1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp

86 477 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Phát Triển Cơ Sở Hạ Tầng Cấp Nước Đô Thị Tại Hà Nội: Thực Trạng Và Giải Pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề Tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 744 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được trình bày trong 2 chương : Chương 1: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội Chương 2: Một số giải pháp tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam

đã ra nhập WTO thì việc phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng

đô thị nói riêng một cách đồng bộ, đạt trình độ tiên tiến, tiêu chuẩn hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, vừa là điều kiện vừa là một nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và tạo cơ sở quan trọng cho

sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững nền kinh tế đất nước Nó là động lực để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và rút ngắn khoảng cách với bên ngoài Hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, làm giảm sự chênh lệch về mức sống và dân trí giữa các khu vực dân cư

Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, dân số đô thị cũng tăng lên với tốc

độ chóng mặt, điều này sẽ đồng nghĩa với sự gia tăng các nhu cầu Một trong những nhu cầu đó là nhu cầu tiêu thụ nước sạch ở đô thị Để giải quyết vấn đề trên thì yêu cầu đặt ra là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước Do vậy, vấn

đề về vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là rất lớn, cần phải đa dạng hóa các nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển Nhưng khi mà các nguồn vốn Ngân sách nhà nước, nguồn vốn ưu đãi quốc tế như ODA có xu hướng giảm thì việc đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân đang ngày càng trở nên có vai

trò quan trọng hơn.Cũng là lý do vì sao em chọn đề tài : “ Đầu tư phát triển

cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp”

Đề tài được trình bày trong 2 chương :

Chương 1: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội

Chương 2: Một số giải pháp tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI 6

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI 6

1.1 Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, vai trò và mô hình cung cấp nước đô thị điển hình: 6

1.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị: 6

1.1.1.1 Cơ sở hạ tầng: 6

1.1.1.2 Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị: 10

1.1.2 Khái niệm và vai trò của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ cấp nước đô thị: 13

1.1.3 Mô hình cung cấp đô thị điển hình: 17

1.2 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị: 19

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng dân số của người dân Hà Nội trong những năm qua: 21

1.2.2 Tiêu chuẩn dùng nước, cấp nước và nhu cầu dùng nước của người dân Hà Nội: 25

1.2.3 Tình hình cung cấp nước đô thị tại Hà Nội: 28

1.3 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: 31

1.3.1 Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị 31

1.3.2 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: 33

Trang 3

1.3.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại

Hà Nội: 35

1.3.3.1 Tổng quan về nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị : 35

1.3.3.2 Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước: 43

1.3.3.3 Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: 44

1.3.3.4 Vốn ODA 45

1.3.3.5 Vốn từ doanh nghiệp,tư nhân và vốn khác: 45

1.3.4 Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị phân theo nội dung đầu tư: 46

1.3.5 Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị phân theo hình thức đầu tư: 48

1.4 Đánh giá 56

1.4.1 Kết quả và hiệu quả đạt được: 56

1.4.1.1 Kết quả: 56

1.4.1.2 Hiệu quả đạt được: 60

1.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó: 62

1.4.2.1 Hạn chế: 62

1.4.2.2 Nguyên nhân: 66

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI 68

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI 68

2.1 Phương hướng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: 68

Trang 4

2.1.1 Phương hướng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội:

68

2.1.2 Kế hoạch phát triển ngành cấp nước đô thị: 70

2.2 Giải pháp chủ yếu thu hút đầu tư tư nhân phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị 72

2.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến việc thu hút đầu tư tư nhân tham gia phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị 72

2.2.1.2 Xây dựng một chưuơng trình, kế hoạch hoàn chỉnh cho cấp nước đô thị 74

2.2.1.3 Hoàn thiện cơ chế quản ký doanh nghiệp 75

2.2.1.4 Cân đối lại và tăng cường huy động vốn từ các nguồn nhằm mở rộng hoạt động đầu tư 77

2.2.1.5 Khắc phục sự mất cân đối theo cơ cấu đầu tư theo vùng 80

2.2.2 Về phía các doanh nghiệp 80

2.2.2.1 Cải tổ mô hình tổ chức của doanh nghiệp KDNS 80

2.2.2.2 Giảm tỉ lệ thất thoát, thất thu nước 81

2.2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 83

2.2.2.4 Tăng cường hợp tác giữa các công ty kinh doanh nước sạch và hợp tác với các tổ chức quốc tế 84

2.2.3 Giáo dục ý thức của người dân 85

KẾT LUẬN 86

KẾT LUẬN 86

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Dân số Hà Nội qua các năm 22

Bảng 2 : Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2020 23

Bảng 3: Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số Hà Nội 25

Bảng 4 : Nhu cầu nước đô thị phân theo khu vực địa lý 27

Bảng 5 : Tỷ lệ cấp nước 29

Bảng 6 : Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2002-2007 31

Bảng 7 : Số dự án và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị phân theo nguồn vốn giai đoạn 2001- 2007 34

Bảng 8: Quy mô tốc độ tăng định gốc và liên hoàn giai đoạn 2001- 2007 37

Bảng 9: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển CSHT CNĐT 39

giai đoạn 2001 – 2007 39

Bảng 10: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2001- 2007 41

Bảng 11: Vốn và cơ cấu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị Hà Nội phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2001 – 2007 46

Bảng 12 : Quy mô và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2001- 2007 48

Bảng 13 : Mức tăng công suất cấp nước đô thị tăng thêm giai đoạn 2001-2007 56

Bảng 14: Kết quả cấp nước đô thị Hà Nội 58

Bảng 15 : Dự kiến nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2008-2015 70

Bảng 16: Dự kiến cấp nước đô thị Hà Nội 77

Trang 6

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ

HẠ TẦNG CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ TẠI HÀ NỘI

1.1 Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, vai trò và mô hình cung cấp nước đô thị điển hình:

1.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị:

1.1.1.1 Cơ sở hạ tầng:

Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

Chúng ta có thể thấy có hai loại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan niệm theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp về cơ sở hạ tầng

Theo nghĩa hẹp, cơ sở hạ tầng được hiểu là tập hợp các ngành phi sản xuất vật chất thuộc lĩnh vực lưu thông bao gồm các công trình vật chất kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những yêu cầu phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội, theo cách hiểu này cơ sở hạ tầng chỉ bao gồm các công trình giao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc…và các đơn vị bảo đảm duy trì các công trình này Tuy nhiên, quan niệm cơ sở hạ tầng theo nghĩa hẹp không cho chúng ta thấy mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận vốn không cùng tính chất nhưng lại có mối liên quan mật thiết với nhau trong một hệ thống thống nhất

Theo nghĩa rộng, cơ sở hạ tầng là tổng thể các công trình và nội dung hoạt động có chức năng đảm bảo những điều kiện “ bên ngoài” cho việc sản xuất và sinh hoạt của dân cư Cơ sở hạ tầng là một phạm trù gần nghĩa với

Trang 7

“môi trường kinh tế” bao gồm các phân hệ : Phân hệ kỹ thuật: đường, giao thông, cầu cảng, sân bay, năng lượng, bưu chính viễn thông…, phân hệ tài chính: hệ thống tài chính, tín dụng…, phân hệ thiết chế: pháp luật…, phân hệ

xã hội: giáo dục, y tế… Theo cách hiểu này thì cơ sở hạ tầng rất rộng, nó bao gồm toàn bộ khu vực dịch vụ Theo nghĩa rộng thì cơ sở hạ tầng không có sự đồng nghĩa và lẫn lộn giữa phạm trù “ khu vực dịch vụ” hoặc là “ môi trường kinh tế” bởi cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khác nhau phát triển

Như vậy, cơ sở hạ tầng là tổng hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống của nhân dân, được bố trí trên phạm vi lãnh thổ nhất định Các công trình vật chất kỹ thuật ở đây rất

đa dạng như các công trình giao thông vận tải: đường xá, cầu cống, sân bay…; các công trình của ngành bưu chính - viễn thông: hệ thống đường cáp quang, các trạm, vệ tinh…hay các công trình của ngành điện:đường dây, nhà máy phát điện… Các công trình này có vị trí hết sức quan trọng, nó phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động của xã hội

Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và

tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 Bên cạnh đó, chính vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế

kỷ 20 Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn

3 Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 8

xã hội Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

Phân loại cơ sở hạ tầng

Để có thể nhận biết và có biện pháp tạo lập vốn phù hợp đối với từng loại sơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng, có thể phân chia cơ sở hạ tầng theo nhiều tiêu thức khác nhau:

* Theo tiêu thức ngành kinh tế quốc dân:

Dựa vào tiêu thức phân loại này, cơ sở hạ tầng được chia thành : Cơ sở

hạ tầng kinh tế : bao gồm cơ sở hạ tầng công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông…; Cơ sở hạ tầng xã hội: bao gồm cơ sở hạ tầng giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao…

Theo đó, Cơ sở hạ tầng kinh tế là cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực kinh tế,

đó là hệ thống vật chất kỹ thuật cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế như cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp, nông nghiệp, hệ thống giao thông vận tải; mạng lưới chuyên tải và phân phối năng lượng điện; hệ thống công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, viễn thông, cấp thoát nước…

Cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực xã hội ( Cơ sở hạ tầng xã hội) : Đó là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hoá, xã hội đảm bảo cho việc thoả mãn và nâng cao trình độ dân trí, văn hoá tinh thần cho dân cư, cho quá trình tái sản xuất sức lao động của xã hội như các cơ sở, thiết

bị và công trình phục vụ giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, các cơ sỏ y tế phục vụ chăm sóc sức khỏe…nó thường gắn với đời sống của các điểm dân

cư, góp phần ổn định nâng cao đời sống dân cư trên lãnh thổ

Trang 9

Sự phân chia này chỉ là tương đối vì trên thực tế, ít loại cơ sở hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại Chẳng hạn như hệ thống mạng lưới điện mở rộng đến nông thôn, đến vùng sâu, vùng xa giúp cho việc phát triển sản xuất nhưng đồng thời nó còn phục vụ cho đời sống, ở những nơi có điện, người dân có thể sử dụng các phương tiện hiện đại như đài, ti vi… để tiếp cận với những thông tin văn hóa

xã hôi, nâng cao trình độ dân trí

Sự phân chia này cho phép chúng ta xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành cụ thể, đồng thời xác lập mối quan hệ liên kết và phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong quá trình xây dựng kế hoạch huy động vốn đầu tư một cách cân đối và hợp lý

* Theo khu vực lãnh thổ:

Cơ sở hạ tầng ở mỗi ngành , mỗi lĩnh vực hoặc liên ngành, liên lĩnh vực hợp thành một tổng thể hoạt động, phối hợp hài hòa nhằm phục vụ sự phát triển của tổng thế kinh tế - xã hội-an ninh - quốc phòng trên từng vùng và cả nước Sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mà mỗi vùng lãnh thổ riêng biệt lại có cơ sở hạ tầng riêng biệt, do đó phải có cơ sở hạ tầng phù hợp

Theo tiêu thức phân loại này, Cơ sở hạ tầng được phân chia thành: Cơ sở

hạ tầng đô thị và Cơ sở hạ tầng nông thôn

* Theo cấp quản lý và đối tượng quản lý

Căn cứ vào tiêu chí này, Cơ sở hạ tầng được chia thành : Hệ thống cơ sở

hạ tầng kinh tế xã hội do trung ương quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng do địa phương quản lý

Trang 10

Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội do trung ương quản lý bao gồm những tài sản quan trọng, có giá trị lớn, có chiến lược quốc gia gồm : hệ thống đường quốc lộ, đường sắt, sân bay, bưu chính viễn thông, điện, các trung tâm y tế, giáo dục lớn …

Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý, đó là những tài sản được nhà nước giao cho địa phương quản lý như : đường giao thông liên tỉnh, các trạm bơm tưới tiêu, hệ thống cơ sở vật chất các ngành giáo dục, y tế, văn hoá xã hội của địa phương

Cách phân loại này cho phép chúng ta xác định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền trong việc quản lý, khai thác và sử dụng các công trình cơ sở

hạ tầng Trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch huy động các nguồn vốn đầu tư theo quy hoạch, kế hoach đã đề ra

Xét ở góc độ nào thì cơ sở hạ tầng cũng là một yếu tố, một chỉ số của sự phát triển Hiện nay, xu thế hội nhập đang diễn ta mạnh mẽ thì tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng ngày càng tăng lên, cơ sở hạ tầng là nền tảng trong đó diễn

ra các quá trình phát triển mà thiếu nó ( ví dụ như: hệ thống thông tin viễn thông hiện đại, hệ thống giao thông vận tải, văn hóa, xã hội…) thì sự phát triển khó có thể diễn ra trôi chảy Chính vì điều đó mà việc xây dựng cơ sở hạ tầng trở thành một nội dung quyết định của sự phát triển, nó đem lại sự thay đổi lớn về điều kiện vật chất của toàn bộ sinh hoạt trong kinh tế xã hội

1.1.1.2 Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị:

Cơ sở hạ tầng cấp nước là một bộ phận cấu thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm một hệ thống các công trình kiến trúc và các phương tiện vật chất kỹ thuật mang tính nền móng cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị,

có chức năng phục vụ nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của xã hội bao gồm hệ thống ống dẫn, các trạm bơm, các nhà máy nước…cùng với các cơ sở

Trang 11

vật chất khác phục vụ cho người dân Xét về phạm vi lãnh thổ, nó gồm có cơ

sở hạ tầng cấp nước đô thị và cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn

Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một bộ phận cấu thành nên cơ sở hạ tầng cấp nước Nó bao gồm một hệ thống các công trình, nhà máy, đường ống,

hệ thống ống dẫn, các trạm bơm…cùng những cơ sở vật chất khác ( hệ thống máy đếm nước…) phục vụ cho các đối tượng dân cư đô thị và đảm bảo cho họ được tham gia vào hệ thống cấp nước đô thị hoạt động một cách an toàn, thông suốt và liên tục.

Đa dạng hóa nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là chủ trương được triển khai dựa trên những căn cứ khoa học và khách quan Điều đó được phân tích dựa trên những góc độ sau:

 Xét dưới góc độ sở hữu :

Như trên đã trình bày, sản phẩm của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là hàng hóa công cộng Mà hàng hóa công cộng cũng như hàng hoá thông thường, cũng có thể tách ra thành quá trình sản xuất và tiêu dùng Tuy nhiên hàng hóa công cộng khác hàng hóa thông thường ở chỗ, hàng hóa thông thường được sản xuất để cá nhân tiêu dùng, còn hàng hóa công cộng được sản xuất ra cho cả cộng đồng sử dụng Hàng hóa thông thường được sản xuất

ra sau đó đem bán ra thị trường trao đổi nhằm kiếm lợi nhuận, phần lợi nhuận này lại được dùng để quay vòng sản xuất hay tái sản xuất mở rộng Còn với hàng hóa công cộng, không thể bán ngay được mà để phục vụ chung cho cộng đồng Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị chủ yếu là từ nguồn tài chính công và từ sự đóng góp của xã hội hay nói cách khác là sự đa dạng hóa nguồn vốn trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

 Xét dưới góc độ sử dụng:

Trang 12

Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có đặc điểm là được sử dụng chung, phục

vụ cho sinh hoạt và sản xuất của người dân khu vực đô thị Do vậy, dẫn đến mâu thuẫn đó là: Ai là việc khơi mào đầu tư, bỏ vốn, sửa chữa, quản lý điều

đó sẽ phức tạp nếu không giải thoát bằng một biện pháp có tính nguyên tắc đó

là : cả xã hội tham gia đầu tư và cộng đồng sử dụng

 Xét về khả năng huy động vốn :

Trong năm 2005, trong số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước

đô thị thì 30% nguồn vốn Ngân sách và gần 40% vốn ODA còn lại là một lượng lớn nguồn vốn được huy động từ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, như vậy trên thực tế cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

đã thu hút được toàn xã hội tham gia Cho dù tiếp cận theo cách nào đi chăng nữa thì cũng có thể khẳng định rằng, muốn xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước

đô thị một cách nhanh chóng thì phải có sự góp sức của cả xã hội

 Xét về khía cạnh công bằng trong nghĩa vụ và quyền lợi của người dân:

Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng và hưởng thụ cơ sở hạ tầng cấp nước ở hai khu vực đô thị và nông thôn có sự khác biệt rất lớn Các cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị được xây dựng với quy mô lớn, hiện đại, ở nông thôn thì các công trình này thường có quy mô nhỏ hơn đặc biệt là các vùng miền núi Nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị thường là vốn Ngân sách nhà nước, còn cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn thì thường được huy động từ người dân, người dân ở khu vực thành thị thường không phải đóng góp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước mà họ chỉ việc đóng góp cho khối lượng nước mà mình sử dụng, người dân ở khu vực nông thôn ngoài việc đóng góp cho khối lượng nước mà mình sử dụng phải bỏ ra tiền bạc, công sức để xây dựng Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc huy động vốn và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước phải đảm bảo được sự công bằng xã hội

Trang 13

1.1.2 Khái niệm và vai trò của việc đầu tư phát triển cơ sở hạ cấp nước

đô thị:

Khái niệm về đầu tư phát triển

Đầu tư là một hoạt động cơ bản tồn tại tất yếu và nó có vai trò quan trọng trong bất kì nền kinh tế xã hội nào Nói về khái niệm đầu tư, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau

Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động hay công nghệ Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm của các tài sản tài chính : tiền vốn; tài sản vật chất: nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…; tài sản trí tuệ : trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơn cho xã hội

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó

Như vậy, xét theo bản chất có thể chia hoạt động đầu tư trong nền kinh

tế ra làm 3 loại : Đầu tư tài chính là hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận trực tiếp cho người bỏ tiền ra để cho vay hay mua bán các chứng chỉ có gia mà không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Đầu tư thương mại đây là hình thức

mà nhà đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán

Trong đó, đầu tư phát triển tài sản vật chất là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư bỏ tiền và tài sản để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra

Trang 14

tài sản mới cho nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên việc làm, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, tạo nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội ; đầu tư sức lao động bao gồm đầu tư công sức và đầu tư trí tuệ của người lao động.

Đầu tư phát triển là một chuỗi các hoạt động chi tiêu, hao phí các nguồn lực : nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất đất đai, máy móc, thiết bị, nguyên nhiện vật liệu… nguồn lực lao động và trí tuệ

Phương thức tiến hành các hoạt động đầu tư : xây dựng mới, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng mua sắm máy móc thiết bị và lắp đặt…, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực…

Kết quả đầu tư : hoạt động đầu tư không chỉ mang lại lợi ích cho chủ đầu

tư nói riêng : doanh thu, lợi nhuận… mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội Đầu tư được tiến hành trong hiện tại và kết quả của nó được thu về trong tương lai

Từ những khái niệm về đầu tư phát triển ở trên thì đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng kinh tế - xã hội là bỏ ra một lượng tiền vào việc tạo mới hay tăng 11cường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

Như đã nêu ở trên, đầu tư phát triển là khái niệm rất rộng, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn em xin tập trung đi sâu vào nghiên cứu đầu tư về vốn

để tăng thêm tài sản vật chất cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước

Trang 15

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là hình thức đầu tư cho việc khôi phục, nâng cấp, bảo dưỡng hay xây dựng mới các nhà máy nước, hệ thống đường ống và năng lực cấp nước cho người dân nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho người dân ở khu vực đô thị

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một hoạt đồng đầu tư phát triển của Nhà nước, của các đơn vị kinh tế tư nhân hay của các địa phương vào các công trình cấp nước

Như vậy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị bao gồm:

- Đầu tư xây dựng cơ bản: là các khỏan đầu tư làm mới, mở rộng, cải tạo và nâng cấp các nhà máy nước, hệ thống đường ống… khoản đầu tư này làm tăng năng lực cấp nước cho người dân

- Đầu tư (chi) thường xuyên : là đầu tư cho công tác duy trì, bảo dưỡng

hệ thống cấp nước… tuy không làm gia tăng năng lực cấp nước nhưng nó giúp phục hồi năng lực đã mất do tình trạng xuống cấp của hệ thống ống dẫn…

Đặc điểm của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nói riêng (là ngành sản xuất đặc biệt ), do nó có những đặc điểm khác với các ngành sản xuất vật chất khác Đó là :

 Đặc điểm về vốn và sử dụng vốn cho đầu tư CSHT cấp nước đô thị:

So với đầu tư vào cơ sở hạ tầng khác ( Ví dụ như : hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt… đầu tư vào hệ thống cấp nước có nhu cầu vốn không lớn song vốn thường sử dụng không tập trung

Nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống cấp nước tập trung chủ yêu vào các nhà máy lọc nước, các công nghệ xử lý nước, hệ thống đường dẫn…mà khi

Trang 16

đầu tư vào đây thì có đặc điểm là vốn được đầu tư rộng khắp, từ nơi xử lý

nước đến hộ tiêu dùng có một khoảng cách rất xa.

 Đặc điểm về hình thức đầu tư

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị ở đây đầu tư để duy trì năng lực hoạt động và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ nước, đầu tư mở rộng mạng lưới cung cấp, đầu tư nâng cao năng lực hoạt động, đầu tư tạo nguồn nước đảm bảo chất lượng cung cấp nước…do vậy cần phải đa dạng hóa các hình thức đầu tư

 Hiệu quả đầu tư gắn liền với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành nước

Nếu ngành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, khi đó chi phí hoạt động ngành thấp, hay chi phí của các đối tượng sử dụng nước thấp cũng như lợi nhuận kinh doanh của ngành tăng, mang lại hiệu quả cho nền kinh tế

Hiệu quả đầu tư ở đây còn được biểu hiện ở số lượng và chất lượng dịch

vụ Chất lượng và số lượng dịch vụ ở đây phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan ở đây xuất phát từ chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước; yếu tố khách quan xuất phát từ tính đồng bộ trong công tác quy hoạch nước, thái độ của đối tượng sử dụng nước…

Cơ sơ hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo đáp ứng đủ và trên quy mô rộng cho các nhu cầu khác:

Việc phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ dựa trên cơ sở quy hoạch tổng thể, quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng đô thị sẽ góp phần giảm thiểu chi phí cho người tiêu dùng cũng như chi phí cho nhà kinh doanh nước sạch

Trang 17

Cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng cấp nước nói riêng phát triển

là yếu tố cần thiết tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư phát triển:

Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là điều kiện cho quá trình hình thành và phát triển đô thị Nó là một trong những yếu tố cấu thành cơ sở hạ tầng đô thị , cung cấp những dịch vụ cơ bản, thiết yếu nhất cho các đô thị và phản ánh trình độ phát triển của từng đô thị, trình độ văn minh của đô thị

Có thể nói, đối với các đô thị thì cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị còn được coi là bộ mặt của đô thị, hơn thế nữa nó còn là bộ mặt của đất nước Do vậy chúng ta không thể không quan tâm đến cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một trong những cơ sở hạ tầng rất quan trọng, đáp ứng nhu cầu cần thiết của đời sống hàng ngày, quyết định việc đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường sống cho người dân và góp phần tích cực phát triển và hiện đại hoá đô thị

1.1.3 Mô hình cung cấp đô thị điển hình:

Tại địa bàn tỉnh Hải Dương, công ty TNHH một thành viên KDNS Hải Dương hiện đang quản lý hạ tầng cấp nước trên địa bàn thành phố, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển công ty giai đoạn 2006 –

2010 là bao phủ dịch vụ cấp nước tất cả các thị trấn trong tỉnh và định hướng phát triển giai đoạn sau 2010 sẽ tiến tới cấp nước cho các thị tứ

Hiện nay, tổng công suất thiết kế của các nhà máy xử lý nước trog toàn công ty là 68.900 m³/ng

+ bao gồm:

- Địa bàn thành phố Hải Dương, công suất thiết kế 49.000 m³/ng.đ

+ XNSX nước Cẩm Thượng (nước mặt): 35.000m³/ng.đ

Trang 18

+ XNSX nước Việt Hà (nước ngầm):14.000m³/ng.đ

- Địa bàn thị trấn, thị tứ các huyện, công suất thiết kế : 19.000m³/ng.đ\Hiện nay, công ty đang triển khai các dự án cấp nước cho 5 thị trấn còn lại của tỉnh, công suất thiết kế 8200 m³/ng.đ, gồm thị trấn Thanh Miện 1200 m³/ng.đ, Thanh Hà 1000 m³/ng.đ, Gia Lộc 2500 m³/ng.đ, Minh Tân – Phú Thứ 3500 m³/ng.đ

Trước 2003, công ty chỉ quản lý cấp nước trên địa bàn thành phố Hải Dương và thị trấn Phú Thái Năm 2003 UBND thành phố giao cho công ty tiếp nhận các trạm nước thị trấn trong toàn tỉnh Năm 2008, công ty lập đề án thí điểm sáp nhập trạm cấp nước xã Đồng Lạc, huyện Chí Linh do trung tâm nước sạch – VSNT Hải Dương làm chủ đầu tư

Nhìn chung công ty đã thành công trong việc tiếp nhận và quản lý, có những két quả đạt được như sau: Chất lượng nước luôn được kiểm soát đảm bảo chất lượng theo quy định, tỷ lệ thất thoát nước trung bình từ 35% giảm xuống còn 12,5%, chi phí sản xuất cho 1 m³ nước thương phẩm giảm đáng kể Tuy nhiên để trạm cấp nước hoạt động ổn định có hiệu quả cần có lộ trình và thời gian nhất định

Hiện nay một số xí nghiệp hoạt động có hiệu quả tốt như XNKD số 1 và

số 2 đã hoạch toán chi phí, trích khấu hao đầy đủ và có lãi đáng kể Điển hình

là trạm KDNS thị trấn Cẩm Giàng từ 2000 m³/ng.đ lên 4000 m³/ng.đ , năm

2009 công ty đã nâng công suất lên 7000 m³/ng.đ, Trạm Phú Thái công suất

từ 1000 m³/ng.đ lên 2500 m³/ng.đ XNKDNS số 3 và số 4 hoạt động ổn định tuy chưa có lãi nhưng cơ bản hạch toán đáp ứng chi phí sản xuất và trích khấu hao theo quy định trong một thời gian không xa các xí nghiệp này chắc chắn

tự chủ trong SXKD và hạch toán sẽ có lãi

Trang 19

mở rộng phạm vi cấp nước để tiến tới thống nhất quản lý dự án cấp nước ở thị

tứ trong tỉnh

1.2 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị:

Nhu cầu nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, trong quá trình phát triển nhu cầu của con người như nhu cầu ăn, mặc, nhu cầu uống… Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người Cơ thể con người chiếm tới 70% là nước Con người có thể sống một tuần mà không ăn nhưng không thể sống quá ba ngày nếu không có nước uống Vì vậy nước có thể coi

là yếu tố không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của con người Chỉ tiêu người dân được cung cấp nước sạch là một trong các chỉ tiêu phản ánh mức

độ cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong quá trình phát triển

Việt Nam hiện nay có 708 đô thị với dân số 21,59 triệu người ( chiếm 26,3% dân số toàn quốc) Cơ sở hạ tầng cấp nước sạch sinh hoạt có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của thành phố Hà Nội

Trước hết để biết được vai trò của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, ta tìm hiểu thế nào là nước sạch cũng như vai trò của nước sạch trong đời sống và trong sản xuất Nước sạch là nước phải trong, không có màu, không có mùi

vị, không chứa các mầm bệnh và các chất độc hại Chất lượng nước sạch sử

Trang 20

dụng cho mục đích sinh hoạt phải đảm bảo theo quy chuẩn vệ sinh nước ăn uống do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành( Theo quyết định số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/04/2002 của Bộ trưởng Bộ Y Tế) Nước sạch phải đảm bảo chất lượng theo quy định trên toàn hệ thống từ sau công trình

xử lý đến người trực tiếp sử dụng

Trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất, nước sạch có vai trò

vô cùng quan trọng, nó đáp ứng nhu cầu số lượng và chất lượng cho sinh họat

và sản xuất

 Nhu cầu nước sạch trong đời sống sinh hoạt:

Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống con người Không

có nước thì không có sự sống Chúng ta cần nước cho sinh hoạt, bảo vệ sức khoẻ và vệ sinh

Nước sạch có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống của con người Nó đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người : ăn, uống Trong cơ thể con người chiếm tới 70% là nước, chúng ta có thể không ăn trong một tuần nhưng không thể sống không quá ba ngày mà không có nước Hàng ngày mỗi người cần tối thiểu 60 – 80 lít, tối đa tới 150 – 200 lít nước dùng cho sinh hoạt ; riêng lượng nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5-2 lít mỗi ngày Ngoài ra, nước dưới đất còn chứa 60 nguyên tố đa lượng, vi lượng rất cần thiết cho sự sống

 Nhu cầu nước sạch trong sản xuất:

Nước sạch không chỉ dùng trong ăn uống, sinh hoạt cho con người mà

nó càn rất cần cho sản xuất nông nghiệp (đảm bảo tưới tiêu nước đi đôi với cải tạo đất lầy thụt, chua phèn, nhiễm mặn, bạc mầu, phục vụ thâm canh, tăng vụ), thuỷ sản, công nghiệp (góp phần quan trọng, bảo đảm các điều kiện để phát triển ngành công nghiệp với nhịp độ cao, mở rộng quy mô và phân bố lại

Trang 21

lịch và các ngành kinh tế khác Nước còn cần cho phát triển thuỷ điện và giao thông thuỷ.

 Xu hướng sử dụng nước sạch trong quá trình CNH – HĐH:

Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh, theo cùng tốc độ đó thì dân cư

đô thị ngày một tăng lên Mặc dù tốc độ tăng dân số tự nhiên ở các vùng đô thị thấp hơn so với ở nông thôn nhưng tốc độ tăng dân số cơ học của các vùng

đô thị lại cao hơn, do một bộ phận dân số chuyển từ các vùng nông thôn ra thành thị tìm việc làm Do đó đòi hỏi nhu cầu về hệ thống cấp nước ngày càng cấp thiết

Thực tế cho chúng ta thấy, dân cư đô thị có nhu cầu chất lượng cao hơn những vùng khác Sở dĩ có những điều đó là do dân cư đô thị có mức sống cao hơn so với dân cư khu vực nông thôn, do đó đòi hỏi về nước sạch cũng như mức độ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ nước sạch của dân cư đô thị so với dân cư nông thôn cũng cao hơn

Nhu cầu tiêu thụ nước sạch trên địa bàn Hà Nội phục vụ được dự báo trên cơ sở các nhân tố dự báo về dân số, các mục tiêu như định mức tiêu thụ nước, nhu cầu nước sinh hoạt, thất thoát cơ học và các nhân tố khác

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng dân số của người dân Hà Nội trong những năm qua:

Dân số Hà Nội năm 1990 là 2.051.900 người trong đó dân đô thị chiếm 50% Đến năm 1995 dân số là 2.335.400 người, trong đó có 1.221.200 dân đô thị, chiếm 52,3% Năm 1996 dân số là 2.395.900 người với số dân đô thị 1.291.600, chiếm 53,9% Năm 1997 dân số là 2.467.200 người, dân đô thị là 1.384.200 người, chiếm 56,1% Năm 1998 dân số là 2.539.400 người, dân đô thị là 1.477.500 người, chiếm 58,2%

Trang 22

Tuy nhiên tốc độ tăng dân số của Hà Nội tăng rất nhanh, ta có thể thấy tốc độ tăng dân số của Hà Nội những năm gần đây như sau:

Bảng 1: Dân số Hà Nội qua các năm

Nguồn: Tổng cục Thống kê (TCTK), Niên giám thống kê 2007.

Năm 2005, dân số Hà Nội là 3149,8 tăng 27,66 lần so với năm 1999 Theo kết quả sơ bộ cuộc điều tra dân số, tính đến ngày 01/4/1999 dân số Hà Nội có 2.672.122 người, trong đó dân thành thị 1.538.905 người, chiếm 57,6% Theo dự báo, đến năm 2010 dân số Hà Nội sẽ khoảng 3.350.000 người, trong đó dân đô thị chiếm gần 80%

Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng dân số Năm 1990 nguồn lao động có 1.193.600 người, năm 1995 có 1.331.000 người, năm 1996 có 1.366.000 người, năm 1999 có 1.504.260 người Dự báo nguồn lao động thủ đô các năm 2000, 2005, 2010 tương ứng là: 1.561.000, 1.802.500, 2.016.000 người Trong thời gian qua, dân số Hà Nội vẫn tăng lên nhưng tăng chậm hơn mức tăng dân số của cả nước Do mức sinh giảm, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động so với tổng số dân đang có xu hướng tăng lên

Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2020 là khoảng 4,8 triệu người (bảng 1.1), trong đó số dân trong phạm vi cấp nước đô thị là 4,044 triệu người Trong khi đó, dự báo dân số đô thị trong Điều chỉnh Quy hoạch chung năm

1998 là 2,5 triệu người và con số này cũng đã được lấy làm cơ sở cho dự báo

Trang 23

của Quyết định số 50 Nhu cầu nước đến năm 2020 được dự báo vào khoảng 1,690 triệu m3/ngđ, cao hơn 19% so với dự báo của Quyết định số 50 là 1,419 triệu m3/ngđ

Bảng 2 : Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2020

Đơn vị: Nghìn tỷ

2003 Dự báo đến năm 2020Dân số Xu hướng QHTT 1998 Đề xuất

Trang 24

Thanh Trì 154 220 189 250

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - khoa học kỹ thuật, là đầu mối giao lưu kinh tế của cả nước, là nơi hội tụ các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo đầu đàn Hiện nay ở Hà Nội có 37 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành, ngoài ra còn

có các tổ chức quốc tế, các công ty nước ngoài hoạt động trong các ngành công nghiệp tiên tiến, mũi nhọn Đây chính là yếu tố vật chất ảnh hưởng lớn

và trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến việc phân bổ, sử dụng lao động trên địa bàn Hà nội, tạo điều kiện cho Hà Nội có cơ hội hoà nhập vào quá trình phát triển năng động của các nước trong khu vực và trở thành động lực phát triển của cả nước Vì vậy mà mật độ dân số ở Hà Nội rất cao:

Trang 25

Bảng 3: Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số Hà Nội

Nguồn: Tổng cục Thống kê (TCTK), Niên giám thống kê 2007.

Với vị trí là Thủ đô của cả nước, Hà Nội có điều kiện thuận lợi trong giao lưu và hợp tác quốc tế, nhanh chóng được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật và tinh hoa văn hoá của thế giới, đây là cơ hội lớn cho người lao động Thủ đô tiếp thu và bắt kịp với trình độ quản lý và sử dụng các công nghệ hiện đại của thế giới

Hà Nội là vùng đất “địa linh nhân kiệt, trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, với lịch sử ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ và giao thoa các giá trị truyền thống của dân tộc Người dân Hà Nội thanh lịch, có truyền thống văn hoá lâu đời, có nhiều ngành nghề truyền thống, tiếp thu nhanh nhạy cái mới, có thể tạo ra những giá trị kinh tế và văn hoá, tinh thần cao Mật độ dân số Hà Nội cao ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp nước sinh hoạt cho người dân Vậy tiêu chuẩn dùng nước và cấp nước của người dân như thế nào ?

1.2.2 Tiêu chuẩn dùng nước, cấp nước và nhu cầu dùng nước của người dân Hà Nội:

+ Hiện nay thành phố có 11 nhà máy nước lớn, năm 2001 nhà máy nước Cáo Đỉnh công suất 30.000m³/ng đưa vào hoạt động nâng tổng công suất nhà máy nước lên 460.000m³/ng² phục vụ các quận nội thành

Trang 26

+ Đáp ứng nhu cầu cấp ước của nhà máy nước mặt như sau:

- Giai đoạn 1: Trục đường Nam Thăng Long và vành đai 3 của thành phố cấp bổ sug nước cho các quận huện nội thành (chủ yếu các quận như: Tây Hồ,

Ba Đình, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng) và cấp cho các huyện Từ Liêm, Thanh Trì

- Giai đoạn 2: Theo vành đai 4 của thành phố cấp cho các khu vực phát triển giữa vành đai 3 và 4 thành phố khu vực phía bắc sông Hồng

Ngày 11/3/2009, tin từ Công ty Kinh doanh nước sạch Hà Nội (KDNSHN) cho hay, hiện năng lực sản xuất của công ty đã đạt chỉ tiêu cấp nước sạch cho đô thị 120 lít/người/ngày

Chủ yếu do công suất khai thác của các nhà máy tăng thêm khoảng 42.000 m3/ngày-đêm Đây là nguồn nước khai thác từ 9 giếng Thượng Cát (xây dựng hết hơn 131 tỉ đồng, bổ sung công suất cho nhà máy nước Mai Dịch tăng từ 45.000 - 70.000 m3/ngày-đêm)

Ngoài ra, nhà máy nước Gia Lâm và Bắc Thăng Long cũng được khoan

bổ sung 2 giếng khác, nên từ cuối tháng 8/2008, công suất bình quân các nhà máy này cũng tăng thêm 8.000 m3

Công ty này cho biết thêm, vấn đề còn lại để 120 lít nước sạch có đến được với mỗi người dân hay không phụ thuộc vào việc cải tạo lại đường ống

cũ và lắp đặt đường ống mới

Hè năm nay, việc cấp nước sạch còn phụ thuộc vào mực nước ngầm của

Hà Nội Mực nước này có xu hướng ngày càng hạ thấp (năm 2008 hạ thấp đến 1m), chưa kể năm 2009 bị nhuận 1 tháng vào đúng dịp hè, dễ có nguy cơ giảm lượng mưa, xảy ra khô hạn

Trang 27

Theo dự báo, các khu vực Nhật Tân, Quảng An, Phú Thượng (thuộc quận Tây Hồ); Xuân La (quận Cầu Giấy); Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, thị trấn Cầu Diễn (huyện Từ Liêm); một số khu vực khác thuộc các quận Đống Đa, Hai Bà Trưng, tình hình nước sẽ ổn định.

Riêng khu vực Khương Trung và Khương Đình (quận Thanh Xuân) vẫn

sẽ xảy ra tình trạng nước yếu

Ngoài ra, các khu tập thể cao tầng, các khu di dân và khu vực mạng lưới đường ống chưa được cải tạo sẽ được chú trọng khi cấp nước hè Trong trường hợp có sự cố đột xuất về nước, các bệnh viện, trường học, UBND các phường có thể làm thủ tục xin cấp nước bằng xe stéc, liên hệ trực tiếp với các

xí nghiệp KDNS quản lý địa bàn

Vẫn tin từ Công ty KDNSHN, đơn vị này đang lên phương án về tăng giá nước sạch, tuy nhiên chưa có kết quả cuối cùng Việc tăng giá nước là do giá điện đã tăng thêm 8,92% từ ngày 1/3 (chi phí tiền điện chiếm khoảng 30% giá thành sản xuất nước sạch)

Nhu cầu tiêu thụ :

Dự báo tổng nhu cầu nước sạch năm 2010 ước tính khoảng 1,13 triệu

m3/ngđ và năm 2020 là khoảng 1,69 triệu m3/ngđ Nhu cầu tiêu thụ nước được tính toán cho ba khu vực chính là Tây Nam Hà Nội (hữu ngạn sông Hồng), Đông Nam Hà Nội (tả ngạn sông Hồng và Gia Lâm) và Bắc Hà Nội (tả ngạn sông Hồng, Đông Anh, Sóc Sơn) Trong tổng nhu cầu nước năm 2020, 67% nhu cầu nước tập trung tại Tây Nam Hà Nội, 16% tại Đông Nam Hà Nội và 17% sẽ tập trung tại Bắc Hà Nội

Bảng 4 : Nhu cầu nước đô thị phân theo khu vực địa lý

đơn vị : 1000 m 3 /ngđ

Trang 28

Khu vực 2003 2020

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Tỷ lệ nhu cầu người dân phía Nam Hà Nội là 80% trong năm 2003, phía bắc Hà Nội nhu cầu sử dụng nước chỉ chiếm 20%, theo địh hướng phát triên vùng và dân cư dự tính năm 2020 nhu cầu sử dụng nước phía Nam Hà Nội cao là 83% và ở phía Bắc Hà Nội có 17% Chứng tỏ rằng trong tương lai vẫn tập trug dân cư, xí nghiệp, nhà máy ở phía Nam Hà Nội

1.2.3 Tình hình cung cấp nước đô thị tại Hà Nội:

Về nguồn nước, hiện nay nguồn nước khai thác chủ yếu là nguồn nước ngầm, một số thị xã khai thác kết hợp nguồn nước ngầm và nước mặt Chất lượng nước một số đô thị còn chưa được đảm bảo, có khu vực chưa được khử trùng trước khi phát vào mạng phân phối Tỷ lệ nước bị hao hụt, rò rỉ còn khá cao ảnh hưởng đến hiệu quả cấp nước

Trang 29

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Hầu hết dân đô thị như: thành phố Hà Nội, các thị xã Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Yên, Phúc Yên đã có hệ thống cấp nước sạch tập trung Công suất khai thác còn hạn chế so với nhu cầu sử dụng của người dân, chỉ đạt 45% dân đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn cấp nước của toàn vùng từ 80-120lít/người/ngày Hệ thống mạng lưới đường ống chưa được phủ đầy đủ đến các khu vực dân sinh sống

Sau khi bổ sung thêm 11 giếng khoan, công suất của các nhà máy nước trên địa bàn Hà Nội đã tăng lên đáng kể, có thể cung cấp nước sạch đô thị đạt mức 120 lít/người/ngày Phần còn lại phụ thuộc vào các đường ống dẫn triển khai xuống khu dân cư

Ngày 11/3, tin từ Công ty Kinh doanh nước sạch Hà Nội (KDNSHN) cho hay, hiện năng lực sản xuất của công ty đã đạt chỉ tiêu cấp nước sạch cho

đô thị 120 lít/người/ngày

Chủ yếu do công suất khai thác của các nhà máy tăng thêm khoảng 42.000 m3/ngày-đêm Đây là nguồn nước khai thác từ 9 giếng Thượng Cát (xây dựng hết hơn 131 tỉ đồng, bổ sung công suất cho nhà máy nước Mai Dịch tăng từ 45.000 - 70.000 m3/ngày-đêm)

Trang 30

Ngoài ra, nhà máy nước Gia Lâm và Bắc Thăng Long cũng được khoan

bổ sung 2 giếng khác, nên từ cuối tháng 8/2008, công suất bình quân các nhà máy này cũng tăng thêm 8.000 m3

Công ty này cho biết thêm, vấn đề còn lại để 120 lít nước sạch có đến được với mỗi người dân hay không phụ thuộc vào việc cải tạo lại đường ống

cũ và lắp đặt đường ống mới

Hè năm nay, việc cấp nước sạch còn phụ thuộc vào mực nước ngầm của

Hà Nội Mực nước này có xu hướng ngày càng hạ thấp (năm 2008 hạ thấp đến 1m), chưa kể năm 2009 bị nhuận 1 tháng vào đúng dịp hè, dễ có nguy cơ giảm lượng mưa, xảy ra khô hạn

Theo dự báo, các khu vực Nhật Tân, Quảng An, Phú Thượng (thuộc quận Tây Hồ); Xuân La (quận Cầu Giấy); Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, thị trấn Cầu Diễn (huyện Từ Liêm); một số khu vực khác thuộc các quận Đống Đa, Hai Bà Trưng, tình hình nước sẽ ổn định

Riêng khu vực Khương Trung và Khương Đình (quận Thanh Xuân) vẫn

sẽ xảy ra tình trạng nước yếu

Ngoài ra, các khu tập thể cao tầng, các khu di dân và khu vực mạng lưới đường ống chưa được cải tạo sẽ được chú trọng khi cấp nước hè Trong trường hợp có sự cố đột xuất về nước, các bệnh viện, trường học, UBND các phường có thể làm thủ tục xin cấp nước bằng xe stéc, liên hệ trực tiếp với các

xí nghiệp KDNS quản lý địa bàn

Vẫn tin từ Công ty KDNSHN, đơn vị này đang lên phương án về tăng giá nước sạch, tuy nhiên chưa có kết quả cuối cùng Việc tăng giá nước là do giá điện đã tăng thêm 8,92% từ ngày 1/3 (chi phí tiền điện chiếm khoảng 30% giá thành sản xuất nước sạch)

Trang 31

1.3 Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại

Bảng 6 : Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

Tốc độ tăng liên hoàn

Nguồn :, Bộ kế hoạch và đầu tư

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của đất nước, cơ sở hạ tầng

đô thị có những bước phát triển đáng kể đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội Trong giai đoạn 2002 – 2007, nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Trang 32

đô thị có tốc độ tăng dần qua các năm, tốc độ tăng bình quân vốn đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đạt 17,5%, năm 2002 vốn đầu tư vào đây là

24498 tỷ đồng nhưng đến năm 2007 đã lên đến 79600 tỷ đồng, tức là tăng

55102 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng thêm là 224,92%, sở dĩ nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị tăng nhanh là do tốc độ đô thị hóa đang diễn

ra mạnh mẽ trong thời gian qua, do đó kéo theo nhu cầu về sử dụng cơ sở hạ tầng đô thị nói chung ngày càng tăng

Cải tạo đường ống cấp nước

Từ số liệu thống kê ở bảng 1.6 cũng cho thấy, nhìn chung vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có xu hướng tăng dần qua các năm, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2002-2007 về nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước

đô thị là 7,23%, so với tốc độ tăng bình quân của cơ sở hạ tầng đô thị thì tốc

độ tăng này nhỏ hơn 8,27% Năm 2004, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là 3200 tỷ đồng, so với năm 2002 tăng 1002 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng thêm là 45,58% Năm 2005 tăng thêm 2302 tỷ đồng so với năm 2002, tăng 104,73% Năm 2007 số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp

Trang 33

nước đô thị là 4600 tỷ đồng, so với năm 2002 tăng 2402 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 10,92%

Vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị năm sau so với năm trước

có tốc đô tăng tương đối đều, tuy nhiên so với năm 2005 thì năm 2006 tốc độ này lại có xu hướng giảm, năm 2006, tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là 3900 tỷ đồng, giảm 700 tỷ đồng so với năm 2005 hay là giảm 13,33% Nguyên nhân của tình hình này sẽ được làm rõ ở phân tích sau

1.3.2 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội:

Trong năm nay, Công ty Nước sạch Hà Nội sẽ triển khai một loạt các dự

án từ phát triển nguồn nước đến mở rộng hệ thống mạng đường ống trên toàn địa bàn thành phố:

Trang 34

Bảng 7 : Số dự án và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp

nước đô thị phân theo nguồn vốn giai đoạn 2001- 2007

Ngoài ra, Công ty NSHN cũng mở rộng hệ thống mạng đường ống Ở khu vực phía Nam thành phố sẽ xây dựng hệ thống cấp nước cho xã Đông Ngạc (huyện Từ Liêm), thôn Trù 2 và tổ dân phố Phú Minh (xã Cổ Nhuế, Từ Liêm)

Trang 35

Vẫn trong khu vực này, sẽ tiến hành cải tạo mạng lưới cấp nước khu vực đường Nguyễn Phong Sắc, Trần Quốc Hoàn và Phạm Văn Thưởng.

Tại khu vực phía Bắc, công ty sẽ xây dựng hệ thống cấp nước cho các phường: Cự Khối, Giang Biên, Phúc Lợi (quận Long Biên) với khoảng 131.552m đường ống; xây dựng hệ thống cấp nước cho xã Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm) và các xã: Kim Chung, Đại Mạch, Võng La (huyện Đông Anh) Những dự án này sẽ được hoàn thành vào dịp cuối năm nay

Ở khu vực Tây Nam, Công ty NSHN sẽ bàn giao cho Công ty Viwaco gồm các địa bàn: Thanh Xuân, Phương Liệt, Mễ Trì, Trung Hoà - Nhân Chính, Từ Liêm để công ty này lên kế hoạch cấp nước cho 60.000 hộ dân.Ngoài ra, Công ty NSHN cũng đang lập dự án để kết nối hệ thống cấp nước giữa Hà Nội cũ và Hà Đông, cũng như việc cấp nước cho khu vực hai bên đường Láng - Hoà Lạc

Được biết, Hà Nội đang phấn đấu đưa tỉ lệ hộ dân đô thị được sử dụng nước sạch lên khoảng 97%, với mức độ dịch vụ cấp nước là 120 lít/người/ngày

1.3.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại

Hà Nội:

1.3.3.1 Tổng quan về nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị :

Trong những năm qua, tình hình cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị ở nước ta

đã được cải thiện đáng kể Hầu hết các thành phố, thị xã trong toàn quốc đều

đã có được các dự án đầu tư cải tạo mở rộng và xây dựng mới các hệ thồng cấp nước Kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã đầu tư xây dựng khoảng 1 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị với mức độ đầu tư khác

Trang 36

nhau, tính tổng cộng trên toàn quốc có khoảng 240 nhà máy nước Hầu hết các thành phố, thị xã trong toàn quốc đều đã có được các dự án đầu tư cải tạo

mở rộng và xây dựng mới các hệ thống cấp nước Các dự án cấp nước được đầu tư chủ yếu từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ các doanh nghiệp Chất lượng và số lượng cấp nước được thực hiện bởi các dự án này đã đáp ứng phần nào nhu cầu nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt của người tiêu dùng

Trang 37

Bảng 8: Quy mô tốc độ tăng định gốc và liên hoàn

giai đoạn 2001- 2007

Đơn vị : tỷ đồng, %

Nguồn : Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị _ Bộ kế hoạch và đầu tư

Qua bảng số liệu trên, ta có thể rút ra nhận xét Trong 4 năm từ năm

2001 đến năm 2004, hầu như có sự gia tăng đồng thời của các nguồn vốn đầu

tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, nhưng giai đoạn từ năm 2005 đến năm

2007 lại có sự biến động khác nhau giữa các nguồn vốn (có nguồn vốn tiếp tục tăng song có nguồn vốn lại giảm đi ), cụ thể như sau:

Trong 4 năm 2001- 2004, quy mô của 4 nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đều tăng, vốn ngân sách nhà nước tăng từ 423 tỷ đồng vào năm 2001 và tăng lên đến 658 tỷ đông vào năm 2004 tương ứng với tốc

Vốn ngân sách

nhà nước

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

Tốc độ tăng

Trang 38

độ tăng là 55,56%, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có quy mô vốn 23 tỷ đồng ở năm 2001, đến năm 2004 thì quy mô nguồn vốn này là 878

tỷ đồng, tức là tăng 3717,39% so với năm 2001…

Đến năm 2005, riêng chỉ có quy mô nguồn vốn Ngân sách nhà nước là giảm so với năm 2004, nguồn vốn này giảm từ 658 tỷ đồng vào năm 2004 xuống chỉ còn 600 tỷ đồng vào năm 2005, tương ứng với giảm 8,18% Còn các nguồn vốn khác vẫn tiếp tục tăng, nên tổng nguồn vốn đầu tư vào cơ sở

hạ tầng cấp nước đô thị vẫn tiếp tục tăng Tiếp đến năm 2006, ta thấy quy mô

và tốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị lại giảm xuống chỉ còn 3900 tỷ đồng, tức là giảm 600 tỷ đồng so với năm 2005, tương ứng với tốc độ giảm là 13,33% Sở dĩ trong năm 2006 quy mô và tốc độ tăng vốn có xu hướng chậm lại là do khi cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đã đạt đến một trình độ nhất định thì vấn đề đặt ra là cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn vì hiện nay cở sở hạ tầng cấp nước nông thôn còn lạc hậu và thiếu thốn nhiều, trước chủ trương đa dạng hóa các nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị thì đến năm 2005 cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đã thu hút được nguồn vốn lớn từ tư nhân Vì vậy sau năm 2005, với sự ra đời của một loạt các nghị định, văn bản mới thì nguồn vốn Ngân sách nhà nước và vốn ODA

có sự chuyển dịch sang cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn Thực tế hai nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn Do đó khi hai nguồn vốn này chuyển sang cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn thì đó là nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm sút về tổng nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị Nhưng đến năm 2007, do chính sách huy động của Nhà nước trong việc thu hút vốn đã phát huy hiệu quả, nên nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển tăng với quy mô và tốc độ rất cao, do đó nó đóng góp lớn vào việc tăng quy

mô tổng nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

Trang 39

Việc mở rộng quy mô và gia tăng thêm tốc độ của vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là do kết qủa đa dạng hóa các nguồn vốn

Tỷ trọng vốn đầu tư tư nhân trong tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị như thế nào ta xem xét bảng sau:

Bảng 9: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển CSHT CNĐT

Nguồn : Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị _ Bộ kế hoạch và đầu tư

So sánh với tốc độ tăng của nguồn vốn cho thấy, trong giai đoạn 2001-

2007, nguồn vốn tín dụng là có tốc độ tăng cao nhất So với năm 2001, năm

2002 tốc độ tăng là 278,26%, năm 2007 tốc độ tăng là 7986,95% Tiếp đến là đến tốc độ tăng của vốn đầu tư tư nhân So với năm 2001, thì năm 2002 tốc

độ tăng là 206,98%, đến năm 2005 tốc độ tăng còn đạt đến 1411,63% Sau đó

là đến tốc độ tăng của vốn Ngân sách nhà nước và vốn ODA Điều này cũng phản ánh đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc đa dạng hóa

và tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư ngòai Ngân sách nhà nước cho

cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị

Trang 40

Dựa vào bảng ta thấy nguồn vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nhìn chung là tăng dần lên qua các năm, năm 2001 nguồn vốn đầu

tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị còn rất thấp, mới chỉ đầu tư 86 tỷ đồng, năm 2002 tăng lên 264 tỷ đồng tức là tăng 178 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng 206,98% (so với năm 2001), và con số này liên tục tăng vào các năm

2003, năm 2004 Đến năm 2005, số vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đạt mức 1300 tỷ đồng, tức là gấp gần 15 lần so với năm 2001, và tăng 786 tỷ đồng so với năm 2004, tương ứng với mức tăng 152,925% Sở dĩ

có sự tăng nhanh vậy là do trong năm này chính sách xã hội hóa đầu tư được triển khai khá tốt, mở rộng về quy mô các kênh như phát hành trái phiếu, việc phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khóan vì vậy đã thu hút được một nguồn lực đáng kể cho đầu tư, đã có một số dự án lớn được triển khai như dự án cấp nước của nhà máy nước Bình An, nhà máy nước Thủ Đức…Tuy nhiên, đến năm 2006, nguồn vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị lại giảm, so với năm 2005 số vốn đầu tư tư nhân giảm xuống chỉ còn 714 tỷ đồng, tức là giảm 45, 08 % Và đến năm 2007 nguồn vốn này lại giảm so với năm 2006 là 3,36% Nguyên nhân là do việc đa dạng hóa các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị mới bắt đầu thực hiện, do đó có một số hạn chế trong việc thực thi Tuy trong 2006 và năm 2007, nguồn vốn này có xu hướng giảm đi, nhưng cũng không thể khẳng định là xu hướng trong thời gian tới nguồn vốn này lại tiếp tục giảm xuống tiếp vì với những chính sách mà Chính phủ đưa ra như việc chuyển bớt đầu tư bằng vốn Ngân sách nhà nước cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị sang cơ sở

hạ tầng cấp nước nông thôn, đồng thời sự giảm đi của nguồn vốn ODA, xu hướng nguồn vốn đầu tư tư nhân có thể sẽ tăng lên, có thể nó còn vượt xa con

số 1300 tỷ đồng của năm 2005

Ngày đăng: 13/04/2013, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 : Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2020 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2020 (Trang 23)
Bảng 3: Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số Hà Nội Tỉnh/ - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số Hà Nội Tỉnh/ (Trang 25)
Bảng 5 : Tỷ lệ cấp nước - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Tỷ lệ cấp nước (Trang 29)
Bảng 6 : Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị  giai đoạn 2002-2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2002-2007 (Trang 31)
Bảng 7 : Số dự án và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp  nước đô thị phân theo nguồn vốn giai đoạn 2001- 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Số dự án và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị phân theo nguồn vốn giai đoạn 2001- 2007 (Trang 34)
Bảng 8: Quy mô tốc độ tăng định gốc và liên hoàn  giai đoạn 2001- 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Quy mô tốc độ tăng định gốc và liên hoàn giai đoạn 2001- 2007 (Trang 37)
Bảng 9: Tỷ trọng vốn đầu tư  phát triển CSHT CNĐT  giai đoạn  2001 – 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 9 Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển CSHT CNĐT giai đoạn 2001 – 2007 (Trang 39)
Bảng 10: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển Cơ sở hạ tầng cấp nước đô  thị giai đoạn 2001- 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2001- 2007 (Trang 41)
Bảng 11: Vốn và cơ cấu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô  thị Hà Nội phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2001 – 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 11 Vốn và cơ cấu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị Hà Nội phân theo nội dung đầu tư giai đoạn 2001 – 2007 (Trang 46)
Bảng 12 : Quy mô và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp  nước đô thị giai đoạn 2001- 2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 12 Quy mô và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2001- 2007 (Trang 48)
Bảng 13 : Mức tăng công suất cấp nước đô thị tăng thêm  giai đoạn 2001-2007 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 13 Mức tăng công suất cấp nước đô thị tăng thêm giai đoạn 2001-2007 (Trang 56)
Bảng 14: Kết quả cấp nước đô thị Hà Nội - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 14 Kết quả cấp nước đô thị Hà Nội (Trang 58)
Bảng 15 : Dự kiến nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô  thị giai đoạn 2008-2015 - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 15 Dự kiến nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị giai đoạn 2008-2015 (Trang 70)
Bảng 16: Dự kiến cấp nước đô thị Hà Nội - Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị tại Hà Nội: thực trạng và giải pháp
Bảng 16 Dự kiến cấp nước đô thị Hà Nội (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w