1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tìm HIỂU CHUẨN mực KIỂM TOÁN 610 và 620 SO SÁNH GIỮA CHUẨN mực HIỆN HÀNH và dự THẢO

35 1,9K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 495,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN.Nhóm chỉ tập trung tìm hiểu các nghiên cứu có liên quan về vấn đề sử dụng tư liệu của kiểmtoán viên nội bộ và không trình bày các nghiên cứu có liên quan đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN



TIỂU LUẬN TÌM HIỂU CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN

610 VÀ 620.

SO SÁNH GIỮA CHUẨN MỰC HIỆN HÀNH

VÀ DỰ THẢO.

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Giang Tân

Sinh viên thực hiện:

Dương Nguyễn Ngọc Huy KI 04 Nguyễn Thị Thùy Nga KI 04 Nguyễn Cao Khôi Nguyên KI 04

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

I Sơ lược về kiểmtoán nội bộ:6

1 Định nghĩa: 6

2 Phạm vi và mục đích của chức năng kiểm toán nội bộ 6

3 Vai trò và trách nhiệm của kiểm toán nội bộ: 6

II Mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ 8

2 Ý nghĩa của việc phân tích mô hình: 18

a Ảnh hưởng tính khách quan đến chức năng kiểm toán nội bộ 18

b Ảnh hưởng hiệu suất làm việc tới mức độ mạnh của chức năng kiểm toán nội

bộ 19

c Ảnh hưởng mối quan hệ lẫn nhau giữa các yếu tố 19

d Ảnh hưởng chất lượng quản trị tới chức năng kiểm toán nội bộ 19

I So sánh chuẩn mực hiện hành và bản dự thảo VSA 610 21

II So sánh chuẩn mực hiện hành và bản dự thảo VSA 620 25

Trang 2

Trang 3

KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập vào kinh tế thế giới, sự

ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán đòi hỏi Việt Nam phải dần tiêu chuẩn hoá dịch

vụ kiểm toán theo thông lệ quốc tế để đảm bảo cho nền tài chính được an toàn và làm nó thêmbền vững trước sự thay đổi của tình hình thế giới Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các Báo cáotài chính (BCTC) Từ đó những người quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: nhà đầu

tư, các ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, Nhà nước… đưa ra các quyết địnhkinh tế như: đầu tư, cho vay, cấp tín dụng thương mại, bán hàng, đưa ra các chính sách thuế phùhợp… Những nhận xét đánh giá của những công ty kiểm toán chính là căn cứ cho các nhà đầu tưkhi họ cân nhắc có nên đầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực vàhợp lý của các số liệu kế toán của một công ty Để đáp ứng với những đòi hỏi khắc khe về chấtlượng kiểm toán độc lập, nhất thiết phải ban hành bộ chuẩn mực kiểm toán để làm thước đochung cho chất lượng của cuộc kiểm toán, đồng thời điều tiết hành vi của các thành viên theohướng đảm bảo uy tín nghề nghiệp nói chung và chất lượng của công việc nói riêng Các chuẩnmực kiểm toán Việt Nam bắt đầu ra đời từ 1999, cho tới 2005 thì đã có tất cả 37 chuẩn mực kiểmtoán được ban hành Nhưng cho tới hiện tại, trước tình hình thay đổi nhanh chóng của nền kinh

tế Việt Nam đã đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hơn nữa những chuẩn mực kiểm toán hiện tại đểđáp ứng nhu cầu cấp thiết, chính vì lý do đó các dự thảo về sửa đổi hệ thống chuẩn mực kiểmtoán đã được ban hành và đang được Bộ tài chính xem xét

Để đảm bảo chất lượng của một cuộc kiểm toán việc tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soátnội bộ đơn vị kiểm toán rất quan trọng Trong đó, sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ (nếu có)

là một phần của việc hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Bên cạnh đó, kiểm toánviên cũng không thể có hiểu biết chuyên môn về tất cả các lĩnh vực mà đơn vị được kiểm toánhoạt động, do đó chuẩn mực cho phép họ được sử dụng ý kiến của những chuyên gia có nănglực, kiến thức và kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó, ngoại trừ kế toán vàkiểm toán Chuẩn mực VSA 610: “Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ” và chuẩn mực VSA620: “Sử dụng tư liệu của chuyên gia” là 2 chuẩn mực làm thước đo khi kiểm toán viên sử dụngnhững tư liệu trên Việc sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ hoặc chuyên gia như thế nào đểđảm bảo kiểm toán viên có thể dựa trên đó để đưa ra ý kiến của mình được quy định rõ trong 2chuẩn mực này Sau đây là phần trình bày của nhóm về tìm hiểu 2 chuẩn mực kiểm toán 610,

620 và phần so sánh giữa 2 chuẩn mực này với 2 bản dự thảo của 2 chuẩn mực

Trang 3

Trang 5

A LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN.

Kiểm toán là một hoạt động có từ rất lâu đời kể từ thời kỳ các thông tin được phê chuẩn bằngcách đọc lên trong một buổi họp báo công khai Tuy nhiên trong giai đoạn đầu kiểm toán chủ yếu

là sự phát triển của kiểm toán tuân thủ do các kiểm toán viên nhà nước thực hiện Sau này với sự

ra đời của thị trường chứng khoán và công ty cổ phần cũng như do sự mở rộng quy mô của cácdoanh nghiệp, nên dần dần đã có sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông và chức năngđiều hành của nhà quản lý Từ đó kiểm toán độc lập ra đời giống như một nhu cầu thiết yếunhằm chống lại sự gian lận của các nhà quản lý lẫn người làm công

Đến đầu thế kỷ 20, nền kinh tế thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ cùng với sự xuất hiệncủa hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán, thì một thực tế xảy ra là vấn đề về gian lận tài chínhngày càng gia tăng.Từ đó xuất hiện sự cần thiết của kiểm toán để điều tra nhằm làm sáng tỏnhững mối quan hệ tài chính, với mục đích phát hiện tác giả của những cuộc phá sản gian lậncũng như để giúp các bên thứ ba đánh giá về độ tin cậy của báo cáo tài chính khi họ sử dụng Vào 8/10/1977, liên đoàn kế toán quốc tế IFAC (International Federation of Accountants) đãquyết định thành lập ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế IAPC (International Auditing PracticesCommittee), là một trong những ủy ban quan trọng nhất của IFAC, IAPC đã phát triển cáchướng dẫn kiểm toán quốc tế IAGs (International Auditing Guidelines), đó là một trong nhữngtiền đề để hình thành nên chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAGs đã khảo sát các công ty kiểm toánlớn trong lĩnh vực tài chính và xem xét nguồn gốc thông tin tài chính vào thời gian đó, hướngdẫn đầu tiên đã giải quyết mục đích và phạm vi của cuộc kiểm toán đã được phê chuẩn vào10/1979 Bảng sau đây cung cấp các hướng dẫn và dự thảo đã được ban hành:

Chuẩn

Ngày ban hành

Ngày hoàn thiện chuẩn mực

ISA 200 Mục tiêu và nguyên tắc chi phối cơ bản chi

phối kiểm toán báo cáo tài chính 10/1979 6/2008

ISA 220 Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán 9/1981 9/2008

ISA 240

Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đếncác sai sót trong cuộc kiểm toán báo cáo tàichính

Trang 6

PHẦN A LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN

kiểm toán

ISA 315 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọngyếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm

toán và môi trường của đơn vị

10/2003 12/2006ISA 320 Tính trọng yếu trong kiểm toán 10/1987 12/2007ISA 330 Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro 10/2003 12/2006ISA 402 Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vịcó sử dụng dịch vụ bên ngoài. 3/1994 9/2008ISA 450 Đánh giá các sai sót được xác định trong suốtcuộc kiểm toán. 12/2007

ISA 501 Bằng chứng kiểm toán – xem xét về các bằng

Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị

ISA 560 Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kếtoán. 10/1985

12/2007

ISA 580 Giải trình của nhà quản lý 10/1985

ISA 600 Kiểm toán nhóm các báo cáo tài chính (trướcđây: sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác). 7/1981 7/2007ISA 610 Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ 7/1982 12/2007ISA 620 Sử dụng tư liệu của chuyên gia 2/1985 9/2008ISA 700 Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 10/1983 6/2008ISA 701 Sửa đổi báo cáo của kiểm toán viên độc lập 12/2004

Trang 7

Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển và sự phát triển của thị trườngchứng khoán, IFAC đã hy vọng rằng IAGs sẽ sớm được công nhận bởi các tổ chức chứng khoánchính thức, IAPC đã cải cách khuôn mẫucủa chuẩn mực, theo quy định tạo ra trong tháng 11năm 1991 của IFAC Từ đó, "các hướng dẫn kiểm toán quốc tế" (IAGs) được đổi tên là "Chuẩnmực Kiểm toán Quốc tế (ISA).

Trong tháng 10 năm 1992, Ủy ban chứng khoán quốc tế (IOSCO- International Organization

of Securities Commissions) đã công bố một nghị quyết theo đó ISA sẽ được công nhận trên thịtrường vốn như là một giải pháp chấp nhận đối với các chuẩn mực kiểm toán quốc gia Vào7/1994, IAPC đã đưa ra cấu trúc của chuẩn mực ISA, bao gồm các nguyên tắc cơ bản và các thủtục cần thiết, được chỉ rõ bởi các đoạn chữ in đậm, giải thích và các hướng dẫn, sẽ được chỉ rõbởi các đoạn chữ màu xám Hơn nữa, ISA sẽ được đánh số cho mỗi chủ đề và theo trình tự từ200-800

Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán tuy đã có một lịch sử phát triển lâu dài, thế nhưng đếntrước thập niên 90 của thế kỷ 20 hoạt động này vẫn do nhà nước tiến hành thông qua công táckiểm tra kế toán Phải đến cuối những năm 1980, khi Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh

tế thị trường dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhu cầucần có kiểm toán viên độc lập để kiểm toán các báo cáo tài chính Do nhu cầu kiểm toán ngàycàng cao đòi hỏi phải có một hệ thống chuẩn mực phù hợp

Việc nghiên cứu để xây dựng các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được tiến hành từ năm

1997 Đến tháng 9/1999 Bộ Tài Chính đã ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đầu tiên vàđến tháng 10/2007 đã có 37 chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp được banhành

 Đợt 1 gồm các chuẩn mực: 210, 200, 230, 700

 Đợt 2 gồm các chuẩn mực: 250, 310, 500, 510, 520, 580

 Đợt 3 gồm các chuẩn mực: 240, 300, 400, 530, 540, 610

Trang 8

từ 15 tháng 12 năm 2009 Trong 36 chuẩn mực, có 16 chuẩn mực được sửa đổi và bổ sung, 19chuẩn mực được bổ sung và 1 chuẩn mực được xây dựng mới.

Ở Việt Nam để nhằm có thể bắt kịp với sự thay đổi của thế giới cũng như để hoàn thiện thêm

hệ thống chuẩn mực kiểm toán đã ban hành, từ năm 2009 đến nay, VACPA đã nghiên cứu, soạnthảo, hội thảo, xin ý kiến và hoàn thiện được 9 CMKiT (đợt 1) và trình Bộ Tài chính vào tháng3/2010 và 13 CMKiT (đợt 2) vào tháng 10/2011 và 15 CMKiT (đợt 3) vào 30/6/2012

Như trên ta thấy, chuẩn mực kiểm toán 610, 620 ra đời vào đợt 3 và đợt 6 Cụ thể:

 Chuẩn mực 610: “Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên nội bộ” được ban hành theo Quyếtđịnh số 143/2001/QĐ-BTC vào ngày 21/12/2001

 Chuẩn mực 620: “Sử dụng tư liệu của chuyên gia” được ban hành theo Quyết định số03/2005/QĐ-BTC vào ngày 18/01/2005

Trang 9

B CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN.

Nhóm chỉ tập trung tìm hiểu các nghiên cứu có liên quan về vấn đề sử dụng tư liệu của kiểmtoán viên nội bộ và không trình bày các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề sử dụng tư liệu củachuyên gia.Mặc dù đã tập hợp rất nhiều tài liệu về các nghiên cứu có liên quan đến cả 2 chuẩnmực nhưng do bởi nhóm muốn đi sâu tìm hiểu thật kỹ một vấn đề, tránh bị sự trình bày dài dòng

và lang mang, bên cạnh đó do cách thức áp dụng của kiểm toán độc lập ở 2 chuẩn mực có một sốđiểm tương đồng nên nhóm quyết định chỉ chọn các nghiên cứu có liên quan đến việc sử dụng tưliệu của kiểm toán viên nội bộ Sau đây là 3 vấn đề của phần nghiên cứu có liên quan của nhóm

về chuẩn mực kiểm toán 610:

 Sơ lược về kiểm toán nội bộ

 Mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ

 Tìm hiểu một mô hình dùng để định lượng và định tính về sự đánh giá của kiểm toán độclập về chức năng của kiểm toán nội bộ

I Sơ lược về kiểm toán nội bộ:

1 Định nghĩa:

Kiểm toán nội bộ: Là hoạt động do đơn vị thực hiện hoặc do tổ chức bên ngoài cung cấp, vớichức năng chủ yếu là kiểm tra, đánh giá, giám sát tính đầy đủ, thích hợp và tính hữu hiệu củakiểm soát nội bộ

2 Phạm vi và mục đích của chức năng kiểm toán nội bộ.

Phạm vi: Đối tượng của kiểm toán nội bộ gần như là toàn bộ các hoạt động của doanh

nghiệp

Mục đích: Phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp.

Thông qua kiểm toán nội bộ, Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động tốthơn, quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểmsoát trực tiếp của một nhóm người, tăng khả năng đạt được các mục tiêu kinh doanh Có kiểmtoán nội bộ như thêm “tai, mắt” cho hội đồng quản trị và ban giám đốc Điều này làm tăng niềmtin của cổ đông vào chất lượng quản lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị doanh nghiệp

3 Vai trò và trách nhiệm của kiểm toán nội bộ:

Trong những năm đầu thập kỷ này, từ sự sụp đổ của các tập đoàn lớn(Enron, Wordcom) đến

sự khủng hoàng tài chính toàn cầu hiện nay đều có mối liên hệ đến sự tồn tại và vận hành củamột cơ chế quản trị doanh nghiệp Các doanh nghiệp gặp một áp lực rất lớn trong việc nhận biếtcác rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình hoạt độngvà phải làm sao để kiểmsoát rủi ro ở mức độ chấp nhận được Cùng với sự phát triển của việc quản trị doanh nghiệp,kiểm toán nội bộ đang được xem là một công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp kiểm soát các rủi rocủa mình thông qua các chức năng đảm bảo và chức năng tư vấn cho ban giám đốc và các chủ sở

Trang 10

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

hữu của doanh nghiệp Vai trò của kiểm toán nội bộ chuyển dịch từ vai trò truyền thống tronghoạt động đánh giá công tác quản lý sang các hoạt động mang tính chất tư vấn và đưa ra các đảmbảo mang tính khách quan cho các cấp quản lý Kiểm toán nội bộ tham gia trực tiếp vào chu trìnhquản trị doanh nghiệp, bao gồm chu trình hoạt động , thủ tục kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và

cả báo cáo tài chính Trong nhiều công ty niêm yết và công ty đại chúng, kiểm toán nội bộ hỗ trợtrực tiếp cho HĐQT và Ủy ban kiểm toán trong vai trò giám sát chung các hoạt động doanhnghiệp Sự tham gia trực tiếp với vai trò ngày càng quan trọng và mang tính độc lập của kiểmtoán nội bộ vào cơ chế quản trị doanh nghiệp được xem là một tất yếu cùng với sự phát triển củaquản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay

Kiểm toán nội bộ với vai trò đưa ra đảm bảo:

Các tổ chức và Doanh nghiệp thường kỳ vọng Kiểm toán nội bộ sẽ cung cấp được các dịch

vụ mang tính đảm bảo cho hệ thống nội bộ của mình Trong nền kinh tế thị trường có mức độcạnh tranh gay gắt như hiện nay, các Doanh nghiệp đều hướng tới nhiều mục tiêu cùng một lúc,bao trùm cả mảng quản trị, kinh tế, đạo đức kinh doanh, xã hội và môi trường Kiểm toán nội

bộ cần phải có đủ các kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đưa ra được các đảm bảo cho Doanhnghiệp về việc Doanh nghiệp đã và đang vận hành một cách hiệu quả nhằm đạt được đồng thờicác mục tiêu đã đề ra Các đảm bảo do Kiểm toán nội bộ mang lại chủ yếu tập trung vào quản trịDoanh nghiệp thông qua quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ các vấn đề về đạo đức kinh doanh,trách nhiệm xã hội (bao gồm cả vấn đề môi trường, vấn đề tuân thủ) Trong khi Ban Giám đốc vàlãnh đạo Doanh nghiệp chịu trách nhiệm thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ thì hoạtđộng Kiểm toán nội bộ đưa ra đảm bảo cho ban giám đốc và Ủy ban kiểm toán (hoặc HĐQT)rằng, hệ thống kiểm soát nội bộ được vận hành một cách hiệu quả như được kỳ vọng Để tránhxung đột về lợi ích và đảm bảo tính độc lập, Kiểm toán nội bộ thường chịu trách nhiệm trực tiếptrước HĐQT hoặc đại diện của HĐQT, như Ủy ban kiểm toán

Kiểm toán nội bộ với vai trò tư vấn:

Vai trò của Kiểm toán nội bộ trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ cùng với cácbước kiểm soát rủi ro, các bước tuân thủ bao trùm một phạm vi rất rộng vì tất cả các cấp củaDoanh nghiệp đều có tham gia vào các quy trình đề ra Công việc của Kiểm toán nội bộ bao gồmviệc đánh giá phương châm cũng như văn hóa quản lý rủi ro của một Doanh nghiệp, đến việcxem xét và báo cáo tính hiệu quả của việc thực hiện các chính sách quản lý Dựa trên các côngviệc đó, Kiểm toán nội bộ được kỳ vọng sẽ đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện các bộ phận có

cơ hội phát triển hoặc có những khiếm khuyết cần khắc phục Thêm vào đó, Kiểm toán nội bộ cóthể cung cấp các dịch vụ tư vấn trợ giúp một cách riêng biệt cho tất cả các cấp trong một đơn vị,

từ HĐQT đến các nhân viên và các cấp quản lý trong việc thực hiện trách nhiệm của mình mộtcách hiệu quả

Các dịch vụ kiểm toán nội bộ cung cấp cho công ty.

- Tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho các giám đốc điều hành và các giám đốc chức năngtrong công ty Giám sát tiến trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ và nhận dạng mọi

cơ hội cải tiến hệ thống này Đánh giá nguồn lực của công ty để sử dụng phù hợp tránh

Trang 6

Trang 11

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

lãng phí, thất thoát Làm việc với kiểm toán độc lập của công ty về những vấn đề liênquan Đề xuất chính sách bảo vệ tài sản và quản lý rủi ro

- Kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy, và chính sách điều hành Góp phần bảo đảm hoạtđộng công ty tuân thủ pháp luật, phù hợp với đạo đức kinh doanh Đảm bảo các chứcnăng của công ty được thực hiện nghiêm chỉnh, vận hành hợp lý

- Thực hiện một phần chức năng kiểm soát tài chính Kiểm tra chất lượng thông tin, báocáo kế toán Rà soát tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính

II Mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.

1 Khái quát.

Phân tích quá trình phát triển của kiểm toán nội bộ từ lúc hình thành cho đến bây giờ, chúng

ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng chức năng kiểm toán nội bộ được hình thành thông qua việctách một số các hoạt động từ kiểm toán độc lập, kết quả là có một số tình huống khi hai chứcnăng này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn Trên thực tế là kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập làhai chức năng riêng biệt nhưng chúng có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau

Sự kết hợp giữa công việc của kiểm toán nội bộ và công việc của kiểm toán độc lập là rấtquan trọng đối với tất cả 2 bên Đối với kiểm toán viên độc lập, sử dụng tư liệu của kiểm toánviên nội bộ nhằm nâng cao hiệu quả của kiểm toán báo cáo tài chính Ngoài ra, chức năng kiểmtoán nội bộ còn còn cung cấp cho kiểm toán viên độc lập các thông tin cần thiết trong việc đánhgiá các rủi ro kiểm soát Chức năng kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giảm bớt các công việc màkiểm toán viên độc lập phải làm

Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 610, tầm quan trọng của mối quan hệ giữa kiểmtoán nội bộ và kiểm toán độc lập cũng được phản ánh, đó là:

- Vai trò của chức năng kiểm toán nội bộ trong phạm vi doanh nghiệp do các nhà quản lýxác định và mục đích của nó khác với kiểm toán độc lập là người được chỉ định lập cácbáo cáo về các thông tin tài chính một cách độc lập Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thayđổi theo yêu cầu của nhà quản lý, trong khi đó công việc chủ yếu của kiểm toán độc lập

là xem xét liệu báo cáo tài chính có sai xót trọng yếu hay không?

- Kiểm toán viên độc lập cần hiểu kỹ càng các hoạt động của kiểm toán nội bộ để xác định

và đánh giá các rủi ro có sai xót trọng yếu trên báo cáo tài chính cũng như để thiết kế vàthực hiện thêm các thủ tục kiểm toán

- Kiểm toán độc lập cần đánh giá chức năng của kiểm toán nội bộ, coi đó như một phầncông việc kiểm toán của mình trong chừng mực mà kiểm toán độc lập tin rằng kiểm toánnội bộ có thể thích hợp để xác định nội dung, thời gian và phạm vi các phương pháp cơbản cũng như tuân thủ

- Liên hệ với kiểm toán viên nội bộ thường có hiệu quả hơn khi các buổi gặp được tổ chứcvào khoảng thời gian thích hợp trong năm Kiểm toán viên độc lập cần được thông báo vàđánh giá các báo cáo kiểm toán nội bộ tương ứng và cùng với các nhà quản lý bổ sungthêm vào những đều được thông báo về bất cứ vấn đề đáng kể nào khiến kiểm toán viên

Trang 7

Trang 12

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

nội bộ phải chú ý và có ảnh hưởng đến công việc của kiểm toán độc lập tương tự nhưvậy kiểm toán viên độc lập cần thường xuyên thông báo với kiểm toán viên nội bộ bất cứvấn đề gì có thể ảnh hưởng đến công việc của kiểm toán nội bộ

2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.

Nghiên cứu đầu tiên có liên quan về mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lậpđược thực hiện bởi Mautz R (1984), kết quả của nghiên cứu này trình bày rằng, theo quan điểmcủa kiểm toán nội bộ thì mối quan hệ đó chỉ là mang tính hình thức Vì Mautz đã không đoántrước được sự tồn tại các phản ứng tiêu cực của kiểm toán nội bộ, sự liên quan trong công việccủa kiểm toán nội bộ với kiểm toán độc lập

Sau đó, Peacock E và Pelfrey S (1989) đã thực hiện một cuộc khảo sát thông qua đánh giáthái độ của kiểm toán nội bộ trong mối quan hệ công việc với kiểm toán độc lập, hơn nữa họcũng đã xác định nguyên nhân xảy ra thái độ tiêu cực Cuộc khảo sát này được thực hiện bởi hainhóm: Nhóm 1 được trình bày bởi các giám đốc kiểm toán nội bộ và Nhóm 2 đứng đầu là cácnhân viên kiểm toán nội bộ, người mà làm việc trực tiếp với các kiểm toán viên độc lập Cả 2nhóm đều được yêu cầu để đánh giá hiệu quả tổng thể đối với kiểm toán độc lập trong tổ chức họ

và trình bày về mối quan hệ của họ với kiểm toán độc lập Kết quả đạt được:

- 92% giám đốc kiểm toán cho rằng các kiểm toán viên độc lập đã sử dụng tư liệu của kiểmtoán nội bộ

- 50% Nhóm 1 đánh giá mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập là rất tốt,trong đó 31% đánh giá là tốt;

- Nhóm 2 có sự khác biệt đáng kể trong ý kiến của họ về kiểm toán độc lập sử dụng ý kiếncủa kiểm toán nội bộ Chỉ 39% nhân viên kiểm toán nội bộ cho rằng kiểm toán viên độclập đã hoàn toàn sử dụng tư liệu kiểm toán nội bộ

- Bắt đầu từ báo cáo của Morris N (1981) “Công ty kiểm toán độc lập có sự chú ý của BanGiám đốc và Ủy ban kiểm toán Các kiểm toán nội bộ không có mối quan hệ tương tự”.Peacock E and Pelfrey S muốn nhận ra mối quan hệ giữa Kiểm toán nội bộ và Hội đồngkiểm toán Từ quan điểm này, hơn 80% câu trả lời của các giám đốc cho rằng công ty của

họ có một hội đồng kiểm toán và bộ phận kiểm toán nội bộ có nghĩa vụ báo cáo với hộiđồng kiểm toán;

- Đa số các giám đốc đã báo cáo rằng họ đã xem xét thư của kiểm toán độc lập trước hoặcsau khi trình bày với Ban Giám đốc Hơn nữa họ cũng được yêu cầu nhận xét về kết quảcủa nó

- Kết luận khác của cuộc khảo sát này là các kiểm toán viên độc lập không nhận được sựgiúp đỡ của đội ngũ nhân viên kiểm toán nội bộ, các kiểm toán nội bộ đã nghĩ rằng họthực hiện hơn 1/3 công việc của kiểm toán độc lập;

- Kết luận chung của cuộc khảo sát này là các giám đốc kiểm toán nội bộ đã nhận thấyđược mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập, quan điểm này có thể là từcác chính sách của công ty, điều này cung cấp cho kiểm toán nội bộ một sự thông báo

Trang 8

Trang 13

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

trực tiếp đến hội đồng kiểm toán của ban giám đốc và cơ hội để đáp lại bất cứ phê bìnhtrong thư quản lý của kiểm toán độc lập;

- Kiểm toán nội bộ nhấn mạnh kiểm toán hoạt động và có thể liên quan đến dữ liệu phi tàichính, trong khi kiểm toán tài chính thì liên quan chủ yếu đến các dữ liệu quá khứ, để cóthể xác định các cách thức có thể cải thiện hoạt động kinh doanh trong tương lai Đội ngũnhân viên kiểm toán nội bộ xem xét trách nhiệm kiểm toán độc lập của họ là ít quan trọnghơn công việc mà họ thực hiện như là kiểm toán viên hoạt động

Một nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập được thựchiện bởi Reinstein a., Lander G.H and Gavin T.A (1994) Điểm khởi đầu của cuộc khảo sát này

đã được đảm bảo bởi báo cáo về chuẩn mực kiểm toán (SAS) 65 ban hành trong tháng 4 năm

1991 bởi Viện Kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) SAS 65 “Xem xét các chức năng củakiểm toán nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính” với mục tiêu chính là để làm rõ các khíacạnh khác nhau của các mối quan hệ công việc có nên tồn tại giữa các kiểm toán viên độc lập vàkiểm toán viên nội bộ Chuẩn mực này được phát hành bởi AICPA nhằm để thiết lập nhữnghướng dẫn mới cho kiểm toán độc lập, giúp họ sử dụng kết quả công việc của kiểm toán nội bộmột cách hữu hiệu và hiệu quả, ngoài ra còn giúp kiểm toán độc lập hiểu làm thế nào có thể đápứng được các thủ tục dựa trên công việc của kiểm toán nội bộ Muốn thế, kiểm toán độc lập nên:

 Hiểu vai trò của kiểm toán nội bộ khi đánh giá hệ thống kiểm soát của khách hàng;

 Không chấp nhận công việc của kiểm toán nội bội như là của riêng họ

Nghiên cứu được thực hiện bởi bốn nhóm: (1) Trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ, (2) Giámđốc tài chính, (3) Chủ tịch hội đồng kiểm toán và (4) Các kiểm toán độc lập Có 3 vấn đề chínhtrong cuộc khảo sát là: kiểm tra hiểu biết chung về kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiệnbởi các kiểm toán viên nội bộ; kiểm toán độc lập sẽ kiểm tra đánh giá liên quan đến năng lực củakiểm toán nội bộ; kiểm tra đánh giá tính khách quan của kiểm toán nội bộ

Tóm lại, trong hầu hết các tổ chức, kiểm toán viên nội bộ và độc lập đã phát triển mộtphương pháp tiếp cận “teamwork” để kiểm toán trong một thời gian, và các quy định của SAS 65xuất hiện đã có tác động tối thiểu đối với các mối quan hệ Trong tình huống mà các nhân viênkiểm toán nội bộ không duy trì mức độ yêu cầu về tính chuyên nghiệp hoặc tổ chức đang thayđổi công ty kiểm toán, các kiểm toán viên độc lập có hướng dẫn mới để giúp họ sử dụng kiểmtoán viên nội bộ hữu hiệu và hiệu quả hơn Với sự gia tăng vị thế của kiểm toán nội bộ chuyênnghiệp trong thời gian gần đây và nhu cầu về các kiểm toán viên độc lập để kiểm soát chi phíkiểm toán, SAS 65 sẽ phục vụ cả hai loại kiểm toán viên cũng như kết hợp những nỗ lực của họ.Tiếp theo còn có thêm một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai loại hình kiểm toán này

và đã đưa ra một số tiêu chí quan trọng trong quá trình ra quyết định liên quan đến sự phụ thuộccủa kiểm toán viên độc lập với các kiểm toán viên nội bộ, cụ thể là:

 Nghiên cứu của Brown, R.P (1983) nói đến 2 tiêu chí đó là: độc lập/khách quan; hiệusuất làm việc ;

 Schneider, A.(1984): hiệu suất làm việc; năng lực;

Trang 9

Trang 14

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

 Tiessen, P & Colson, R.H (1990): hiệu suất làm việc; năng lực; tính khách quan;

 Maletta, M (1993): năng lực, tính khách quan, hiệu suất làm việc;

 Haron H et al., (2004): năng lực, hiêu suất làm việc

Source: Haron H et al ( 2004)

Qua việc xem xét các nghiên cứu chính liên quan đến mối quan hệ giữa kiểm toán viên nội

bộ và kiểm toán viên độc lập, ta thấy các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc nhấn mạnhmột số khía cạnh ảnh hưởng đến mối quan hệ này Mặc dù trên thực tế hai loại hình kiểm toánnày là khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ bổ sung lẫn nhau, nhằm đảm bảo hiệu quả chotoàn bộ doanh nghiệp được kiểm toán

3 Sự giống và khác nhau giữa kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.

a Giống nhau:

- Cả 2 nghề nghiệp kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập đều bị chi phối bởi các chuẩnmực được phát hành bởi tổ chức nghề nghiệp, bao gồm các chuẩn mực nghề nghiệpchuyên môn và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ;

- Đánh giá rủi ro là yếu tố rất quan trọng trong quá trình lập kế hoạch cho tất cả kiểm toánviên nội bộ và kiểm toán viên độc lập;

- Tính độc lập của kiếm toán viên là tiêu chuẩn quan trọng ;

- Cả 2 đều có xem xét và đánh giá các vấn đề liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp;

- Cả hai chức năng đều quan tâm đến công việc của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập;

- Kết quả của quá trình kiểm toán được trình bày thông qua báo cáo kiểm toán

Kiểm toán độc lập khôngphải là một bộ phận của củadoanh nghiệp

Mục tiêu Phạm vi công việc của kiểm toán nội

bộ bao gồm tất cả Giúp doanh nghiệp đạtđược các mục tiêu, cải thiện các hoạtđộng, quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ vàcác quá trình quản trị Liên quan đến tất

cả các khía cạnh tài chính và phi tài chínhcủa doanh nghiệp- kiểm soát nội bộ tậptrung vào các sự kiện trong tương lai như

Nhiệm vụ chủ yếu của kiểmtoán độc lập là đưa ra ý kiến độclập về báo cáo tài chính hằngnăm của doanh nghiệp

Trang 10

Trang 15

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

một kết quả của việc đánh giá liên tục hệthống kiểm soát và các quy trình

Cách Tiếp cận

kiểm soát nội bộ

Tiếp cận trên tất cả các khía cạnh liênquan đến hệ thống kiểm soát nội bộ củadoanh nghiệp

Chỉ tiếp cận kiểm soát nội

bộ dựa trên mức trọng yếu, chophép loại bỏ những sai sótkhông đáng kể vì nó không ảnhhưởng trọng yếu đến kết quả báocáo tài chính

Tần suất kiểm

toán

Thực hiện suốt cả năm, nhiệm vụ cụthể hình thành theo mức độ rủi ro đượcxác định cho mỗi doanh nghiệp

Chỉ thực hiện vào cuối nămtài chính

Cách tiếp cận

rủi ro

Rủi ro việc lập kế hoạch cho hoạtđộng kiểm soát nội bộ là rất cao, đánh giárủi ro liên quan đến các loại thông tin nhưtài chính và hoạt động

Sử dụng thông tin về rủi ro

để xác định nội dung, thời gian,

và các thủ tục kiểm toán cầnthiết sẽ được thực hiện trongkhu vực có thể kiểm tra, chỉ xemxét trong khía cạnh tài chính

Công việc kiểm

toán

Bao gồm tất cả các giao dịch củadoanh nghiệp

Bao gồm các hoạt động cóảnh hưởng đến các kết quả tàichính và hoạt động của doanhnghiệp được kiểm toán

Qua các nghiên cứu cũng như qua tìm hiểu về hai loại hình kiểm toán ta thấy chúng có mốiquan hệ bổ sung nhau Trong đó, vai trò của kiểm toán nội bộ do Giám đốc hoặc người đứng đầuđơn vị qui định và có thể thay đổi theo yêu cầu của Giám đốc trong từng thời kỳ Mục tiêucủakiểm toán độc lập là đưa ra ý kiến độc lập, khách quan về báo cáo tài chính với mốiquan tâmhàng đầu là báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu Để đạt được mục tiêunêu trên, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ có thể áp dụng các phương pháp, thủ tục kiểmtoán giống nhau; kiểm toán viên độc lập có thể sử dụng những tư liệu của kiểm toán nội bộ đểtrợ giúp việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán độc lập

III Tìm hiểu mô hình dùng trong việc đánh giá của kiểm toán độc lập

về chức năng của kiểm toán nội bộ.

Theo như Chuẩn mực kiểm toán 610, kiểm toán độc lập phải tìm hiểu đầy đủ về hoạt độngcủa kiểm toán nội bộ để trợ giúp cho việc lập kế hoạch kiểm toán và thiết lập phương pháp tiếp

Trang 11

Trang 16

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

cận kiểm toán có hiệu quả Nếu công việc của kiểm toán nội bộ là thích hợp và có hiệu quả, kiểmtoán độc lập có thể sử dụng những tư liệu này phục vụ cho mục đích kiểm toán Để xem xét tínhđầy đủ và thích hợp khi sử dụng công việc kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập phải đánh giá cácyếu tố như:

 Tính khách quan kiểm toán nội bộ

 Năng lực chuyên môn kiểm toán nội bộ

 Công việc của kiểm toán nội bộ đã thực hiên như thế nào, có được thực hiện hiệu quả vàđúng với sự thận trọng nghề nghiệp hay không

 Liệu kiểm toán viên độc lập có thể trao đổi thông tin với kiểm toán viên nội bộ một cáchhiệu quả hay không

Sự đánh giá về chức năng kiểm toán nội bộ trong công ty là cần thiết cho kiểm toán độc lập

do có thể tận dụng được công việc của kiểm toán nội bộ phục vụ cho mục đích kiểm toán củamình Do vậy có nhiều mô hình giúp kiểm toán độc lập có thể xác định mức độ ảnh hưởng củachức năng kiểm toán nội bộ trong công ty tới công việc của kiểm toán độc lập và bên cạnh đócòn trợ giúp kiểm toán độc lập trong các đánh giá khác chẳng hạn như về hệ thống kiểm soát nội

bộ của công ty Sau đây là phần tìm hiểu của nhóm về một mô hình được nghiên cứu bởi cáckiểm toán viên của Mỹ và nó được gọi là: “Mô hình phân tích đánh giá dành cho kiểm toán độclập về chức năng của kiểm toán nội bộ dựa trên mức độ tin cậy”

1 Mô hình phân tích đánh giá dành cho kiểm toán độc lập về chức năng của kiểm toán nội bộ dựa trên mức độ tin cậy.

Bộ luật Sarbanes-Oxley (2002) đã làm cho vai trò của kiểm toán nội bộ trở nên quan trọngđáng kể hơn so với trước Trong đó, nó yêu cầu nhà quản trị phải báo cáo và xác nhận tính hiệuquả của cấu trúc và các thủ tục hệ thống kiểm soát nội bộ trong các báo cáo hàng quý hoặc hàngnăm, còn phải ghi nhận chi tiết, đánh giá và báo cáo tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộthông qua báo cáo tài chính và yêu cầu kiểm toán nội bộ đánh giá và đưa ra ý kiến về sự đánh giácủa ban quản trị về hệ thống kiểm soát nội bộ Tháng 5/2007, PCAOB (the Public CompanyAccounting Oversight Board) đã thay đổi hướng dẫn về kiểm toán hệ thống kiểm soát nội bộ

bằng việc lựa chọn chuẩn mực kiểm toán số 5: An Audit of Internal Control over Financial Reporting That is Integrated with an Audit of Financial Statements

Thông qua áp dụng chuẩn mực này và các hướng dẫn đi kèm, PCAOB muốn khuyến khíchkiểm toán độc lập sử dụng công việc của các bên khác ở mức độ rộng hơn khi công việc nàyđược thực hiện bởi các nhân viên công ty có đầy đủ năng lực và khách quan Yêu cầu này đã làmtăng sự tin cậy của kiểm toán viên độc lập về công việc của của kiểm toán nội bộ khi thực hiệnkiểm toán tích hợp và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Ngoài ra, đó là tầm quan trọng việc

mở rộng vai trò của chức năng kiểm toán nội bộ trong việc đảm bảo chất lượng quản trị doanhnghiệp

Chuẩn mực kiểm toán số 5 yêu cầu kiểm toán độc lập sử dụng cách tiếp cận dựa trên cácnguyên tắc (principles-based approach) để xác định khi nào và mức độ sử dụng công việc của

Trang 12

Trang 17

PHẦN B: CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

kiểm toán nội bộ Do vậy, xét đoán của kiểm toán viên trong việc đánh giá hệ thống kiểm soátnội bộ đã thừa nhận vai trò lớn hơn trong việc thực hiện kiểm toán tích hợp

Mục đích của nghiên cứu là để thúc đẩy nghiên cứu trước đó trong việc đánh giá về kiểmtoán nội bộ (IA) đánh giá bằng cách phát triển một mô hình đánh giá kiểm toán nội bộ toàn diệnkết hợp các tính năng sau:

- Đầu tiên, mô hình đề cập một cách rõ ràng các mối tương quan giữa ba yếu tố cụ thể:năng lực, hiệu suất làm việc, và khách quan (competence, work performance, andobjectivity), áp dụng cho kiểm toán độc lập khi đánh giá những điểm mạnh của chứcnăng kiểm toán nội bộ

- Thứ hai, quan hệ giữa các chức năng của kiểm toán nội bộ và 3 yếu tố trên

- Thứ ba, nó cung cấp một phương pháp tiếp cận có cấu trúc để thu thập và tổng hợp cácbằng chứng liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau mà cuối cùng mang lại một đánh giátổng thể liên quan đến những điểm mạnh của các chức năng kiểm toán nội bộ Những xétđoán này có thể trợ giúp kiểm toán độc lập trong việc đánh giá độ tin cậy của hệ thốngkiểm soát nội bộ, và từ đó xác định được độ tin cậy với công việc kiểm toán nội bộ

- Cuối cùng, mô hình này kiểm tra ảnh hưởng của chất lượng quản trị công ty về việc đánhgiá chức năng kiểm toán nội bộ bởi các kiểm toán viên độc lập

Mô hình đánh giá điểm mạnh của chức năng kiểm toán nội bộ dựa trên 3 yếu tố: năng lực,hiệu suất làm việc, và khách quan (competence, work performance, and objectivity)

độ học vấn và kinhnghiệm chuyên môncủa kiểm toán viênnội bộ và các yếu tốkhác

1 Bằng chứng liên quanđến bằng cấp củakiểm toán viên nội bộ

và huấn luyện

2 Bằng chứng liên quanđến kế hoạch kiểmtoán và giám sát

3 Bằng chứng về khảnăng của kiểm toánnội bộ

1 Bằng cấp của kiểm toán viên nội

3.Khả năng của kiểm toán nội bộ:

 Kinh nghiệm và kiến thức về công ty

 Kinh nghiệm và kiến thức về bộ phậnkiểm toán của công ty

Trang 13

Ngày đăng: 30/07/2015, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w