1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010

78 569 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Quảng Cáo Của Việt Nam Trong Giai Đoạn 2006 – 2010
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 521 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quảng cáo là ngành được Nhà nước bảo hộ vì đây là một ngành dịch vụ non trẻ ở nước ta, nên trong thời gian qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này còn hạn chế. Thời gian tới, khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta sẽ dần phải dỡ bỏ sự bảo hộ này

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở NƯỚC TA 4

I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 4

1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) 4

2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

2.1 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài 5

2.2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh 6

2.3 Doanh nghiệp liên doanh 8

3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI 10

3.1 Khả năng thâm nhập thị trường 10

3.2 Chi phí kinh doanh 10

3.3 Môi trường chính trị và xã hội 12

3.4 Luật pháp 12

3.5 Cơ sở hạ tầng và các tiện ích 13

3.6 Thị trường lao động 13

3.7 Khả năng sẵn có của các nhà cung cấp ở các nước nhận đầu tư về linh kiện và nguyên vật liệu 14

4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đang phát triển 15

4.1 FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu qủa các nguồn lực trong nước 16

4.2 Góp phần chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển 17

4.3 Góp phần tạo việc làm mới và phát triển nguồn nhân lực cho nước sở tại 17 4.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty trong nước 18

4.5 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho các nước đang phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 18 4.6 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng kim ngạch xuất khẩu thông

Trang 2

qua hoạt động mở rộng thị trường của mình 19

4.7 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước 20

II SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO 20

1 Khái niệm và các phương tiện quảng cáo 20

1.1 Khái niệm quảng cáo 20

1.2 Các phương tiện quảng cáo 22

2 Vai trò của ngành quảng cáo với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước 25

3 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo ở nước ta 27

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 30

I NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO 30

1 Những quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo 30

2 Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo thời gian qua 31

2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) 32

2.2 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản 32

II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 33

1 Tình hình chung 33

2 Phân tích một vài dự án 33

2.1 Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH M&T và Leo Burnett Worldwide Inc 33

2.2 Dự án công ty liên doanh TNHH saatchi&saatchi (Việt Nam) 35

2.3 Dự án công ty TNHH Hakuhodo & quảng cáo Sài Gòn 38

2.4 Dự án công ty TNHH Mccaan-Ericson Việt Nam 39

3 Những đánh giá chung 40

Trang 3

3.1 Về đối tác nước ngoài và địa điểm nhận đầu tư các dự án 40

3.2 Tình hình thực hiện mục tiêu hoạt động quy định tại giấy phép đầu tư 40

3.3 Về thực hiện vốn đầu tư 41

3.4 Về thực hiện các nghĩa vụ tài chính 41

3.5 Về lao động 41

3.6 Khách hàng và những lĩnh vực quảng cáo chủ yếu 42

3.7 Phương tiện quảng cáo 42

3.8 Thị phần quảng cáo trong nước 43

3.9 Về công tác quản lý nhà nước 43

4 Một số vấn đề vướng mắc của các công ty quảng cáo có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 43

III KẾT LUẬN VỀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 46

1 Những thành tựu cơ bản 46

2 Những vấn đề tồn tại chủ yếu 47

2.1 Những vấn đề tồn tại 47

2.2 Nguyên nhân chính của những hạn chế trên 49

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 51

I ĐỊNH HƯỚNG MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG, QUAN ĐIỂM VÀ NHU CẦU THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 51

1 Định hướng mở cửa thị trường quảng cáo Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO 51

2 Quan điểm thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong thời gian tới 52

2.1 Quan điểm phát triển ngành quảng cáo Việt Nam trong thời gian tới 52 2.2 Quan điểm thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong thời

Trang 4

gian tới 53

3 Một số dự báo về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành quảng cáo ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2010 53

II CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 54

1 Hoàn thiện khung pháp lý về quảng cáo có vốn đầu tư nước ngoài 54

1.1 Sự cần thiết của giải pháp 54

1.2 Nội dung giải pháp 56

2 Tăng cường công tác quản lý đối với các dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo có vốn đầu tư nước ngoài 57

2.1 Sự cần thiết của giải pháp 57

2.2 Nội dung của giải pháp 58

3 Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động, xúc tiến đầu tư 59

3.1 Sự cần thiết của giải pháp 59

3.2 Nội dung của giải pháp 60

4 Khuyến khích các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam tham gia liên doanh, nâng cao trình độ cho đối tác Việt Nam 62

4.1 Sự cần thiết của giải pháp 62

4.2 Nội dung của giải pháp 63

5 Chú trọng công tác đào tạo lao động làm việc trong lĩnh vực quảng cáo 64

5.1 Sự cần thiết của giải pháp 64

5.2 Nội dung của giải pháp 65

6 Mở cửa thị trường quảng cáo 66

6.1 Sự cần thiết của giải pháp 66

6.2 Nội dung giải pháp 67

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 67

KẾT LUẬN 70

Trang 5

ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

UNCTAD: United Nations conference on Trade and Developement

(Hội nghị liên hợp quốc về thương mại)

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: So sánh chi phí kinh doanh giữa Việt Nam, Trung Quôc, Thái Lan

và Philippin 11Bảng 2: Tóm tắt dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa công ty TNHHM& T và Leo Bumett Worldwide Inc 34Bảng 3: Tóm tắt dự án công ty liên doanh TNHH Saatchi& Saatchi (ViệtNam) 36Bảng 4: Tóm tắt dự án công ty TNHH Hakuhodo & quảng cáo Sài Gòn 38Bảng 5: Tóm tắt dự án công ty TNHH Mccaan - Ericson Việt Nam 39

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Hoạt động quảng cáo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế - xãhội của nhiều nước trên thế giới và phát triển theo nhịp độ của sự phát triểnkinh tế thị trường Ngày nay, quảng cáo đã trở thành một động lực quantrọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, quảng cáo hình thành và phát triển đồng thời với côngcuộc đổi mới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đãđóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kể từ khipháp lệnh quảng cáo ra đời (30/11/2001) hoạt động quảng cáo của ViệtNam đã có những chuyển biến rõ rệt và đạt được những thành tựu nhấtđịnh Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được ngành quảng cáo củaViệt Nam vẫn kém phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng và còn thuakém nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới Một trong nhữngnguyên nhân chính là do chúng ta thiếu vốn, công nghệ và một đội ngũ laođộng chuyên nghiệp và có kinh nghiệm

Trong thời gian thực tập tại Phòng Dịch Vụ, Cục Đầu tư nước ngoàithuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư, qua tham khảo và nghiên cứu tài liệu về lĩnhvực quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua, em nhận thấy nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này đã góp phần không nhỏ vào sự tiến

bộ và phát triển của ngành quảng cáo nước nhà Tuy nhiên, quảng cáo làngành được Nhà nước bảo hộ vì đây là một ngành dịch vụ non trẻ ở nước

ta, nên trong thời gian qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnhvực này còn hạn chế Thời gian tới, khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta

sẽ dần phải dỡ bỏ sự bảo hộ này Xuất phát từ thực tiễn đó, em quyết định

viết đề tài: “Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010”.

Để hoàn thành được đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt

Trang 8

tình của các thầy cô trong khoa Kế hoạch và phát triển, cũng như các côchú ở Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch – Đầu tư) Đặc biệt, em xinchân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo PGS.TS Phạm VănVận và chuyên viên Nguyễn Huy Hoàng - phòng dịch vụ (Cục Đầu tư nướcngoài) đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Quảng cáo là một ngành non trẻ tại Việt Nam, đồng thời với sự hiểubiết có hạn của mình, vì vậy đề tài được thực hiện với mục đích:

Một là: Nêu những khái niệm, đặc điểm chung nhất về đầu tư trực

tiếp nước ngoài và quảng cáo

Hai là: Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh

vực quảng cáo của Việt Nam thời gian qua

Ba là: Nêu ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 –

2010, góp phần phát triển vững mạnh ngành quảng cáo của Việt Nam trongtương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam trong ngànhquảng cáo, cụ thể là 10 dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáocủa Việt Nam tính đến hết năm 2004

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng những dự án đầu tư nước ngoài ở ViệtNam thời gian qua rut ra kết luận về những thành tựu cũng như những tồntại của ngành, từ đó đưa ra các giải pháp

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích thống kê,đối chiếu, so sánh trong việc thu thập thông tin, dữ liệu, phân tích và tổng

Trang 9

hợp để rút ra những kết luận và đề xuất các giải pháp.

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết thúc, đề tài gồm 3 phần:

Chương I: Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

lĩnh vực quảng cáo ở nước ta

Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực quảng cáo ở ViệtNam trong thời gian qua

Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vàolĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010

Trang 10

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC

QUẢNG CÁO Ở NƯỚC TA

I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI )

Trong suốt hai mươi năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngàycàng có vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia.Hiện nay FDI đã được công nhận một cách rộng rãi rằng nó có thể đem lạinhững lợi thế quan trọng cho các nền kinh tế tiếp nhận nó Vì vậy, có rấtnhiều cách định nghĩa về FDI, tuỳ theo góc độ tiếp cận của các nhà kinh tế

Theo hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển (United

Nations conference on Trade and Development - UNCTAD): “Đầu tư trực

tiếp nước ngoài là sự đầu tư với một quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và

sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thường trú trong một nền kinh tếkhác không phải là nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp chi nhánh hoặc cơ

sở chi nhánh ở nước ngoài)” (Nguồn: UNCTAD(2001):Báo cáo đầu tư thếgiới, Newyork và Geneva 2001, trang 291) Định nghĩa đã hàm ý nhà đầu

tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đáng kể tới việc quản lý và điềuhành doanh nghiệp ở nền kinh tế khác Sự đầu tư như vậy bao gồm cảnhững giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể cũng như tất cả những giao dịch

về sau giữa hai bên và giữa các cơ sở chi nhánh ở nước ngoài, cả chinhánh có gắn kết và chi nhánh không gắn kết FDI có thể do các cá thểcũng như các chủ thể thực hiện

Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cưtrú tại một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại

Trang 11

một nền kinh tế khác Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời giandài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và mức

độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp này”

Theo điều 2, luật đầu tư nước ngoài năm 1996: “Đầu tư trực tiếpnước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốnbằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theoquy định của luật này” Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là ngườinước ngoài, nhằm xác định được tư bản được chuyển dịch trong FDI nhất

thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.

2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quá trình thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trênthực tế diễn ra rất đa dạng, phức tạp và không ngừng biến đổi Nhằm mụcđích tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư,cũng như tạo điều kiện cho các nhà quản lý trong nước thực hiện tốt chứcnăng của mình, luật đầu tư nước ngoài đã quy định những hình thức dướiđây các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư vào Việt Nam:

2.1 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

2.1.1 Khái niệm

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100%vốn tại Việt Nam”

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hìnhthức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

Vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phảibằng 30% vốn đầu tư Đối với những dự án xây dựng công trình kết cấu hạtầng, những dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồngrừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận.Nhà đầu tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh

Trang 12

doanh và có thể thành lập Hội đồng quản trị phù hợp với điều lệ của doanhnghiệp Người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp này là tổnggiám đốc, trừ trường hợp điều lệ doanh nghiệp quy định khác.

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

 Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài khi thành lập cónhững thuận lợi, đó là: Doanh nghiệp sẽ độc lập về tổ chức, quản lý điềuhành công ty và không phải chia sẻ lợi nhuận với đối tác của nước sở tại.Đồng thời doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng được phépchuyển nhượng vốn sau khi đăng ký việc chuyển nhượng với cơ quan cấpgiấy phép đầu tư

 Khi chủ đầu tư muốn thành lập doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài sẽ gặp những khó khăn sau: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài không được phép đầu tư vào một số lĩnh vực như khai thác, chế biếndầu khí, khoáng sản, du lịch lữ hành, văn hoá, trồng rừng, đường sắt,đường biển, vận tải hành khách công cộng… Các doanh nghiệp này không

có sự hỗ trơ của bên Việt Nam trong việc thành lập, hoạt động cũng nhưtìm đối tác trong nước Đồng thời doanh nghiệp thành lập dưới hình thứcnày sẽ hoàn toàn chịu mọi rủi ro nếu hoạt động kinh doanh kém hiệu quả

2.2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh

2.2.1 Khái niệm

"Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặcnhiều bên để tiến hành hoạt động đầu tư mà không thành lập pháp nhân’’(Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hoặc nhiều bêntrong đó có ít nhất một bên là đối tác Việt Nam và một bên là đối tác nướcngoài Các dự án đầu tư theo hình thức này được chấp thuận trên cơ sởđồng ý của Bộ Kế hoạch và đầu tư hoặc các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền cấp giấy phép kinh doanh

Trang 13

Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tạiViệt Nam để làm đại diện cho mình trong việc thực hiện hợp đồng hợp táckinh doanh và chịu trách nhiệm về hoạt động của văn phòng điều hành.Văn phòng điều hành của bên hợp doanh nước ngoài có con dấu, được mởtài khoản, được tuyển dụng lao động, được ký kết hợp đồng và tiến hànhcác hoạt động kinh doanh trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ quy định tạigiấy phép đầu tư và hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong quá trình kinhdoanh, nếu xét thấy cần thiết các bên hợp doanh có thể thoả thuận thành lậpban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên hợp doanh thoả thuận.

Bên hợp doanh nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụtài chính khác theo luật đầu tư nước ngoài Bên hợp doanh Việt Nam thựchiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của phápluật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước Thuế thu nhập và các nghĩa

vụ tài chính khác của các bên hợp doanh có thể được tính gộp vào phần sảnphẩm được chia cho bên hợp doanh Việt Nam và bên hợp doanh Việt Nam

có trách nhiệm nộp cho nhà nước

Theo nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000, quyđịnh chi tiết thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, những ngànhnghề chỉ được phép thực hiện đầu tư nước ngoài theo hình thức hợp đồnghợp tác kinh doanh là: xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễnthông nội hạt

2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành hợp đồng hợp tác kinh doanh

 Những thuận lợi khi tiến hành hợp đồng hợp tác kinh doanh: Khicác hợp đồng hợp tác kinh doanh ký kết, không cần thành lập pháp nhân vìvậy thủ tục đăng ký không phức tạp như các hình thức khác Các bên có thểlinh hoạt trong quá trình thoả thuận, từ xác định thời hạn hợp đồng đến việcquản lý hoạt động kinh doanh Ban điều phối được thành lập tạo điều kiện

Trang 14

giám sát và quản lý việc hợp tác đầu tư một cách công khai và có hiệu quả,giảm bớt các tranh chấp có thể có trong quá trình phân chia kết quả kinhdoanh Đồng thời bên hợp doanh nước ngoài không bị khống chế tỷ lệ gópvốn pháp định tối thiểu là 30% như bên nước ngoài trong hình thức liên doanh.

 Bên cạnh những thuận lợi kể trên, khi tiến hành các hợp đồng hợptác kinh doanh, các bên hợp doanh cũng đã gặp phải một số khó khăn, đólà: Khi thành lập các hợp đồng hợp tác kinh doanh, không tồn tại một thựcthể pháp lý riêng biệt ở nước sở tại và không mang tính chất chịu tráchnhiệm hữu hạn, điều này gây nên sự khó khăn trong việc tuyển dụng laođộng và ký kết các hợp đồng với các đối tác thực hiện dự án đầu tư Khitiến hành hợp đồng hợp tác kinh doanh không được tự do lựa chọn các lĩnhvực đầu tư và không có nhiều ưu đãi thuế như các hình thức đầu tư khác

2.3 Doanh nghiệp liên doanh

2.3.1 Khái niệm

“Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiềubên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặchiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàChính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liêndoanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh”(Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996)

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập dưới hình thức công tyTNHH, mang tư cách pháp nhân Việt Nam Mỗi bên liên doanh chịu tráchnhiệm trong phạm vi vốn cam kết góp vốn vào vốn pháp định của doanhnghiệp Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30%vốn đầu tư, đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự ánđầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy môlớn tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không quá 20% vốn đầu tư được cơquan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận

Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài do các tham gia liên doanh thoảthuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệpliên doanh Trong một vài trường hợp cụ thể, tỷ lệ này có thể thấp hơn

Trang 15

nhưng không dưới 20% vốn pháp định.

Doanh nghiệp liên doanh thành lập hội đồng quản trị để lãnh đạocông ty với nhiệm kỳ không quá 5 năm Các bên cử người của mình thamgia hội đồng quản trị ứng vời phần vốn góp trong vốn pháp định Tổnggiám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, trừ trường hợpđiều lệ doanh nghiệp có quy định khác Tổng giám đốc hoặc phó tổng giámđốc thứ nhất do bên liên doanh Việt Nam đề cử và phải là công dân ViệtNam thường trú trên lãnh thổ Việt Nam

Lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp được phân chia theo tỷ lệ gópvốn trong phần vốn pháp định Doanh nghiệp liên doanh không được giảmvốn trong quá trình liên doanh, nếu tăng vốn phải làm bản giải trình lên Bộ

Kế hoạch và Đầu tư để xem xét giải quyết

2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thành lập doanh nghiệp liên doanh

 Các doanh nghiệp liên doanh khi thành lập sẽ có những thuận lợi, đó là:Các doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về lĩnh vực đầu tư, và đượcphép chuyển nhượng vốn sau khi đăng ký việc chuyển nhượng với cơ quancấp giấy phép đầu tư Các doanh nghiệp liên doanh thường dễ tìm địa điểm

để xây dựng nhà xưởng do bên đối tác Việt Nam thường góp vốn bằngquyền sử dụng đất Đồng thời bên Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp liêndoanh trong việc tuyển dụng lao động, tìm kiếm các nguồn nguyên liệutrong nước để cung cấp cho doanh nghiệp cũng như tìm thị trường tiêu thụtrong nước, còn bên nước ngoài có thể chủ động hơn trong quá trình điềuhành hoạt động kinh doanh, áp dụng và phát huy các công nghệ mới, cáckinh nghiệm quản lý của mình tại Việt Nam Và một ưu điểm của hình thứcđầu tư này được các chủ đầu tư nước ngoài quan tâm đó là, rủi ro được chia sẻgiữa bên Việt Nam và bên nước ngoài

 Khi thành lập các doanh nghiệp liên doanh cũng gặp một số vấn đềkhó khăn, tồn tại, đó là: Khả năng góp vốn bằng tiền mặt và cơ sở vật chất

kỹ thuật hiện đại của bên Việt Nam rất hạn chế, điều này dẫn đến một sốthiệt thòi cho bên Việt Nam trong việc đưa ra các quyết định quản lý điềuhành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như trong việc hưởng

Trang 16

lợi nhuận Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp liên doanh rủi rocao, thu hồi vốn chậm Trong thực tế nhiều doanh nghiệp liên doanh kinhdoanh thua lỗ trong một thời gian dài, dẫn đến bên Việt Nam không chịuđựng được đành rút lui khỏi liên doanh, gây ra nhiều vấn đề bất cập sau đó.

3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức vô cùng quan trọng gópphần phát triển kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến việc thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia trong đó quan trọng nhất làcác yếu tố dưới đây:

3.1 Khả năng thâm nhập thị trường

Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thâm nhập thị trườngnhư một trong những nhân tố quan trọng nhất để mở rộng ra nước ngoài vàquyết định địa bàn đầu tư Dân số, chất lượng hạ tầng giao thông và cơ sở

hạ tầng, chính sách bảo hộ của một quốc gia, cũng như chính sách về xuấtnhập khẩu là những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư nước ngoài quyết địnhthâm nhập đầu tư ra nước ngoài Tóm lại, tính cạnh tranh về khía cạnhthâm nhập thị trường vào một quốc gia được các nhà đầu tư nước ngoàiđánh giá thông qua quy mô thị trường và chi phí thâm nhập thị trường

Theo kết quả điều tra, về khía cạnh “thâm nhập thị trường” ViệtNam được đánh giá kém hấp dẫn hơn ASEAN4 và Trung Quốc vì ViệtNam có quy mô thị trường trong nước hẹp và chi phí thâm nhập thị trườngkhu vực cao

3.2 Chi phí kinh doanh

Chi phí kinh doanh là một trong các yếu tố quan trọng được các nhàđầu tư nước ngoài quan tâm Chi phí kinh doanh bao gồm: chi phí viễnthông; chi phí vận tải; chi phí về lao động; chi phí điện, nước; chi phí thuêđất, văn phòng… Nếu một nước có chi phí kinh doanh thấp là địa điểm hấpdẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và ngược lại

Hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều chỉ ra rằng chi phí kinh

Trang 17

doanh cao là điểm bất lợi chính của Việt Nam Phân tích các chi phí tạiViệt Nam được thực hiện trước đây cho thấy chi phí đầu tư và chi phí kinhdoanh tại Việt Nam là tương đối cao so với ASEAN4 và Trung Quốc Theokết quả điều tra các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dầu hệ thống hai giá khôngảnh hưởng nhiều đến chi phí kinh doanh nhưng nó tạo ra ấn tượng đối xửkhông nhất quán (sự phân biệt) đối với các nhà đầu tư nước ngoài Điềunày đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam Ngoài

ra, việc thiếu nguyên vật liệu, công nghiệp hỗ trợ và hệ thống thuế nhậpkhẩu không hấp dẫn cũng được nhìn nhận là các điểm yếu khác của ViệtNam, đồng thời tạo ra chi phí kinh doanh cao

Bảng 1: So sánh chi phí kinh doanh giữa Việt Nam, Trung Quôc,

Thái Lan và Philippin

(1 = kém cạnh tranh nhất; 4 = cạnh tranh cao nhất)

Chi phí và các nhân tố liên quan đến

kinh doanh

Việt Nam

Trung Quốc

Thái Lan Philippin

Chi phí/ chất lượng cung cấp điện 1 2 3 3 Chi phí/chất lượng cung cấp nước 1 2 3 3 Chi phí viễn thông 1 3 3 4 Chi phí vận tải biển 1 4 2 2 Chất lượng lao động (không có kỹ thuật) 1 2 3 3 Chất lượng lao động có kỹ thuật 1 2 3 3 Chi phí lao động (công nhân) 4 1 1 3 Chi phí lao động (Người quản lý) 1 4 1 1 Chi phí/chất lượng thuê (văn phòng) 2 1 3 4 Chi phí/chất lượng thuê (tiền thuê đất

Chi phí không chính thức (chi phí hành

chính, tham nhũng) 1 1 4 3Thuế thu nhập cá nhân 1 2 2 4 Thuế suất thực tế 1 2 2 4

Nguồn: Ngân hàng thế giới

3.3 Môi trường chính trị và xã hội

Ổn định chính trị và xã hội là lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.Yếu tố này được thể hiện thông qua các khía cạnh như: chiến tranh, mâuthuẫn sắc tộc, an ninh trật tự xã hội… Đây là yếu tố giúp nhà đầu tư nướcngoài thấy yên tâm khi chọn địa điểm đầu tư

Trang 18

Sau sự kiện 11/9 Việt Nam đã được tổ chức rủi ro kinh tế và chính trị(PERC) tại Hồng Kông xếp ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị

và xã hội So với các nước ASEAN4 và Trung Quốc, Việt Nam có ít vấn đềliên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn Sau khi đưa ra các chínhsách “đổi mới”, Việt Nam đã và đang được mức tăng trưởng GDP ổn định

Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì và Việt Nam đượcđánh giá là nơi an toàn để đầu tư

3.4 Luật pháp

Trước khi ra quyết định chọn địa điểm đầu tư, các nhà đầu tư nướcngoài luôn tìm hiểu trước các yếu tố luật pháp ở quốc gia sở tại, vì nó làyếu tố liên quan đến các dự án đầu tư trong khi làm thủ tục kinh doanhcũng như trong suốt quá trình kinh doanh Do vậy, đây cũng là yếu tố thểhiện tính cạnh tranh của môi trường đầu tư ở một quốc gia

Theo kết quả khảo sát, Việt Nam là nước mà các nhà đầu tư nướcngoài phải đối mặt với khá nhiều vấn đề trong kinh doanh hơn các nướckhác trong khu vực Hầu hết các vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài phảiđối mặt là kết quả của việc thiếu tính đồng bộ, không chắc chắn, thống nhấttrong hệ thống thuế và pháp luật Mặc dù Việt Nam đã rất nỗ lực trong quátrình cải thiện khung pháp lý của mình nhưng vẫn tồn tại nhiều khiếmkhuyết Việc trình bày không rõ ràng và không nhất quán về luật pháp dẫnđến các bất cập trong việc thực hiện và thi hành Việc thay đổi không thểlường trước và có hiệu lực hồi tố của luật và các quy định thuế là một vấn

đề lớn khác tại Việt Nam

3.5 Cơ sở hạ tầng và các tiện ích

Những cơ sở hạ tầng và các tiện ích được các nhà đầu tư nước ngoàiquan tâm đó là: hạ tầng giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy…), mạnglưới viễn thông, điện, nước… Chất lượng và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng vàcác tiện ích là yếu tố thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 19

Ở Việt Nam, chất lượng và độ tin cậy của cơ sở hạ tầng và các tiệních thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế Mặc dù cải thiện mạnh mẽ trong hơn 10năm qua nhưng khả năng sẵn có và chất lượng cơ sở hạ tầng ở Việt Namvẫn dưới mức trung bình trong khu vực và ASEAN4 Theo kết quả điều tra

do viện nghiên cứu phát triển Đức hơn hai phần ba các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài phải dung đường bộ để vận tải hàng hoá của mình.Hầu hết các nhà đầu tư được phỏng vấn đều chỉ trích điều kiện hệ thốngđường bộ nghèo nàn là một trở ngại trong kinh doanh Hầu hết các dự án hạtầng sử dụng nhiều vốn Cho đến nay, đầu tư vào cơ sở hạ tầng chủ yếu dựavào ngân sách nhà nước, bao gồm viện trợ ODA và các khoản vay ưu đãi

Sự tham gia của khối tư nhân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn hạnchế và chủ yểu theo hình thức xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (tronglĩnh vực cung cấp điện năng và nước) và hợp đồng hợp tác kinh doanh(trong ngành viễn thông) Quản lý và kinh doanh cơ sở hạ tầng tập trungvào một số ít các tổng công ty nhà nước Điều này dẫn đến thiếu tính cạnhtranh, hoạt động kinh doanh không hiệu quả Vì vậy trong tương lai, chúng

ta cần khuyến khích sự tham gia của khối tư nhân trong cung cấp dịch vụtiện ích và cơ sở hạ tầng, như vậy sẽ làm tăng chất lượng và giảm chi phí

mà chúng là các nhân tố chủ chốt thu hút FDI vào Việt Nam

3.6 Thị trường lao động

Tính cạnh tranh của thị trường lao động một quốc gia được thể hiện

ở chi phí lao động và chất lượng lao động, bao gồm cả lao động phổ thông

và lao động chất lượng cao Một quốc gia có thị trường lao động mang tínhcạnh tranh là một quốc gia có đội ngũ lao động dồi dào, với chi phí nhâncông thấp hơn các quốc gia khác, đồng thời cũng cần có một đội ngũ laođộng chất lượng cao để đáp ứng mọi nhu cầu của các nhà đầu tư

Việt Nam là một quốc gia có một lực lượng lao động hơn 40 triệungười, hàng năm tăng thêm từ 1,1 đến 1,2 triệu người Chi phí lao độngtương đối thấp so với các nước khác trong khu vực Đây là điểm lợi thế của

Trang 20

Việt Nam Tuy nhiên, lực lượng nhân công qua đào tạo của Việt Nam lạitương đối thấp Theo số liệu thống kê của Bộ Lao đông, Thương binh và

Xã hội công bố, chỉ gần 12% lực lượng nhân công Việt Nam được qua đàotạo Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật thì dư thừa trongkhi đó lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật Theo kết quả phỏng vấnnhiều nhà đầu tư nước ngoài, thiếu nhận thức kinh doanh, quản lý và kỹthuật là những hạn chế chính của người Việt Nam Thị trường lao độngViệt Nam vẫn nằm trong giai đoạn hình thành và chưa phát triển Sựchuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế khác nhau tương đối thấp sovới các nước khác, cụ thể là giữa khối nhà nước và khối tư nhân Việc yêucầu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải tuyển dụng lao độngtrong nước thông qua các cơ quan tuyển dụng được phép đã hạn chế tínhlinh hoạt của thị trường lao động

Tóm lại, mặc dầu Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về đội ngũ nhâncông rẻ và trẻ nhưng chất lượng nhân công lao động vẫn thấp Tình trạngnày làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành công nghệ cao

3.7 Khả năng sẵn có của các nhà cung cấp ở các nước nhận đầu

tư về linh kiện và nguyên vật liệu

Khi ra quyết định chọn địa điểm cũng như ngành nghề đầu tư, mộtyếu tổ mà các nhà đầu tư nước ngoài rất chú ý đó là khả năng cung cấp linhkiện và nguyên vật liệu ở nước nhận đầu tư Nếu quốc gia nào có các nhàcung cấp linh kiện cũng như các nguyên vật liệu dồi dào với chi phí thấp,thì sẽ có tính cạnh tranh cao trong việc thu hút FDI và ngược lại

Do ngành công nghiệp ở Việt Nam chưa phát triển, việc sử dụng linhkiện và nguyên vật liệu trong nước còn hạn chế Kết quả là hầu hết cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh trong ngành sản xuấtnhư điện tử, ô tô, và xe máy phải nhập linh kiện và hang bàn thành phẩm

Do chi phí nguyên vật liệu trong ngành sản xuất là nhân tố lớn nhất trongcấu thành chi phí, tình trạng không sẵn có các linh kiện và nguyên vật liệu

Trang 21

trong nước dẫn đến chi phí sản xuất cao và giảm lợi thế cạnh tranh của ViệtNam Ngoài ra, Việt Nam có hệ thống thuế nhập khẩu bất hợp lý cũng gópphần làm cho chi phí linh kiện và nguyên vật liệu cao Thuế nhập khẩutrung bình đánh vào linh kiện và nguyên vật liệu dao động từ 30% đến60% Theo kết quả điều tra với cơ quan thẩm quyền và các công ty pháttriển hạ tầng khu công nghiệp, việc thiếu công nghiệp hỗ trợ và nhà cungcấp trong nước là một trong những nguyên nhân chính làm số lượng lớncác nhà đầu tư tiềm năng không chọn đặt các cơ sở của họ ở Việt Nam.Thiếu các nhà cung cấp linh kiện và nguyên vật liệu trong nước làm giảmlợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các nước ASEAN4 và Trung Quốc.Tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn đối với Việt Nam khi Việt Namcam kết đầy đủ theo AFTA vào năm 2005, như vậy Việt Nam phải giảmthuế suất nhập khẩu xuống dưới 20% đối với 80% hang hoá Thành phẩm

từ các nước ASEAN khác bán tại Việt Nam sẽ chịu thuế suất nhập khẩuthấp hơn Do đó, không có lợi về mặt kinh tế cho các nhà đầu tư nướcngoài thành lập các cơ sở sản xuất ở Việt Nam

Tóm lại, tất cả các yếu tố trên đều góp phần quan trọng vào việc thuhút FDI của một quốc gia, do vậy nhằm tăng tính cạnh tranh trong việc thuhut FDI các nước cần phải có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩytính cạnh tranh cho các yếu tố trên

4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đang phát triển

Khủng hoảng nợ những năm 80 của thế kỉ XX khiến cho các nướcđang phát triển rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, để thoát khỏi tìnhtrạng đó các nước này đã thực hiện một loạt các biện pháp như: cải cáchkinh tế theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường, áp dụng chiến lượccông nghiệp hoá vào xuất khẩu… Nhưng do khủng hoảng nợ chồng chất,các nước đang phát triển không thể tiếp tục vay thêm từ các tổ chức quốc tế,

vì vậy họ phải nhìn vào nguồn vốn FDI Thực tế đã chứng minh đây là nhân

Trang 22

tố quan trọng để các nước đang phát triển thoát khỏi nợ nần và từng bướccông nghiệp hoá đất nước Vì vậy, trong thời gian qua mục tiêu hàng đầu củacác quốc gia đang phát triển là thu hút FDI, và thực tế cũng cho thấy dòngvốn FDI đã phát huy tác dụng của mình ở các nước này thời gian qua.

4.1 FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu qủa các nguồn lực trong nước

Hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn để công nghiệp hoá

và hiện đại hoá đất nước và nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng thúcđẩy quá trình này Nguồn vốn FDI đã được khai thác hiệu quả và ưu thếhơn hẳn các nguồn vốn khác Đây là đồng vốn do nhà đầu tư nước ngoàitrực tiếp quản lý, sử dụng và tự chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất kinhdoanh của mình, vì vậy thông qua việc sử dụng nguồn vốn FDI, nhiềunguồn lực trong nước (lao động, đất đai, tài nguyên…) được khai thác vàđưa vào sử dụng tương đối hiệu quả

Một nước phát triển cao như Mỹ với tổng vốn đầu tư là 1029 tỷ USD(1995) nhưng vẫn cần đến nguồn vốn FDI vào khoảng 90 tỷ USD (1995).Mặc dù FDI vào Mỹ chỉ chiếm khoảng hơn 8% tổng vốn đầu tư toàn xã hộinhưng nó có tầm quan trọng lớn đối với Mỹ, thể hiện ở việc dòng vốn FDIvào Mỹ đã làm tăng nguồn sinh khí mới cho thị trường đầu tư Mỹ

Ở Việt Nam, tính từ năm 1988 đến nay, đã có 5800 dự án với tổngvốn đăng ký đạt gần 50 tỷ USD Vốn thực hiện đạt 34,7 tỷ USD, chiếm trên20% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 1996-2000 và khoảng17-18% tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001-2005 Sauthời kỳ suy giảm do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khuvực diễn ra vào năm 1997, dòng vốn FDI vào Việt Nam trong những nămgần đây đã từng bước được phục hồi Năm 2002 vốn đăng ký mới đạt 2,8 tỷUSD, năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD, năm 2004 đạt 4,4 tỷ USD và năm 2005ước đạt 5 tỷ USD

4.2 Góp phần chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển

Trang 23

Khi các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút vào các nướcđang phát triển, nhiều công nghệ mới, hiện đại đã du nhập vào các nướcnày trong tất cả các lĩnh vực: viễn thông, hoá chất, điện tử, tin học…đã gópphần nâng cao năng lực công nghệ của nền kinh tế, giải quyết những khókhăn mà các nước đang phát triển mắc phải như không đủ khả năng tàichính mua sắm trang thiết bị hiện đại, không đủ trình độ quản lý các thiết bịđó… Nhìn chung, trang thiết bị của khu vực FDI là trang thiết bị đồng bộ,

có trình độ cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước vàthuộc loại phổ cập ở các nước trong khu vực Vấn đề bảo vệ môi trườngcũng được các doanh nghiệp FDI quan tâm Chính điều này đã tạo ra mộtbước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của một số ngành kinh tế mũinhọn của đất nước

4.3 Góp phần tạo việc làm mới và phát triển nguồn nhân lực cho nước sở tại

Thu hút vốn FDI nhằm tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế và tạoviệc làm cho người lao động là xu hướng quan trọng của tất cả các nướcđang phát triển Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những chính sách cụ thể vàbiện pháp khác nhau Kinh nghiệm chung của các nước là thu hút FDI phảidựa trên cơ sở phát triển sản xuất, tạo việc làm cho người lao động mới tạo

ra được sự phát triển bền vững FDI đóng vai trò quan trọng trong pháttriển kinh tế xã hội đối với các nước đang phát triển FDI có khả năng tạoviệc làm và cơ hội về việc làm cho người lao động, hơn thế FDI không chỉtạo việc làm trực tiếp mà còn tạo việc làm gián tiếp Theo điều tra củaNgân hàng Thế giới thì mỗi việc làm do FDI trực tiếp tạo ra sẽ tạo thêmcho từ một tới hai việc làm gián tiếp khác

Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các dự án FDI

sử dụng nhiều lao động được khuyến khích, nhất là trong lĩnh vực gia công,chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, đầu tư vào KCN,KCX Số lao động trực tiếp trong khu vực FDI đã tăng lên nhanh chóngtheo từng năm: từ trên 22 vạn người vào năm 1996 lên 38 vạn người vào

Trang 24

năm 2000 (tăng 72% so với năm trước) và từ 45 vạn người vào năm 2001lên 59 vạn người vào năm 2002 (tăng 31% so với năm trước) Đến nay, khuvực FDI đã thu hút trên 66 vạn lao động trực tiếp (tăng 12% so với nămtrước), vượt 10% so với dự kiến ban đầu.

Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt độngsản xuất kinh doanh trên lãnh thổ các quốc gia đang phát triển ,họ sẽ đưacác chuyên gia giỏi, cũng như phương thức quản lý doanh nghiệp hiện đại

và chuyên nghiệp Như vậy, những người lao động cũng như các doanhnghiệp nước đó sẽ có điều kiện và cơ hội để học hỏi, nâng cao trình độchuyên môn kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp

4.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty trong nước

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều nguồn lực ở các quôcgia đang phát triển như lao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tàinguyên…được phân bổ một cách hợp lý hơn Qua đầu tư nước ngoài, cácdoanh nghiệp ở các nước này có thể học tập mô hình quản lý hiện đại, mởrộng mối liên kết kinh doanh với doanh nghiệp trong nước, phát triển côngnghiệp phụ trợ, phụ liệu Đồng thời, khu vực đầu tư nước ngoài cũng tạosức ép thúc đẩy các doanh nghiệp nước sở tại cạnh tranh vươn lên, nângcao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp này làmquen với phương thức làm ăn theo tiêu chuẩn quốc tế

4.5 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho các nước đang phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Thông qua nguồn vốn FDI các nước đang phát triển có thể tiếp tụcnhận kỹ thuật công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới để từ đó nâng cao trình

độ khoa học công nghệ từng bước công nghiệp hoá

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu

để có thể tăng trưởng nhanh là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triểnnhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong đó FDI chiểm tỷ lệ lớntrong giá trị sản lượng công nghiệp và đầu tư xây dựng hạ tầng, từ đó từng

Trang 25

bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Ở Việt Nam, về cơ cấu ngành, khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, tạo ra nhiều ngành côngnghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp quantrọng khác như công nghiệp dầu khí, công nghệ thông tin, hoá chất, lắp ráp,điện tử và điện tử gia dụng… Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụcũng đã kích thích ngành dịch vụ Việt Nam phát triển nhanh hơn, nhất làtrong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, tài chính,ngân hàng… Về cơ cấu vùng, đầu tư nước ngoài tâp trung chủ yếu tại cácvùng kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùngkinh tế động lực để lôi kéo sự phát triển kinh tế chung và các vùng phụ cận.Điều này đã làm thay đổi bộ mặt và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mộtloạt địa phương, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 86% giátrị sản xuất công nghiệp của Bà Rịa- Vũng Tàu, 81% của Vĩnh Phúc…

4.6 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài làm tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua hoạt động mở rộng thị trường của mình

FDI có vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường các nướcđang phát triển Các doanh nghiệp có vốn FDI sẽ cung cấp hàng hoá, dịch

vụ mà sản xuất trong nước chưa đủ đáp ứng cả về số lượng và chất lượng,

từ đó mở rộng thị trường trong nước, đồng thời cũng góp phần to lớn thúcđẩy hoạt động xuất khẩu tại các nước này

Với trên 2160 dự án đã sản xuất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩucủa khu vực FDI (chưa kể dầu khí) của Việt Nam tăng nhanh chóng quacác thời kỳ Nếu thời kỳ 1991-1995, xuất khẩu mới đạt trên 1 tỷ USD, thì1996-2000 đạt trên 10,6 tỉ USD, tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước vàchiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước Trong mấy năm gần đây, tỷ lệkim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong kim ngạch xuất khẩu cả nước

đã tăng dần: từ 25% vào năm 2000 lên 30% vào năm 2003, nếu tính cả dầuthô thì tỷ trọng đạt 51% tổng kim ngạch xuất khẩu Đây là tỷ lệ cao hơn sovới mục tiêu đề ra của năm 2005 là 25% Tỷ trọng xuất khẩu so với doanh

Trang 26

thu tăng nhanh: thời kỳ 1991-1995 đạt 30%, thời kỳ 1996-2000 đạt 43%.Khu vực FDI đã góp phần mở rộng thị trường trong nước, thúc đẩy cáchoạt động dịch vụ phát triển nhanh, tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trongnước xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận thị trường quốc tế.

4.7 Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Thông qua việc đánh thuế các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam, tiền thuê đất đai, mặt nước, mặt biển…các nước đang phát triển

đã thu được một lượng vốn đáng kể vào ngân sách nhà nước Mức đónggóp này có xu hướng ngày càng tăng lên, tạo điều kiện cho các quốc giađang phát triển tái đầu tư sản xuất

Việt Nam cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp của khu vựcFDI vào ngân sách ngày càng tăng lên, góp phần nâng cao khả năng chủđộng của Chính phủ trong việc cân đối ngân sách Nộp ngân sách của khuvực FDI (không kể dầu khí) cũng không ngừng tăng lên, đạt gần 1,45 tỷUSD thời kỳ 1996-2000, gấp 4,5 lần 5 năm trước Trong ba năm gần đây,

số thu ngân sách của khu vực FDI năm sau cao hơn năm trước khoảng24% Năm 2002 số thu ngân sách của khu vực FDI chiếm 13,4% tổng thungân sách cả nước, 6 tháng đầu năm 2003 đạt 14,2% tổng thu ngân sách cảnước, vượt chỉ tiêu đề ra của năm 2005 (10%)

II SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

1 Khái niệm và các phương tiện quảng cáo

1.1 Khái niệm quảng cáo

Hoạt động quảng cáo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế - xãhội của nhiều nước trên thế giới và phát triển theo nhịp độ của sự phát triểnkinh tế thị trường Ngày nay, quảng cáo đã trở thành một động lực quantrọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của hầu hết các nước trên thếgiới Ở Việt Nam, quảng cáo hình thành và phát triển đồng thời với côngcuộc đổi mới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã

Trang 27

đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để quảngcáo Việt Nam phát triển vững chắc đúng định hướng và tạo hành lang pháp

lý cho hoạt động quảng cáo, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “xâydựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng luật quảng cáo Năm 2001, đáp ứng sựphát triển của quảng cáo, tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạtđộng này, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X đã thông qua Pháp lệnhquảng cáo, sau đó là các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ và BộVăn hoá - Thông tin

Theo điều 4 - chương I, pháp lệnh quảng cáo: “Quảng cáo là giới thiệuđến người tiêu dung về hoạt động kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, bao gồmdịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”

Trong đó, dịch vụ có mục đích sinh lời là dịch vụ nhằm tạo ra lợinhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ, còn dịch vụ không có mụcđích sinh lời là dịch vụ không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhâncung ứng dịch vụ

Theo khoản 8, điều 2, Nghị định 24/2003/ NĐ-CP về quảng cáo:

“Quá trình hoạt động quảng cáo là việc thực hiện chiến lược tiếp thị, xúctiến quảng cáo, tư vấn quảng cáo, thực hiện ý tưởng quảng cáo, giới thiệusản phẩm quảng cáo đến người tiêu dùng” Như vậy, có thể hiểu hoạt độngcung cấp dịch vụ quảng cáo được bắt đầu từ khi thực hiện chương trình tiếpthị cho đến khi giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng Điều này cũng cónghĩa là các dự án nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch tiếp thị, chiến lượcphát triển sản phẩm là những công đoạn trước của quá trình hoạt độngquảng cáo và do vậy sẽ không thuộc các dự án quảng cáo Chúng ta cầnquan tâm đến sự phân biệt này vì nó liên quan đến thẩm quyền cấp phépđầu tư cũng như các hình thức đầu tư nếu nhà đầu tư nước ngoài hoạt độngkinh doanh trong lĩnh vực này ở Việt Nam Nếu là hoạt động cung cấp dịch

vụ quảng cáo thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền cấp giấy phép, và

Trang 28

nhà đầu tư nước ngoài sẽ được đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liêndoanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh Còn nếu đó là các dự án nghiêncứu thị trường, lấp kế hoạch tiếp thị, chiến lược phát triển sản phẩm thì uỷban nhân dân các tỉnh có dự án đầu tư có thẩm quyền cấp giấy phép vàngoài hai hình thức đầu tư như trên thì nhà đầu tư nước ngoài có thể thànhlập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.

1.2 Các phương tiện quảng cáo

Ngay từ những năm cuối thập niên 80, hoạt động quảng cáo tại ViệtNam đã manh nha hình thành và trải qua một quá trình sơ khai từ khi cónhiều công ty nước ngoài lần lượt vào Việt Nam đầu tư kinh doanh Saungày Mỹ huỷ bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam vào đầu tháng 2/1994,những đặc trưng về một nền công nghiệp quảng cáo đã hình thành vớinhững thị phần ngày càng phát triển theo tốc độ tăng trưởng kinh tế, sựphát triển của quảng cáo trong giai đoạn này đáp ứng được sự đòi hỏi củasản xuất hang hoá, tính hấp dẫn của nền kinh tế mở, sự thúc bách của quátrình hội nhập Những chiến dịch quảng cáo có quy mô bắt đầu nở rộ trêncác phương tiện thông tin đại chúng Người tiêu dùng thu nhận đầy đủ cácloại thông tin về chất lượng hàng hoá, sản phẩm và được sống với một thếgiới công khai chọn lựa để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa mình Và như một tất yếu, các phương tiện quảng cáo như báo chí,truyền hình, đài phát thanh, quảng cáo trên panô, áp phích…đã phát triểnmạnh mẽ tạo nên sự cạnh tranh quyết liệt trong nền kinh tế thị trường Theođiều 9, chương II của Pháp lện quảng cáo của Việt Nam, các phương tiệnquảng cáo bao gồm:

1 Báo chí gồm báo in, bao hình, báo nói và báo điện tử

2 Mạng thông tin máy tính

3 Xuất bản phẩm gồm cả phim, ảnh, băng hình, đĩa hình, băng âmthanh và đĩa âm thanh

4 Chương trình hoạt động văn hoá, thể thao

Trang 29

5 Hội chợ, triển lãm

6 Bảng, biển, pa - nô, băng - rôn, màn hình đặt nơi công cộng

7 Vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước

8 Phương tiện giao thông, vật thể di động được

9 Hàng hoá

10 Các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luậtQuảng cáo sản phẩm trên các phương tiện truyền thông sẽ đến đượcđại đa số quần chúng Hoạt động này đã trở nên rất quen thuộc trong cuộcsống chúng ta, nó trở nên thông lệ trong việc tiếp nhận thông tin dù muốn

dù không Hình thức này thưòng lặp đi lặp lại khiến cho người xem nhớđược nội dung giới thiệu Vì lượng thời gian ít nên nội dung quảng cáo phải

cô đọng súc tích, hình ảnh đẹp gây ấn tượng cho người xem

Quảng cáo trên mạng máy tính và xuất bản phẩm trong thời gian quađang có chiều hướng phát triển theo sự phát triển nhanh chóng của mạnglưới internet Đây là những phương tiện quảng cáo có nhiều ưu điểm đốivới các doanh nghiệp vừa và nhỏ Do hiệu quả cao, chi phí quảng cáo trêncác phương tiện này lại thấp hơn truyền hình, báo in và một số phương tiệnkhác, do đó đã thu hút được rất nhiều quảng cáo Tuy vậy, loại hình hoạtđộng quảng cáo đang phát triển này đã đặt ra cho công tác quản lý nhiệm

vụ phải bắt nhập kịp thời tình hình để có biện pháp quản lý hiệu quả

Tài trợ các cuộc thi, các chương trình truyền hình…cũng là nhữnghình thức được các nhà sản xuất quan tâm đề cập tới Ngoài việc xây dựng,thiết kế chương trình sao cho thu hút sự quan tâm của khán giả thì việclồng ghép khéo léo những hình thức quảng cáo như: tặng thưởng, tờ rơi tờgấp, băng rôn biểu ngữ quảng cáo…đòi hỏi những người thiết kế có sựquan tâm đặc biệt Có những phương pháp thiết kế rất hay nhưng hiệu quảcông việc quảng cáo lại không cao bởi nếu chỉ thoả mãn nhu cầu làm đẹp,thì thiết kế đó chỉ đạt được chức năng thẩm mỹ thị giác Để đạt được hiệuquả cao trong quảng cáo thì thiết kế phải cùng lúc thoả mãn nhiều chức

Trang 30

năng khác Điều đó giúp các nhà thiết kế định hướng một cách khách quancho hình thức sản phẩm sao cho phù hợp nhất.

Cùng quảng cáo sản phẩm trong một không gian rộng lớn là điều cácnhà sản xuất quan tâm trong xã hội hiện đại Hội trợ triển lãm là cơ hội đểcác doanh nghiệp tự giới thiệu mình trước công chúng Đây thực sự là mộtcuộc trình diễn hoành tráng về sắc màu của quảng cáo đồ hoạ Sự có mặtcủa rất nhiều các sản phẩm từ mọi miền hội tụ đã đem đến cho triển lãmmột khuôn mặt của lễ hội, của màu sắc Làm thế nào để thu hút khách hàngtới gian hàng của mình, làm thế nào để nổi bật, thật ấn tượng? Màu sắctrong quảng cáo hội trợ sẽ góp phần thành công trong triển lãm

Bước chân vào trung tâm triển lãm, ngoài những âm thanh sôi độngnhư thúc giục đôi chân rảo bước thì màu sắc xung quanh khiến không khítrở nên đông vui, sôi động hơn Đó là những màu đỏ, vàng, cam, lam,tím…của băng rôn khẩu ngữ, của hàng cờ như reo vui, như vẫy chào Trêncao hơn là những chùm bóng rực rỡ đầy màu sắc cùng dải băng xanh, đỏnổi bật trên nền trời sáng Hoà vào màu sắc tưng bừng của lễ hội là nhữngdòng người với đủ màu sắc của trang phục Công chúng đến để vui chơi,giải trí, mua sắm hàng hoá Các doanh nghiệp đến tìm cơ hội giới thiệu sảnphẩm, tìm đối tác kinh doanh Một bên cung cấp thông tin và một bên lànơi tiếp nhận thông tin Hội trợ triển lãm là nơi các doanh nghiệp tự khẳngđịnh mình trực tiếp trước quần chúng Các nhà sản xuất thường mang đếnđây những sản phẩm độc đáo nhất của mình Sự đồng bộ từ trang phục đếncách bày trí sẽ gây được ấn tượng, tạo uy tín, thanh thế cho công ty Màusắc sống động, mới mẻ toát lên sự hài hoà bắt mắt gây sự tập trung của thịgiác Ta có thể bắt gặp muôn màu muôn sắc của cuộc sống trong triển lãm

Đó là những màu sang trọng, quý phái với các gam màu trầm như: nâu đỏ,trắng, ghi, xanh, xanh đen…của những sản phẩm thời trang Một tông màuvàng rực rỡ đầy hương vị của sản phẩm thực phẩm Những sắc màu xanhlạnh, ghi tạo sự tin cậy của đồ điện tử gia dụng… Tất cả như cạnh tranh

Trang 31

nhau, tôn nhau, hoà vào nhau làm nên một bản đồn ca lớn về màu sắc trongquảng cáo Vào hội trợ để làm đẹp hết mình, khoe hết mình, thể hiện hếtmình Những kết quả thu được là vô cùng lớn Những công ty lớn tiếp tụckhẳng định mình, những công ty mới thành lập thì giới thiệu về mình,khách hàng có cơ hội tìm kiếm sản phẩm phù hợp với mình… Nhu cầu vàmục tiêu gặp nhau ở một điểm chung đó là cái đẹp Mọi người tìm cái đẹpthông qua màu sắc, các nhà sản xuất đáp ứng thị hiếu đẹp thông qua màusắc Màu sắc chính là cầu nối giữa cái đẹp với con người, làm cho cuộcsống của con người ngày càng đẹp hơn

Hình thức quảng cáo trên các bảng, biển, panô, băng rôn, màn hìnhđặt nơi công cộng và các phương tiện quảng cáo ở ngoài trời khác, ngàycàng được phát triển đặc biệt là ở các đô thị lớn Đây là hình thức quảngcáo tốn ít kinh phí, nhưng đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên các nước cần có

sự quy hoạch cụ thể trong hình thức quảng cáo này để nó phát triển mộtcách quy củ, góp phần làm đẹp cảnh quan đô thị

2 Vai trò của ngành quảng cáo với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước

Từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh

tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,kinh tế - xã hội nước ta đã có những chuyển biến rất mạnh mẽ Đời sốngcủa đại bộ phận nhân dân được nâng cao Các hoạt động kinh tế - văn hoá -

xã hội ngày một phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vậtchất và các giá trị văn hoá, tinh thần của người lao động Công cuộc đổimới đã tạo ra cơ hội to lớn cho ngành quảng cáo hình thành và phát triển.Cái gì cũng vậy, bắt đầu là sự lạ lẫm, lâu dần thành quen thuộc Nhớ buổiđầu trên các báo, đài của ta chỉ mới dám rụt rè mở một mục nhỏ có tên rấtkhiêm tốn là “thông tin kinh tế - xã hội” Vậy mà bây giờ hai chữ “quảngcáo” đã chiếm một vị trí thích đáng với một tư thế hiên ngang trên các báo,đài phát thanh và truyền hình Cùng với nhiều nước trên thế giới, quảng cáo

Trang 32

ở nước ta thực sự trở thành một nghề kinh doanh hái ra tiền với một côngnghệ ngày càng trở nên chuyên nghiệp và hiện đại Sau 20 năm đổi mới (từ

1986 đến nay), ngành quảng cáo đã có một vị trí đáng kể trong nền kinh tế

và góp phần không nhỏ vào tuyên truyền, quảng bá cho những chươngtrình, hoạt động xã hội mang tính công ích của Đảng và Nhà nước đến vớinhân dân

Thông qua quảng cáo, người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm hàng hoá,dịch vụ phù hợp, góp phần kích thích sự phát triển của sản xuất đáp ứngnhu cầu tiêu dùng, đẩy mạnh canh tranh, đổi mới sản phẩm hàng hoá, hạgiá thành…tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất phát triển

Quảng cáo đã đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồmnhững người làm quảng cáo chuyên nghiệp trong các doanh nghiệp, đơn vịkinh doanh dịch vụ quảng cáo và những người làm các công việc phụ trợcho quảng cáo như hoạ sỹ, nhà quay phim, nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, thợ

in, kỹ thuật viên, báo chí, xuất bản, tiếp thị…

Nguồn thu từ quảng cáo đã hỗ trợ rất lớn trong việc đổi mới nângcao chất lượng các chương trình, đồng thời góp phần không nhỏ vào sựphát triển của các phương tiện thông tin đại chúng

Dưới hình thức tài trợ cho các chương trình văn nghệ, thể thao, vuichơi giải trí, các doanh nghiệp đã đầu tư rất lớn về kinh phí để đưa thươnghiệu, nhãn hiệu hàng hoá của mình đến với người tiêu dùng Cũng nhờ sựtài trợ đó, các chương trình nói trên được tổ chức thường xuyên hơn vàchất lượng cũng được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức củacông chúng

Ngoài ra quảng cáo góp phần quan trọng vào hoạt động xúc tiếnthương mại của các doanh nghiệp, thông qua hoạt động quảng cáo, cácdoanh nghiệp thúc đẩy bán hàng, giới thiệu hình ảnh thương hiệu, sảnphẩm, hoạt động của doanh nghiệp ra quốc tế và hoạt động hợp tác đầu tư

Một đóng góp thiết thực nữa của quảng cáo đối với xã hội là sự tham

Trang 33

gia vào chương trình phục vụ lợi ích xã hội Trong thời gian vừa qua,quảng cáo đã góp phần tích cực nâng cao ý thức của người dân về lợi íchcủa chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, phòng chống dịch bệnh,

vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, phòng chống HIV, AIDS, cứu trợnhân đạo…

Sự có mặt của quảng cáo với hình ảnh đẹp, lời lẽ văn minh, kỹ thuậthiện đại đã góp phần làm cho bộ mặt các đô thị của chúng ta trở nên đẹp vàhấp dẫn hơn

3 Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo ở nước ta

Nền kinh tế thị trường nước ta đã sinh ra một ngành sản xuất vật chấtmới, đó là ngành dịch vụ quảng cáo.Do vậy, sự phát triển của ngành dịch

vụ này gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế sinh ra nó Nhu cầu quảngcáo của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội, của các địa phương, khu vực

là rất lớn và thường xuyên tăng lên Hiện nay nhu cầu quảng cáo trên thịtrường Việt Nam là 7000 tỷ đồng và tới năm 2020 có thể đạt 24000 tỷđồng Với tổng mức nhu cầu như vậy đã làm cho thị trường này rất sôiđộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi dịch vụ quảng cáo đa dạng,phong phú với chất lượng cao Từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp quảng cáophải thường xuyên đổi mới công nghệ, đẩy mạnh hoạt động sáng tạo ýtưởng, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ lao động… Mặc dù sốlượng các công ty quảng cáo của Việt Nam tăng lên một cách chóng mặt,cộng thêm sự đa dạng của chúng làm người ta lầm tưởng về một sự trưởngthành của các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam Trong khi đó, thực chấtcác doanh nghiệp quảng cáo của chúng ta vẫn chỉ đa phần là thực thi nhữngcông đoạn hết sức cụ thể hoặc thuần tuý kỹ thuật như quảng cáo tấm lớn,quảng cáo ngoài trời, thiết kế đồ hoạ, hay có những doanh nghiệp chỉchuyên trách dịch vụ quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện, hoặc môi giớitài trợ và bản quyền truyền hình… Nguyên nhân nào đã dẫn đến sự kém

Trang 34

phát triển đó của các công ty quảng cáo Việt Nam? Đáp án cho câu hỏi này

đó là những nguyên nhân do các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam thiếuvốn, thiếu công nghệ, thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnhvực này

Các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệpvừa và nhỏ, họ luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng doanh nghiệp cũng như

để mua các trang thiết bị, công nghệ tiên tiến để phục vụ cho ngành nghềcủa mình

Công nghệ cũng là một vấn đề mà các công ty nội địa gặp khó khăn

Có lẽ đã hàng chục năm nay, phương tiện quảng cáo ngoài trời ngoài trờithống trị của chúng ta là biển quảng cáo tấm lớn, là hộp đèn Các nhà quản

lý đang đau đầu với quy hoạch ngoài trời và công nghệ phù hợp Trong khi

đó, thế giới không ngừng đưa ra các công nghệ quảng cáo mới, phù hợphơn với những môi trường đô thị

Ngoài ra, kinh nghiệm, uy tín và năng lực sáng tạo của các công tyquảng cáo trong nước cũng là điều đáng phải bàn Thiếu người quen việc,giỏi nghề, thiếu tài liệu giáo trình, sách báo chuyên ngành, thiếu trường,thiếu lớp, thiếu thầy và thiếu không gian học tập thực tế cho lớp trẻ…chính

là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến hệ quả là các nhà quảng cáo ViệtNam chỉ có được một thị phần và vị trí khiêm tốn Theo kết qủa điều tracủa báo Người lao động (số ra ngày 28/1/2005) ở Việt Nam hiện có gần

2000 công ty quảng cáo nội địa, tuy nhiên chỉ có khoảng 10 công ty trong

số này thật sự chuyên nghiệp và chỉ có 5 công ty mang tầm quốc tế Nếutình bình quân (phần nhiều) mỗi công ty có 10 nhân viên thì nhân lực làmviệc trong ngành này tại Việt Nam ước khoảng 20000 người, nhưng theo ýkiến của các nhà chuyên môn, nhìn từ góc độ thị trường và hệ thống đàotạo quảng cáo của ta hiện nay thì đội ngũ làm quảng cáo chuyên nghiệp củaViệt Nam chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong con số trên

Hệ quả của những thiếu hụt và yếu kém trên tất yếu dẫn đến các

Trang 35

doanh nghiệp quảng cáo của Việt Nam chưa biết khai thác hết thị trườngtrong nước, các hợp đồng quảng cáo lớn không được dành cho họ và gầnnhư tất cả các công ty này chưa biết khai thác thị trường béo bở này ởnước ngoài.

Trong khi đó, các công ty quảng cáo nước ngoài họ luôn có đầy đủcác nguồn lực mà chúng ta thiếu Họ có một nguồn vốn dồi dào, với mộtcông nghệ hiện đại và chuyên nghiệp, một trình độ chuyên môn sâu rộngvới một bề dày kinh nghiệm lâu năm

Do vậy, để ngành quảng cáo trong nước thực sự phát triển trongtương lai, một chìa khoá hiệu quả nhất tháo gỡ những khó khăn của chúng

ta là chúng ta phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nàythúc đẩy ngành phát triển, cũng như để các công ty quảng cáo trong nước

có điều kiện tìm hiểu, học hỏi xem những “gã khổng lồ” đó được sinh ranhư thế nào và được nuôi nấng ra sao để các doanh nghiệp trong nước cóthể chuẩn bị để ngày một lớn mạnh

Ngoài những lý do trên, một lý do khách quan đươc đặt ra đòi hỏichúng ta phải thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triểnkinh tế - xã hội đất nước, đó là xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Và ngành quảng cáo cũng như các ngành khác, không thể đứng ngoài xuhướng chung này Mặt khác, những cam kết của Việt Nam trong quá trìnhđàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vựcquảng cáo đã buộc Việt Nam phải chấp nhận tiến hành mở cửa với nhữngquy định thay đổi về vốn đầu tư, hình thức đầu tư, phạm vi đầu tư cho cácnhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam theo quy định quốc tế

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

I NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO

Trang 36

1 Những quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo

Xuất phát từ thực tiễn năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ViệtNam trong lĩnh vực quảng cáo còn hạn chế, Chính phủ đã xếp đầu tư nướcngoài trong lĩnh vực này vào nhóm các lĩnh vực đầu tư có điều kiện để cócác biện pháp bảo hộ và hỗ trợ cho sự phát triển của ngành công nghiệpdịch vụ non trẻ này Trong những năm đầu khi Luật Đầu tư nước ngoài cóhiệu lực, Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư tham gia vào thị trườngquảng cáo Cho đến khi nghị định 194/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1994của Chính phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam và Thông tư37/VHTT-TT ngày 1 tháng 7 năm 1995 hướng dẫn Nghị định 194/NĐ-CPđược ban hành, thì nhà đầu tư nước ngoài mới được đầu tư dưới hình thứchợp đồng hợp tác kinh doanh trong thời gian tối đa là 5 năm với doanhnghiệp quảng cáo Việt Nam

Cùng với sự phát triển của thị trường, tại Nghị định 24/2000/NĐ-CPngày 31 tháng 7 năm 2000 Chính phủ đã cho phép nhà đầu tư nước ngoàiđược đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ quảng cáo theo hình thức liên doanh hoặchợp đồng hợp tác kinh doanh, và thẩm quyền cấp giấy phép cho các dự ánnày thuộc Thủ tướng Chính phủ

Tiến thêm một bước nữa, tại Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19tháng 3 năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định24/2000/NĐ-CP Chính phủ đã phân các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnhvực quảng cáo thành hai nhóm: (i) dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo gắnvới phát hành và (ii) dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo không gắn với pháthành, theo đó:

- Về hình thức đầu tư: Các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vựcquảng cáo phải thực hiện theo hình thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp táckinh doanh

- Về thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư: Các dự án cung cấp dịch vụ

Trang 37

quảng cáo có gắn với phát hành quảng cáo, thuộc nhóm A do Thủ tướngChính phủ xem xét quyết định Đối với các dự án chỉ đơn thuần cung cấpdịch vụ quảng cáo mà không có phương tiện phát hành, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư sẽ quyết định trên cơ sở tham khảo ý kiến của các cơ quan liên quan, đặcbiệt là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hoá - thông tin Các dự ánnày chưa được phân cấp cho địa phương Bên cạnh đó, về phạm vi hoạtđộng, các dự án cung cấp dịch vụ quảng cáo chỉ được phép thực hiện cáccông đoạn cho đến khi đăng ký lịch quảng cáo với các phương tiện thông tinđại chúng, mà chưa được phép trực tiếp ký hợp đồng với đơn vị này

Trong thực tiễn thực hiện, ranh giới giữa dự án quảng cáo với các dự

án khác như nghiên cứu thị trường, marketing…còn khó xác định Vì vậy,tại Nghị định 24/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2003 quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh Quảng cáo Chính phủ đã định nghĩa: ”Quá trình hoạtđộng quảng cáo là việc thực hiện chiến lược tiếp thị, xúc tiến quảng cáo, tưvấn quảng cáo, thực hiện ý tưởng quảng cáo, phát hành quảng cáo, giớithiệu sản phẩm quảng cáo đến người tiêu dùng”, nghĩa là dự án được xácđịnh là cung cấp dịch vụ quảng cáo khi bắt đầu thực hiện chương trình tiếpthị cho đến khi giới thiệu quảng cáo đến công chúng Điều này cũng cónghĩa là các dự án nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch tiếp thị, chiến lượcphát triển sản phẩm là những công đoạn trước của quá trình quảng cáo và

do vậy không thuộc nhóm các dự án quảng cáo

2 Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo thời gian qua

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa thị trường làmột yêu cầu bức thiết khách quan Tuy nhiên, xét điều kiện và năng lựcthực tế của doanh nghiệp quảng cáo trong nước, Chính phủ đã xây dựngmột lộ trình mở cửa nhằm từng bước cho phép các nhà đầu tư nước ngoàitham gia vào thị trường, trong khi củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp trong nước Điều này được thể hiện rõ trong Hiệp

Trang 38

định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định khuyến khích và bảo hộđầu tư Việt Nam - Nhật Bản.

2.1 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA)

Theo bảng lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể (Phụ lục G,BTA), quy định hình thức cung cấp với các dịch vụ quảng cáo (trừ các dịch

vụ quảng cáo đối với mặt hàng rượu và thuốc lá) như sau:

Việt Nam đã cam kết cho phép các nhà đầu tư Hoa Kỳ tham gia vàothị trường quảng cáo ở Việt Nam theo hinh thức hợp đồng hợp tác kinhdoanh hoặc hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinhdoanh dịch vụ này Phần góp vốn của nhà đầu tư Hoa Kỳ không được phépvượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh Sau 5 năm kể từ ngày Hiệpđịnh có hiệu lực, giới hạn tỷ lệ góp vốn phía Hoa Kỳ là 51% vốn pháp định

và sau 7 năm giới hạn này sẽ bị loại bỏ

2.2 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản

Theo mục 5 phụ lục II (Những lĩnh vực hoặc vấn đề ngoại trừ tạiđiều 2 và điều 4 của Hiệp định) của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu

tư Việt Nam - Nhật Bản, thoả thuận về các dịch vụ quảng cáo như sau: kếthừa cam kết tại BTA và phù hợp với các quy định hiện hành, tại Hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam đã cam kếtcho phép nhà đầu tư Nhật Bản được phép tham gia vào thị trường quảngcáo thông qua hình thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh vớiđối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo ( không có camkết về giới hạn tỷ lệ góp vốn pháp định của bên nước ngoài)

II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1 Tình hình chung

Tính đến hết năm 2004, có 10 dự án đầu tư nước ngoài cung cấpdịch vụ quảng cáo tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là 12,098 triệu

Trang 39

- Có 6 dự án doanh nghiệp liên doanh cung cấp dịch vụ quảng cáokhông gắn với phát hành quảng cáo, đó là: Hợp doanh sản xuất lịch trìnhbay quốc tế và quảng cáo; Công ty liên doanh TNHH Saatchi & SaatchiViệt Nam, dịch vụ quảng cáo; Công ty liên doanh TNHH in phun quảngcáo Thiên Hy Long Việt Nam; Công ty TNHH Hakuhodo & Quảng cáo SàiGòn; Công ty TNHH McCAAN - Erickson Việt Nam, cung cấp dịch vụquảng cáo thương mại; Và Công ty liên doanh Vĩ Mô - TQPR Việt Nam.

2 Phân tích một vài dự án

Trong 10 dự án tính đến hết năm 2004 ta sẽ đi sâu phân tích 4 dự án,qua đó giúp chúng ta có những cái nhìn sâu hơn về quá trình thành lập cũngnhư thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo ở ViệtNam thời gian qua

2.1 Dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa Công ty TNHH M&T và Leo Burnett Worldwide Inc

Ta có thể tóm tắt sơ lược về dự án như sau:

Bảng 2: Tóm tắt dự án HĐHTKD dịch vụ quảng cáo giữa công ty

TNHH M& T và Leo Bumett Worldwide Inc

Tên dự án H§HTKD dÞch vô qu¶ng c¸o gi÷a C«ng ty

TNHH M&T vµ Leo Burnett Worldwide Inc

Số GPĐT 2041/GP ngày 5/3/1998

Hình thức đầu tư HĐHTKD

Ngày đăng: 13/04/2013, 12:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh chi phí kinh doanh giữa Việt Nam, Trung Quôc,  Thái Lan và Philippin - Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010
Bảng 1 So sánh chi phí kinh doanh giữa Việt Nam, Trung Quôc, Thái Lan và Philippin (Trang 17)
Hình thức đầu tư HĐHTKD - Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010
Hình th ức đầu tư HĐHTKD (Trang 40)
Bảng 5: Tóm tắt dự án công ty TNHH Mccaan - Ericson Việt Nam - Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2010
Bảng 5 Tóm tắt dự án công ty TNHH Mccaan - Ericson Việt Nam (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w