)
1.3 Rủi ro của cổ phiếu
Rủi ro của một công cụ tài chính nói chung, và điển hình là cổ phiếu, đượchiểu là tính chất không chắc chắn trong nguồn lợi tức mà nó mang lại chongười nắm giữ
Những lực lượng góp phẩn tạo nên những thay đổi trong lợi tức - giá hoặc
cổ tức (lãi) - cấu thành các yếu tố của rủi ro Một số những yếu tố ảnh hưởngnày là từ bên ngoài công ty, không thể kiểm soát và tác động tới một số lớnchứng khoán Một số ảnh hưởng khác là từ bên trong, có thêt kiểm soát ở mộtmức độ lớn Trong đầu tư, loại yếu tố thứ nhất được gọi là nguồn rủi ro hệ
Trang 9
-thống Trái lại loại yếu tố thứ hai - những yếu tố nội tại, kiểm soát được vàphần nào chỉ riêng có đối với các ngành hay các công ty, được gọi là nguồnrủi ro không hệ thống.
Rủi ro hệ thống là phần trong biến động tổng thể của lợi nhuận gây ra bởinhững yếu tố tác động tới giá cả của tất cả các chứng khoán Những biến đổi
về kinh tế, chính trị và xã hội là những nguồn rủi ro hệ thống Hiệu ứng củachúng làm cho giá của hầu hết các cổ phiếu thường riêng lẻ và hầu hết các tráiphiếu riêng lẻ cùng chuyển động theo một hướng Nói cách khác, khoảng mộtnửa trong tổng số rủi ro của một cổ phiếu thường trung bình là rủi ro hệthống
Rủi ro không hệ thống là phần của tổng rủi ro chỉ xảy ra với riêng mộtngành hay một hãng Các yếu tố như năng lực quản lí, những ưu tiên tiêudùng, các cuộc bãi công gây ra những biến động hệ thống của lợi nhuận trongmột công ty Các yếu tố không hệ thống về cơ bản là độc lập với các yếu tốtác động đến thị trường chứng khoán nói chung Vì những yếu tố này tác độngđến một công ty nên chúng phải được khảo sát riêng biệt cho từng công ty.Rủi ro là điều không thể loại bỏ hoàn toàn, xét trên tổng thể thị trường vàtrong dài hạn Song mỗi cá nhân người đầu tư hay tổ chức đầu tư có thể ápdụng một hay nhiều trong số những biện pháp sau đây để giảm thiểu rủi rocủa việc đầu tư cổ phiếu:
Lựa chọn những cổ phiếu riêng lẻ
Quyết định đầu tư vào cổ phiếu nào là kết quả của quá trình thu thập vàphân chính trị thế giới, những biến số kinh tế vĩ mô trong nước(GDP, thunhập quốc dân bình quân đầu người, làm phát, năng suất lao đông…), cho tớinhững vấn đề của ngành và cuối cùng là tình hình của công ty phát hành.Ngoài ra, lựa chọn một cổ phiếu riêng lẻ còn liên quan tới những thông số cá
Trang 10
-nhân của người đầu tư như khả năng về tài chính, mục tiêu đầu tư, mức độchấp nhận rủi ro…
Thiết lập danh mục đầu tư hoặc mua chứng chỉ quỹ đầu tư
Khi phối hợp nhiều cổ phiếu (hoặc cổ phiếu và trái phiếu hay các công cụkhác nữa) trong cùng một danh mục thì hiệu ứng tổng thể là tổng rủi ro củadanh mục đầu tư giảm xuống Đó là một phương pháp quản lí rủi ro hữu hiệu.Tuy nhiên phương thức này sẽ không phù hợp với những nhà đầu tư có lượngvốn để đầu tư không đủ lớn Khi đó có một cách thay thế là mua chứng chỉquỹ đầu tư thay vì mua các cổ phiếu riêng lẻ để thiết lập danh mục Đây làphương thức đầu tư có thể giúp cho người đầu tư cá nhân dù với số vốn khônglớn, vẫn cố thể được hưởng lợi ích của việc đa dạng hóa danh mục đầu tư vànăng lực quản lí chuyên nghiệp đồng thời giảm được chi phí giao dịch
Sử dụng các công cụ phái sinh
Một trong những chức năng kinh tế của các công cụ phái sinh là rào chắnrủi ro, bảo vệ lợi nhuận của những công cụ cơ sở Vì thế, khi dự đoán giá tănghay giảm và để bảo vệ được lợi nhuận của các tài sản đang nắm giữ hoặc tìmcách kiếm lợi với tỷ suất lợi nhuận cao, các nhà đầu tư có thể sử dụng cáccông cụ phái sinh như quyền chọn mua, quyền chọn bán, các hợp đồng tươnglai và những chiến lược đi kèm nó
2 Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán môt khoản tiền xácđịnh, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoảncho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Những đặc trưng quan trọng của trái phiếu:
Người phát hành
Trang 11
-Có hai loại người phát hành chính là Chính phủ và công ty Chính Phủ làngười phát hành đáng tin cậy nhất do có những điều kiện đảm bảo cao nhấtcho việc hoàn trả gốc và lãi Còn trong khu vực công ty thì người phát hành
có nhiều loại, mỗi loại có khả năng khác nhau trong việc đáp ứng các nghĩa
vụ đã thỏa thuận với người cho vay Nói cách khác, có thể coi rủi ro thanhtoán của trái phiếu Chính phủ là bằng không, còn các trái phiếu công ty khácnhau có mức độ rủi ro thanh toán khác nhau
Ngoài rủi ro thanh toán, trái phiếu Chính phủ vẫn phải chịu các loại rủi rokhác giống bất kì một trái phiếu công ty nào như rủi ro lãi suất, rủi ro lạmphát…
Thời hạn
Thời hạn của một trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ,người phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng cách hoàn trả khoản vay gốc Thờihạn này cũng còn được gọi là thời gian đáo hạn của trái phiếu
- Thời gian đáo hạn cho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ tráiphiếu có thể mong đợi nhận được các khoản thanh toán lãi định kì và cho biết
số năm trước khi khoản vay gốc được hoàn trả toàn bộ
- Lợi tức của một trái phiếu tuỳ thuộc vào thời hạn của nó
- Giá của trái phiếu sẽ biến đổi trong thời hạn của nó khi lãi suất trên thịtrường thay đổi Nếu các yếu tố khác không thay đổi thời gian đáo hạn càngdài tính biến động giá của trái phiếu càng lớn trước một sự thay đổi của lãisuất thị trường
Mệnh giá và lãi suất cuống phiếu
Mệnh giá của một trái phiếu là khối lượng tiền được ghi trên mặt trái phiếu
mà người phát hành đồng ý hoàn trả cho người nắm giữ trái phiếu tại thờiđiểm đáo hạn
Trang 12
-Lãi suất cuống phiếu là lãi suất mà người phát hành đồng ý trả mỗi năm.Khối lượng lãi hàng năm được trả cho người sở hữu trái phiếu trong suốt thờihạn của trái phiếu được gọi là lãi cuống phiếu Lãi suất cuống phiếu đem nhânvới mệnh giá trái phiếu sẽ cho lãi cuống phiếu
Người nắm giữ trái phiếu nhận được tiền lãi do mua trái phiếu với giá thấphơn nhiều so với mệnh giá của nó Khi trái phiếu đáo hạn, lãi sẽ được trảchính bằng khoản chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu và giá đã trả để muatrái phiếu đó
Cũng có trái phiếu có lãi suất thả nổi với lãi suất cuống phiếu được định kì
ấn định lại theo một chuẩn nào đó được định trước
Ngoài ra, lãi suất cuống phiếu còn chỉ ra mức độ mà theo đó giá của tráiphiếu sẽ chịu tác động của những thay đổi của lãi suất Nếu các yếu tố kháckhông đổi, lãi suất cuống phiếu càng cao giá trái phiếu càng ít thay đổi trướcmột thay đổi của lãi suất Kết quả là lãi suẩt cuống phiếu và thời gian đáo hạn
có những hiệu ứng ngược chiều với tính biến động giá của một trái phiếu
2.1 Phân loại trái phiếu
Trái phiếu vô danh là trái phiếu không mang tên trái chủ cả trên chứng chỉ
cũng như trên sổ sách của người phát hành Những phiếu trả lãi đính theo tờchứng chỉ và khi đến hạn trả lãi người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mangtới ngân hàng nhận lãi, khi trái phiếu đáo hạn người nắm giữ nó mang chứngchỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ trên
chứng chỉ và trên sổ sách của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉthực hiện cho phần vốn gốc cũng có thể là ghi danh toàn bộ cả gốc và lãi.Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ Tráiphiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhậnbằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính
Trang 13
-Trái phiếu Chính phủ là những trái phiếu do Chính phủ phát hành Chính
phủ phát hành trái phiếu nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách; tài trợcho các công trình công ích hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ Lãi suất củatrái phiếu Chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suấtcủa các công cụ nợ khác cùng kì hạn
Trái phiếu công ty là những trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn
dài hạn Trái phiếu công ty cũng có nhiều loại: Trái phiếu có đảm bảo (đượcđảm bảo bằng các tài sản thế chấp cụ thể), trái phiếu không đảm bảo ( chỉđược đảm bảo bằng uy tín công ty, khi công ty phá sản thì trái chủ của tráiphiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có đảm bảo nhưng trướccác cổ đông), trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể mua lại (cho phépngười phát hành trong những trường hợp nhất định có thể mua lại toàn bộ haymột phần số trái phiếu đã phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn), trái phiếu
có thể bán lại (cho phép người mua trái phiếu trong những trường hợp nhấtđịnh có thể bán lại trái phiếu cho người phát hành để thu hồi vốn trước khitrái phiếu đáo hạn), trái phiếu có thể chuyển đổi ( cho phép trái chủ trongnhững điều kiện nào đó có thể đổi lấy cổ phiếu thường theo tỉ lệ và mức giá
Lãi của lãi
Lãi của lãi là khoản có được do tái đầu tư các khoản thanh toán lãi định kì
Bộ phận này của tổng lợi tức phụ thuộc vào lãi suất tái đầu tư, tứclà thay đổitheo lãi suất thị trường
Chênh lệch giá
Trang 14
-Đây là khoản chênh lệch giữa mức giá mua trái phiếu và giá nhận được khitrái phiếu đáo hạn hoặc bị mua lại trước khi đáo hạn Khoản này có thể âm,dương tùy theo chiều hướng biến động của giá trái phiếu
2.3 Rủi ro điền hình của trái phiếu
Rủi ro lãi suất thị trường
Là rủi ro giá của trái phiếu thay đổi khi lãi suất thị trường dao động Nếutrái phiếu được nắm giữ tới khi đáo hạn thì không có rủi ro này
Rủi ro tái đầu tư
Là rủi ro cũng bắt nguồn từ biến động của lãi suất thị trường nhưng tácđộng tới lợi tức các khoản tái đầu tư từ tiền lãi nhận được định kì
Rủi ro thanh toán
Đây là rủi ro xảy ra khi phía người phát hành trái phiếu mất khả năngthanh toán
3 Chứng chỉ quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của người đẩu tư để đầu tư vàocác loại chứng khoán Chứng chỉ quỹ đầu tư là chứng chỉ do quỹ đầu tư pháthành ra công chúng nhằm huy động vốn Ngoài ra, quỹ đầu tư còn có thể huyđộng vốn dưới dạng bán các cổ phần quỹ đầu tư Thay vì đầu tư trực tiếp vàochứng khoán người đầu tư mua cố phần hoặc chứng chỉ quỹ, nhờ đó mà tínhchuyên nghiệp của hoạt động đầu tư cao hơn, tuy nhiên tất cả người đầu tưvào một quỹ đều hưởng lợi suất như nhau
Trang 15
-3.1 Phân loại quỹ đầu tư
Dựa trên hình thái vận động của vốn, có thể chia thành quỹ đóng và quỹmở:
- Quỹ đóng có chứng chỉ hay cổ phần quỹ chỉ phát hành một lần duy nhất
với số lượng xác định, sau khi phát hành quỹ sẽ không mua lại hay phát hành
bổ sung Người đầu tư muốn giao dịch cổ phần hay chứng chỉ quỹ sẽ tiếnhành trên thị trường chứng khoán tập trung
- Quỹ mở liên tục phát hành cổ phiếu hay chứng chỉ ra công chúng với số
lượng không hạn chế, sau khi phát hành quỹ sẵn sàng mua lại cổ phần haychứng chỉ mỗi khi người đầu tư muốn bán Người đầu tư không giao dịchchứng chỉ hay cổ phần trên thị trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹhoặc đại lí ủy quyền của quỹ
3.2 Ưu điểm của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Giúp người đầu tư đa dạng hóa đầu tư để giảm thiếu tổng rủi ro mà chỉcần lượng vốn đầu tư khiêm tốn
- Tránh được những giao dịch nhỏ mà phí giao dịch lại lớn đồng thời lạitận dụng được kĩ năng đầu tư chuyên nghiệp của người quản lí quỹ
- Giúp mỗi nhà đầu tư có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó như: tránhthuế, bảo toàn vốn, tăng trưởng vốn hay có thu nhập thường xuyên Ngoài racòn được hưởng nhiều dịch vụ cho người thụ hưởng
3.3.Nguồn lợi tức tiềm năng của chứng chỉ - cổ phần quỹ đầu tư
- Nhận cổ tức của quỹ Khoản này được chi trả từ số thu nhập của cáckhoản đầu tư của quỹ như: cổ tức co rphiếu, tiền lãi từ trái phiếu…
- Nhận được khoản lợi vốn ( hoặc bị lỗ vốn) khi nhà quản lí quỹ bán ramột phần trong danh mục đầu tư để thu lợi nhuận
- Được hưởng lợi từ những thay đổi có lợi trong giá trị thị trường.
Trang 16
-4 Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép ngườinắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi
nó lấy một chứng khoán khác.
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu được chuyển đổi thành cổphiếu thường
4.1 Ưu điểm của chứng khoán chuyển đổi
- Nhà đầu tư có kinh nghiệm sử dụng chứng khoán chuyển đổi để ràochắn rủi ro trước những dao động của giá thị trường
- Chứng khoán chuyển đổi đem lại tiềm năng về một khoản lợi vốnthông qua sự tăng giá của cổ phiếu phổ thông, đồng thời một sự bảo vệ khigiá thị trường của cổ phiếu phổ thông rơi xuống dưới giá trị chuyển đổi
- Lãi nhận được từ trái phiếu chuyển đổi nói chung cao hơn cỏ tức do cổphiếu tương đương trả
- Các chứng khoán chuyển đổi có tác dụng bảo vệ trong trường hợp lạmphát và giá thị trường của cổ phiếu phổ thông và cả trái phiếu chuyển đổi đềutăng lên cùng với lạm phát
4.2 Bất lợi của chứng khoán chuyển đổi
- Lợi suất của chứng khoán chuyển đổi thường thấp hơn so với trái phiếuthông thường
- Trong trường hợp phải thanh lí, trái phiếu chuyển đổi đứng sau cáckhoản nợ khác của công ty phát hành về thứ tự ưu tiên đòi tài sản Rủi ro tùythuộc vào sức mạnh tổng thể của công ty phát hành
- Khi lãi suất thị trường giảm thì rủi ro trái phiếu chuyển đổi bị công typhát hành gọi mua lại sẽ tăng lên Khi đó công ty phát hành có thể tái tài trợcác công cụ chuyển đổi của mình bằng những khoản nợ khác rẻ hơn
Trang 17
- Các nhà đầu tư có thể gặp rủi ro pha loãng cổ phiếu phổ thông của công
ty khi giá trị của cổ phiếu phổ thông giảm sút do lượng cổ phiếu phổ thônglưu hành bị tăng lên do chuyển đổi hay do có những phát hành cổ phiếu phổthông mới
- Nếu xảy ra sự thâu tóm đối với công ty phát hành bằng hình thức vay
để mua, các nhà đầu tư có thể chỉ còn lại những chứng khoán không thểchuyển đổi được, có lợi suất thấp hơn các khoản nợ khác của công ty
5 Chứng khoán phái sinh
5.1 Quyền mua cổ phần
Quyền mua cổ phần là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiệnhữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợtphát hành cổ phiếu phổ thông mới, tương ứng với tỉ lệ cổ phần hiện có của họtrong công ty tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào mời ra côngchúng và trong một thời hạn nhất định
Đặc điểm của quyền mua cổ phần
- Mức giá đăng kí trong tất cả các dạng quyền mua cổ phần đều thấp hơnmức giá hiện hành của cổ phiếu vào thời điểm quyền được phát hành do:
Rủi ro có thể xảy ra khi giá thị trường giảm trong thời hạn phát hànhquyền và điều đó có thể phá hoại sự thành công của đợt phát hành
Mức chênh lệch đáng kể này làm tăng tính hấp dẫn của đợt pháthành
- Mỗi cổ phần đang lưu hành được đi kèm một quyền Số lượng quyềncần thiết để mua một cổ phần mới được quy định tùy đợt phát hành Các công
ty thường xác định số lượng quyền cần mua một cổ phần mới như sau:
Số lượng quyền cần để mua một cổ phần mới = Số lượng cổ phần cũ đanglưu hành : Số lượng cổ phần mới
Trang 18
- Nếu các cổ đông không muốn thực hiện quyền, họ có thể bán chúngtrên thị trường trong thời gian quyền chưa hết hạn Giá của quyền có thể lênhay xuống trong thời gian chào bán do giá thị trường của cổ phiếu tăng haygiảm.
5.2 Chứng quyền
Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyềnđược mua một số lượng xác định một loại chứng khoán khác với một mứcgiá xác định và trong một thời hạn nhất định
5.2.1 Đặc điểm
- Chứng quyền được phát hành bởi các công ty phát hành chứng khoán
cơ sở Khi các chứng quyền được thực hiện làm tăng dòng tiền vào cho công
ty và làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường
- Người sở hữu chứng quyền khong có quyền cỏ đông trong công ty,không được nhận cổ tức và không có quyền biểu quyết Các điều khoản đượcghi rõ trên chứng quyền: số cổ phiếu được mua theo mỗi chứng quyền, giáthực hiện và ngày hết hạn của chứng quyền
- Tại thời điểm phát hành chứng quyền, giá mua cồ phiếu ghi trongchứng quyền cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, giá đó có thể cố địnhhoặc tăng lên định kì
5.2.2 Giá trị của chứng quyền
Giá trị của chứng quyền được quyết định bởi giá trị đầu tư (giá trị nội tại)
và độ dài thời hạn của chứng quyền
Giá trị nội tại bắng số lượng cổ phiếu được mua trên mỗi chứng quyền
nhân với chênh lệch giá thị trường và giá mua cổ phiếu ghi trên chứng quyền.
Nói chung, thời gian cho đến khi hết hạn càng dài thì giá trị của chứngquyền càng cao
Trang 19
-5.3 Hợp đồng kì hạn
Hợp đồng kì hạn là một thỏa thuận giữa một người mua và một người bánchấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa có khối lượng xác dịnh, tại mộtthời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày
hôm nay.
Giá cả hàng hóa do hai bên tự thỏa thuận dựa theo những ước tính cá nhân.Vào thời điểm giao nhận hàng hóa giá của nó có thể thay đổi, tăng lên hoặcgiảm xuống so với mức giá đã kí kết trong hợp đồng Khi đó, một trong haibên mua bán sẽ bị thiệt hại do cam kết một mức giá thấp hơn( đối với bênbán) hoặc cao hơn ( đối với bên mua)
Như vậy, khi tham gia hợp đồng kì hạn cả hai bên đều giới hạn được rủi
ro tiềm năng cũng như lợi nhuận tiềm năng của mình Mỗi bên tham gia hợpđồng đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng dovậy rủi ro thanh toán sẽ xảy ra khi một trong hai bên không thực hiện hợpđồng
5.4 Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽmua hoặc bán một hàng hóa nào đó tại một thời hạn xác định trong tương laitheo mức giá đã định trước
5.4.1 Cơ chế giao dịch hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận pháp lí chắc chắn giữa một ngườimua hoặc một người bán và một sở giao dịch có uy tín hoặc trung tâm thanhtoán của sở giao dịch đó
Mức giá các bên thỏa thuận giao dịch trong tương lai được gọi là giá hợpđồng tương lai
Thời hạn ấn định để các bên tiến hành giao dịch là thời hạn thanh toán haythời hạn giao nhận
Trang 20
-5.4.2.Thoát khỏi một vị thế
Một bên của hợp đồng tương lai có hai lựa chọn để giải tỏa khỏi một vịthế:
- Vị thế có thể được thanh lí trước thời hạn thanh toán: bên tham gia phải
mở một vị thế triệt tiêu trong cùng hợp đồng Đối với người mua hợp đồngtương lai thì phải bán cùng một lượng hợp đồng tương lai tương tự
- Chờ cho tới hạn thanh toán Lúc này, bên mua sẽ nhận lượng tài sản cơ
sở với giá đã thỏa thuận còn bên bán sẽ thanh lí vị thế bằng việc giao hàngtheo giá thỏa thuận
5.5.Quyền chọn
Một quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được muahoặc bán một khối lượng nhất định hàng hóa tại một mức giá xác định trongthời hạn nhất định
Một hợp đồng quyền chọn cơ bản bao gồm 4 đặc điểm:
- Loại quyền: quyền chọn bán hay quyền chọn mua
- Tên hàng hóa cơ sở và khối lượng mua (bán) theo quyền
- Ngày đáo hạn: ngày mà sau đó quyền hết giá trị
- Giá thực hiện quyền: mức giá mà tài sản cơ sở được mua hoặc bán.Chi phí mà người mua quyền bỏ ra trước hết là sự phản ánh giá trị nội tạicủa quyền cộng thêm bất kì khoản phụ trội nào Mức phụ trội cao hơn giá trịnội tại gọi là giá trị thời gian
- Giá trị nội tại là giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận đượcbằng cách thực hiện quyền ngay lập tức Giá trị nội tại của một quyền thấpnhất sẽ bằng không
- Giá trị thời gian của quyền là khoản trội ra giữa giá của một quyền vàgiá trị nội tại của nó
Trang 21
-II.NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ
1.Khái niệm và vai trò của đầu tư theo danh mục
1.1.Khái niệm danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư chứng khoán là các khoản đầu tư của một cá nhân hoặc
tổ chức vào việc nắm giữ một hoặc nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, đầu tư bất động sản, tài sản tương đương tiền hoặc các tài sản khác.
Mục đích là giảm thiểu rủi ro bằng đa dạng hóa danh mục đầu tư Trên cơ
sở các tài sản đầu tư, nhà đầu tư lập một danh mục đầu tư bao gồm các tài sảnkhác nhau Nguyên tắc là “không bỏ trứng vào một giỏ”, các nhà đầu tư tạo ramột danh mục có rủi ro thấp nhất tương ứng với lợi suất mà họ kì vọng đạtđược
1.2.Vai trò của đầu tư theo danh mục
1.2.1.Đối với nhà đầu tư chứng khoán
Đối với nhà đầu tư trên thị trường, đầu tư chứng khoán là một hoạt độngđầu tư mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng luôn hàm chứa rủi ro cao Khi nhàđầu tư thực hiện đầu tư đơn lẻ vào một loại cổ phiếu hoặc trái phiếu, rủi ro sẽrất lớn Vì vậy, nhà đầu tư cần thiết phải xác định một danh mục đầu tư chophù hợp với mức chấp nhận rủi ro Sự cần thiết của đầu tư bằng danh mục thểhiện theo khía cạnh sau:
Thứ nhất, đầu tư chứng khoán theo danh mục đảm bảo được các yêu cầu
về lợi suất đầu tư Khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư theo danh mục, nhà đầu tư
có thể điều chỉnh danh mục để phù hợp với lợi suất yêu cầu
Thứ hai, đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp nhà đầu tư đa dạng hóa tốt rủi
ro phi hệ thống của chứng khoán
Thứ ba, với hình thức đầu tư bằng danh mục, nếu các nhà đầu tư không
thể đầu tư vốn của mình vào chứng khoán bằng cách đầu tư trực tiếp Nguyên
Trang 22
-nhân có thể là do chưa thể xây dựng danh mục đầu tư hoặc do chưa đủ vốn để
đa dạng hóa tốt danh mục Thì họ có thể đầu tư thông qua các tổ chức chuyênnghiệp dưới dạng uỷ thác cho công ty tài chính, công ty chứng khoán hoặcmua chứng chỉ quỹ đầu tư Theo hình thức này, nhà đầu tư sẽ làm giảm chiphí giám sát do không phải bỏ ra quá nhiều chi phí giám sát đối với các chứngkhoán Với khoản phí uỷ thác, công ty được uỷ thác sẽ quản lý danh mục đầu
tư cho nhà đầu tư
1.2.2.Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằmmục đích thu được nguồn lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và kinh doanh chứngkhoán Khi thị trường chứng khoán ngày càng phát triển và hoàn thiện, đầu tưchứng khoán là một lĩnh vực mà các tổ chức kinh doanh có thể gia tăng nguồnlợi nhuận
Đầu tư bằng danh mục đầu tư giúp công ty thu được các khoản lợi nhuận
dự tính trong khi vẫn đảm bảo khả năng an toàn hoạt động Các tổ chức kinhdoanh chứng khoán đáp ứng được yêu cầu về an toàn vốn đầu tư nhờ vào đadạng hóa
2.Một số đặc trưng của danh mục
Xét N tài sản rủi ro, lợi suất các tài sản r i (i=1…N) là biến ngẫu nhiên cóphân phối chuẩn với E(r i) r i và Var(r i) = 2
, 1 , 1
Trang 23T i i
P w r w r r
1
Lợi suất kì vọng của danh mục P: r w r w T r
i i
ji j ij i
3.Nguyên lí đa dạng hóa
Quá trình phân tán và tối thiểu hóa rủi ro là một hình thức đa dạng hóa.Theo đó, các nhà đầu tư nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau đểtạo thành một danh mục đầu tư sao cho tổng rủi ro toàn bộ danh mục sẽ đượcgiới hạn ở mức nhỏ nhất
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, ta đã chỉ ra rằngmỗi một loại chứng khoán đều tiểm ẩn hai loại rủi ro là rủi ro hệ thống và rủi
ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống là rủi ro của thị trường và ảnh hưởng đến tất
cả các chứng khoán Rủi ro hệ thống không thể tránh được bằng hình thức đadạng hóa Ngược lại, rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro bắt nguồn từ chính tổchức phát hành Rủi ro phi hệ thống có thể hạn chế bằng đa dạng hóa đầu tư
Trang 24
-Khi hai hay nhiều chứng khoán tham gia tạo thành một danh mục đầu tư,chúng sẽ tương quan với nhau tạo thành một kết quả chung cho cả danh mục.
Độ rủi ro danh mục cao hay thấp phụ thuộc vào mối tương tác của các chứngkhoán với các chứng khoán còn lại trong danh mục
Như vậy, rủi ro hệ thống là một trong những yếu tố quyết định mức doanhlợi dự kiến của một tài sản Vì thế chúng ta cần biết cách thức đo mức độ rủi
ro hệ thống cho các khoản đầu tư khác nhau Thước đo mà chúng ta sẽ sửdụng là hệ số bêta (β) Đây là lý do khi phân tích rủi ro của từng cổ phiếuriêng lẻ để đưa vào danh mục đầu tư, nhà đầu tư cần phải quan tâm nhiều tớirủi ro hệ thống
Tổng rủi ro của danh mục bằng tổng của rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệthống Mối quan hệ là ngược chiều nhau Khi số lượng chứng khoán càngnhiều, rủi ro phi hệ thống của danh mục càng nhỏ, kéo theo rủi ro của danhmục càng nhỏ Rủi ro này sẽ bằng với rủi ro thị trường Vì vậy, đa dạng hóagiúp giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, các danh mục đa dạng hoá vẫn phải chịumột mức rủi ro tiềm ẩn đó là rủi ro hệ thống
4.Lí thuyết thị trường hiệu quả
Trong nghiên cứu, các nhà kinh tế nhận thấy rằng việc quan sát các biến sốkinh tế có thể lý giải và dự đoán được sự phát triển của nền kinh tế Thịtrường chứng khoán cũng vậy, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng giá chứngkhoán thay đổi một cách ngẫu nhiên Giả thiết rằng giá chứng khoán phản ánhtriển vọng của tổ chức phát hành, sự biến đổi ngẫu nhiên của giá chứng khoántheo tình hình của công ty chính là một bằng chứng của một thị trường hoạtđộng tốt, hiệu quả Giá chứng khoán biến động dựa vào các thông tin mới củathị trường, không dự đoán được Do đó ta có thể lập luận rằng giá của chứngkhoán là một chuỗi ngẫu nhiên và đây là biểu hiện của một thị trường hiệuquả Khi giá của chứng khoán có thể dự đoán được, đó là bằng chứng của thị
Trang 25
-trường không hiệu quả Tuy nhiên cần phân biệt tính ngẫu nhiên của biếnđộng giá với sự bất hợp lí về mức giá Nếu giá cả được hình thành một cáchhợp lí thì chỉ những thông tin mới mới làm cho giá đó thay đổi.
Vậy, thị trường hiệu quả là thị trường mà ở đó giá của các chứng khoánphản ánh toàn bộ thông tin của thị trường Giả thuyết về thị trường hiệu quả(EMH – Efficency Market Hypothis) bao gồm ba cấp độ:
EMH cấp thấp – Thị trường hiệu quả cấp thấp: Khi giá chứng khoán phản
ánh đầy đủ và kịp thời các thông tin trong quá khứ về giao dịch của thịtrường Thị trường chứng khoán là thị trường phải đảm bảo nguyên tắc côngkhai và minh bạch, công bằng Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường đềubiết mọi thông tin trong quá khứ Khi đó, các thông tin trên thị trường đềuđược mọi nhà đầu tư sử dụng
EMH cấp trung - Thị trường hiệu quả cấp trung: Khi giá chứng khoán
không những phản ánh toàn bộ thông tin trong quá khứ mà còn phản ánh cácthông tin ở hiện tại như tình hình sản xuất của công ty, cơ cấu tài sản củacông ty…Nhà đầu tư có thể nhận thấy giá chứng khoán phản ánh các thôngtin công khai của công ty
EMH cấp cao -Thị trường hiệu quả cấp cao: Giá chứng khoán phản ánh
mọi thông tin của công ty không những ở trong quá khứ mà cả thông tin nội
bộ không được công bố Thông thường, những nhà đầu tư có được các thôngtin này là các thành viên nội bộ hoặc những người có quan hệ nhất định đốivới các thành viên nội bộ của công ty Khi này, các thông tin nội bộ có thểđược mua trên thị trường nhằm tận dụng cơ lợi về chênh lệch thông tin nhằmthu lợi nhuận siêu ngạch Nhưng thực tế, hầu như ở tất cả các nước hành độngnày bị coi là vi phạm pháp luật
Trang 26
-III.LÍ THUYẾT CƠ BẢN VỀ QUẢN LÍ DANH MỤC ĐẦU TƯ
1.Khái niệm
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán (gọi tắt là quản lý danh mục đầu tư) là việc xây dựng một danh mục các loại chứng khoán, tài sản đầu tư đáp ứng tốt nhất của chủ đầu tư và sau đó thực hiện theo dõi điều chỉnh các danh mục này nhằm tái tối ưu hoá danh mục để đạt được các mục tiêu đầu tư đề ra.
Yếu tố quan trọng đầu tiên mà chủ đầu tư quan tâm là mức độ rủi ro mà họchấp nhận, và đây là cơ sở để công ty thực hiện quản lý danh mục đầu tư hoặcquản lý quỹ xác định danh mục đầu tư sao cho lợi tức thu được là tối ưu vớirủi ro không vượt quá mức chấp nhận đã định trước
2.Nội dung quản lí danh mục đầu tư
2.1.Xác định mục tiêu đầu tư
Có hai loại nhà đầu tư trên thị trường đó là:
- Nhà đầu tư thô (Gross): họ quan tâm đến lợi suất đầu tư nên sẽ lựachọn danh mục để đạt được lợi suất kì vọng với mức rủi ro chấp nhận được(nhà đầu tư tối đa hóa lợi ích)
- Nhà đầu tư ròng (Net) họ quan tâm đến việc đáp ứng kịp thời các khoảnchi trả trong tương lai nên cần có ăn khớp giữa các khoản nợ và có trong bảngcân đối tài chính (nhằm tránh tình trạng vỡ nợ) Nguyên tắc của nhà đầu tưròng đó là “an toàn là trên hết”, mục tiêu nhà đầu tư ròng là phòng hộ
2.2.Nội dung, vai trò của quản lí danh mục đầu tư
2.2.1.Nội dung quản lí danh mục đầu tư
- Thiết lập và phân tích danh mục tối ưu cho bản thân hoặc khách hàng:Căn cứ vào thông tin thị trường
- Điều chỉnh danh mục khi thị trường biến động, chủ yếu là điều chỉnh
hệ số của tài sản để thay đổi của danh mục Khi thị trường sôi động
Trang 27
-(Bull Market) thì bán tài sản có hệ số thấp và mua tài sản có hệ số cao.Khi thị trường trầm lắng (Bear Market) làm giảm của danh mục bằng cáchbán tài sản có cao và mua tài sản có thấp.
- Đánh giá thực thi danh mục: định kì đánh giá kết quả thực thi danhmục đã xây dựng Một danh mục có các chỉ tiêu đạt mức lớn hơn chỉ tiêu củadanh mục đối chứng thì danh mục đó tốt
2.2.2.Vai trò của quản lí danh mục đầu tư
Nếu thị trường là hiệu quả thì tại sao trong thực tế các nhà đầu tư phải tốncông sức lựa chọn cổ phiếu cho danh mục đầu tư của họ? Tại sao họ khôngthiết kế một danh mục đầu tư theo đúng các chỉ số có trên thị trường Sự cầnthiết của quản lí danh mục đầu tư được cho là bởi:
- Thậm chí khi giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng với giátrị của nó nhưng mọi chứng khoán đều vẫn chứa đựng rủi ro mang tính chất
cá biệt của công ty Những rủi ro này chỉ có thể loại bỏ thông qua việc đadạng hóa danh mục Quản lí sẽ phát huy tác dụng để tạo ra một danh mụcđúng với mức rủi ro hệ thống mà nhà đầu tư mong muốn
- Quản lí danh mục đầu tư còn liên quan đến tâm lí của nhà đầu tư đốivới rủi ro
- Việc lựa chọn các chứng khoán phải tính đến ảnh hưởng của thuế.Những nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn có trong danhmục của mình những chứng khoán giống các nhà đầu tư chịu thuế suất thấp
- Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu riêng trongchính sách lựa chọn danh mục đầu tư có liên quan đến mức rủi ro phải gánhchịu
Như vậy, quản lí danh mục đầu tư vẫn có vai trò quan trọng trong thịtrường hiệu quả Danh mục tối ưu của mỗi nhà đầu tư khác nhau là do tuổi
Trang 28
-tác, mức thuế, tâm lí đối với rủi ro…Nhiệm vụ của nhà quản lí danh mục đầu
tư là xây dựng danh mục đầu tư phù hợp với đòi hỏi này
3.Các chiến lược quản lí danh mục đầu tư
3.1.Quản lí danh mục trái phiếu
3.1.1.Quản lí thụ động
Quản lí thụ động là chiến lược mua và nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáohạn mà không cần quan tâm đến các biến động lãi suất
Các bước tiến hành khi thực hiện chiến lược đầu tư thụ động:
- Lựa chọn chỉ số trái phiếu: Trên thị trường có nhiếu loại chỉ số trái
phiếu với các mức rủi ro khác nhau, do vậy đầu tiên để quyết định nên đầu tưtheo danh mục loại nào nhà quản lí danh mục đầu tư thụ động cần xem xéthai yếu tố: Mức độ rủi ro thanh toán mà người đầu tư có thể chấp nhận vàmục tiêu người đầu tư đề ra
- Phương pháp đầu tư: Sau khi lựa chọn được chỉ số trái phiếu nhà quản
lí thụ động sẽ xây dựng danh mục đầu tư theo phiên bản của chỉ số đó Một
Phương pháp chia nhỏ: phân chia chỉ số theo các nhóm nhỏ đạidiện cho những đặc tính khác nhau của chỉ số Sau đó chọn một số tráiphiếu có các thông số đại diện cho từng nhóm nhỏ Tổng số tiền đầu
tư vào từng nhóm nhỏ dựa trên tỉ trọng giá trị nhóm đó trong chỉ sốchuẩn
Trang 29
- Phương pháp tối ưu hóa: Nhà quản lí danh mục đầu tư phải xâydựng danh mục vừa ăn khớp với các nhóm chia nhỏ trên vừa tuân theomột số điều kiện và đồng thời còn phải tối ưu mục tiêu đề ra Phươngpháp này rất phức tạp, chỉ các nhà quản lí đầu tư chuyên nghiệp mới
có thể thực hiện dược
3.1.2.Quản lí chủ động
Chiến lược đầu tư chủ động là phương pháp mà nhà quản lí dùng khả năng
dự đoán và thủ thuật đầu tư để xây dựng các danh mục đầu tư đạt mức sinhlợi cao hơn mức sinh lời của thị trường
Khai thác đánh giá sai tạm thời của thị trường về trị giá chứngkhoán
Dự đoán mức độ tín nhiệm của một công ty có xu hướng tăng lên
và mua ngay loại trái phiếu này đồng thời bán luôn loại tương đươngkhông có triển vọng
Tuy nhiên, các chiến lược hoán đổi trên cũng có rủi ro mà nhà quản lí cầnchú ý:
Trái phiếu được hoán đổi chưa chắc có chất lượng tương đồng vớitrái phiếu ban đầu
Các loại trái phiếu thường có thời gian đáo hạn và coupon tương tựchứ không giống nhau nên sẽ khác nhau về độ lồi do vậy sự chênh lệch
Trang 30
-lợi suất trên thị trường có thể là sự trả giá cho độ lồi khác nhau chứ chưahẳn do thị trường định giá sai.
- Chiến lược dự đoán lãi suất: Mấu chốt của phươmg pháp là phải dự
đoán được xu hướng biến động của lãi suất để xây dựng danh mục nhạy cảm
với biến động đó
Thời gian đáo hạn bình quân là đơn vị đo mức nhạy cảm của trái phiếu với
sự biến động lãi suất nên khi nhà quản lí dự đoán lãi suất giảm thì cần xâydựng danh mục đầu tư có thời gian đáo hạn bình quân dài và ngược lại
- Chiến lược dự đoán chênh lệch đường cong lãi suất: Dự đoán chênh
lêch đường cong lãi suất là dự đoán sự khác nhau trong xu hướng biến động
của lãi suất hai kì hạn khác nhau của rmột loại trái phiếu Khi dự đoán mức
chênh lệch giảm thì mua trái phiếu dài hạn đồng thời bán trái phiếu ngắn hạn
và ngược lại
Tuy nhiên vẫn cần đề phòng trường hợp rủi ro biến động lãi suất sẽ làmnhà đầu tư thua lỗ, do vậy cần kết hợp cả phương pháp trung hòa rủi ro lãisuất
- Chiến lược dự đoán mức biến động lãi suất: Phương pháp này cần dựđoán mức biến động của lãi suất, tức lãi suất sẽ biến động nhiều hay ít nhưngbiến động đó phải là song song Nếu dự đoán lãi suất sẽ biến động mạnh thìchọn đầu tư vào danh mục có độ lồi cao hơn (Barbell) còn lãi suất ổn định thìchọn danh mục có độ lồi thấp (Bullet)
Tất cả các phương án trên đều phải đảm bảo thời gian đáo hạn bình quânbằng kì đầu tư
3.1.3.Quản lí bán chủ động
Để danh mục đạt được mục tiêu đề ra và phòng tránh rủi ro hệ thống, cácnhà quản lí danh mục một mặt thiết lập danh mục theo phương pháp thụ động
Trang 31
-một mặt quản lí danh mục theo phương pháp chủ động đây được gọi là quản líbán chủ động.
Trung hòa rủi ro là phương pháp phổ biển trong chiến lược loại bỏ rủi ro
cho danh mục Đây là biện pháp xây dựng danh mục trái phiếu sao cho khilãi suất biến động thì rủi ro giá và rủi ro tái đầu tư triệt tiêu nhau nên danhmục không bị ảnh hưởng
Loại bỏ rủi ro cho từng danh mục đầu tư: nhà quản lí danh mục cần xâydựng danh mục sao cho thời gian đáo hạn bình quân của danh mục khớp với
kì đầu tư dự kiến (với điều kiện lãi suất các loại kì hạn như nhau và biến độngsong song tại mọi thời điểm).Tuy nhiên thời gian đáo hạn bình quân sẽ biếnđổi trong giai đoạn đầu tư nên nhà quản lí danh mục thường xuyên phải cơcấu lại danh mục
Loại bỏ rủi ro cho toàn bộ tổng tài sản quản lí: Trung hòa rủi ro là biệnpháp hữu hiệu để cân đối sự biến động giá trị của tài sản và nghĩa vụ nợ trước
sự biến động lãi suất, bảo đảm cho vốn sở hữu không bị tác động hoặc cân đốicác dòng tiền thu được với nghĩa vụ phải trả nợ của tổ chức đó Có hai cáchtrung hòa rủi ro:
- Khớp thời gian đáo hạn bình quân: Chỉ thực thực hiện khi không xácđịnh được các dòng tiền phải trả tại các thời điểm khác nhau trong tương lai.Nhưng cách này có hạn chế là luôn phải theo dõi và cơ cấu lại danh mục đikèm với nhiều tốn kém Cần lưu ý chiến lược này có tác dụng ngăn ngừa rủi
ro nên khi lãi suất biến động theo chiều hướng có lợi thì giá trị tài sản ròng sẽkhông biến động theo chiều hướng tốt như nó có thể đạt được nếu khôngtrung hòa
- Khớp các dòng tiền: Khi xác định được các dòng nghĩa vụ phải trảtrong tương lai ta có thể xây dựng danh mục khớp các dòng tiền của tài sản
Trang 32
-với các dòng nghĩa vụ đó nhưng đảm bảo khối giá trị khoản đầu tư ít tốn kémnhất.
3.2.Quản lí danh mục đầu tư rủi ro
Danh mục đầu tư rủi ro là danh mục chứa đựng các chứng khoán rủi ro.Tuy nhiên để đơn giản hóa về mặt lí thuyết, khi đề cập đến danh mục rủi rongười ta thường nói đến danh mục cổ phiếu
3.2.1.Quản lí chủ động
Mục tiêu của chiến lược này là nhằm thu được lợi suất đầu tư cao hơn lợisuất của danh mục chuẩn hoặc thu được mức lợi nhuận trên trung bình ứngvới một mức rủi ro nhất định Quy trình quản lí danh mục chủ động:
- Xác định mục tiêu của khách hàng
- Lập ra danh mục “thông thường” để làm căn cứ so sánh
- Xây dựng một chiến lược và kết cấu danh mục đầu tư tối ưu thỏa mãnnhu của người đầu tư theo quy trình:
Thực hiện phân tích những ngành và công ty riêng lẻ thỏa mãnmục tiêu đặt ra nhằm tìm cơ hội đầu tư tốt nhất
Tính toán xác định số lượng cổ phiếu trong danh mục sao cho đạtmức đa dạng hóa cao nhất trong phạm vi giới hạn của khoản tiền đầu tư
Phân bổ khoản đầu tư: những ngành nghề có xu hướng tốt đượcphân bổ với tỉ trọng lớn hơn, trong đó cần tập trung vào cổ phiếu có tiềmnăng hoặc tạm thời bị định giá thấp Tuy nhiên đối với nhà quản lí danhmục chuyên nghiệp có thể thực hiện phân bổ theo nguyên tắc tìm danhmục tối ưu của mô hình Markowitz
3.2.2.Quản lí thụ động
Đây là chiến lược mua cổ phiếu theo một chỉ số chuẩn nào đó và nắm giữlâu dài nhưng đôi khi danh mục cũng cần được cơ cấu lại khi phải tái đầu tư
Trang 33
-các khoản cổ tức nhận về và do có một số cổ phiếu bị hợp nhất hoặc trượtkhỏi danh sách trong chỉ số chuẩn Hiệu quả của danh mục này được đánh giádựa trên khả năng của người quản lí danh mục trong việc tuân theo chỉ sốchuẩn tức là khả năng giảm thiểu những sai lệch so với chỉ số chuẩn.
Các phương pháp xây dựng danh mục cổ phiếu thụ động:
- Lặp lại hoàn toàn một chỉ số nào đó Phương pháp này giúp các nhàquản lí chắc chắn thu được kết quả đầu tư giống kết quả của chỉ số nhưng cóhai vấn đề:
Chí phí giao dịch lớn cói thể làm giảm lợi suất đầu tư
Luồng cố tức nhận về rải rác nên tái đầu tư bị phân tán
- Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp này hạn chế chi phí giao dịch vì
số lượng chứng khoán mua vào ít nhưng không đảm bảo lợi suất đầu tư đạtđược sẽ tương tự lợi suất thu nhập của chỉ số chuẩn
- Phương pháp lập trình bậc hai: phương pháp này khá phức tạp thườngchỉ có các nhà đầu tư chuyên nghiệp áp dụng
4.Đánh giá hoạt động quản lí danh mục đầu tư
Đối với chiến lược quản lí danh mục thụ động yêu cầu dặt ra là phải thiếtlập danh mục tuân theo một chỉ số chuẩn nào đó để đạt được kết quả giốngnhư chỉ só chuẩn Còn chiến lược quản lí danh mục chủ động có hai yêu cầuchính: Một là, khả năng đem lại lợi nhuận trên mức trung bình ứng với mỗimức độ rủi ro Hai là, khả năng đa dạng hóa danh mục tối đa nhằm loại bỏ rủi
ro không hệ thống
4.1.Phương pháp Treynor
Phương pháp Treynor áp dụng với mọi nhà đầu tư nói chung, không phânbiệt những mức ngại rủi ro khác nhau của từng loại nhà đầu tư Căn cứ trên líthuyết thị trường vốn Treynor cho rằng những nhà đầu tư hợp lí, ngại rủi roluôn ưa thích danh mục có mức bù đắp rủi ro cao trong mối tương quan với
Trang 34
-mức độ rủi ro mà họ phải gánh chịu Treynor đã triển khai thành công thứcđánh giá động thái của portfolio qua hệ số T:
P
f
P r r T
trong đó, r P : lợi suất danh mục P trong khoảng thời gian đánh giá
r f : lợi suất phi rủi ro( lợi suất tín phiếu kho bạc)
P : hệ số rủi ro hệ thống của danh mục P
Khi đánh giá kết quả hoạt động của danh mục cần chọn một hệ số chuẩn để
so sánh Nếu chọn danh mục chỉ số thị trường làm danh mục đối chứng khi
P
f
P r r S
trong đó, r P : lợi suất danh mục P trong khoảng thời gian đánh giá
r f : lợi suất phi rủi ro( lợi suất tín phiếu kho bạc)
P: độ lệch chuẩn của tỉ suất lợi nhuận của danh mục P
Nếu danh mục chỉ số thị trường là danh mục đối chứng thì khi: S P S I thìdanh mục P được đánh giá là thực thi tốt
Trang 35E(r P): lợi suất kì vọng của danh mục P.
Nếu kí hiệu r~P là lợi suất thực tế của danh mục P và r P là lợi suất danhmục tính theo CAPM thì ta có chỉ số -Jensen:
P ~r P r P
P 0 danh mục P hoạt động tốt hơn danh mục thị trường hay tốt hơnmức trung bình của thị trường
Nhận xét:
- Trong phương pháp Treynor, hệ số T thể hiện mức lợi nhuận bù đắp rủi
ro trên một đơn vị rủi ro của danh mục Ở đây, hệ số chỉ đo lường mức rủi
ro hệ thống của danh mục mà không đề cập đến mức độ đa dạng hóa của
danh mục Điều này ngầm chỉ ra rằng danh mục đầu tư đã được đa dạng hóahoàn toàn
- Tỉ số S trong phương pháp Sharpe cũng đo lường mức bù rủi ro nhưngđược tính trên một đơn vị rủi ro tổng thể của danh mục Vì thước đo rủi ro là
độ lệch chuẩn nên phương pháp này đánh giá kết quả quản lí danh mục trên
cơ sở cả lợi suất và mức độ đa dạng hóa Như vậy đối với danh mục đa dạnghóa không hoàn hảo thì phương pháp Treynor sẽ cho kết quả đánh giá xếphạng cao hơn phương pháp Sharpe
- Hai phương pháp Treynor và Sharpe đều có bất lợi là chúng đưa ra mộtkết quả xếp hạng tương đối chứ không phải là tuyệt đối
- Đánh giá theo phương pháp Jensen ở trên mới chỉ so sánh được kết quảcủa một danh mục với danh mục chuẩn đã chọn (danh mục chỉ số thị trường)chứ chưa so sánh các danh mục với nhau Mối quan hệ giữa danh mục đánhgiá với danh mục thị trường được thể hiện lại:
r~P r f A P Pr M r f
Trang 36
-trong đó, AP : thước đo Jensen, AP càng cao càng tốt nhưng các danh mục
có độ rủi ro khác nhau nên cần đo AP trong mối tương quan với hệ số rủi rocủa danh mục P Hệ số AP/P là thước đo so sánh của mỗi danh mục, hệ sốnày càng cao danh mục càng hiệu quả
Trang 37
P P
r
Đây là bài toán đa mục tiêu và để giải được cần đánh đổi hai mục tiêu nàyđưa về bài toán một mục tiêu và nhiều ràng buộc
1.2.Mục tiêu tối ưu Pareto
Tối ưu Pareto ở đây được hiểu theo nghĩa nhà đầu tư chấp nhận một mức
lợi suất đầu tư nào đó để đạt được mức rủi ro nhỏ nhất hoặc chấp nhận mứcrủi ro nào đó để đạt được lợi suất kì vọng lớn nhất
Thiết lập hai bài toán tương ứng hai mục tiêu:
Bài toán 1: Cho 2 0
0 2
P , tìm danh mục P để r P max
Bài toán 2: Cho r P r0 r f , tìm danh mục P để P2 min
Tương ứng sẽ có hai mô hình xác đinh trị tối ưu:
r w
N
T N
1
max
Trang 38
r r
w
N
T N
1 min
Về mặt lí thuyết hai bài toán 1 và 2 tương đương nhau theo nghĩa nghiệmcủa bài toán 1 và trị tối ưu tương ứng khi thay vào bài toán 2 sẽ được trị tối ưucủa bài toán 2
2.Phương pháp thiết lập danh mục tối ưu khi chỉ có tài sản rủi ro
2.1.Mô hình xác định tập danh mục biên duyên
Xét thị trường gồm N loại tài sản rủi ro
r i: lợi suất của tài sản i (i = 1, ,N),
~ ( , 2 )
i i
r r
w
N i
i T N i
i i
1
min 2
Ký hiệu: [ 1 ].V 1 [ 1 ] A; [1]: ma trận đơn vị, các thành phần đều là số 1
.(
[
1 1 1
B V r
Trang 39-Danh mục P ứng với tỷ trọng w là nghiệm của mô hình được gọi là danhmục biên duyên theo lợi suất kỳ vọng r0=r P
Kết luận:
- Các danh mục G, H phụ thuộc vào cấu trúc nhóm tài sản đã lựa chọn
- Với mỗi mức lợi suất ấn định trước luôn tồn tại duy nhất một danh mụcbiên duyên tương ứng
- Mọi danh mục P với r P ấn định trước và có phương sai nhỏ nhất cóthể tạo bởi hai danh mục G và H nêu trên Mọi danh mục biên duyên w(r0)
đều có dạng wGr0H
Tập hơp các danh mục biên duyên này gọi là tập danh mục biên duyên
2.2.Tập danh mục biên duyên
2.2.1.Khái niệm và mô tả hình học tập danh mục biên duyên
Phương sai của danh mục biên duyên:
D
C r B r
Danh mục MVP (Minimum Variance Portfolio): MVP là danh mục có
vectơ tỉ trọng là nghiệm của bài toán:
min 2
1
T T
w
Vw w
Lợi suất của danh mục MVP: r MVP B A
Phương sai của danh mục MVP: MVP A
1
2
Thuật toán tìm MVP: Lập và giải hệ phương trình Vx=[1] tìm nghiệm
i i x
x w
1
được gọi là danh mục MVP
Biểu diễn hình học của tập danh mục biên duyên:
r P
Trang 40
-P
Tập danh mục biên duyên
2.2.2.Tính chất tập danh mục biên duyên và danh mục hiệu quả
Một danh mục biên duyên được gọi là danh mục hiệu quả (EfficientPortfolio) nếu: r P r MVP
Tập hợp các danh mục hiệu quả gọi là biên hiệu dụng hay biên hiệu quả.Tập hợp các danh mục phi hiệu quả là tập hợp các danh mục biên duyên có
D
C r B r
A
P
P P
P
* 2
1/ A P