Trần Hoàng Tuấn 2008, “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn lao động của công nhân xây dựng và đề xuất các giải pháp cải thiện tình trạng an toàn trên công trường”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh xây dựng hiện nay, vấn đề tai nạn lao động (TNLĐ) trong quá trình thi công của các nhà thầu luôn là vấn đề quan trọng, tuy nhiên họ cho rằng thời gian hoàn thành (TGHT) dự án ảnh hưởng bởi tiến độ thi công, chi phí đầu tư, chất lượng nghiệm thu, mà không ngờ vấn đề TNLĐ trong quá trình thi công có thể ảnh
hưởng đến TGHT dự án (nguồn: khảo sát từ các chuyên gia xây dựng).Dẫn chứng,
qua số liệu thống kê của Sở Lao Động – Thương Binh – Xã Hội tại Thành Phố Hồ Chí Minh, trong năm (2007-2013).Cụ thể như sau:
Biểu đồ 1: Số vụ TNLĐ và TNCN từ năm 2007 đến 2013 tại Tp.HCM
dài thời gian hoàn thành dự án “tác giả đã nhận thấy điều đó trên thực tế trong
Trang 2Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Phi Vũ (2011) [đã trích dẫn trong luận văn B.K.Tín, 2014] chỉ ra rằng tình hình TNLĐ trong ngành xây dựng luôn đứng hàng
đầu trong số các vụ tai nạn nói chung.Công việc xây dựng là công việc hết sức nguy
hiểm và là ngành có nguy cơ xảy ra TNLĐ cao [Đ.T.X.Lan và L.T.Văn, 2002 đã trích dẫn bởi B.K.Tín, 2014].Riêng Sở Lao Động – Thương Binh – Xã Hội thống kê
thì tỉ lệ tai nạn lao động chết người ở lĩnh vực xây dựng luôn cao hơn so với các lĩnh vực khác, tính ra trung bình mỗi tuần có một công nhân xây dựng tử nạn
Hiện nay, có rất ít nghiên cứu định lượng về thời gian hoàn thành dự án thực
tế do những ảnh hưởng của tai nạn lao động trong ngành xây dựng kể cả trên thế giới cũng như tại Việt Nam Nếu thời gian thực tế để hoàn thành dự án của các vụ tai nạn được nghiên cứu một cách cụ thể, thì công tác an toàn lao động trên công trường chắc chắn sẽ được quan tâm và xem trọng hơn Nếu không có những nghiên cứu này, những nỗ lực của nhà thầu dành cho an toàn lao động rất khó được định lượng cũng như rất khó thuyết phục các nhà thầu quan tâm vào công tác an toàn lao động trên công trường
Hinze và Parker (1978) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa an toàn lao động và
áp lực tiến độ, nhận thấy chúng có tương quan.Với các lý do nêu trên, nghiên cứu
của tác giả về “Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố gây ra TNLĐ đến TGHT
dự án xây dựng trong giai đoạn thi công”.Đề tài này là rất cần thiết và đáp ứng
được yêu cầu thực tiễn trong xây dựng hiện nay
2 Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nhận dạng và xếp hạng các “yếu tố gây ra TNLĐ” ảnh hướng đến TGHT dự
án xây dựng trong giai đoạn thi công
- Xây dựng mô hình thể hiện sự ảnh hưởng các nhóm “yếu tố gây ra TNLĐ”
đến TGHT dự án
Trang 3- Đề xuất các biện pháp cải thiện sự ảnh hưởng của các nhóm “yếu tố gây ra
TNLĐ” đến TGHT dự án
- Đánh giá xếp hạng tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp nhằm giảm thiểu tai nạn lao động và cải thiện thời gian hoàn thành dự án trong giai đoạn thi công tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Hiện nay mô hình CFA đã được ứng dụng trong ngành quản lý xây dựng, tuy nhiên lại được ứng dụng rất nhiều trong các ngành kinh tế, quản trị, marketing, nghiên cứu này ứng dụng mô hình CFA để phân tích sự ảnh hưởng của các nhóm
“yếu tố gây ra TNLĐ” đến TGHT dự án ở giai đoạn thi công trong ngành xây dựng dân dụng Đồng thời ứng dụng kỹ thuật phân tích EFA nhằm khám phá ra các nhân
tố mới gây ra TNLĐ ảnh hưởng đến TGHT dự án Ngoài ra còn khám phá thêm các nhân tố mới giúp cải thiện TNLĐ và TGHT dự án trong giai đoạn thi công
3.2 Ý nghĩ thực tiễn
Nghiên cứu này có thể hữu ích cho các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, nhà thầu xây dựng Dựa vào mô hình thể hiện sự ảnh hưởng các nhóm “yếu tố gây ra TNLĐ” đến TGHT dự án, có thể đưa ra các giải pháp giải quyết một cách toàn diện và hợp
lý, đặc biệt là các nhóm “yếu tố gây ra TNLĐ” có ảnh hưởng cao đến TGHT dự án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ
tháng 9 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu chủ yếu được thực hiện trên mọi khu vực
địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh tại Việt Nam
Trang 4- Đối tượng nghiên cứu: Các nhóm “yếu tố gây ra TNLĐ” ảnh hưởng đến
TGHT dự án trong giai đoạn thi công
- Đối tượng khảo sát: Giám đốc dự án, chỉ huy trưởng công trường, giám sát
công trường, kỹ sư công trường, kỹ sư an toàn lao động, các nhà thầu đang thi công công trình có quy mô lớn trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
- Quan điểm phân tích: Đứng trên quan điểm của nhà thầu
- Giới hạn nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện chủ yếu ở giai đoạn thi công và
trong phạm vi ngành xây dung dân dụng
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Để đáp ứng được mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng cách tiếp cận sau:
- Tham khảo các nghiên cứu trước
- Tiến hành khảo sát, cập nhật thực trạng quản lý hiện nay
- Xác định rõ các mục tiêu cần đạt được và các vấn đề mang tính tai nạn lao động trong quá trình quản lý dự án hiện nay
- Đề xuất ý tưởng, tham khảo cán bộ hướng dẫn và chuyên gia
- Xây dựng quy trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố
có gây ra TNLĐ ảnh hưởng đến TGHT dự án, xây dựng mối quan hệ tương quan giữa các thành phần, xác định mối tương quan giữa các nhóm yếu tố với TGHT dự
Trang 5án trong quá trình thi công Từ đó đề xuất ra các giải pháp khách quan mang tính chất định tính để cải thiện
Trang 6CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
Trang 71.1 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan
Có rất nhiều hướng nghiên cứu trên thế giới nói về vấn đề TNLĐ, ATLĐ, tiến
độ thi công, chi phí dự án.v.v…trong đó hầu hết các nghiên cứu chỉ tìm ra các nguyên nhân, các yếu tố gây ra TNLĐ và cải thiện ATLĐ Nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào trong nước, so sánh tầm ảnh hưởng của TNLĐ đến các vấn đề cốt lõi trong dự án xây dựng Tác giả đã liệt kê và tóm tắt các hướng nghiên cứu của một số nước trên thế giới bao gồm các nước đã phát triển và trong giai đoạn phát triển
1.1.1 Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới:
1 Shin M1, Lee HS, Park M, Moon M, Han S (2013) “A system dynamics
approach for modeling construction worker’s safety attitudes and behaviors’’: Tai nạn xây dựng là do có hành vi không an toàn, trong khi đã
có cải thiện đáng kể trong việc tạo ra môi trường xây dựng an toàn hơn, việc loại bỏ các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng ít được biết
đến Để giải quyết sự thiếu hụt này, nghiên cứu nhằm mục đích phát triển một hệ thống mô hình động (System Dynamics) dựa trên các quá trình hệ thống động có thể giúp phân tích các cơ chế phản hồi và sự năng động, kết quả liên quan đến thái độ an toàn và hành vi an toàn của người lao động, công nhân xây dựng Mô hình phát triển được áp dụng để kiểm tra tính hiệu quả của ba chính sách cải thiện an toàn: Khuyến khích hành vi an toàn, tăng khả năng của truyền thông và ngâm trong các tai nạn Áp dụng mô hình xác minh, tiềm năng mạnh mẽ của mô hình phát triển dùng để cung cấp một sự hiểu biết tốt hơn về cách để loại bỏ hành vi không an toàn, và
có chức năng như một bài kiểm tra mạnh mẽ để đánh giá hiệu quả của các chương trình an toàn hoặc các khóa đào tạo trước khi thực hiện
Trang 82 Adeeba A Raheem, Jimmie W Hinze, Salman Azhar, Rafiq M Choudhry,
Zainab Riaz, “Comparative Analysis of Construction Safety in Asian Developing Countries”: Không còn nghi ngờ gì, thực tế là có một khoảng cách rất lớn về hiệu suất công tác quản lý an toàn xây dựng giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển nhưng điều này cũng đúng vì tình trạng này vẫn tồn tại ngay cả trong các quốc gia đang phát triển Nó đã được thừa nhận rằng
có nhiều lý do kinh tế, xã hội và chính trị đằng sau hiệu suất an toàn xây dựng kém này cần được giải quyết với một cách tiếp cận chủ động Mặc dù thực tế
là an toàn xây dựng có vai trò quan trọng cho sự tiến bộ của ngành công nghiệp xây dựng và cho nền kinh tế của quốc gia là tốt, hiện một khuôn khổ thực sự yếu kém của các chính sách đã được thiết lập để thực hiện an toàn ở
các nước đang phát triển châu Á Mục đích của bài viết này là tiến hành một phân tích so sánh các quy định an toàn, công nghệ, đào tạo và kỹ thuật thông qua tại các quốc gia khác nhau Châu Á đang phát triển như Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Bhutan, Malaysia, Hàn Quốc và Đài Loan.Phân tích này đã cung cấp một sự hiểu biết rõ ràng hơn liên quan đến các vấn đề hiện tại đang cản trở việc thực hiện đúng kỹ thuật an toàn ở các nước đang phát triển.Phân tích này có thể được thực sự hữu ích để phát triển một khung pháp lý chung cho việc thực hiện an toàn xây dựng trong nước đang phát triển châu Á, đáp ứng nhu cầu của họ phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển của họ
3 Md Sirat Rozlina, Mohamed Shaharoun Awaluddin, Syed Hassan Syed Abdul
Hamid, Zakuan Norhayati, “Perceptions of Ergonomics Importance at Workplace and Safety Culture amongst Safety & Health (SH) Practitioners in
Malaysia)”: Các báo cáo của bài viết trên một nghiên cứu xác định thành phần
quan trọng có thể được sử dụng để liên hệ trạng thái nhận thức và văn hóa an toàn Các thành phần này có thể được sử dụng để tạo thuận lợi cho nghiên cứu
mà nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái nhận thức và mối quan
hệ với văn hoá an toàn trong một tổ chức Một cuộc khảo sát đã được thực hiện bằng cách sử dụng một mẫu của 108 học viên An toàn và Sức khỏe (SH)
Trang 9trong công ty sản xuất tại Malaysia.Phân tích nhân tố được sử dụng để kiểm tra nhận thức của học viên SH trong việc xác định tầm quan trọng của thái tại nơi làm việc của họ và niềm tin của họ về tầm quan trọng của văn hóa an toàn được khắc sâu tại các công ty của họ Nguyên tắc thành phần phân tích bằng phương pháp quay Varimax đã được sử dụng để phân tích này 20 tiêu chí cho thái độ quan trọng tại nơi làm việc đã được xác định sau khi EFA Các biến là (i) ý nghĩa và cải tiến (10 tiêu chí), (ii) phù hợp của môi trường làm việc cho người lao động (7 tiêu chí) và (iii) xem xét thái cơ bản (3 tiêu chí).Câu hỏi văn hoá an toàn được phát triển tập trung vào các học viên nhận thức về tầm quan trọng SH khí hậu an toàn.Ba mô hình xây dựng dựa trên 17 tiêu chí được thiết kế: (i) cam kết và lãnh đạo (7 tiêu chí), (ii) động lực (6 tiêu chí) và (iii) thực hành hệ thống quản lý an toàn (4 tiêu chí) Phát hiện này có ý nghĩa để tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức của các học viên SH trên thái quan
trọng tại nơi làm việc với văn hóa an toàn
4 Osama Ahmed Jannadi, Mohammed S Bu-Khamsin, “Safety Factors Considered by Industrial Contractors in Saudi Arabia”: Bài viết này trình bày
kết quả của một cuộc khảo sát câu hỏi, được phân phối cho các nhà thầu trong công nghiệp phía Đông của Ả Rập Saudi, và các cuộc phỏng vấn chính thức với các quan chức của nhà thầu chịu trách nhiệm về an toàn xây dựng Mục đích của cuộc điều tra là thu thập dữ liệu về những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hoạt động an toàn của các nhà thầu công nghiệp Điều tra mẫu bao gồm 28 công ty có liên quan đến khối lượng lớn các hoạt động xây dựng công nghiệp, ở phía Đông.Báo cáo xác định 20 yếu tố chính và 85 phụ yếu tố
và xác định mức độ quan trọng dựa trên kết quả khảo sát và phân tích
5 C M Tam, S X Zeng and Z M Deng, “Identifying Elements of Poor
Construction Safety Management in China” : Xây dựng là một trong những
ngành công nghiệp nguy hiểm nhất do tính chất độc đáo của nó Đo bằng tiêu chuẩn quốc tế, hồ sơ an toàn công trường xây dựng ở Trung Quốc là người
Trang 10nghèo Bài viết này nhằm mục đích để kiểm tra tình hình quản lý an toàn trong ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc, khám phá các hoạt động có nguy cơ dễ bị trên các công trường xây dựng, và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn công trình xây dựng Những phát hiện này cho thấy rằng hành vi của các nhà thầu về quản lý an toàn là mối quan tâm nghiêm trọng, bao gồm việc thiếu cung cấp thiết bị bảo vệ cá nhân, các cuộc họp an toàn thường xuyên, và huấn luyện an toàn Các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn bao gồm "nhận thức an toàn kém của quản lý hàng đầu", "thiếu đào tạo", "nhận thức an toàn kém của quản lý dự án", "miễn cưỡng với các nguồn lực đầu vào cho an toàn" và "hoạt động thiếu thận trọng".Nghiên cứu cũng đề xuất rằng chính phủ nên đóng vai trò quan trọng hơn trong các
chương trình đào tạo an toàn thực thi pháp luật và tổ chức chặt chẽ
6 Edwin Sawacha, Shamil Naoum and Daniel Fong, “FACTORS AFFECTING
SAFETY PERFORMANCE ON CONSTRUCTION SITES”: Các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn trên các công trường xây dựng được thảo luận Tác động của các vấn đề lịch sử, kinh tế, tâm lý, kỹ thuật, thủ tục, tổ chức và môi trường được xem xét trong điều kiện như thế nào các yếu tố có liên quan với mức độ
an toàn của công trường Các yếu tố lịch sử được đánh giá bởi nền và đặc điểm của cá nhân, chẳng hạn như tuổi tác và kinh nghiệm Các yếu tố kinh tế được xác định bởi các giá trị tiền tệ mà có liên quan đến an toàn như, nguy hiểm trả Yếu tố tâm lý được đánh giá bởi các hành vi an toàn của đồng nghiệp trên công trường bao gồm cả giám sát Các yếu tố kỹ thuật và thủ tục được đánh giá bằng việc cung cấp đào tạo và xử lý các thiết bị an toàn trên công trường Các yếu tố tổ chức và môi trường được đánh giá bởi các loại chính sách quản lý thông qua để an toàn của trang Thông tin liên quan đến các yếu
tố có tương quan với các hồ sơ tai nạn 'trong một mẫu của 120 HTX.Kết quả phân tích cho thấy rằng yếu tố biến liên quan đến chính sách "tổ chức" là nhóm chi phối hầu hết các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn trong ngành công nghiệp xây dựng Vương quốc Anh Năm vấn đề quan trọng hàng
Trang 11đầu được tìm thấy có liên quan đến an toàn của trang là: (1) quản lý nói chuyện về an toàn; (2) cung cấp các tập tài liệu an toàn; (3) cung cấp thiết bị
an toàn; (4) cung cấp môi trường an toàn và (5) bổ nhiệm một đại diện an
toàn được đào tạo trên công trường
7 Alasamri H, Chrisp M.T and Bowles G (2012), “A framework for enhancing
and improving the safety culture on Saudi construction sites”: Cải thiện văn hóa an toàn là cần thiết để giảm số người bị thương và tử vong trên các công
trường xây dựng quốc tế Một nghiên cứu so sánh của tám nước phát triển và Ả Rập cho thấy Saudi Arabia đang thực hiện nghèo nhất về tỷ lệ thương nặng và tử vong, và một nền văn hóa an toàn trong thực tế vẫn còn là một thách thức.Ba yếu tố chính của một mô hình văn hoá an toàn được xác định từ các tài liệu: người (khí hậu an toàn), môi trường / tình hình (hệ thống quản lý an toàn) và hành vi (hành vi an toàn).Những đã được thành lập vào các mô hình văn hoá an toàn Ngoài ra còn có một yếu tố thứ tư liên quan đến tổ chức Tuy nhiên, thiếu một nghiên cứu mà xem xét như thế nào các thành phần này có thể được tích hợp vào một mô hình văn hóa an toàn toàn diện.Một khuôn khổ khái niệm được đề nghị thông qua và tích hợp các yếu tố này để áp dụng cho ngành công nghiệp xây dựng Saudi Khuôn khổ bao gồm ba yếu tố có nguồn gốc từ các khuôn khổ hiện có trong các tài liệu, và yếu tố thứ tư của bối cảnh tổ chức Khuôn khổ sẽ được phát triển và thử nghiệm sử dụng công trình xây dựng Saudi và
dự kiến rằng các kết quả của nghiên cứu này sẽ có lợi cho các nhà thầu để đo
hiệu suất văn hoá an toàn của chính Saudi
8 Emad Elbeltagi, Tarek Hegazy, “INCORPORATING SAFETY INTO
CONSTRUCTION SITE MANAGEMENT”: Ngành xây dựng liên quan đến nhiều hoạt động có thể được rủi ro, nguy hiểm, và không lành mạnh Số người
bị thương, tai nạn, bệnh tật và công việc liên quan báo cáo trên các công trường xây dựng vượt quá đó của ngành công nghiệp sản xuất, góp phần chi
Trang 12phí bổ sung và sự chậm trễ trong các dự án Để đảm bảo rằng một công trường xây dựng là an toàn cho các hoạt động, quy trình quản lý công trường thích
hợp phải được đưa ra, xem xét an toàn vào tài khoản.Bài viết này trình bày một nỗ lực để cung cấp một phương pháp tiếp cận định lượng sẽ giúp trong việc duy trì các công trường xây dựng an toàn và hiệu quả.Đầu tiên, vấn đề an toàn trên các công trường xây dựng được thảo luận và các yếu tố đóng góp vào các công trường không an toàn được vạch ra.Ba khía cạnh sau đó được xem xét trong kế hoạch công trường để cải thiện an toàn: (1) Xác định các cơ
sở tạm thời cần thiết cần thiết vì lý do an toàn trên công trường xây dựng; (2) Xác định vùng an toàn thích hợp xung quanh không gian xây dựng; và (3) Xem xét an toàn trong quá trình xác định vị trị tối ưu của các cơ sở trong công trường Những nhận xét này sẽ dẫn đến một công trường an toàn và phù hợp tăng năng suất Một nghiên cứu trường hợp được trình bày để chứng minh những lợi ích của ba biện pháp an toàn được đề xuất và mở rộng trong tương lai được vạch ra
1.1.2 Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước:
1 Trần Hoàng Tuấn (2008), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực
hiện an toàn lao động của công nhân xây dựng và đề xuất các giải pháp cải thiện tình trạng an toàn trên công trường” : Nghiên cứu này đã chỉ dẫn ra
được thời gian mất mát do tai nạn của người bị tai nạn và những người liên quan khác đã được ghi nhận tại bốn công trình xây dựng trong khoảng thời gian từ 15/02/2008 đến 15/05/2008 Trung bình nếu tính trên 14.617.908 phút lao động thì có 28.320 phút mất mát do tai nạn xảy ra, trung bình chiếm 0.193%, cho thấy nếu lao động trong 1000 giờ thì phải hao phí 1,93 giờ không
có năng suất lao động vì vấn đề tai nạn lao động Kết quả nghiên cứu này cung cấp thông tin giúp những người làm công tác quản lý lượng hóa được thiệt hại
do tai nạn, từ đó có kế hoạch phân bổ chi phí đầu tư cho vấn đề an toàn lao động trên công trường Bên cạnh, nghiên cứu cũng đã chỉ ra thời thời điểm
Trang 13xảy ra tai nạn trong ngày thường là vào đầu hay cuối buổi làm việc và thời gian xảy ra tai nạn trong tuần thường rơi vào những ngày cuối tuần Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Hinze (1997), với những thông tin thu được này thì các nhà quản lý cần có kế hoạch giám sát chặt chẽ và nhắc nhở công nhân thực hiện an toàn tốt hơn vào những thời điểm nhạy cảm dễ xảy ra tai
nạn như đề cập bên trên
2 Nguyễn Trọng Hải (2010), “Ước tính chi phí của nhà thầu do tai nạn lao động
trong thi công xây dựng tại TP.HCM”: Xây dựng là ngành công nghiệp giữ
vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân dưới dạng công trình xây dựng Tuy nhiên, công việc xây dựng là công việc hết sức nguy hiểm và xây dựng là ngành công nghiệp có nguy cơ xảy ra tai nạn cao Điều này thể hiện rõ thông qua các số liệu thống kê về tai nạn lao động trong các ngành công nghiệp Số
vụ tai nạn lao động liên quan đến lĩnh vực xây dựng trung bình chiếm 40% tổng số vụ tai nạn lao động Kết quả này cho thấy thiệt hại cho TNLĐ trong ngành xây dựng là rất lớn Thiệt hại do TNLĐ tùy thuộc quy mô của công trình, mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn Thiệt hại do TNLĐ càng lớn khi tai nạn càng nghiêm trọng Chi phí trực tiếp trung bình của một vụ tai nạn phân theo loại công trình là 62,074 triệu đồng đối với công trình sửa chữa, cải tạo; 64,209 triệu đồng đối với công trình xây dựng mới nhà dân và 81,872 triệu đồng đối với công trình xây mới khác Và việc kiểm định giả thuyết thống kê cho thấy có sự khác biệt về chi phí do TNLĐ giữa công trình xây mới nhà dân
và xây mới các công trình khác Chi phí trực tiếp trung bình cho một vụ tai nạn phân theo đơn vị quản lý người lao động là 84,463 triệu đồng đối với DNNN; 79,647 triệu đồng đối với công ty cổ phần; 75,171 triệu đồng đối với công ty TNHH và 63,632 triệu đồng đối với các đơn vị khác (chủ yếu là các nhà thầu tự do) Kết quả kiểm định giả thuyết thống kê cho thấy không có sự khác biệt về chi phí của một vụ tai nạn giữa DNNN và các đơn vị khác (chủ yếu là cái thầu tư nhân) Chi phí trung bình của một vụ tai nạn phân theo hợp đồng lao động là 69,958 triệu đồng đối với trường hợp lao động không có
Trang 14HĐLĐ; 87,922 triệu đồng đối với trường hợp có HĐLĐ đến 1 năm; 87,269 triệu đồng đối với trường hợp TNLĐ có HĐLĐ trên 1 năm.Kiểm định giả thuyết thống kê cho thấy không có sự khác biệt về số tiền bồi thường giữa công nhân có HĐLĐ đến 1 năm và trên 1 năm.Có sự khác biệt giữa công nhân không có HĐLĐ và công nhân có HĐLĐ.Điều đáng lưu ý trong nghiên cứu này là gần 80% người lao động bị TNLĐ không có HĐLĐ hoặc không thống
kê được TNLĐ có HĐLĐ hay không.Kết quả này cho thấy hiện nay các công nhân làm việc trong lĩnh vực xây dựng rất ít được các nhà quản lý hoặc nhà thầu ký hợp đồng lao động.Xét về ảnh hưởng của văn bản pháp quy đến việc bồi thường cho công nhân bị tai nạn, kết quả cho thấy không có sự khác biệt trước và sau khi nhà nước ban hành văn bản pháp quy.Điều này cho thấy quá trình ban hành văn bản pháp quy chưa được tiến hành đồng bộ, Luật chờ Nghị định hướng dẫn, Nghị định chờ Thông tư hướng dẫn
3 Bùi Thanh Tùng (2010), “Những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự thực hiện của chương trình an toàn lao động trong các dự án xây dựng ở Việt Nam”:
Công nghiệp xây dựng đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ hệ thống kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.Tuy nhiên xây dựng là công việc hết sức nguy hiểm và xây dựng là ngành công nghiệp có nguy cơ xảy ra tai nạn cao.Với các đặc điểm và điều kiện lao động tương đối khó khăn và không ổn định Do đó, việc thực hiện tốt chương trình An Toàn Lao Động góp phần giảm thiểu tai nạn là hết sức cần thiết trên công trường xây dựng ở Việt Nam.Dựa trên nghiên cứu của Thanet AKsorn, B.H.W Hadikusumo tác giả đã tập hợp 16 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thực hiện thành công chương trình an toàn lao động Các yếu tố sau đó được thông qua 25 chuyên gia để kiểm định giá trị nội dung bằng công thức Lawshe.Kết quả 16 yếu tố được chấp nhận.Nghiên cứu được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát với 83 người trả lời từ các dự án xây dựng trung bình và dự án lớn.Cuộc khảo sát nhằm đánh giá và ưu tiên mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đến sự thành công của chương trình an toàn như nhận thức của người trả lời Kết quả cho
Trang 15thấy các yếu tố có ảnh hưởng nhất là đánh giá hiệu quả chương trình an toàn định kỳ Kiểm tra t-test một đuôi với mức ý nghĩa 5% và giả thuyết H0 :µ ≥ 4
để đánh giá có bao nhiêu yếu tố Có mức ảnh hưởng tới chương trình an toàn lao động là đáng kể Kết quả có 9 yếu tố ảnh hưởng mạnh Hơn nữa sử dụng phân tích nhân tố, 8 yếu tố có thể được nhóm lại thành bốn yếu tố: Giám sát và kiểm tra tính an toàn trên công trường thi công Thực hiện và đánh giá chương trình an toàn định kỳ Đủ nguồn lực kết hợp giáo dục đào tạo, sự phối hợp tốt các bên tham gia trên công trường Để xác nhận các kết quả, ba trường hợp nghiên cứu được tiếp tục tiến hành để kiểm tra tác động của những yếu tố
thành công về hiệu suất an toàn trên công trường xây dựng
4 Trần Tiến Dũng (2011), “Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn trên những công trường xây dựng tai việt nam”: Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét
mối quan hệ giữa chính các yếu tố an toàn và hiệu suất an toàn, để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn trên các công trường xây dựng tại Việt Nam và đề xuất cho các công ty xây dựng Việt Nam để cải thiện hiệu suất an toàn Phạm vi nghiên cứu được giới hạn cho các dự án cơ sở hạ tầng tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.Trong mô hình khái niệm của nghiên cứu này, các chỉ số về hiệu suất an toàn của dự án được xác định bởi Teo, Evelyn Lin Ai et al., (2005) như mức độ an toàn trên các trang web xây dựng.Các yếu tố an toàn quan trọng chủ yếu dựa trên các chỉ số phát triển bởi SawachaE.et al., (1999).Những yếu tố này là yếu tố lịch sử, yếu tố kinh tế, yếu
tố thủ tục, yếu tố kỹ thuật và yếu tố tổ chức Mô hình này được coi là mối quan hệ trực tiếp giữa các yếu tố an toàn quan trọng và hiệu suất an toàn của
dự án Sau khi tinh chỉnh các biện pháp thông qua chứng nhận phân tích nhân
tố (CFA), quy mô sử dụng để đo các cấu trúc lý thuyết trong nghiên cứu này là chấp nhận được về độ tin cậy và giá trị Các mối quan hệ trong mô hình khái niệm được phân tích bằng phân tích hồi quy Nhiều với việc áp phần mềm SPSS.Kết quả dựa trên số liệu điều tra trên 90 dự án liên quan đến các dự án
cơ sở hạ tầng tại Việt Nam đề cập đến câu hỏi của
Trang 16EdwinOmoOnoSawacha.Bốn yếu tố quan trọng liên quan đến kinh tế, thủ tục,
kỹ thuật và tổ chức có mức độ quan trọng của 5%.Mô hình này chỉ giải thích 45,20% của tổng phương sai trong hoạt động an toàn của dự án.Nó cho thấy một số yếu tố khác cần phải được xem xét Những hạn chế trong nghiên cứu
này sẽ định hướng cho các nghiên cứu sâu hơn
5 Nguyễn Đăng Phi Vũ (2011), “Đánh giá những yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến
an toàn của cần trục tháp trên công trường”: Hiện nay với sự phát triển của
ngành xây dựng, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng nhà cao tầng tại các khu
đô thị lớn.Việc thi công các công trình cao tầng, các dự án phức tạp luôn đòi hỏi nguồn nhân lực, trang thiết bị máy móc rất lớn.Với những tính năng hữu ích trong việc nâng chuyển các cấu kiện, vật tư từ trên công trường thì cần trục tháp là loại thiết bị đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động trên công trường, quyết định tiến độ, chất lượng công trình.Mặc dù vậy, đi kèm với loại thiết bị này là những rủi ro tai nạn, sự cố trong quá trình thi công.Do đó việc quản lý an toàn loại thiết bị này là điều cần thiết nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tai nạn vừa đảm bảo tình mạng người lao động trên công trường.Qua tài liệu tham khảo, những nghiên cứu liên quan và ý kiến của các chuyên gia, tác giả đã nhận dạng được 18 yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến an toàn cần trục tháp trên công trường Những yếu tố rủi ro này được chia thành 4 nhóm yếu tố bao gồm: (i) điều kiện công trường, (ii) quán lý an toàn, (iii) yếu tố con người, (iv) yếu tố pháp lý.Một mô hình cấu trúc thứ bậc 18 yếu tố rủ ro ảnh hưởng đến an toàn của cần trục tháp trên công trường được xây dựng dựa trên phương pháp định lượng AHP (Analytic Hierarchy Prccess).Bảng câu hỏi so sánh cặp giữa
18 yếu tố rủi ro được thiết kế và giữa đến nhóm chuyên gia gồm 7 người am hiểu về cần trục tháp, và bằng phương pháp định lượng AHP tác giả đã xác định trọng số ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro.Kết quả phân tích cho thấy
những yếu tố nào có trọng số cao là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất
Trang 176 Trần Anh Tuấn (2014), “Ứng dụng Balanced Scorecard để quản lý an toàn lao động trong các dự án xây dựng dân dụng ở Tp.Hồ Chí Minh”: Ngành
công nghiệp xây dựng là một trong ngành công nghiệp nhiều nguy hiểm với bản chất đặc thù riêng, trong vài năm gần đây những chương trình quản lý an toàn đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt của các bên tham gia dự án.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất mô hình quản lý an toàn theo phương pháp thể điểm cân bằng với 4 khía cạnh: Quản lý, quá trình thực hiện, khách hàng và học hỏi.Qua tham khảo các nghiên cứu trước và ý kiến của các chuyên gia, nghiên cứu đã đưa ra 27 tiêu chí theo 4 khía cạnh.Nghiên cứu đã thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát với 129 bảng trả lời hợp lệ từ những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng.Quá trình phân tích cho thấy không có sự khác biệt trong đánh giá các tiêu chí của các nhóm chủ đầu tư/quản lý dự án, tư vấn giám sát và nhà thầu.Ngoài ra, kết quả còn cho thấy không có sự khác biệt trong cách xếp hạng các tiêu chí giữa các nhóm Phương pháp phân tích nhân tố chính PCA được sử dụng nhằm nhóm những tiêu chí có mức độ ảnh hưởng mạnh đến kết quả thực hiện an toàn.Kết quả phân tích được 8 nhân tố chính.Trên cơ sở quá trình phân tích, nghiên cứu
kiến nghị mộ số giải pháp và hướng nghiên cứu tiếp theo
7 Bùi Kiến Tín (2014), “Phân tích ảnh hưởng các nguyên nhân tai nạn lao động bằng mô hình SEM”: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng Điều kiện và thiết bị làm việc
không phải là vấn đề quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước và công nhân.Họ cho rằng vấn đề này là việc của quản lý an toàn trên công trường.Một điều thú
vị khác đó là hệ thống văn bản pháp luật lại có ảnh hưởng âm lên sự tổ chức
và quản lý của ban quản lý an toàn công trường.Theo cách nhìn nhận từ các nhà quản lý an toàn thì văn bản pháp luật về an toàn chưa được chuẩn hóa và
có nhiều điều khoản, quy định còn chồng chéo gây cản trở trong việc tổ chức
và quản lý ATLĐ.Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý an toàn rằng họ có thể tạo ảnh hưởng lên cả nhận thức và kỹ năng làm việc của công nhân bằng các công cụ quản lý hay không? Mô hình phân tích đã chỉ ra rằng, nhà quản lý có
Trang 18thể tác động và dùng các công cụ quản lý để làm thay đổi nhận thức (hệ số ảnh hưởng 0.48) về an toàn của công nhân xây dựng nhưng khó làm thay đổi kỹ năng làm việc của người công nhân (hệ số ảnh hưởng 0.15).Để thay đổi kỹ năng làm việc của người công nhân các nhà quản lý an toàn cần tập trung tác động trực tiếp lên nhận thức công nhân để qua đó gián tiếp làm thay đổi kỹ năng làm việc của công nhân (hệ số ảnh hưởng của nhận thức công nhân làm thay đổi kỹ năng công nhân từ 0.39 lên 0.63).Nhiều nghiên cứu cho rằng, công nhân chưa được đào tạo và không sử dụng dụng cụ bảo hộ cá nhân là nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp của các vụ tai nạn và khẳng định rằng các nguyên nhân này không phải là nguyên nhân gốc rễ của TNLĐ.Để ngăn chặn TNLĐ không xảy ra thì nguyên nhân gốc rễ phải được tìm thấy và loại bỏ hoàn toàn.Trong mô hình phân tích cũng đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ đó chính là nhận thức của người công nhân đối với vấn đề lao động.Nhận thức thay đổi hành động, thái độ, nhận ra sự cần thiết của đào tạo kỹ năng an toàn.Mô hình thể hiện sự ảnh hưởng nhóm nguyên nhân TNLĐ được thiết lập cho thấy các mối quan hệ tương quan, quan hệ ảnh hưởng của các nhóm nguyên nhân trong một mô hình, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện các sự ảnh hưởng trực tiếp này để gián tiếp làm giảm TNLĐ.Cụ thể 15
giải pháp được đề xuất và xếp hạng
1.1.3 Tổng hợp các nghiên cứu về nguyên nhân TNLĐ trong ngành xây dựng: Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu về nguyên nhân TNLĐ trong ngành xây dựng
[Đã trích dẫn từ luận văn của Bùi Kiến Tín, 2014]
- Hành vi không an toàn của công nhân
Thổ Nhĩ Arslan & Tìm hiểu ý kiến công -Công nhân có thái độ an
Trang 19Kỳ Kivrak
(2008)
nhân xây dựng về các yếu gây tai nạn và kiến thức an toàn của họ
Nhận biết các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quản lý an toàn và phát triển phương thức
đo lường hiệu suất quản lý an toàn trên các công trường xây dựng
- Nhận thức về an toàn của quản lý an toàn
Tam, Zeng
& Deng (2004)
Kiểm tra tình hình quản
lý an toàn, khám phá các hoạt động dễ gây tai nạn và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
an toàn trên công trường
-Nhận thức về an toàn của lãnh đạo công ty kém -Thiếu đào tạo an toàn cho công nhân -Nhận thức về
an toàn của quản lý an toàn kém
-Hành động thiếu an toàn
Li & Xiang (2011)
Thiết lập mối quan hệ nguyên nhân dẫn đến công trường kém đồng thời phân tích các khía cạnh của các nguyên nhân từ vị trí và vai trò khác nhau trong việc quản lý an toàn
-Điều kiện công trường kém
Trang 20Singh (2008)
- Công nhân không tuân thủ quy trình công việc
- Điều hành thiết bị mà không có thiết bị an toàn
- Quản lý an toàn công trường kém
- Làm việc trên cao
- Công việc nặng nhọc
- Kiến thức và trình độ công nhân thấp
- Thái độ an toàn của công nhân kém - Không sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân
Anh Haslam & et
al (2005)
Các yếu tố góp phần trong các tai nạn của ngành xây dựng
-Phát sinh lỗi từ nhóm công nhân
- Công trường kém an toàn
- Thiếu thiết bị PPE
Trang 21et al (2010) toàn tại Jordanian và
khuyến nghị cho nhà thầu và chính phủ các phương án cải thiện hiệu suất an toàn
- Thiếu các cuộc họp an toàn thường xuyên
- Thiếu kiểm tra thường xuyên
- Thái độ sử dụng PPE của công nhân kém
- Không có biện pháp bảo
vệ an toàn - Tối ưu hóa lợi nhuận
- Không tuân thủ quy trình
an toàn
Đài Loan Cheng & et
al (2012)
Tìm hiểu nguyên nhân
và thiết lập mối quan
hệ nhân quả tiềm ẩn liên quan đến tai nạn nghiêm trọng
- Không cấp thiết bị PPE
- Người công nhân không
sử dụng PPE
Chen, Lu &
Huang (2011
Phát triển mô hình đánh giá nhận thức an toàn
để đo lường nhận thức
về an toàn của công nhân xây dựng Đài Loan
- Thái độ về an toàn của công nhân
Pakistan Aif & Reeqi
(2008)
Phát triển thang đo lường về hiệu suất an toàn trong ngành xây dựng theo điều tra thực
tế tại công trường
- Thái độ an toàn công nhân kém
- Công nhân không sử dụng PPE
- Quản lý an toàn thiếu kiểm tra giám sát
Choudhry & Đánh giá vấn đề thực - Thiếu kiểm tra giám sát
Trang 22et al (2012) hành an toàn trong
ngành công nghiệp xây dựng tại Pakistan nhằm mục đích cải thiện an toàn trên các công trường xây dựng
thường xuyên
- Thiếu cung cấp PPE
- Mặt bằng thi công công trường kém
Palestine Enshassi
(2008)
Xác định, đánh giá và xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn của các nhà thầu phụ
- Thiết bị làm việc không
an toàn
- Công việc phức tạp và khó khăn
- Ngân sách dành cho an toàn thấp
- Công nhân thiếu đào tạo
- Chủ đầu tư ít quan tâm đến vấn đề an toàn Hoa Kỳ Hinze &
Wiegand (1992)
Hỗ trợ nhà thiết kế có xem xét đến an toàn lao động và đề nghị được cung cấp về phương pháp an toàn có thể giải quyết bằng thiết kế
- Thiếu quan tâm về an toàn trong thiết kế
Suraji, Duff
& Peckitt (2001)
Phát triển mô hình nhân quả tai nạn trong ngành công nghiệp xây dựng, làm nổi bật sự tương tác cơ bản và phức tạp của các yếu tố gây tai nạn trong mối quan hệ nhân quả
- Kế hoạch thi công không phù hợp
- Thiếu kiểm soát quá trình thi công
- Trình tự thi công không đúng
- Điều kiện công trường kém
Trang 23- Hành vi không an toàn Toole
(2002)
Giảm sự không chắc chắn của thiết kế và chuyên gia an toàn trên công trường bằng lý thuyết phân tích nguyên nhân gốc rễ tai nạn
- Thiếu đào tạo an toàn
- Thiếu kiểm tra, giám sát
- Thiếu thiết bị an toàn tối thiểu
- Thái độ an toàn kém
- Hành động không thể tiên đoán, bất ngờ
Hinze &
Gambatese (2003)
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất an toàn của nhà thầu
- Tối ưu lợi nhuận của nhà thầu
- Công nhân thiếu đào tạo
về an toàn
Gambatese, Behm &
Hinze (2005)
Điều tra tính thực tế của việc giải quyết vấn
đề an toàn cho công nhân xây dựng khi thiết
kế một dự án và xác minh tính khả thi khi đưa thiết kế vào an toàn
- Thiếu quan tâm về an toàn trong thiết kế
Mitropoulos, Abdelhamid
& Howell
Phát triển mô hình quan
hệ tai nạn nhân quả hệ thống của tai nạn, nó
- Thiếu quan tâm về an toàn trong thiết kế
- Công việc không thể tiên
Trang 24(2005) tập trung vào quá trình
sản xuất tạo ra tình huống nguy hiểm và hành vi không an toàn của công nhân
Tập trung vào các tác động của chủ đầu tư đối với hoạt động an toàn của dự án
- Nhận thức về an toàn của chủ đầu tư kém
Hinze &
Teizer (2011)
Yếu tố góp phần và nguyên nhân tai nạn của thiết bị dẫn đến tai nạn chết người trong ngành xây dựng
- Sử dụng thiết bị không đúng quy trình
Việt Nam Đỗ Thị
Xuân Lan &
Lưu Trường Văn (2002)
Nguyên nhân chính gây nên tai nạn tại Việt Nam
- Công nhân thiếu nhận thức về tầm quan trọng của ATLĐ
- Công nhân chưa được huấn luyện đầy đủ và thiếu trang bị bảo hộ
- Thang và giàn giáo không phù hợp, thiết bị hư cũ
- Công nhân thao tác thiếu
an toàn
Trần Hoàng Tuấn (2008)
Phân tích nguyên nhân tai nạn và đưa ra các biện pháp cải thiện ATLĐ về đặc điểm nhân thân của công
- Đặc điểm của công nhân
- Phương pháp người quản
lý
Trang 25nhân cũng như phương pháp quản lý
Lưu & et al
(2009)
Nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới tai nạn trong ngành xây dựng tại Việt Nam
- 23 nguyên nhân được xếp hạng
1.2 Xác định vấn đề còn tồn tại của nghiên cứu
Việc quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng là một phần công việc trong quản lý thi công xây dựng.Ngoài ra TGHT dự án cũng rất quan trọng đối với nhà thầu thi công, nó ảnh hưởng đến uy tín và năng lực của nhà thầu.Nếu không quản lý tốt cả hai công việc này thì tai nạn sẽ rất dễ xảy ra, đồng thời tiến độ cũng bị ảnh hưởng dù ít hay nhiều.Khi tai nạn lao động xảy ra nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người công nhân, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, năng suất lao động của nhà thầu và làm phát sinh chi phí.Hiện nay các nhà thầu chính, lẫn nhà thầu phụ điều chưa thật sự hiểu rõ mức độ ảnh hưởng khi thực hiện các công tác an toàn như thế nào đến TGHT dự án
VD1: Thực hiện công việc có bảo hộ lao động thì tránh được TNLĐ, nhưng vấn đề ở đây thực hiện công việc có bảo hộ lao động nó sẽ ảnh hưởng nhiều hay ít đến công việc đang thực hiện?
VD2: Trước khi thực hiện công việc cần phải thông qua các thủ tục giấy tờ pháp lý về ATLĐ tại công trường, nhưng việc thực hiện thủ tục giấy tờ trước khi thi công nó sẽ làm mất thời gian, như thế sẽ kéo dài TGHT dự án.Nhưng nếu bỏ qua các thủ tục đó thì TNLĐ sẽ xảy ra, vấn đề ở đây ta nên đánh đổi ra sao? Khi chưa hiểu rõ được sự ảnh hưởng của các yếu tố gây ra TNLĐ đến TGHT dự án
Chính vì thế, vấn đề cần nghiên cứu của đề tài là: Sự ảnh hưởng của “các yếu
tố gây ra TNLĐ” đến TGHT dự án trong giai đoạn thi công.Mục đích của nghiên
Trang 26cứu để chỉ ra rằng khi loại bỏ “các yếu tố gây ra TNLĐ” thì TGHT dự án có được cải thiện hay không và ít hay nhiều, như thế có cần phải đánh đổi giữa TNLĐ và TGHT dự án hay không?
Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ phân tích sự ảnh hưởng “của các yếu tố gây ra TNLĐ” đến TGHT dự án như thế nào (ít hay nhiều).Chứ không đi sâu vào phân tích TNLĐ do các yếu tố gây ra ảnh hưởng như thế nào đến TGHT dự án
Trang 27
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC
Trang 282.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Định nghĩa và khái niệm về quản lý dự án
Quản lý dự án là áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật cho các hoạt động của dự án để đạt được các yêu cầu của dự án.Quản lý dự án được thực hiện thông qua các ứng dụng và tích hợp các quy trình quản lý dự án bắt đầu, lập kế
hoạch, thực hiện, giám sát và kiểm soát, và đóng cửa [Lewis & James P., 1941]
2.1.2 Định nghĩa và khái niệm về quản lý thời gian dự án
Quản lý thời gian có nghĩa nỗ lực cá nhân để quản lý thời gian của mình.Đối với các dự án, nó đề cập đến việc phát triển một kế hoạch có thể được đáp ứng, sau
đó kiểm soát công việc để đảm bảo rằng điều này sẽ xảy ra.Nói đơn giản, bởi vì tất
cả mọi người đề cập đến điều này như lịch trình, nó sẽ thực sự được gọi là quản lý
lịch trình [Lewis & James P., 1941]
2.1.3 Định nghĩa và khái niệm về quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực thường bị bỏ qua trong các dự án.Nó liên quan đến việc xác định người cần thiết để thực hiện công việc, xác định vai trò, trách nhiệm của mình, và báo cáo các mối quan hệ, có được những người này, và sau đó quản lý
chúng như thực hiện dự án [Lewis & James P., 1941]
2.1.4 Định nghĩa và khái niệm về dự án
Dự án là một chuỗi công việc “một lần (one-time)” mà giới hạn thời điểm bắt đầu và kết thúc, quy mô và các mục tiêu được định nghĩa rõ ràng, và một ngân sách
được dự trù [Bài giảng giới thiệu về quản lý dự án: Chương trình cao học Quản trị kinh doanh Đại học mở Tp.HCM, Lưu Trường Văn]
Dự án: Được định nghĩa là công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một nhóm công việc có thời điểm bắt đầu và kết thúc.Mỗi khi công việc được hoàn
thành thì nhóm dự án sẽ giải tán [Eric Verzuh, 2003]
Trang 292.1.5 Định nghĩa và khái niệm về tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (kể cả thời gian giải quyết các nhu cầu cần thiết trong thời gian làm việc theo Bộ Luật Lao động quy định như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho
con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc) [Thông Tư Liên Tịch số: 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT- TLĐLĐVN]
Những trường hợp sau được coi là tai nạn lao động: Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc từ nơi làm việc về nơi ở vào thời gian và tại địa điểm hợp lý (trên tuyến đường đi và về thường xuyên hàng ngày) hoặc tai nạn do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hỏa hoạn và các trường hợp rủi ro khác gắn liền với việc thực hiện các công việc, nhiệm vụ lao
động [Thông Tư Liên Tịch số: 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT- TLĐLĐVN]
Tai nạn có thể hiểu như một sự kiện ngắn đột ngột, và bất ngờ xảy ra hoặc
không mong đợi trong một kết quả không mong muốn [Hollnagel, 2004]
2.1.6 Định nghĩa và khái niệm về công trình xây dựng
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển
nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác [Luật Xây Dựng số:50/2014/QH13]
Trang 302.1.7 Định nghĩa và khái niệm về công trình xây dựng an toàn
Giải thích rằng tai nạn không phát sinh từ một nguyên nhân duy nhất, mà là sự kết hợp với các yếu tố.Tai nạn là do kết quả của hành vi hoặc thực hành không an toàn (yếu tố con người là kết quả của thái độ kém, thiếu kiến thức, hoặc kỹ năng để
cho phép làm việc một cách an toàn) [Muchemedzi & Charamba, 2006]
Có thể nói rằng, chỉ cần chắc chắn không có chấn thương nào xảy ra với mọi người (có chứa các yếu tố của một hệ thống “chỉ cần chắc chắn”, và các yếu tố chấn
thương là không quan trọng) [Hudson, 2001]
Một định nghĩa an toàn nói rằng, dựa vào khả năng chấp nhận rủi ro và nếu
một nguy cơ được chấp nhận được thì nó được xem như an toàn [Wood, 1996]
Nói rằng tỷ lệ tai nạn thấp, thậm chí trong khoảng thời gian dài có thể đảm bảo những rủi ro đang được kiểm soát là có hiệu quả.Điều này đặc biệt đúng trong các
tổ chức, nó là một chỉ báo đáng tin cậy [Thomas, 2001]
Trang 312.2 Cơ sở lý luận
Nghiên cứu, dựa vào các nguyên nhân TNLĐ xảy ra theo Mô hình domino lỗi con người (Heinrich, 1931); Mô hình nguyên nhân trực tiếp và xâu xa (Heinrich, 1931); Mô hình pho mát Thụy Sĩ lỗi con người (Reason, 1970-77); Mô hình yếu tố lỗi con người của Petersen; Mô hình lý thuyết dịch tễ học của (Gordon 1949); Mô hình hệ thống của Firenzie; Mô hình ARCTM; Mô hình tai nạn nhân quả Từ đó, làm tiên đề nguyên nhân TNLĐ xảy ra cho các giả thuyết nghiên cứu
2.2.1 Mô hình nguyên nhân TNLĐ theo thuyết Domino
Nghiên cứu của Heinrich (1931) [đã trích dẫn trong nguồn ILO (Encyclopaedia of occupational Health & Safety)] chỉ ra rằng, một “tai nạn” là một trong những yếu tố của một chuỗi sự kiện có thể dẫn đến một chấn thương “hoạt động theo cách lật đổ domino xếp thẳng trong một hàng”.Đây là căn nguyên của tai nạn xảy ra theo lý thuyết của Heinrich [đã trích dẫn trong nguồn Accident Causation and Analysis: Human Factors Theory and Methods ].(ví dụ: một người bị
té từ trên cao, có thể có thương tích hoặc không có thương tích, nhưng đó cũng nói lên rằng đã có một tai nạn xảy ra)
Nghiên cứu của Heinrich (1931) chỉ ra rằng, có năm yếu tố trong chuỗi của
các sự kiện dẫn đến một tai nạn [đã trích dẫn trong nguồn Major Theories Of Construction Accident Causation Models: A literature Review] (1) hành vi thừa kế
và môi trường xã hội, (2) lỗi công nhân, (3) hành động không an toàn cùng với điều kiện nguy hiểm, (4) tai nạn, (5) thiệt hại hoặc thương tích
Trang 32Những yếu tố này có thể được tóm tắt theo trình tự như sau và được thể hiện trong hình 2.1:
Hình 2.1: Mô hình domino lỗi con người (Heinrich, 1931) [11]
Nghiên cứu của Heinrich (1931) [đã trích dẫn trong Core Body of Knowledge for the Generalist OHS Professional, 2012] phát triển mô hình của mình dựa trên
dây chuyền, tai nạn có thể được ngăn chặn bằng cách loại bỏ một trong những yếu
tố và do đó làm gián đoạn ảnh hưởng té cao.Heinrich đề xuất rằng hành vi không an toàn và nguy hiểm cơ cấu thành yếu tố trung tâm trong chuỗi tai nạn và loại bỏ các nhân tố trung tâm này thực hiện các yếu tố trước không hiệu quả.Ông tập trung vào yếu tố con người, mà ông gọi là “người đàn ông thất bại”, là nguyên nhân của hầu hết các vụ tai nạn, đề xuất này cho niềm tin để phân tích tính toán một số bảo hiểm của 75.000 yêu cầu bảo hiểm.Nhận thấy rằng có 88% tai nạn có thể phòng ngừa với các hành vi không an toàn của người và 10% với điều kiện máy móc hoặc điều kiện không an toàn, với 2% cuối cùng không ngăn ngừa được, dẫn đến biểu đồ Heinrich của nguyên nhân trực tiếp và sâu xa.Mô hình được thể hiện trong hình 2.2:
Hành động không an toàn hoặc điều kiện (thực hiện không biện pháp)
Tai nạn
Chấn thương-Kết quả của một
số vụ tai nạn nhưng không phải tất cả
Sai lầm của con người
Trang 33
Điều khiển
Mà gây ra hoặc cho phép
Nguyên nhân trong đó
Hình 2.2: Mô hình nguyên nhân trực tiếp và xâu xa (Heinrich, 1931)[4]
Quản lý
Thất bại người đàn ông
Kiến thức-Thái độ-SứcKhoẻ-Khả
đảm bảo hoặc cảnh báo
2 Hoạt động hoặc làm việc ở
tốc độ không an toàn
3 Làm cho các thiết bị an toàn
không hoạt độn
4 Sử dụng thiết bị không an
toàn hoặc bị mất an toàn
5 Mất an toàn tải, đặt, pha
trộn, kết hợp, vv
6 Việc mất an toàn vị trí hoặc
tư thế
7 Làm việc trên thiết bị di
chuyển, nguy hiểm
8 Mất tập trung, trêu chọc,
lạm dụng, gây sửng sốt, vv
9 Thất bại trong việc sử dụng
trang phục hoặc các thiết bị
an toàn bảo vệ cá nhân
2 Không có bảo vệ, vắng mặt của nhân viên yêu cầu
3 Khiếm khuyết, thô, sắc nét, trơn, mục nát, nứt, vv
4 Mất an toàn thiết kế máy móc, công cụ, vv
5 Mất an toàn sắp xếp, kém vệ sinh, tắc nghẽn, lối thoát hiểm bị chặn, vv
6 Không đầy đủ thắp sáng, nguồn ánh sáng chói, vv
7 Thông gió không đầy đủ, nguồn khí inpure, vv
8 Mất an toàn mặc quần áo, không có kính bảo hộ, găng tay hoặc mặt nạ, đi giày cao gót, vv
Trang 342.2.2 Mô hình quản lý
Nghiên cứu của Heinrich được sửa đổi và cập nhật bởi Weaver (1971); Bird
(1974); Adams (1976) [đã trích dẫn trong S.S.Hosseinian & Z.J.Torghabeh, 2012]
chỉ ra rằng, trong những năm qua với sự nhấn mạnh nhiều hơn vào quản lý như là một nguyên nhân ban đầu của vụ tai nạn, kết quả cập nhật này được đặt tên là lý thuyết dựa trên quản lý hoặc các mô hình domino cập nhật.Các lý thuyết dựa trên quản lý định nghĩa: Tai nạn gây ra là do trách nhiệm quản lý, và các lý thuyết cố gắng để nhận ra rằng thất bại nằm trong hệ thống quản lý
2.2.3 Mô hình lỗi con người
Nghiên cứu của Reason (1990) [đã trích dẫn trong Accident Causation and Analysis: Human Factors Theory and Methods], chỉ ra rằng “Một thuật ngữ chung
là bao gồm tất cả những trường hợp trong đó một chuỗi kế hoạch các hoạt động tinh thần hoặc thể chất không đạt được kết quả như dự kiến, và khi những lỗi không phải
là có thể do chịu ảnh hưởng của một số cơ quan” (Xem hình 2.3)
Tai nạn
Những thất bại tìm ẩn và hoạt động
Hành vi không an toàn
Tiền thân của tâm lý do hành vi không an toàn
Các dòng để quản lý
Quyết định sai lầm của hội đồng và chính sách
Hình 2.3: Mô hình pho mát thụy sĩ lỗi con người (Reason, 1970-77) [11]
Nghiên cứu của Reason (1990) [đã trích dẫn trong Accident Causation and Analysis: Human Factors Theory and Methods] chỉ ra rằng, có ba yếu tố dẫn đến
xảy ra một tai nạn: Luật phổ quát, điều kiện, những nguyên nhân
Trang 35Heinrich đặt ra mô hình của ông về một dây chuyền duy nhất dẫn đến tai
nạn.Tiên đề ở đây là lỗi của con người gây ra tai nạn, những lỗi này được phận loại
rộng rãi như: Tình trạng quá tải, phản ứng không thích hợp, và các hoạt động không
phù hợp.Những yếu tố này được giải thích sau đây:
- Tình trạng quá tải: Nhiệm vụ công việc là vượt quá khả năng của người lao
động “Bao gồm các yếu tố thể chất và tâm lý, chịu ảnh hưởng của yếu tố môi
trường, các yếu tố nội bộ, và yếu tố tình huống”
- Phản ứng không phù hợp: “Biện pháp an toàn đến các mối nguy hiểm (lỗi của
người lao động), nơi làm việc không tương thích (quản lý, mội trường)”
- Hoạt động không phù hợp: “Thiếu đào tạo và sai lầm trong rủi ro”
Nhưng cấu trúc của lý thuyết này vẫn còn là một định dạng nguyên nhân trên
hiệu lực [được trích dẫn trong Cleveland State University] (Xem hình 2.4)
Hình 2.4: Yếu tố gây ra lỗi con người [5]
Ferrell xác định ba nguyên nhân chung của vụ tai nạn: Quá tải, không tương
thích, và hoạt động không đúng.Mỗi trong số này là thực sự loại lớn có chứa nhiều
nguyên nhân cụ thể hơn.Hoạt động không đúng có lẽ là đơn giản nhất của các khái
niệm, vì nó bao gồm hai nguồn đơn giản của vụ tai nạn.Đầu tiên, có thể là người
chịu trách nhiệm chỉ đơn giản là không biết gì hơn.Ngoài ra, người đó có thể đã biết
rằng một tai nạn có thể là kết quả của một hành động nhưng cố tình chọn nhận rủi
ro đó.Nguyên nhân không tương thích là hơi phức tạp hơn các hoạt động không
đúng.Nó bao gồm cả một phản ứng không chính xác đến tình trạng của một đặc
Tình trạng quá tải
Các hoạt động không phù hợp
Phản ứng không thích hợp
Các yếu tố lỗi con người
Trang 36điểm môi trường cá nhân và tinh tế, chẳng hạn như một trạm làm việc mà có kích
thước không chính xác [đã trích dẫn trong Security Supervision & Management, 3 rd
Edition, 2007].Mặt khác có thể giải thích rõ hơn các yếu tố [đã trích dẫn trong Theories Of Accident Causation, Chapter 3] qua đoạn văn và hình 2.5 sau đây:
- Tình trạng quá tải: Là sự mất cân bằng giữa năng lực của một người bất cứ
lúc nào và sự quá tải tồn tại trong một trạng thái nhất định.Năng lực của một người là kết quả của khả năng bản than qua các yếu tố tự nhiên, đào tạo, trạng thái của tâm, mệt mỏi, căng thẳng, và điều kiện thể chất.Tình trạng tối đa của một người bao gồm các nhiệm vụ mà người đó là ránh năng của trách nhiệm
và them các yếu tố như: yếu tố môi trường “tiếng ồn, phiền nhiễu, v.v ”, các yếu tố bên trong “vấn đề cá nhân, căng thẳng cảm xúc và lo lắng, v.v ”, các yếu tố tình huống “mức độ rủi ro, hướng dẫn không rõ ràng, v.v ”
- Phản ứng không phù hợp: Phản ứng trong thích hợp “phát hiện một nguy hiểm
nhưng không sửa chữa nó”, phản ứng không thích hợp “loại bỏ một bảo vệ để tăng nổ lực cho việc đó”, phản ứng tương thích “kích thước, lực lượng, tiếp cận, cảm nhận, v.v ”
- Các hoạt động không phù hợp: “Thực hiện nhiệm vụ mà không biết phải làm
như thế nào”, “đánh giá sai mức độ rủi ro sẽ xảy ra với công việc của mình”
Hình 2.5: Tóm tắt các thành phần khác nhau của các yếu con người [5]
Lý thuyết các yếu tố con người
Tình trạng quá tải
Yếu tố môi trường
(tiếng ồn, phiền nhiễu)
Yếu tố nội tại (Vấn đề
Phát hiện một mối nguy hiểm nhưng không sửa chữa nó
Loại bỏ biện pháp bảo vệ từ máy móc thiết bị
Bỏ qua an toàn
Các hoạt động không phù hợp
Thực hiện nhiệm vụ
mà không có sự đào tạo cần thiết
Đánh giá sai mức độ rủi ro liên quan đến một công việc nhất định
Trang 372.2.4 Mô hình tai nạn trên sự cố
Nghiên cứu của Petersen (1971) [đã trích dẫn trong Theories Of Accident
rộng của “Lý thuyết các yếu tố con người”.Được phát triển bởi (Dan Petersen, 1971), và đôi khi được gọi là thuyết Petersen tai nạn dựa trên sự cố.Petersen giới thiệu các yếu tố mới như bẫy làm việc, quyết định sai lầm, và hệ thống thất bại, trong khi giữ lại phần lớn các lý thuyết yếu tố con người.Đã phát triển một mô hình
dựa trên hệ thống quản lý chứ không phải là cá nhân (Petersen, 1971) [đã trích dẫn trong S.S.Hosseinian & Z.J.Torghabeh, 2012].Các yếu tố lỗi con người là một phần
của nguyên nhân dẫn đến tai nạn, hệ thống thất bại là yếu tố thứ hai để tăng hoặc giảm cho tai nạn (Xem hình 2.6)
Hình 2.6: Mô hình yếu tố lỗi con người của Petersen [5]
Kỳ vọng không tương thích
Quyết định sai lầm
Sai lầm trong các rủi ro
Mong muốn vô thức để phạm sai lầm
Quyết định hợp lý dựa trên tình hình
Lỗi con người
Trang 38Trong mô hình này, tình trạng quá tải, bẫy làm việc, hoặc một quyết định sai lầm là do lỗi của con người.Các quyết định sai lầm có thể có ý thức và dựa trên logic Một loạt các áp lực như thời hạn, và các yếu tố ngân sách có thể dẫn đến hành
vi không an toàn.Như vậy một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến quyết định là “Nó
sẽ không xảy ra với tôi” các hội chứng.Các thành phần trong yếu tố hệ thống thất bại là một đóng góp quan trọng của lý thuyết Petersen.Đầu tiên, nó cho thấy tiềm năng cho một mối quan hệ nhân quả giữa các quyết định quản lý hoặc hành vi quản
lý và an toàn.Thứ hai, nó thiết lập vai trò của quản lý trong tai nạn phòng chống
cũng như các khái niệm rộng hơn về an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc [đã trích dẫn trong Theories Of Accident Causation, Chapter 3].
Các thành phần trong hệ thống thất bại của Petersen (1971) là tìm năng cho các mối quan hệ nhân quả giữa các quyết định quản lý trên hành vi về an toàn gồm: Chính sách, trách nhiệm, đào tạo, kiểm tra, hoạt động khắc phục, tiêu chuẩn
2.2.5 Mô hình dịch tể
Phương pháp tiếp cận truyền thống tập trung vào kết quả tai nạn thương tích.Xu hướng hiện nay bao gồm một cái nhìn rộng hơn về vấn đề vệ sinh trong công trường.Vệ sinh công trường liên quan đến vấn đề môi trường có thể dẫn đến bệnh tật, sức khỏe kém.Xu hướng này đã lần lượt dẫn đến sự phát triển của một lý thuyết dịch tễ học.Dịch tễ học là nghiên cứu về các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố môi trường và bệnh tật.Lý thuyết dịch tễ học cho rằng các mô hình được sử dụng cho nghiên cứu và xác định các mối quan hệ cũng có thể được sử dụng để
nghiên cứu các mối quan hệ nhân quả [đã trích dẫn trong Theories Of Accident
Các yếu tố trong lý thuyết được nói rõ trong đoạn văn sau đây: Các yếu tố then chốt là những đặc tính được xếp đặt trước và các đặt tính mang tính tình huống.Các đặc tính đó kết hợp với nhau có thể gây ra hoặc ngăn chặn các điều kiện dẫn đến một tai nạn “Ví dụ, nếu một công nhân nhạy cảm bởi áp lực với đồng nghiệp của
Trang 39mình để tăng tiến độ, kết quả sẽ là một khả năng cao dẫn đến một tai nạn” [đã trích dẫn trong Theories Of Accident Causation, Chapter 3]
Hình 2.7: Mô hình lý thuyết dịch tễ học của (Gordon 1949) [5]
2.2.6 Mô hình hệ thống của Firenzie
Người /máy /môi trường.Thu thập thông tin.Đánh giá rủi ro.Ra quyết định Hiệu suất công việc.Căng thẳng có thể đám mây phán quyết trong quá trình thu thập thông tin, nguy cơ có trọng lượng, quy trình ra quyết định
2.2.7 Mô hình ARCTM (Accident Root Causes Tracing Model)
Nghiên cứu của Abdelhamid và Everett (2000) [đã trích dẫn trong luận văn của B.K.Tín, 2014] chi ra rằng, sự yếu kém trong công tác quản lý, đào tạo và nhận
thức của công nhân là ba nguyên nhân căn nguyên dẫn đến TNLĐ.Abdelhamid và Everett (2000) đưa ra mô hình truy tìm nguyên nhân gốc rễ của tai nạn ARCTM.Mô hình ARCTM thừa nhận sự góp phần của cả người quản lý và người lao động đến quá trình tai nạn, quan điểm này giúp các tai nạn trên các công trường xây dựng được giải thích tốt hơn và trong việc xác định các khu vực nguy hiểm
Đánh giá rủi ro bởi từng cá nhân
Áp lực ngang hàng
Ưu tiên của người giám sát
Thái độ
Có thể gây ra hoặc ngăn chặn điều kiện tai
nạn
Trang 40Khái niệm chính [đã trích dẫn trong luận văn của B.K.Tín, 2014] được đề
xuất trong ARCTM là một TNLĐ sẽ xảy ra do một hoặc nhiều điều kiện sau đây:
- Không thể xác định được điều kiện không an toàn đã tồn tại trước khi công việc diễn ra, hay được hình thành và phát triển trong quá trình công việc đang diễn ra
- Người công nhân quyết định tiếp tục làm việc sau khi đã xác định có tồn tại điều kiện không an toàn
- Người công nhân quyết định làm việc không an toàn mà không quan tâm tới môi trường làm việc (an toàn hoặc không an toàn)
2.2.8 Mô hình tai nạn nhân quả
Nghiên cứu của Mitropoulos, Abdelhamid and Howell (2005) [đã trích dẫn trong luận văn của B.K.Tín, 2014] chỉ ra rằng sự hiểu biết và giải quyết các nguyên
nhân dẫn đến tai nạn là cần thiết để phát triển các chiến lược phòng thủ tai nạn có hiệu quả.Tiếp theo là một mô hình tai nạn nhân quả có hệ thống được hình thành,
mô hình này tập trung vào các đặc trưng sản xuất tạo ra tình huống nguy hiểm (không thể tiên đoán) và hình thành hành vi nguy hiểm, đồng thời phân tích điều kiện để hình thành mối nguy hiểm.Mô hình đề xuất hai chiến lược trong việc phòng thủ tai nạn xảy ra đó là: (i) Kế hoạch rõ ràng, đáng tin cậy để giảm thiểu những công việc không thể tiên đoán, và (ii) Tăng cường quản lý an toàn giúp người công nhân tránh những sai lầm và giảm thiểu sai sót trong công việc.Mô hình này đã giải quyết rất tốt mối quan hệ nhân quả tạo ra tình huống nguy hiểm và đẩy công nhân vào khu vực nguy hiểm cũng như đưa ra các chiến lược phòng thủ.Tuy nhiên, mô hình đã bỏ qua các nguyên nhân quan trọng và các mối quan hệ nhân quả khác có thể dẫn đến tai nạn