Ảnh hưởng của tưới tiết kiệm nước và phân viên nén đến năng suất lúa và môi trường đất.
Trang 1ANH HUONG CUA TUO! TIET HIỆM NƯỚC VA PHAN VIÊN NEN
DEN NANG SUAT LUA VA MOI TRUONG DAT
1 DAT VAN DE
Năm 2002 thế giới có 6,2 tỷ người nhưng đến nắm
2030 sẽ đạt đến 8 tỷ người Hầu hết dân số sẽ tập
trung ở khu vực đô thị Điều này sẽ gây ra những vấn
đề về tranh chấp nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn
tài nguyên nước Đô thị hoá cũng sẽ làm cho thị trường
lứa gạo và sự phân phối sản phẩm này cũng có nhiều
thay đổi so với trước kia Ngày càng nhiều hơn những
người yêu cầu lứa gạo có chất lượng cao hơn và an
toàn hơn, và chỉ phí trồng lúa thấp hơn Mặt khác, hiện
đang có xu hướng chuyển hệ thống cây trồng có lúa
sang các hệ thống cây trồng khác có lợi nhuận cao
hơn Nói cách khác nếu kh?ng nghiên cứu biện pháp để
tăng năng suất lúa thì lúa ngày càng ít đi hay nói cách
khác mức độ an toàn lương thực sẽ kém hơn Tình hình
sản xuất nông nghiệp của Việt Nam không nằm ngoài
những nhận định trên,
Để có nhiều lúa gạo thì cần nâng cao năng suất
trong từng mùa vụ và cả năm Hai yếu tố rất quan trọng
để nâng cao năng suất lúa đẩy là nước và phân bón
(nhất nước, nhì phân) Nhưng, nguồn nước ngày càng
khan hiếm hơn do các nguyên nhân về thay đổi khí
hậu, diện tích rừng giảm, nhu cầu nước cho các ngành
khác tăng lên, mặt khác duy trÌ phương pháp tưới ngập
như hiện nay sẽ làm cho lúa sinh trưởng kém, rễ nhanh
bị thoái hoá ở giai đoạn sinh trưởng cuối Các kết quả
nghiên cứu trong và ngoài nưốc đã khẳng định cần tưới -
tiết kiệm nước, nghĩa là trong giai đoạn từ khi bén rễ hỏi
xanh đến lúc lúa làm đòng không có lớp nước trên mặt
Nguyễn Tất Cảnh" Nguyễn Văn Dung? ruộng Chế độ nước này ảnh hưởng như thế nào đến động thái các chất dinh dưỡng trong điều kiện tưới tiết kiệm nước và ảnh hưởng như thế nao đến hiệu quả sử dung phan bón của cây lương thực quan trọng bậc nhất
ở Việt Nam này Bài báo này sẽ góp phần giải quyết những vấn đề nêu trên
!I Nội DUNB VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Bố trí thí nghiệm (xem Bảng) chế độ tưới cho lúa
ở các thời kỳ trên các “xi mang” có diện tích 1m? với giống Tạp giao 4 được bón 120N + 60P;O,+ 60K,O
kg/ha trong đó sử dụng 30%N từ phân hữu cơ
2 Bố trí thí nghiệm trong chậu vại để xác định động
thái của đạm amôn và nitrat khi kiểm soát độ ẩm từ độ chứa ẩm tối đa đến độ ẩm bão hoà
3 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng với hai chế độ tưới: A: tưới ngập và C: tưới ngập ẩm luân phiên để theo dõi
sự sinh trưởng của lúa và động thái của các chất dinh dưỡng trong đất
4 Bố trí thí nghiệm xác định tý lệ phối hợp N vô cơ dạng viên nén và N hữu cơ ở các chế độ tưới khác nhau Giống thí nghiệm Nhị ưu 838, vụ mùa 2005
5, Các chỉ tiêu phân tích: đạm, lân, kali, sắt hoá trị 2
và 3, điện thế ôxy hoá khử trong đất được tiến hành tại phòng thí nghiệm trung tâm của khoa Đất & Môi trường
6 Các số liệu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất được xử lý thống kê bằng phan mềm
IRRISTAT 5.0 for WINDOW
A1 Không bón phân - ngập liên tục
bón dúi ngập nước liên tục
bón dúi ngập nước liên tục
ngập nước liên tục
B1 | Không bón phân - ẩm liên tục
bón dúi ẩm liên tục
bón dúi ẩm liên tục
ẩm nước liên tực
A2 Bón (80N + 60P,O, + 60K;O)kg/ha trong đó sử dụng 30%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nén NK A3 Bón (90N + 60P,0, + 60K;O) kg/ha trong đó sử dụng 50%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nén NK A4 Bén (120N + 60P,0, + 60K,0) kg/ha trong đó sử dụng 30%N tir phan hữu cơ, phân võ cơ dùng dam uré bón vãi -
B2 Bón (90N + 60P,O; + 60K,0) kg/ha trong đó sử dụng 30%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nên NK B3 Bón (90N + 60P;O, + 60K;O) kg/ha trong đó sử dụng 50%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nén NK B4 Bón (120N + 60P;O; + 60K,O) kg/ha trong đó sử dung 30%N tir phân hữu cơ, phân vô cơ dùng đạm ure bón vãi
! và ? Khoa Đất & Môi trường, Đại học Nông nghiệp 1
136
Trang 2C1 Không bón phân - tưới xen kẽ đến khi làm dong
c2 Bón (90N + 60P,O, + 60K,0) kg/ha trong đó sử dụng 30%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nén NK bón dúi tưới xen kẽ đến khí làm đòng
c3 Bén (90N + 60P;O; + 60K,O) kg/ha trong đó sử dụng 50%N từ phân hữu cơ, phân vô cơ dùng phân viên nén NK bón dúi tưới xen kẽ đến khi làm dong
C4 Bón (120N + 60P,O; + 60K;O)kg/ha trong đó sử dung 30%N tur phan hữu cơ, phân vô cơ dùng đạm ure bón vãi tưới xen kẽ đến khi làm đỏng
III KẾT QUẢ NGRIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Ảnh hưởng của tưới nước tiết kiệm đến diễn
biến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất lúa
Vụ xuân năm 2004 và 2005 thí nghiệm đánh giá tác
động của quản lý nước và phương pháp canh tác đến
năng suất lúa đã được tiến hành Từ khi cấy đến 7 ngày
sau khi cấy trên mặt ruộng giữ lớp nước 1-3cm và 7
ngày sau khi cấy cho đến khí chín sinh lý ' gữ không có
lớp nước trên mặt rưộng, đất được git ẩm bằng việc
tưới nước theo yêu cầu Ngưỡng dưới của độ ẩm để tưới
bằng 85% độ chứa ấm tối đa đồng ruộng được giữ từ
sau khi cấy 7 ngày cho đến khi kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu, 70% độ chứa ẩm tối đa đồng ruộng được giữ từ khi đẻ nhánh hữu hiệu cho đến khi xuát hiện lá đỏng
thứ hai, 85% độ giữ ẩm tối đa được giữ từ lá đông thứ hai cho đến 10 ngày sau trố, và độ ẩ âm 75% được giữ từ
10 ngày sau trỗ cho đến khi chín Kết quả thí nghiệm
được trình bày ở bảng † cho thấy mặc dù hệ số diện tích lá có thấp hơn nhưng các chỉ tiêu cấu thành năng suất số bông trên một đơn vị diện tích, trọng lượng
nghìn hạt và tỷ lệ thành bông hữu hiệu lại cao hơn so
với phương pháp anh tác lúa truyền thống? do phần
trăm diện tích lá hoạt động cao hơn
Bảng †, Các chỉ tiêu cấu thánh năng suất lúa khi canh tác tưới tiết kiệm nước và canh tác truyền thống
với giống thí nghiệm Nhị ưu 838
Giai đoạn trỗ Công | Chỉ số diện | Chỉ số diện tích | % diện tích lá | Tổng số bông | Số bông/đơn vị điện | Trọnglượng [ Tỷ lệ nhánh thức TN tích lá la hoạt động hoạt động _(triệuha tích lá (số bông/cm2) 1090 hạt (g) | hữu hiệu (%)
** Sai khác giữa TTKN và CTTT có ý nghĩa ở mức p<0.0† Ghi chú: CTTT: Canh tác truyền thống; TTKN: Tưới tiết kiệm nước
Nguyên nhân nào dẫn đến các chỉ tiêu cấu thành
năng suât nêu trên cao hơn so với việc giữ lớp nước
liên tục trên mặt ruộng, thí nghiệm trong chậu vại để
đánh giá ảnh hưởng của chế độ tưới khác nhau đến sự
diễn biến hàm lượng đạm dễ tiêu dạng nitrat và amôn
đã được tiến hành Chậu trong thí nghiệm được sử
dụng có đường kính 25cm, độ cao 35cm Độ ẩm đất
được khống chế từ độ ẩm tối đa đồng ruộng đến độ ẩm
bão hoà ở cả hai chế độ tưới (tưới giữ ẩm IB] và tưới
ngập ẩm luân phiên [C]) ở chế độ tưới B khi độ ấm
xuống đến độ ẩn tối đa đồng ruộng thì được tưới lên độ
ẩm bão hoà, còn ở chế độ tưới C cho nước vào ruộng
ngập 3 ngày ở độ sâu 2cm, sau đó rút nước để cho đất
rạn nứt chân chim (kiểm tra tương đương với độ ẩm tối
đa đồng ruộng) lại cho nước ngập trở lại Chế độ tưới B
và € được thực hiện cho đến khi cây lúa bắt đầu làm
đông Chế độ tưới ngập (A) được bố trí để so sánh với
hai chế độ tưới nêu trên, Khi thay đổi chế độ tưới yếu tố
bị Ảnh hưởng lớn nhất đấy là hàm lượng oxy trong đất
Khí hàm tượng oxy trong đất thay đổi sẽ kéo theo sự
tiay đổi của hàng loạt các đặc tinh vat lý, hoá học và
sinh học của đất Vấn để quan tâm đầu tiên đấy là sự
tay độ lại mm các chất dinh dưỡng trong đất vì
chúng ảnh hướng lớn đến sinh trưởng và năng suất lúa
Trong:®&uidện đất ngập nước, đất ở trạng thái khử nên
đạm trong đất tích luy chủ yếu ở dạng NH// trong khi ở chế độ rút nước thì chủ yếu tích luỹ ở dạng NO; Kết quả phân tích hàm lượng NH,! và NO; được trình bày ở đồ thị
1 và 2 (Hàm lượng nirat và amôn đo được trong điều kiện không bón phân)
1/4/2003
Đồ thị 1 Hàm lượng Nitrat (NO; ) trong các chế độ tưới khác nhau A; tưới ngập; B: Tưới giữ ẩm và C: tưới ngập ẩm luân phiên
? Canh tác lúa truyền thống: giữ nước ngập liên tục, tuổi mạ 20 ngày tuổi, cấy 3 danh/khém, số khém/m?:
45-50, bón 120 kgN/ha Canh tác tiết kiệm nước chỉ khác canh tác lúa truyền thống về chế độ nước
137
Trang 3
1/4/2003 16/4/2003 12/5/2003 3/6/2003
Ngày theo đõi
—®—A1 —=©—B1 —:—-C1
Đồ thị 2 Hàm lượng amon trong các chế độ tưới khác nhau
A: Tưới ngập; B: Tưới giữ ẩm và C: tưới ngập ẩm luân phiên'
Như vậy ở chế độ tưới B và C, do rút nước dẫn đến
hàm lượng nitrat trong đất thấp hơn Theo các nghiên
cứu đã được công bố, trong điều kiện không ngập nước
có nhiều oxy hơn thì amôn được chuyển thành nitrat, do
vậy, hàm lượng nitrat trong 2 công thức này phải cao
hơn, nhưng trong thực tế lại thấp hơn do một phần
nitrat đã theo nước khi rút chảy ra khỏi ruộng lúa hoặc
bị bay hơi hoặc xuống nước ngầm
Để tìm hiểu kỹ hơn ảnh hưởng của tưới tiết kiệm
nước đến năng suất lúa, thí nghiệm theo dõi sự sinh
trưởng và phát triển của rễ lúa cũng đã được đồng thời
tiến hành Kết quả thí nghiệm được trình bay & dé thy 3
cho thấy rễ lúa ở các chế độ tưới Tiết kiệm nước đều có
trọng lượng cao hơn hẳn Trong các phương pháp tưới
tiết kiệm nước thì tưới theo chế độ giữ ấm có trọng
lượng rễ cao hơn so với chế độ tưới ngập ẩm luân
phiên Khi có bón phân với mức 90N/ha trong đó đạm
hữu cơ chiếm 30% thì ở công thức tưới ngập ẩm luận
phiên trọng lượng rễ lại lớn hơn so với công thức giữ ẩm
(Đổ thị 4)
14) HA3MA4DB3TB4NC2DC4
|
Đồ thị 3 Ảnh hưởng cửa chế độ tưới khác nhau
đến trọng lượng rễ lúa
Đồ thị 4 Ảnh hưởng của tỷ lệ đạm vô cơ và hữu cơ
bón đến trong lượng rễ lứa Khi bón phân viên nén dúi sâu ở các chế độ tưới khác nhau cũng thấy trọng lượng rễ cao hơn hẳn so với bón vãi ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực Điều này cho
thấy khi tưới tiết kiệm nước, bón phân viên nén và bón phối hợp với phân hữu cơ đã làm cho rễ sinh trưởng,
phát triển mạnh hơn đặc biệt là từ thời kỳ làm đỏng (Đồ
thị ®*J Chính nhờ bộ rễ phát triển mạnh hơn như vậy nên đã làm cho thế năng quang hợp của lá cao hơn, các yếu tố cấu thành nên năng suất lúa cao hơn so với
phương pháp canh tác truyền thống
¬ BA3 BA4 183 OB4 C3 C4
gikhom
Tro thoat
Lam dong Thu roach
Đồ thị 5 Ảnh hưởng của bón phân viên nén
và tưới tiết kiệm nước đến trọng kượng rễ
Vì trong thực tế hiện nay, quản lý nước theo phương pháp giữ ẩm trong suốt quá trình sinh trưởng sinh dưỡng của lúa là khó khăn do hệ thống kênh mương
xuống cấp, trang thiết bị tưới quá lạc hậu và trình độ
* A: tưới ngập, B: tưới giữ ẩm và C: tưới ngập ẩm luân
phiên 3: bón phân viên nén NK; 4: bón vãi với lượng phân
N cao hơn 34%
Trang 4quản lý nước còn nhiều hạn chế, cho nên biện pháp
quản lý nước ngập ẩm luân phiên được nghiên cứu chỉ
tiết hơn Cụ thể, khi tưới một lớp nước trên mặt ruộng
2-3cm, sau đó để cho nước cạn dân đến trạng thái đất
bão hoà sau đó lại tưới 2-3cm, cứ thế tiếp tục cho đến
khi lúa bước vào giai đoạn phân hoá đòng Thí nghiệm
được tiến hành tại cánh đồng số 3, khoa Đất & Môi
trường Trường Đại học Nông nghiệp 1 vụ xuân 2005
theo cách quản lý nước này đã được tiến hành để đánh
giá động thái các chất dinh dưỡng trong ruộng lúa Kết
quả thí nghiệm được trình bay @ bang 1
Bảng 1 Một số tính chất hóa học đất lúa
dưới chế độ tưới khác nhau
Chỉ tiêu Chế độ Thời kỳ lấy mẫu
tưới Đẻnhánh Làm đỏng Trỗ
Fe" (mg/l00g đấ) - „ 45 S3 48
P,0, (mg/100g đấ) — „ 52 108 44
Số liệu bang 1 cho thấy sự khác nhau không lớn về
trạng thái dinh dưỡng của đất lúa giữa tưới bão hòa và
tưới ngập Theo chúng tôi, yếu tố quyết định tình trạng
dinh dưỡng như vậy của đất lúa chính là điện thế ôxy
hóa khử của đất Trong suốt qua trinh sinh trưởng của
cây lúa trong vụ mùa 2005, Eh của đất hầu như không
thay đổi mặc dù mức tưới khác nhau Ở ô thí nghiệm
tưới bão hỏa Eh thay đổi từ -18 đến -16 mV trong khi ở
õ thí nghiệm tưới ngập Eh dao động từ -19 đến -20mV
Dù tưới ngập hay tưới bão hoà, thực chất là đất vẫn ở
trạng thái khử Ở trạng thái này đã làm cho hàm lượng
sắt dễ tiêu tồn tại chủ yếu ở dạng sắt hóa trị 2
Lượng sắt này dao động từ 83,7 đến 88,2 mg/100g
đất (ở ô thí nghiệm tưới bão hòa) và từ 87,4 đến 89,0
mg/100g đất (ở ô thí nghiệm tưới ngập) Hàm lượng
Fe3+ di động chiếm một tỷ lệ không đáng kế so với
Fe2+ và dao động từ 5,3 đến 8,7 mg/100g đất (đối với
đất được tưới bão hòa) và từ 4,5 đến 6,8 mg/100g đất
(đối với đất được tưới ngập)
Theo thời kỳ sinh trưởng của lúa hàm lượng đạm vô
cơ dễ tiêu trong đất thí nghiệm tăng đột ngột ở thời kỳ
làm đồng Ở thời kỳ này lượng NO; đạt đến 15,7 và
16,9 mg/kg đất, lượng NH,* đạt 44,7 đến 48,7 mg /kg đất, trong khí ở thời kỳ đề nhánh trị số này tương ứng là 1,3 và 16,3 mg/kg đất Theo chúng tôi kết quả này là
hoàn toàn phù hợp vì sau hơn 1 tháng bón phan chuồng lót kết quả của quá trình khoáng hóa trong điều kiện nhiệt độ cao của vụ mùa, cộng thêm lượng đạm
giải phóng dần từ phân viên dúi sâu làm cho lượng đạm
vô cơ dễ tiêu tăng lên Sau đó lượng đạm vô cơ dễ tiêu trong đất lại giảm xuống đột ngột còn 2,3 đến 3,4 mg
NO,/kg đất và từ 18,6 đến 19,1 mg NH,*/kg đất ở thời
kỳ trố Lượng chất dinh dưỡng trong đất giảm mạnh như vậy là do cây lúa hút để đáp ứng thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất trong quá trình phát triển của lúa Số liệu ở bảng 6 cũng cho thấy sự sai khác không đáng kể về
dạng đạm vô cơ dễ tiêu giữa 2 chế độ tưới bão hòa và tưới ngập cho lúa Hàm lượng N0; dao động từ 1,3 đến
16,9 mg/kg dat 6 6 thi nghiệm tưới nước bão hỏa và từ 1,3 dén 15,7 mg/kg đất đối với ô thí nghiệm tưới ngập Tương tự, NH,* dao động từ 16,3 đến 44,7 mg/kg đất đối với đất được tưới bão hòa và từ 17,7 đến 48,7 mgƒkg đất đối với đất được tưới ngập Diễn biến của lân
dễ tiêu trong đất tương tự như diện biến của đạm vô cơ Khác với đạm Xà lân dễ tiêu, hàm lượng Kali dễ tiêu trong đất có xu hướng giảm dần theo thời gian sinh trưởng của lúa từ đẻ nhánh đến trỗ Chế độ tưới khác
nhau không làm thay đổi hàm lượng Kali dễ tiêu trong
đất Hàm lượng K;O giữa hai chế độ tưới ở các thởi kỳ
tương ứng không chênh lệch nhau nhiều
2 Ảnh hưởng của loại phân bón, tỷ lệ đạm hữu
cơ bón và phương pháp bón đến sinh trưởng và năng suất lúa
Hiện nay Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (2004) thì Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân hóa học cao nhất trên
thế giới [12] Còn theo Nguyễn Văn Bộ (3/2001) mỗi năm
nước ta sử dụng 1.202.440 tấn đạm, 456.000 tấn lân và
402.000 tấn kali trong đó sản xuất lúa chiếm 62% [13]
Việc sử dụng phân hoá học cao lại không cân đối nên đã
có những biểu hiện ảnh hưởng xấu đến môi trường Theo
quan điểm hệ thống thâm canh lúa của Madagasca do cha sứ Henri de Laulanfe khởi xướng từ những năm 90
của thế kỷ trước và đã được thử nghiệm ở nhiều nước
trên thế giới Trong hệ thống thâm canh lúa này, phân hữu cơ được đặc biệt chú trọng Hệ thống thâm canh lúa
này đã làm tăng năng suất lúa lên gấp 2-3 lần so với
canh tác theo phương pháp truyền thống bón nhiều phân
hoá học và để ngập nước
Việc tăng lượng đạm hữu cơ bón sẽ góp phần vào việc thúc đấy canh tác lúa theo hướng sinh thái bền
139
Trang 5vững, phát huy được nội lực của các hệ thống canh tác
bằng việc phát triển các cây phân xanh, các hợp chất
hữu cơ có được trong trang trại thay vì phải chỉ nhiều
tiền để mua phân hoá học trên thị trường với giá ngày
cảng tăng cao Năm 2003 và vụ xuân năm 2004, các
thí nghiệm được bố trí gồm các công thức có tý lệ đạm
hữu cơ và vô cơ bón khác nhau trong các nền quản lý
nước khác nhau để xác định xem tỷ lệ đạm hữu cơ
trong tổng số lượng đạm bón là bao nhiêu thì cho năng
suất lúa và hiệu quả sử dựng phân cao nhất, Kết quả
thí nghiệm được trình bày trong bằng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của chế độ tưới và tỷ lệ đạm hữu cơ và
vô cơ bón đến năng suất lúa (tấn/ha)
tưới bón vụ Xuân vụ mùa YỤ Xuân
T.binh 6,70 6,29 6,69
Ghi chú: A: tưới ngập; C: tưới ngập ẩm luân phiên 1: bón
100% N vô cơ, 2: bón 50% N vô cơ và 50% N hữu cơ; 3: bón
100% N hữu cơ
Kết quả xử lý thống kê năng suất khi thay đổi chế
độ tưới và chế độ bón phân cho thấy giá trị năng suất
trong bảng 2 không có sự sai khác giữa 2 chế độ tưới
(ngập, ngập ẩm luân phiên) và 3 tỷ lệ đạm hữu cơ và
vô cơ bón (bón 100% đạm vô cơ, 50% đạm hữu cơ và
50% đạm vô cơ và 100% đạm hữu cơ) Kết quả thí nghiệm trong 3 vụ 2 năm cho thấy khi rút nước phơi ruộng đã thúc đẩy quá trình phân giải nên mặc dù bón phân hữu cơ 100% vẫn cho năng suất không thua kém
so với bón phân đạm hoá học Từ kết quả thí nghiệm trên cho thấy rút nước phơi ruộng kết hợp với bón phân hữu cơ hoai mục có hàm lượng đạm cao có thể thay thế
cho việc bón phân đạm hoá học,
Để đâm bảo năng suất ở ruộng được rút nước phơi
ruộng và bón phân hữu cơ hoai mục hoặc phân hữu cơ
vi sinh có tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong phân N: 0,25%, P;O;; 0,62% và KạO: 2,65% với lượng đạm
trong phân cây có thể sử dụng được là 50% thì mỗi ha cần bón tới 72 tấn, có nghĩa là mỗi sào Bắc Bộ (360m2) cần bón tới 2,6 tấn Điều này là rất khó thực hiện trong điều kiện canh tác lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng và
ở nhiều nơi khác Như đã biết phân hữu cơ có rất nhiều tính chất tốt như cải thiện các đặc tính sinh học của đất, cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cân đối và đồng
bộ, đặc biệt là trong điều kiện rút nước phơi ruộng phân
hữu cơ còn có đặc tính quý đấy là cải thiện tính chất cấu trúc của đất Do không đảm bảo đủ 100% lượng phân hữu cơ theo yêu cầu và khi bón phân vãi hiệu suất
sử dụng phân thấp do bay hơi và mất đạm dưới dạng khí, phân viên nén bón sâu đã được thí nghiệm nhằm khắc phục các vấn đề nêu trên Kết quả thí nghiệm bón phân viên nên cho lúa khi tưới tiết kiệm nước trong các vụ: vụ mùa 2004, được trình bày ở bảng 3
Bang 3 Ảnh hưởng của bón phân viên nén khi tưới tiết kiệm nước đến năng suất lúa vụ mùa 2004
cT Bông/m? Hạt chắc/bông Prog hat (g) NSTT (tha) | NS tang so với bồn phân vãi (%)
Ghi chú: A; tưới ngập; B: tưới giữ ẩm và C : tưới ngập ẩm luận phiên † : không bón phân ; 2: bón phân viên nén NK với Tượng 60N và 30N hữu cơ ; 3 bón phân viên nén NK với lượng 45N và 45N hữu cơ và 4 ; bón vai 120N trong đó có 30N hữu cơ
Kết quả thí nghiệm vụ mùa 2004 cho thấy bón phân
viên nén đã làm tăng năng suất hoặc bông năng suất
so với bón vãi mặc dù lượng phân đạm bón chỉ bằng
78% so với bón vãi (120N/ha) trong điều kiện tưới ngập
liên tục trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển của lúa
Khi tưới tiết kiệm nước (chế độ tưới C), phân viên nén
bón sâu thể hiện ưu thế vượt trội so với bón phân vãi
Mức tăng năng suất ở các công thức bón 50% đạm hữu
cơ + 50% đạm vô cơ viên nén và bón 30% đạm hữu cơ
+ 70% đạm vô cơ viên nên so với bón vãi tương ứng là
140
154,1% và 171,3% Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của lúa như chiều cao cay, dé nhánh, hệ số diện tích lá
và tích luỹ chất khô ở các công thức có bón phân viên nền và phân hữu cơ không có sự sai khác đáng kể so với
bón phân vãi (xem phần phụ lục) Đây là một trong những cơ sở quan trọng để lúa ở các công thức này trên
nền tưới nước tiết kiệm đạt được năng suất cao
3 Hiệu quả sử dụng phân bón khi thay đổi chế
độ bón và chế độ tưới
Trang 6Để đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón khi áp
duụng các chế độ bón khác và chế độ tưới khác nhau,
chúng tôi đã tiến hành tính toán các chỉ tiêu như chỉ phí
phân bón, giá trị sẵn phẩm tăng lên do bón phân và lãi suất đầu tư phân bón, kết quả được trình bày ở bảng 4
dưới đây:
Bảng 4 Hiệu quả sử dụng phân bón và mức lãi suất đầu tư vào phân bón vụ xuân 2005
CT Lượngthóctănglêndobón LượngNbóncho1 Tổng chỉ phíphân Giá tị sản phẩm tăng lêndo Lãi suất đấu tư do
phan (kg/ha) ha (kgha} bón (10004) bón phân (1000đ) bón phân
Ghi chú: A: tưới ngập; B: tưới giữ ẩm và C : tưới ngập ẩm luân phiên 1 : không bón phan ; 2: bén phân viên nén NK với
lượng B0N và 30N hữu cơ ; 3 bón phân viên nén NK với tượng 45N và 45N hữu cơ và 4 ; bón vãi 120N trong đó có 30N hữu cơ
Kết quả thu được cho thấy trong cùng một chế độ
tưới ở chế độ bón phân 30% đạm hữu cơ và 70% đạm
vô cơ dạng viên nên có chỉ phí phân bón thấp nhất và
mức lãi suất đầu tư là cao nhất, thấp nhất là khi bón vãi
phân vô cơ 100% Trong 3 chế độ tưới thì ở chế độ tưới
ngập ẩm luân phiên cho lãi suất đầu tư thấp hơn do
lượng phân hữu cơ bón cao Hiệu suất phân bón thấp
ở chế độ tưới này có lẽ là do khi đất giữ ẩm thì xúc tiến
quá trình tạo thành nitrat còn khi ngập nước lại làm cho
nitrat bị rửa trôi Cần bố trí thêm thí nghiệm để đánh giá
lại giả thiết này
IV KẾT LUẬN VÀ BỀ NGHỊ
1 Kết luận
1/ Tưới tiết kiệm nước đã tăng cường sự sinh trưởng
và phát triển của bộ rễ lúa từ đó đã làn tăng diện tích lá
hoạt động, tăng các yếu tố cấu thành năng suất
2 Khi tưới tiết kiệm nước ở chế độ tưới ngập ẩm luần
phiên (ngưỡng độ ẩm để tưới là bão hoà) không thấy có sự
sai khác về hảm lượng các chất hoá học nhưF€” ; Fe*;
N0; ; NH¿ ; lân dễ tiêu và kali trao đổi so với chế độ tưới
ngập Trị số Eh cũng không thay đổi ở hai chế độ tưới,
3/ Tưới tiết kiệm nước ở cả 3 tỷ lệ đạm vô cơ và hữu
cơ bón (100% N vô cơ, 50% N vô cơ + 50% N hữu cơ
và 100% N hữu cơ) đều cho năng suất lúa không thu kém so với chế độ tưới ngập
Ái Tưới tiết kiệm nước kết hợp với bón phân viên nên đã làm tăng năng suất lúa từ 54-71% trong điều
kiện vụ mùa 2004
5/ Bon phân viên nén 60N + 30N hữu cơ trong điều
kiện tưới tiết kiệm nước cho tổng thu cao nhất (13,72 triệu đồng/ha) và 1 đồng đầu tư phân bón thu được
2,21 đồng (thời giá năm 2005)
2 Để nghị 1/ Nghiên cứu sự biến đổi các chất hoá học trong
điều kiện giữ ẩm (khi độ ẩm đất nằm trong khoảng từ
độ chứa âm tối đa đồng ruộng đến bão hoà)
2! Nghiên cứu phối hợp với các biện pháp canh tác
khác để xây dựng quy trình thâm canh lúa nhằm đạt
được năng suất lúa cao hơn hẳn so với phương pháp
canh tác truyền thống 3/ Đánh giá ảnh hưởng của hệ thống các biện pháp
canh tác này đối với môi trường đất và không khí TÀI LIỆU THAM KHẨU
1 Nguyễn Thưởng, 1972, Tưới và chăm bón lúa xuân,
Nhà xuất bản Nông thôn, trang 14-16
2 Viện khoa học Thuỷ lợi (2003) Báo cáo các giải pháp
tưới tiết kiệm nước cho cây trồng nông nghiệp
3 Bộ Tái Nguyên Và Môi Trường 2003, Báo cáo diễn
biến mồi trưởng Việt Nam 2003, Môi trường nước,
® Giá 1 kg phân hữu cơ Cầu Diễn là 1000 đồng
A4 Dương Hải Sinh, 2004 Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu công nghệ tưới tiết kiệm nước
5, Sở Nông nghiệp & PTNT An Giang, 2005 Kết quả bước đầu từ ruộng thí nghiệm của nông dân về biện pháp tưới tiết kiệm nước cho cây lúa tại An Giang
6 Nguyễn Hoài Nam, Hoàng Văn Phụ, 2005 Nghiên cứu
hệ thống kỹ thuật thâm canh Ida SRI trong vụ xuân năm 2004 tại Thái Nguyên, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kỳ 1+2-tháng 2/2005
141
Trang 71 Tuong T,P, and Bourman, 2001 Productive water use
in rice production: opportunities and limitations, Journal of
Crop Production 2(2): 241-264
8 Xijin Wu, 2000 Development of water saving irrigation
technique on large paddy rice in Guangxi region of China
9 Borel A, Garside A, Shu FK, 1977, Improving
efficiency of water for irrigation rice in semi-arid tropical
environment, Field Crop Res, 52: 231-232
10 Tabbal DF, Bouman BAM, S,f, Bhuiyan, Sibayan EB,
and Sattar MA, 2002 On farm strategies for reducing water
input in irrigated rice, case studies in the Philippines, Agric,
Water Manage, 56 (2):93-112
11 Norman Uphoff 2003 More rice with less water through SRI-The system of rice intensification, Cornell
12 Norman Uphoff, 2005 Features.of the system of rice intensification (SRi) apart from increases in yield, Cornell University
13 Romeo J, Cabangon, 2004 Effect of irrigation method and N-fertilizez management on rice yield, water productivity and nutrient-use effciencies in typical lowland rice condition in China
14 W, Siderius, 1992 Soil Derived Land Qualities, Department of land Resource and Urban Science, March 1992, Intemational Institute of Aerospace Survey and Earth Science, Summary
EFFECT OF ECONOMIZED IRRIGATION WATER AND PRESSED GRANULE FERTILIZER
ON RICE YIELD AND SOIL ENVIRONMENT
Rice is the most important cereal crop in Vietnam, is the
crop with highest water requirement Water saving technique
for rice is not only important to cope with water scarce but
also increase rice yield to meet food security whereas
cultivated rice area and population growth Water saving
technique creates a good condition for growth and
development of rice root system, which made an increase in
active leaf area and yield components In saturation condition
(means that no water layer in a rice field) no difference in
Nguyen Tat Canh Nguyen Van Dung chemical substancess such as Fe’, Fe”, NO,;, NH,’, available phosphorous, potasium and Eh in comparison with flooding Water saving technique increased effect of compost applied for rice, Rice productivity is also increased from 54 to 71% in year
2004 thanks to combination between water saving technique with fertilizer deep placement (FDP) FOP application of 60N and 30N in organic form under water saving condition gave highest income (13.72 VND millions} and 1 VND investment for fertilizer got 2.21 VND (price in 2005)
TÁC DỤNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIỮ ẨM ĐẤT
(Xem tiếp trang 135)
TÀI LIỆU THAM KHAO
1 Đoàn Văn Điếm, Lê Minh (1999), “Biện pháp sử dụng
chất giữ ẩm chống hạn trên đất bạc màu", Thông báo khoa
học của các trường Đại học
2 FAO (1984) Crop Water Requirement - FAO Irrigation
and Drainage Papers No.24 , Rome
3 Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000) - Giáo trình cây
chè NXB Nông nghiệp
4 Tống Kim Thuần, Nguyễn Kiểu Băng Tâm
(2005) Ứng dụng chế phẩm vị sinh giữ ẩm đất ipomycine M
để cải thiện đất vùng gò đổi Mê Linh, Vĩnh Phúc T/C Khoa học Đất số 23 2005
Summary EFFECTS OF SOME KEEPING SOIL MOISTURE MEASURES ON GROWTH OF TEA VARIETY PHI
PLANTED ON FERRALIC ACRISOLS IN BA VI, HA FAY PROVINCE
1 Research results pointed out that keeping moisture
measures increased obviously density of tea buds Covering
by straw and using absorbent material and covering by
plastic obtained the highest bud density The study also
indicated that keeping moisture measures increased number
of bud litters picked at final growth stage in the year
compared with the control Treatment of covering by straw
obtained the highest total bud yield; the control without
keeping soil moisture gave the lowest yield Total bud yields
of keeping soil moisture treatments were significantly higher
from 105,5 to 115,3% than control, with probability 95%
142
Doan Van Diem
2 Keeping soil moisture measures affected obviously soil moisture The results showed that soil moisture in these treatments was always higher than control at every sampling stages Covering by plastic and using absorbent ARONZAP RS-2 keft soi! moisture so well at serious drought stages due
to keeping moisture from evaporation and absorbent capacity from atmosphere However, when it rains, covering by plastic prevented water rain from penetrating into the soil, resulting
in decreasing soil moisture So, it needs to study more carefully to overcome this problem Covering by straw made soil much more porous, keeping well moisture and plants developing better.