Mục tiêu của Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 2721/QĐ-TTg ngày 30/11/2011, một trong những nhiệm vụ được Chín
Trang 1Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2012, có 28.356.400 người sống tại các thành thị Việt Nam, chiếm 31,94% cơ cấu dân số, tăng 51,14% so với năm 2000 Theo các chuyên gia, dân số Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân
số vàng, với khoảng 69% dân số đang ở độ tuổi lao động Như là một kết quả tất yếu, xu hướng di dân nông thôn thành thị đang tăng lên và đang góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của các khu vực thành thị (nói riêng) và của cả nước (nói chung), là một cơ hội để Việt Nam thực hiện tốt nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cơ hội này luôn đi kèm với những thách thức về an sinh xã hội như y tế, giáo dục, việc làm,.v.v và nhất là vấn đề nhà ở
Hình 1.1 Chỉ số Giá nhà đất trung bình của một căn hộ chuẩn so với Thu nhập ròng
của một gia đình (Price to income ratio) (đvt: lần)
Trang 2Theo dữ liệu thống kê giữa năm 2014 từ trang web numbeo.com (Hình 1), một trang web chuyên cung cấp dự liệu thống kê về chỉ số mức sống tại các thành phố và quốc gia trên thế giới, chỉ số Giá nhà đất trung bình của một căn hộ chuẩn so với Thu nhập ròng của một gia đình (Price to income ratio) của Việt Nam là 19,1 lần, được xếp ở vị trí thứ 18 về mức độ đắt đỏ trong số 120 quốc gia được xếp hạng
so sánh (Giá nhà được tính là trung bình một căn hộ 90 m2 tại ở trung tâm đô thị và vùng ngoại ô Thu nhập được tính là thu nhập của một của hộ gia đình được tính bằng 1,5 lần thu nhập ròng thu nhập sau thuế và phí của một người lao động) Chỉ
số này đã tăng 1,55 lần so với năm 2011, cho thấy khoảng cách giữa giá nhà ở
với thu nhập tại Việt Nam ngày càng nhiều hơn, cũng đồng nghĩa với ước mơ
sở hữu được một căn hộ của phần đông gia đình, nhất là các gia đình trẻ đanh
có ý định phát triển sự nghiệp tại các khu vực trọng điểm kinh tế, trở nên xa vời hơn nếu không có sự hỗ trợ từ nhà nước, thông qua việc phát triển các loại hình nhà ở, trong đó nhà ở xã hội đóng vai trò quan trọng
Mục tiêu của Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được phê duyệt theo Quyết định số 2721/QĐ-TTg ngày 30/11/2011, một trong những nhiệm vụ được Chính phủ đặt trọng tâm là, trong giai đoạn 2011 -
2015, tiếp tục triển khai thực hiện các chương trình phát triển NƠXH tại khu vực đô thị; phấn đấu xây dựng tối thiểu khoảng 10 triệu m2 NƠXH để giải quyết chỗ ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; đáp ứng cho khoảng 60% số sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và 50% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu về chỗ ở, v.v Chính sách
về NƠXH đã cụ thể hóa thông qua Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013
về phát triển và quản lý NƠXH, quy định về hình thức, quy hoạch và bố trí quỹ đất, tiêu chuẩn thiết kế, nguồn vốn, cơ chế đầu tư, chính sách ưu đãi, quản lý và sử dụng NƠXH
Có thể nhận thấy Chính sách phát triển NƠXH tại Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai Ngoài Nghị định 188/2013/NĐ-CP, đến nay chương có Thông tư
hướng dẫn thực hiện cụ thể được ban hành Thực tế, đến nay có rất ít dự án
Trang 3NƠXH được triển khai Trên thị trường xuất hiện một loạt dự án nhà ở thương
mại được biến tướng thành dự án NƠXH nhằm hưởng thêm các ưu đãi về tiền sử
dụng đất, thuế, v.v Các nhà đầu tư không hào hứng quan tâm đến thị trường
này Một nghiên cứu của Phạm Nguyễn Thế Thành và Lưu Trường Văn (2014) [2],
đã chỉ ra nguyên nhân các nhà đầu tư chưa sẵn sàng đầu tư phát triển NƠXH
chính là do sự khó tiếp cận hoặc không có thông tin về quỹ đất, về các ưu đãi
và các quy định về đầu tư
Về khía cạnh Người mua, theo quan điểm Marketing hiện đại, khách hàng
(người mua) được đặt ở tâm điểm, Người bán (Chủ đầu tư, cơ quan phát triển
NƠXH của Nhà nước) phải bán cái khách hàng cần chứ không bán cái có sẵn
Do đó, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tham gia
của người có nhu cầu, từ đó xác định loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu, cũng như xác định nhu cầu về tài trợ cho việc mua bán sản phẩm căn hộ NƠXH
(nếu có) và hỗ trợ kỹ thuật khác, v.v đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá sự
đáp ứng nhu cầu của chính sách NƠXH là những vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của chính sách NƠXH
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu.
Các đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội được Nhà nước hỗ trợ nguồn vốn tín dụng, lãi suất ưu đãi và ổn định giá mua nhà ở xã hội, v.v theo quy định tại Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội
Một chính sách đúng đắn và đầy tính nhân văn, sau gần một năm được triển
khai thực hiện, nhưng vì sao có quá ít NƠXH đến được đúng đối tượng có nhu
cầu? Loại sản phẩm NƠXH nào thực sự phù hợp với nhu cầu ? Liệu chính
chính sách được quy định tại Nghị định 188/2013/NĐ-CP này đã thực sự đi vào
thực tế cuộc sống ? và yếu tố nào của Chính sách ảnh hưởng đến sự sẵn sàng
tham gia của người có nhu cầu ? liệu người có nhu cầu đã thực sự được hưởng lợi và hài lòng với chính sách này ? Đây là những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết
Trang 4cần được nghiên cứu để trên cơ sở đó có những khuyến nghị giải pháp tăng cường, sửa đổi hoặc bổ sung (nếu cần)
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của Nghiên cứu là sự sẵn sàng tham gia của đối tượng có nhu cầu
về nhà ở xã hội đối với chính sách phân phối nhà ở xã hội của Chính phủ thông qua việc tương tác giữa các bên có liên quan, gồm các đơn vị cung cấp nhà ở xã hội, đơn vị cung cấp nguồn vốn vay và ưu đãi và các cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở
xã hội
1.4 Các mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được tiến hành nhằm đạt đến các mục tiêu sau:
- Nhận diện đầy đủ các đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội
- Nhận diện, đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn NƠXH & loại sản phẩm NƠXH phù hợp nhu cầu
- Phân tích nhận định của người có nhu cầu về chính sách NƠXH
- Xây dựng mô hình nhận thức về sản phẩm nhà ở xã hội theo quan điểm Marketing hiện đại
- Xây dựng các chỉ báo chủ yếu về thành quả (KPI) của Chính sách phân phối NƠXH
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam
về nhà ở xã hội, tiến hành khảo sát các đối tượng có nhu cầu nhà ở xã hội tại TP.HCM
Trang 5Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Kết quả nghiên cứu của các tác giả liên quan đến nhà ở xã hội đã được công bố
Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Thế Thành và Lưu Trường Văn (2014) nhằm
lý giải nguyên nhân vì sao các nhà đầu tư chưa sẵn sàng đầu tư phát triển nhà ở xã hội.[9]
Đến nay, tại Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào về nhận diện, đánh
giá nhu cầu, yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn, sự sẵn sàng tham gia của đối tượng có nhu cầu đối với chính sách nhà ở xã hội được công bố
2.2 Nghiên cứu về ứng dụng KPI trong việc đánh giá Chính sách phát triển NƠXH
Trên thế giới, tuy KPI đã được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng
chưa có một nghiên cứu ứng dụng KPI nào vào việc đánh giá một chính sách nhà ở xã hội (nói riêng) và chính sách nhà ở (nói chúng) được công bố
2.3 Tổng quan về Chính sách phát triển NƠXH của Việt Nam
2.3.1 Đối tượng được mua nhà ở xã hội
Đối tượng được bố trí nhà ở xã hội, được quy định tại Điểm 1 Điều 14 của Nghị định 188/2013/NĐ-CP, khái quát gồm:
- Người có công với cách mạng;
- Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước; người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân được hưởng các chế độ, chính sách như đối với quân nhân theo quy định;
- Công nhân, người lao động thuộc các thành phần kinh tế làm việc tại khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp;
Trang 6- Người thu nhập thấp, hộ nghèo tại khu vực đô thị;
- Đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật, người cao tuổi độc thân, cô đơn không nơi nương tựa;
- Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ khi hết tiêu chuẩn được thuê nhà ở công vụ;
- Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trường dạy nghề cho công nhân, không phân biệt công lập hay ngoài công lập;
- Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư mà chưa được bố trí đất ở hoặc nhà ở tái định cư
2.3.2 Ưu đãi cho đối tượng được mua nhà ở xã hội
Theo Nghị định 188/2013/NĐ-CP, các đối tượng mua nhà ở xã hội được ưu đãi vay vốn mua nhà ở xã hội, với lãi suất ưu đãi
2.3.3 Chính sách phân phối nhà ở xã hội
Mỗi cá nhân / hộ gia đình được quyền thuê, mua, thuê mua nhà ở xã hội; chỉ được mua 01 nhà ở xã hội và mua một lần duy nhất
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể trình tự, thủ tục xét duyệt và thứ tự
ưu tiên đối với từng đối tượng có nhu cầu mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội
Trang 7Chương 3 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT (literature review) 3.1 Khái niệm
3.1.1 Khái niệm về nhà ở xã hội tại Việt Nam
Nhà ở xã hội, được Chính phủ xác định, là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức,
cá nhân đầu tư xây dựng và phân phối với mức giá ưu đãi cho các đối tượng như: người có thu nhập thấp, hộ thuộc diện tái định cư, sinh viên, công nhân làm các khu công nghiệp, khu chế xuất, các đối tượng chính sách, v.v
3.1.2 Sự tham gia: theo Từ điển Merriam Webster, tham gia là được dính líu với những người khác làm việc gì đó
3.1.3 Sự sẵn sàng tham gia: theo Từ điển Merriam Webster, sự sẵn sàng tham gia nghĩa là không từ chối làm việc gì đó
3.1.4 Vậy sự sẵn sàng tham gia chính sách NƠXH là không từ chối (sẵn lòng) tham gia thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của chính sách NƠXH
3.2 Hành vi tiêu dùng và quá trình quyết định mua hàng
Theo Solomon, Marshall và Stuart (2012), Hành vi tiêu dùng là một quá trình các cá nhân hay các nhóm thực hiện để chọn, mua, sử dụng và vứt bỏ hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng hay các kinh nghiệm nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước ao của
họ Khi người tiêu dùng thực hiện những quyết định mua quan trọng, họ tiến hành
quá trình 5 bước Đầu tiên, họ nhận dạng vấn đề cần giải quyết Sau đó họ tìm
kiếm thông tin để có quyết định tốt nhất Kế đến họ đánh giá một bộ các lựa chọn thay thế và phán xét chúng trên cơ sở nhiều tiêu chuẩn đánh giá Đây là điểm quyết định mua của họ Theo sau việc mua, người tiêu dùng quyết định xem sản phẩm có đáp ứng mong đợi của họ không [20]
3.2.1 Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến quá trình quyết định của người tiêu dùng
Trang 8Một số yếu tố nội tại ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng Nhận thức
(perception) là các người tiêu dùng lựa chọn, tổ chức và giải thích sự phấn khích
Sự thúc đẩy (motivation) là một trạng thái nội tại điều khiển người tiêu dùng thỏa
mãn nhu cầu Sự hiểu biết (learning) là sự biến chuyển trong hình vi mà có kết quả
từ thông tin hoặc kinh nghiệm
Sự hiểu biết có tính hành vi (behavial learning) là hệ quả từ các sự kiện bên ngoài, trong khi sự hiểu biết có tính nhận thức được quy vào các hoạt động tinh thần
nội tại Thái độ (attitude) là sự đánh giá sau cùng về một người, một khách thể hay
một vấn đề; và bao gồm 3 thành phần: sự ảnh hưởng, sự nhận thức và hành vi Những điểm mang tính cá nhân như sự cách tân (innovativeness), sự duy vật (materialism), sự tự tin (self-confident), sự dễ gần (sociability) và nhu cầu nhận thức (need for cognition) có thể được sử dụng để phát triển các phân khúc thị
trường Nhà hoạch định sản phẩm tìm hiểu sự tự quan niệm (self-concept) của
người tiêu dùng để phát triển các thuộc tính sản phẩm thỏa được một số khía cạnh của sự tự quan niệm của người tiêu dùng (Solomon, Marshall và Stuart,
2012)
Độ tuổi của người tiêu dùng, vòng đời gia đình và lối sống của họ cũng liên
quan mạnh đến sự tham khảo tiêu dùng (consumption reference) Nhà hoạch định sản phẩm sử dụng tâm lý học tiêu dùng để nhóm người tiêu dùng dựa theo các hoạt động, sự quan tâm và quan điểm để có thể giải thích nguyên nhân mua sản phẩm
3.2.2 Các yếu tố tình huống và mối quan hệ của người tiêu dùng với những người khác ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng
Theo Solomon, Marshall và Stuart (2012), các ảnh hưởng có tính tình huống bao gồm các áp lực về thời gian và áp lực vật chất xung quanh Khuôn khổ của môi trường vật chất bao gồm đồ đạt trang hoàng, mùi, ánh sáng, âm nhạc và thậm chí cả nhiệt độ, có thể ảnh hưởng đến tiêu dùng Thời gian trong ngày, các mùa trong năm
và việc mất bao nhiêu thời gian để mua sản phẩm cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết định Việc tham khảo tổng thể của người tiêu dùng về sản phẩm được xác định bởi
Trang 9yếu tố văn hóa, nơi mà trong đó họ sống, và các hội viên của họ sống trong các nhóm văn hóa khác nhau
- Tầng lớp xã hội (social class), nhóm hội viên (group memberships), người
dẫn dắt quan điểm (opinion leaders) là những kiểu ảnh hưởng xã hội khác đến lựa
chọn của người tiêu dùng
- Nhóm tham khảo (reference group) là một nhóm người mà người tiêu
dùng muốn làm hài lòng hoặc nói gương, bắt chước và nhóm này ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Việc mua hàng cũng thường là kết quả từ
sự tuân theo những áp lực nhóm thực hoặc tưởng tượng
3.3 Lý thuyết về các mức (layer) của sản phẩm
Hình 3.1 Các lớp sản phẩm
Source: Solomon, Marshall, Stuart 2012 Marketing - Real People, Real Choices
7th Edition Prentice Hall
Theo Kotler (2012), sản phẩm được phân biệt thành 3 mức sau
Trang 103.3.1 Giá trị khách hàng cốt lõi (core customer value): nhắm đến câu hỏi
"Cái mà người mua thực sự mua là gì?" Khi thiết kế sản phẩm, nhà hoạch định sản phẩm các dịch vụ, lợi ích cốt lõi và giải quyết được vấn đề mà khách hàng đang tìm kiếm Ví dụ: một phụ nữ mua son môi, nghĩa là mua không chỉ màu của son môi Charles Revlon của hãng Revlon chỉ ra rằng: tại nhà máy ông ta sản xuất mỹ phẩm, nhưng tại cửa hàng mỹ phẩm, ông ta bán niềm hy vọng Những người mua điện thoại Iphone, nghĩa là mua không chỉ một chiệc điện thoại, một thiết bị email, hay công cụ quản lý cá nhân, mà họ còn mua sự tự do, khả năng kết nối trên đường với người khác và với các tài nguyên
3.3.2 Sản phẩm thực tế (actual product) Ở mức thứ hai, các nhà hoạch
định sản phẩm phải chuyển hóa các lợi ích khách hàng cốt lõi vào sản phẩm thực tế (actual product) Họ cần phát triển các sản phẩm, tính năng của dịch vụ, thiết kế, một mức chất lượng, một nhãn hiệu và bao bì Ví dụ: Iphone 6 là một sản phẩm thực tế Tên của sản phẩm, các bộ phận, kiểu dáng, tính năng, bao bì và các thuộc tính khác được tổ hợp lại một cách cẩn thận để cung cấp giá trị khách hàng cốt lõi cho người dùng
3.3.3 Sản phẩm tăng thêm (augmented product) Nhà hoạch định sản
phẩm phải xây dựng một sản phẩm tăng thêm (augmented product) xung quanh Giá trị khách hàng cốt lõi và Sản phẩm thực tế bằng cách đề xuất các lợi ích và dịch vụ khách hàng tăng thêm Iphone 6 không chỉ là một thiết bị liên lạc, mà nó còn cung cấp cho người tiêu dùng một giải pháp toàn bộ về các vấn đề kết nối di động, là ví tiền điện tử Do đó khi người tiêu dùng mua một điện thoại thông minh Iphone 6, hãng Apple và các đại lý cũng sẽ cho khách hàng một sự bảo hành về các bộ phận, các hướng dẫn sử dụng thiết bị, các dịch vụ sửa chữa nhanh khi cần, và số điện thoại không mất tiền và website để họ sử dụng nếu họ có vấn đề muốn hỏi
Người tiêu dùng nhận ra rằng sản phẩm là một gói phức hợp các lợi ích thỏa mãn nhu cầu của họ Khi phát triển sản phẩm, nhà tiếp thị trước tiên phải nhận diện giá trị khách hàng cốt lõi mà khách hàng tìm kiếm ở sản phẩm đó Họ sau đó phải
Trang 11thiết kế sản phẩm thực tế và tìm cách để làm gia tăng sản phẩm để tạo ra giá trị khách hàng và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng
3.3.4 Cơ sở đề xuất mô hình sản phẩm NƠXH ở mức nhận thức (gọi tắc
là Mô hình nhận thức – conceptual framework)
Hình 3.2 Sơ đồ phát triển mô hình nhận thức sản phẩm NƠXH
Trên cơ sở mô hình các mức (layer) của sản phẩm và dựa trên kết quả nghiên cứu nhận định của người có nhu cầu về các đặc trưng sản phẩm NƠXH, có thể phát triển được một mô hình sản phẩm ở mức nhận thức (gọi tắt là mô hình nhận thức) cho sản phẩm NƠXH Phát triển được mô hình nhận thức về sản phẩm NƠXH, sẽ là
cơ sở để xây dựng các sản phẩm NƠXH cụ thể
3.4 Lý thuyết về Chỉ báo chủ yếu về thành quả (Key Performance Indicators - KPI)
3.4.1 Khái niệm
Theo Parmenter [17], Chỉ báo chủ yếu về thành quả (KPI) đại diện cho bộ các thước đo tập trung vào khía cạnh thành quả có tính tổ chức mà có tính quyết định nhất đến thành công của tổ chức trong hiện tại và trong tương lai KPI khá mới đối với các tổ chức Hiện nay KPI không chỉ được ứng dụng cho nội bộ các tổ chức
mà còn được ứng dụng để đánh giá thành quả của các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh KPI là thước đo hướng về hiện tại và tương lai, đối lại với các thước đo quá khứ (ví dụ: số khách hàng quan trọng có kế hoạch đến thăm trong tháng tới hay danh sách khách hàng quan trọng của những ngày gặp gỡ kế tiếp) Nhiều thước đo quá khứ dùng đo các sự kiện xảy ra trong tháng, quý đã qua Những chỉ báo này không thể và không bao giờ có thể là các chỉ báo chủ yếu về thành quả (KPI) Một KPI phải đủ sâu sắc đến mức nó có thể gắn chặt với một nhóm làm việc Hay nói
• Nghiên cứu Nhận định của người có
nhu cầu về NƠXH
• Lý thuyết mô hình các mức (layer) của
Mô hình Nhận thức (conceptual framwork) sản phẩm NƠXH
Trang 12cách khác, CEO có thể gọi một nhân viên nào đó và hỏi “tại sao” và người nhân viên đó có thể trả lời câu hỏi và đưa ra giải pháp về vấn đề đó
Ví dụ, chỉ tiêu EBIT hay ROI không bao giờ có thể là các KPI vì chúng không thể gắn chặt với một cán bộ quản lý vì chúng là kết quả của nhiều hoạt động dưới sự quản lý của những cán bộ quản lý khác nhau
3.4.2 Bảy (07) đặc tính của KPI
Parmenter đã định nghĩa 07 đặc tính của KPI là:
- Là các thước đo phi tài chính
- Được đo thường xuyên (ví dụ: 24/7, hàng ngày, hàng tuần)
- Được thực hiện bởi giám đốc điều hành (CEO) và đội ngũ quản lý cấp cao
- Chỉ ra một cách rõ ràng những hành động nào được thực hiện bởi nhân viên (ví dụ: nhân viên có thể hiểu các thước đo và biết cần khắc phục những gì)
- Là các thước đo gắn chặt trách nhiệm xuống đến một đội/nhóm (ví dụ: CEO có thể yêu cầu một trưởng nhóm - người có thể thực hiện hành động cần thiết)
- có một ảnh hưởng rõ ràng (ví dụ: ảnh hưởng đến một hay nhiều yếu tố thành công có tính quyết định (critical success factors - CSFs) và nhiều hơn một khía cạnh của bảng cân bằng điểm (BSC)
- Các KPI động viên các hành động thích đáng (ví dụ: các KPI được kiểm tra
để chắc chắn rằng chúng ảnh hưởng dương (+) đến các thành quả, ngược với các thước đo được suy nghĩ một cách nghèo nàn có thể dẫn đến việc loạn chức năng)
3.4.3 Nội dung chính của KPI
- Ký hiệu - Tên gọi KPI
- Diễn giải về KPI
- Thước đo KPI
Trang 13- Thành quả đạt được
3.4.4 Tiêu chuẩn S.M.A.R.T cho hệ thống chỉ số KPI
Specific - cụ thể, dễ hiểu
Chỉ tiêu phải cụ thể vì nó định hướng cho các hoạt động trong tương lai
Measurable – đo lường được
Mục tiêu phải là một tiêu chí định lượng, có thước đo cụ thể và có thể đo lường được
3.4.5 Ứng dụng KPI cho chính sách NƠXH
Trên thế giới, KPI đã được ứng dụng không chỉ trong lĩnh vực quản lý nhân
sự như một số nhà quản lý thường nghĩ, mà còn được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác Cụ thể trong lĩnh vực xây dựng, KPI đã được ứng dụng để đánh giá
thành quả hoạt động các dự án, của ngành xây dựng ở một số nước Tuy nhiên việc
ứng dụng KPI để đánh giá thành quả lĩnh vực nhà ở xã hội là một vấn đề rất mới; đến nay trên thế giới chưa có một kết quả nghiên cứu nào về vấn đề này được công bố Với nhiều ưu điểm và là thang đo phi tài chính nên KPI rất thích hợp và hứa hẹn có thể sử dụng cho việc chỉ báo thành quả của Chính sách phân phối nhà ở xã hội - một chính sách mang đầy tính xã hội và nhân văn
Trang 14Nghiên cứu của Phạm Nguyễn Thế Thành và Lưu Trường Văn (2014) [9] đã chỉ ra các nhận định của Chủ đầu tư đối với chính sách NƠXH:
- Khó phân phối NƠXH theo quy định hiện nay, nguyên nhân chính của việc khó phân phối được nhận định là do quy định về đối tượng được phân phối NƠXH quá khắt khe
- Khó tiếp cận hoặc không có thông tin về quỹ đất để phát triển NƠXH và về các quy định lựa chọn chủ đầu tư NƠXH, thủ tục thực hiện đầu tư NƠXH, thủ tục quyết toán vốn đầu tư
Mô hình xây dựng các KPI được đề xuất như sau:
Hình 3.3 Sơ đồ phát triển các KPI
Đề xuất thước đo KPI cho Chính sách NƠXH:
- Chính sách NƠXH tại Việt Nam đang ở giai đoạn sơ khai, hệ thống văn bản hướng dẫn rất ít, chưa có cơ quan chuyên trách của Nhà nước quản lý chính sách này Mặt khác, lượng giao dịch sản phẩm NƠXH trên thực tế còn chưa nhiều Do vậy hầu như không có nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ cho việc xây dựng các thước
đo KPI
- Do đó cơ sở thước đo KPI là dựa vào kết quả khảo sát sự hài lòng của người có nhu cầu
Trang 15- Một nguyên tắc đánh giá được công nhận rộng rãi trong việc đánh giá là dựa trên đa số, tức hơn 2/3, số người có cùng nhận định Do vậy con số tham chiếu thước đo chung của Nghiên cứu này sử dụng là số 70%
3.5 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp luận
Để có cơ sở lựa chọn phương pháp nghiên cứu cụ thể thích hợp, sau đây là
sự tổng quát hóa các phương pháp thông dụng thường được sử dụng để nghiên cứu khoa học [5]
3.5.1.1 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của các đối tượng
Phương pháp quan sát khoa học
Quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng đang diễn ra trong thực tế bằng mắt thường hoặc bằng các công cụ quan sát Phương pháp này có ba chức năng: thu thập thông tin thực tiễn; kiểm chứng các giả thuyết hay lý thuyết đã có; đối chiếu kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để tìm ra sự sai lệch (nếu có) để tìm cách
bổ sung, hoàn thiện lý thuyết
Phương pháp điều tra
Là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Kết quả của Nghiên cứu là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn
Phương pháp thực nghiệm khoa học
Thực nghiệm được được tiến hành để khẳng định tính chân thực của giả thuyết hay phỏng đoán đã nêu Thực nghiệm thành công sẽ góp phần tạo nên một lý thuyết mới hay / và từ đó đề xuất những khả năng ứng dụng trong thực tiễn
Trang 16Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Là phương pháp nghiên cứu xem xét lại các thành quả của các hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học Tổng kết kinh nghiệm thường hướng vào nghiên cứu diễn biến và nguyên nhân của các sự kiện và nghiên cứu các giải pháp thực tiễn đã áp dụng trong sản xuất hay trong hoạt động xã hội để tìm ra giải pháp tối ưu nhất
Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất của một sự kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các sự kiện đó, hay phân tích, đánh giá một sản phẩm khoa học
3.5.1.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Là phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy lôgic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phương pháp phân tích lý thuyết là phương pháp nghiên cứu các văn bản, tài liệu lý luận khác nhau về một chủ đề, bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận, từng mặt theo lịch sử thời gian, để phát hiện ra những hướng mới, những trường phái nghiên cứu của từng tác giả và từ đó chọn lọc những thông tin quan trọng phục vụ của đề tài nghiên cứu của mình
Phương pháp tổng hợp lý thuyết là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được, tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ việc phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc các lý thuyết, các trường phái, các xu hướng phát triển của lý thuyết Từ phân tích người ta lại tổng hợp chúng lại để xây dựng một hệ thống khái niệm,
Trang 17phạm trù, tiến tới tạo thành các lý thuyết khoa học mới
Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp phân loại là phương pháp sắp xếp các tài liệu khoa học thành một hệ thống lôgic chặt chẽ, dễ nhận thức và dễ sử dụng theo từng khía cạnh kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng bản chất, cùng một hướng phát triển
Phương pháp hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp tri thức khoa học thành
hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết của người nghiên cứu về đối tượng được đầy đủ và sâu sắc Phân loại và hệ thống hóa là hai bước tương hỗ để tạo ra kiến thức mới sâu sắc và toàn diện
Mô hình hóa
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng khoa học bằng cách xây dựng các mô hình giả định về đối tượng và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng Mô hình lý thuyết có nhiệm vụ xây dựng cấu trúc cái mới chưa có trong thực
tế, tức là mô hình hóa các chưa biết để nghiên cứu chúng
Phương pháp giả thuyết
Là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó
Phương pháp lịch sử
Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hóa của đối tượng, để phát hiện bản chất và quy luật của đối tượng
3.5.1.3 Các phương pháp toán học trong nghiên cứu
Là phương pháp sử dụng các lý thuyết toán học vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên ngành
3.5.2 Lựa chọn Phương pháp và công cụ nghiên cứu
Trang 18Như đã trình bày tại Mục 1.1, Chính sách phát triển NƠXH tại Việt Nam còn trong giai đoạn sơ khai, do đó hầu như không có nhiều dữ liệu quá khứ / thứ cấp để dùng cho Nghiên cứu Mặt khác mô hình hoạt động để triển khai Chính sách NƠXH này hầu như chưa rõ rang trên thực tế nên các phương pháp: Phương pháp quan sát khoa học, Phương pháp thực nghiệm khoa học, Mô hình hóa, Phương pháp giả thuyết, Phương pháp lịch sử và Phương pháp toán học không thể dủng cho việc Nghiên cứu Ngoài ra, do giới hạn của Phạm vi nghiên cứu (Mục 1.5) nên không thể dùng Phương pháp Chuyên gia
Vì vậy, các phương pháp, công cụ nghiên cứu sau đã được sử dụng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra (tại Mục 1.4)
STT Mục tiêu nghiên cứu Phương pháp và công cụ nghiên
cứu
nhu cầu về nhà ở xã hội
Phương pháp phân tích và tổng hợp
lý thuyết, trên cơ sở quy định hiện hành của Nhà nước Việt Nam về nhà ở xã hội; kết hợp với phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi để xác định đầy đủ các đối tượng có nhu cầu
sự sẵn sàng tham gia của đối tượng
có nhu cầu đối với chính sách nhà ở
xã hội
Phương pháp phân tích và tổng hợp
lý thuyết, kinh nghiệm; kết hợp với phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi
Trang 193 Phân tích nhận định của người có nhu
cầu về chính sách NƠXH
Phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi để thu thập ý kiến nhận định các đối tượng có nhu cầu
phẩm NƠXH theo quan điểm
Marketing hiện đại
Phương pháp phân tích, tổng hợp kết quả điều tra, kết hợp với lý thuyết Marketing về sản phẩm
thành quả (KPI) của Chính sách phân
phối NƠXH
Phương pháp phân tích, tổng hợp kết quả điều tra, kết hợp với lý thuyết về chỉ báo chủ yếu về thành quả (KPI)
Trang 203.5.3 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.4 Quy trình nghiên cứu
Xác định sơ bộ các đối tượng có nhu cầu NƠXH và các nhân tố ảnh hưởng bằng phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết và kinh nghiệm
Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ
Hoàn thiện bảng câu hỏi chính thức trên cơ sở ý kiến chuyên gia
Bảng câu hỏi chính thức được phát hành
Làm sạch dữ liệu
Dữ liệu kết quả khảo sát
Xử lý, kiểm định dữ liệu
Phân tích dữ liệu
Nhận diện đối tượng có nhu cầu; Nhận diện, đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn NƠXH & loại sản phẩm NƠXH phù hợp nhu cầu;
Kiến nghị
Xây dựng các chỉ số
KPI cho chính sách
NƠXH
Trang 213.5.4 Thiết kế bảng câu hỏi
Nghiên cứu định tính và định lượng được thiết kế để điều tra xã hội học nhận định của đối tượng có nhu cầu nhà ở xã hội về chính sách nhà ở xã hội, theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp bằng bảng câu hỏi
- Sau khi vấn đề nghiên cứu được xác định rõ, các nhân tố ảnh hưởng
đến việc sự sẵn sàng tham gia của đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội sẽ được đúc kết từ ý kiến của các chuyên gia và những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực thị trường nhà ở
- Trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên gia về việc loại bớt các yếu tố ít
quan trọng và bổ sung các yếu tố mới được nhiều sự quan tâm, để hình thành Bảng câu hỏi chính thức và tiến hành điều tra Bảng câu hỏi được xây dựng trên
cơ sở các lý thuyết về Hành vi tiêu dùng và quá trình quyết định mua hàng (đã trình bày tại Mục 3.2), gồm các nhóm câu hỏi sau:
• Câu hỏi số 1 để xác định đối tượng phỏng vấn thuộc phạm vi nghiên cứu (‘Anh / Chị đang làm việc dài hạn tại TP.HCM?’)
• Các câu hỏi nhằm xác định điều kiện sống hiện tại của người được phỏng vấn (câu hỏi từ số 2 đến 4: ‘hiện ở gần hay cách xa nơi làm việc thường xuyên ‘, ‘Loại hình nhà / căn hộ mà Anh / Chị đang ở’, ‘Diện tích nơi đang ở thường xuyên’)
• Câu hỏi nhằm phân loại đối tượng có nhu cầu và đối tượng không
có nhu cầu NƠXH (câu hỏi số 5) Các đối tượng phỏng vấn trả lời
“không quan tâm” sẽ chuyến đến trả lời câu hỏi từ số 26 đến 29 Các đối tượng trả lời muốn tham gia sẽ trả lời tiếp câu hỏi từ số 6 đến 29
Trang 22• Để ‘nhận dạng vấn đề cần giải quyết’ của người có nhu cầu (đã nêu tại Mục 3.1.2), các câu hỏi từ số 6 đến 18 được sử dụng nhằm
làm thu thập thông tin về yếu tố nào của sản phẩm NƠXH sẽ
phù hợp với nhu cầu (có khả năng thanh toán) và làm hài lòng người có nhu cầu Gồm các mục hỏi:
o Loại căn hộ muốn mua (1, 2, 3 phòng ngủ);
o Loại diện tích muốn mua (dưới 40 m2, 40-70 m2 hay trên
ai khi lựa chọn căn hộ
o Xếp hạng quan tâm về vị trí của căn hộ (gần chợ, tường học, bệnh viện, nơi làm, trung tâm thành phố, công viên, trung tâm giải trí, trung tâm tín ngưỡng, phương tiện giao thông công cộng), là những yếu tố quan trọng không thể bỏ qua khi xem xét vị trí tọa lạc của căn hộ
o Xếp hạng về các yếu tố hỗ trợ: tín dụng, bảo trì, tư vấn thiết
kế, dịch vụ đảm bảo an ninh Cũng như các nhóm yếu tố
Trang 23quan tâm trên, nhóm yếu tố quan tâm này được đúc kết từ thực tiễn và kinh nghiệm của các chuyên gia
o Mục hỏi về thời điểm dự định mua/thuê NƠXH được thu thập thông tin về tính cấp bách của việc thỏa mãn thu cầu của người được phỏng vấn
o Mục hỏi để phân loại nhu cầu Mua / Thuê Mua / Thuê NƠXH
o Mục hỏi ‘Nguồn tiền dùng để mua / thuê NƠXH’, ‘Mức thu nhập’, ‘Thời gian cần để thanh toán khoản vay’ và ‘Thời gian cần để trả nợ vay’, được dùng để thu thập thông tin nhằm phát triển chính sách giá phù hợp, làm hài lòng người
có nhu cầu
• Để nhận diện “người dẫn dắt quan điểm” và “nhóm tham
khảo” (như đã trình bày tại Mục 3.1.2.2), các câu hỏi từ số 19 đến
• ‘Biết thông tin về chính sách NƠXH qua phương tiện nào’, ‘Có
dễ dàng nắm bắt thông tin về các quy định, thủ tục đăng ký NƠXH’ và “Có dễ dàng thực hiện theo các quy định thủ tục đăng
ký NƠXH’ là các mục hỏi nhằm đề thu thập thông tin về sự sẵn sàng tham gia của người có nhu cầu về chính sách NƠXH hiện nay
Trang 24• Mục hỏi ‘Đang được hưởng ưu đãi nào’ và ‘khó khăn khi tìm hiểu
để mua / thuê NƠXH’ nhằm gián tiếp thu thập thông tin về sự phổ cập của chính sách NƠXH, dùng để minh chứng them cho nguyên nhân không hài lòng (nếu có) của người có nhu cầu về chính sách NƠXH
• Ngoài ra, các câu hỏi từ số 26-29 được dùng để thu thập thông tin phân loại người tham gia phỏng vấn về nghề nghiệp, tuổi tác, học vấn và số năm làm việc (kiếm tiền)
3.5.5 Mẫu nghiên cứu
3.5.5.1 Kích cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức của Cohran (1977)
Số lượng mẫu ít nhất theo tính toán là 43 mẫu
trong đó:
+ t là giá trị phân phối chuẩn (Laplace-Gauss) tương ứng với độ tin cậy anpha chọn là 0,025, tra bảng được t = 1.96
+ p là xác suất thành công
+ q = 1- p : là xác suất không thành công
+ d là mức độ chấp nhận sai số của trung bình mẫu
+ Chọn p = q = 0.5 (do chưa có nghiên cứu tương tự trước đây); + Chọn d = 0.03x5 = 0.15 (dùng thang Likert 5 điểm);
Trang 25Giả định tỷ lệ trả lời bản câu hỏi là 65%, trong đó tỷ lệ bảng câu hỏi hợp lệ là 90%, số bản câu hỏi cần thu thập được là = 43 / 0,65 / 0,9 = 73,5 bảng
3.5.5.2 Phương pháp chọn mẫu:
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện
3.5.5.3 Kỹ thuật phân tích dữ liệu
Dữ liệu được phân tính chủ yếu bằng công cụ thống kê mô tả kết hợp với các bảng chéo (Cross-tabulation) và EFA, được phân tích với sự hỗ trợ của công cụ phần mềm SPSS
Trang 26Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU -
THẢO LUẬN
Thực tế số bản câu hỏi được phát là 350 bản; số bản thu hồi được là 241 bản; trong đó số bản không hợp lệ đã được loại bỏ là 55 bản; số bản được loại bỏ do có đối tượng trả lời ngoài phạm vi nghiên cứu là 9 bản Tóm lại, số bản câu hỏi hợp lệ dùng để phân tích là 177 bản (hay 177 mẫu)
Việc làm sạch dữ liệu được tiến hành bằng bảng tần số để phát hiện các giá trị lạ, ngoài phạm vi giá trị biến cho phép;
Các biến Xếp hạng ưu tiên về các yếu tố cấu thành sản phẩm NƠXH, biến Vị trí căn hộ NƠXH và biến Ưu tiên tham khảo ý kiến được mã hóa lại, từ thang 5 điểm thành thang 3 điểm, theo nguyên tắc:
• Mức 1 và 2 được mã hóa lại thành mức 1 (cao nhất);
• Mức 3 được mã hóa lại thành mức 2;
• Mức 4 và 5 được mã hóa lại thành mức 3 (thấp nhất);
Các biến multi-answers được nhóm thành các variable set; Các bảng phân tích tần số được lập trên các variable set này
Sau khi dữ liệu được làm sạch, các phân tích số liệu nghiên cứu định tính bằng công cụ thống kê mô tả, EFA, và các bảng chéo (cross-tabulation) đã được tiến hành
Độ tin cậy (reliability) của kết quả nghiên cứu của nghiên cứu được kiểm định bằng phương pháp split-half mẫu ngẫu nhiên Kết quả mẫu kiểm tra cho các kết quả tương đồng với mẫu tổng thể, với độ sai lệnh ở mức khoảng +/-5%, chứng
tỏ kết quả nghiên cứu là đáng tin cậy
Trang 274.1 Nhận diện - Phân tích về đối tượng có nhu cầu Nhà ở xã hội
Mẫu khảo sát trong Nghiên cứu này gồm: công nhân viên (57, 5%), quản lý (13,8%), giảng viên 27,5% và lao động tự do (1,2%); Theo độ tuổi: dưới 25 tuổi
(9,9%), từ 25 - 60 tuổi (89,5%); Theo trình độ học vấn: cấp 3 (6,4%), đại học (54,3%), sau đại học (38,2%); Theo số năm kinh nghiệm làm việc: dưới 5 năm (26,0%), từ 5 - 10 năm (27,6%) và trên 10 năm (36,4%); Có 76,8% số mẫu trả lời muốn tham gia chương trình NƠXH;
Hầu hết đang ở cách nơi làm việc trong bán kính 60 phút di chuyển bằng xe máy (Bảng 4.1)
Bảng 4.1 Phân tích về nơi ở hiện tại
Anh / Chị hiện ở gần hay cách xa nơi làm việc thường xuyên?
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent Valid Ở gần nơi làm