Việc nghiên cứu tìm ra các mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi KTCTTL thích ứng với cơ chế mới, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hệ thống công trình thủy lợi có ý nghĩa
Trang 1MỞ ĐẦU
1 T ính cấp thiết của đề tài
Nâng cao hiệu quả quản lý khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi đã và đang là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Bởi lẽ nguồn tài nguyên nước đang ngày một cạn kiệt, hiệu quả phục vụ của các công trình tưới chỉ đạt được ở mức thấp so với kỳ vọng Bởi vậy, xu thế chung của các quốc gia trên thế giới hiện nay là nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hệ thống thủy lợi
Có nhiều nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi ngoài nguyên nhân về đầu tư, hệ thống công trình chưa đồng bộ… có nguyên nhân quan trọng đó là tổ chức mô hình quản lý chưa được phù hợp, khép kín
Việc nghiên cứu tìm ra các mô hình quản lý khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) thích ứng với cơ chế mới, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hệ thống công trình thủy lợi có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng, phát triển kinh tế của đất nước nói chung
Để phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng hiện đại hoá trong điều kiện giới hạn về đất đai và nguồn nước ngày càng suy giảm, sức ép gia tăng dân số, tốc độ đô thị hoá, chúng ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng của quỹ đất hiện có Điều này không chỉ đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp kỹ thuật, mà còn cần phải giải quyết cả khía cạnh kinh tế - xã hội và môi trường với sự tham gia tích cực, trực tiếp của người nông dân vào việc xây dựng, quản lý khai thác các công trình thủy lợi Để phát triển bền vững nền nông nghiệp, thì trước hết phải nâng cao hiệu quả và tính bền vững của phát triển các hệ thống công trình thuỷ lợi Do đó cần phải có một tổ chức quản lý bảo
vệ khai thác các công trình thuỷ lợi hoạt động tốt Trong quản lý thuỷ nông cơ
sở, để có tổ chức quản lý tốt, thì sự tham gia của người hưởng lợi là một yếu
tố hết sức quan trọng
Trang 2Trong những năm gần đây, nhiều nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước đều nhấn mạnh việc phân cấp quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi, khuyến khích người nông dân tham gia tích cực vào quản
lý khai thác và bảo vệ các công trình thuỷ lợi Trải qua nhiều cố gắng thử nghiệm, ở nhiều địa phương trên cả nước đã đưa ra những mô hình phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi khác nhau Một số nơi, bước đầu các mô hình phân cấp quản lý đã mang lại những hiệu quả, mà dấu hiệu là chi phí đầu
tư sửa chữa và quản lý vận hành khai thác hàng năm bằng ngân sách Nhà Nước của hệ thống giảm nhỏ, diện tích tưới tiêu và khả năng phục vụ của công trình tăng cao, nhiều chỉ tiêu kinh tế, xã hội của hệ thống được cải thiện, công trình ít xảy ra sự cố, Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều mô hình phân cấp được xây dựng với nhiều thời gian, công sức nhưng lại tỏ ra cồng kềnh, kém hiệu quả và thất bại Nhiều công trình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay có hiệu quả tưới thấp Nguyên nhân cơ bản đối với hiệu quả thấp ở các công trình thuỷ lợi
là do yếu tố thể chế hơn là yếu tố kỹ thuật Do vậy, cần phải tìm ra hệ thống thể chế, mô hình quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống tưới
Rõ ràng việc tìm ra một mô hình phân cấp quản lý khai thác các công trình thủy lợi hợp lý và hiệu quả là một đòi hỏi bức thiết và là xu thế tất yếu của quản lý hiện nay Muốn đạt được mục tiêu này, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu đưa ra được mô hình phân cấp quản lý phù hợp với điều kiện dân sinh, kinh tế, kỹ thuật cụ thể của từng hệ thống công trình Bên cạnh đó, phải thường xuyên xem xét hiệu quả của mô hình đã lựa chọn, để qua đó rút kinh nghiệm xây dựng mô hình phân cấp quản lý hệ thống công trình ngày càng hoàn thiện và hiệu quả hơn
Với những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hiệu quả của việc phân cấp quản lý, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với mong
muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý khai thác
Trang 3công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung
3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra, đánh giá; phương pháp phỏng vấn; phương pháp thống kê phân tích các yếu tố về hiệu quả quản lý tưới; phương pháp nghiên cứu điển hình và một số phương pháp kết hợp khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Mô hình phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thuộc các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua các thời kỳ
và hiệu quả của mô hình phân cấp này
b Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thuộc các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ trước năm 1993 đến nay (từ khi chưa có chính sách miễn giảm thủy lợi phí đến nay)
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Luận văn trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý của việc phân cấp quản lý khai thác các công trình thủy lợi và cơ sở khoa học của việc xem xét cách đánh giá hiệu quả của việc phân cấp mang lại
Trang 4b Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một hướng dẫn mang tính gợi mở đối với công tác phân cấp quản lý hệ thống các công trình thủy lợi trên cả nước nói chung, và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng
6 Kết quả dự kiến đạt được
a Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của hoạt động phân cấp quản
lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi;
b Phân tích thực trạng công tác phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
c Phân tích lựa chọn, đề xuất mô hình quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi phù hợp với thực tiễn điều kiện của tỉnh Thái Nguyên
và đánh giá hiệu quả của việc phân cấp này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được cấu trúc bởi 3 chương chính như sau:
U
Chương 1U: Tổng quan về phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công
trình thủy lợi
U
Chương 2U: Phân tích thực trạng công tác phân cấp quản lý khai thác
công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
U
Chương 3U: Đề xuất và đánh giá hiệu quả của mô hình quản lý khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 5CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Lý lu ận về phân cấp quản lý
1.1.1 Một số khái niệm về quản lý và phân cấp quản lý
1 Quản lý:
Vì tính chất đa dạng và phức tạp của quản lý mà rất nhiều nhà khoa họ c đã tập trung nghiên cứu và đã đưa ra nhiều luận thuyết quan trọng Việc quản lý từ dựa vào kinh nghiệm là chính , được nâng lên thành kỹ thuật quản lý , công nghệ quản quản lý, và những năm cuối Thế kỷ 20 đã trở thành khoa học quản lý (Managerial Science) Bản chất của khoa học quản lý là một sự phối hợp kỳ diệu vừa mang tính kỹ thuật vừa mang tính nghệ thuật
Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Trên thực tế, càng ngày các quan niệm về quản lý lại càng phong phú hơn Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
Trang 6Như vậy, có thể nói rằng Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, kỹ thuật bằng một hệ thống các công cụ quản lý như các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động quản lý
Hoạt động quản lý nói chung xoay quanh 3 nội dung chủ yếu là (1) lập kế hoạch, (2) phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và (3) giám sát các công việc của quá trình nhằm đạt được các mục tiêu đã định
Lập kế hoạch: Là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực quá trình và quá trình phát triển kế hoạch hành động theo một trình tự lôgic mà có thế biểu diễn dưới dạng sơ
đồ hề thống
Tổ chức thực hiện: Đây là quá trình phân phối các nguồn lực, bao gồm tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị và quản lý tiến độ thời gian Nội dung này chi tiết hóa thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ quá trình Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng, điều chỉnh các hoạt động cho đúng kế hoạch
Các nội dung của quản lý hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó cung cấp các thông tin phản hồi cho việc tái lập thiết kế hoạch của quá trình
Khoa học quản lý đã chứng minh rằng, muốn quản lý tốt phải có tổ chức tốt Tuy nhiên, để quản lý dự án xây dựng cần nhiều bộ phận hợp thành Đó là các kiến thức chung, các lý thuyết chung về quản lý , các kiến thức về chuyên
Trang 7môn như là: quy hoạch, kiến trúc, kết cấu, công nghệ, xây dựng, tổ chức xây dựng, và các kiến thức hỗ trợ như là: pháp luật, tổ chức nhân sự, tin học, môi trường…
2 Quản lý tài nguyên nước
Quản lý tài nguyên nước là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế, quản lý, thể chế, luật pháp, hợp tác và quản lý vận hành hệ thống các công trình của các tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển và quản lý tài nguyên nước một cách bền vững, luôn đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu về nước sạch cho mọi hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường Quản lý tài nguyên nước được diễn ra trong suốt các quá trình từ giai đoạn quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý vận hành hệ thống các công trình khai thác và bảo vệ nguồn nước Nói một cách khác, quản lý tài nguyên nước là tổng hòa các hoạt động nhằm khai thác, bảo vệ, duy trì nguồn nước cho các hoạt động dân sinh, kinh tế, xã hội môi trường và phòng chống những tổn thất do nước gây ra
3 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi
“Quản lý công trình thủy lợi là quá trình tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu cho một hệ thồng công trình thủy lợi, từ đó thiết lập các điều kiện thích hợp, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác động xấu nào” Tiến sĩ Mark Svedsen cho rằng:
“không có bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức năng làm việc quá một vài năm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cấp nó” Sự thành công của hệ thống thủy lợi cần cả hai yếu tố “phần cứng” và “phần mềm”, Phần cứng gồm công trình đầu mối, hệ thống kênh mương, công trình điều tiết và các trang thiết bị, còn phần mềm là các công tác quản lý khai thác hệ thống thủy nông
Nội dung, yêu cầu của công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi:
Trang 8Công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi bao gồm 3 nội dung chính:
a Quản lý nước:
Điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác
b Quản lý công trình:
Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài
c Tổ chức và quản lý kinh tế:
Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ công trình thuỷ lợi, kinh doanh tổng hợp theo qui định của pháp luật
Yêu cầu của công tác quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi:
Quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới tiêu nước, cấp nước theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn công trình, phục vụ sản xuất, xã hội, dân sinh kịp thời và hiệu quả
Thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích tưới tiêu, cấp nước phục
vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trên cơ sở hợp đồng đặt hàng với cơ quan có thẩm quyền hoặc kế hoạch được giao
Sử dụng vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao để hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
Tận dụng công trình, máy móc thiết bị, lao động, kỹ thuật, đất đai, cảnh quan và huy động vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác, với điều
Trang 9kiện không ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi được giao và tuân theo các quy định của pháp luật
4 Phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là một trong những nhiệm vụ của tổ chức quản lý Khoa học quản lý đã chứng minh rằng, để đảm bảo quản lý có hiệu quả, bắt buộc phải có chế độ lãnh đạo tập trung và phân chia quyền lực (Phân cấp) Như vậy mới có thể tăng cường sự linh hoạt và thích ứng của tổ chức quản lý Nếu chỉ tập trung quyền lực cho tầng quản lý cao nhất, sẽ làm cho cấp quản lý phải “bù đầu” để giải quyết mọi vấn đề, điều này sẽ dẫn tới hậu quả nhiều việc bị sao nhãng, hình thành tác phong làm việc quan liêu, chủ nghĩa mệnh lệnh Do đó, trong quản lý phải biết phân quyền cho cấp dưới đảm nhiệm những chức vụ và trách nhiệm tương ứng Làm cho cấp dưới có quyền và có trách nhiệm, và do đó mới có thể khiến họ phát huy hết khả năng, trí sáng tạo, tính tích cực, đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời có thể giảm bớt gánh nặng cho các cấp quản lý, giúp từng cấp quản lý tập trung tinh thần, sức lực làm tốt những phần việc của mình trong việc thực hiện mục tiêu chung Trong mỗi tổ chức cụ thể không thể có thể có một khuôn mẫu nhất định để xác định quyền hạn nào phải tập trung và quyền hạn nào phải phân chia Nó được quyết định bởi sự kết hợp giữa tính chất cụ thể và kinh nghiệm quản lý của mỗi tổ chức
5 Phân cấp quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi
Việc quản lý công trình thuỷ lợi hiệu quả không chỉ đơn thuần là thiết kế một tổ chức quản lý hoàn thiện, mà điều quan trọng hơn cả là cần phải tạo nên một mô hình gồm nhiều tổ chức khác nhau, được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng, nhưng lại hoạt động và kết hợp với nhau trong một khung thể chế thống nhất phù hợp Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho
Trang 10các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới ở địa phương cho đến tận người hưởng lợi Việc phân cấp quản lý cho các tổ chức quản lý địa phương là cơ sở để thực hiện chuyển giao trách nhiệm quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước thực hiện quan điểm, chủ trương của thế giới và trong nước về quản lý công trình thuỷ lợi Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy việc phân công, phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là cần thiết Đây là một trong những yêu cầu đảm bảo cho các hệ thống công trình thuỷ lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp
Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân chia hợp lý về mặt quản lý giữa các cấp từ trung ương đến địa phương, từ tập thể tới các cá nhân những người dùng nước nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, giúp phát huy được tối đa năng lực hoạt động vốn có của các công trình thủy lợi, góp phần đem lại những chuyển biến trong quá trình hoạt động sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội
Theo Huppert thì phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới, ở địa phương Để quản lý công trình thủy lợi hiệu quả không chỉ đơn thuần là thiết kế một tổ chức quản lý thích hợp, mà cần phải tạo nên một mô hình gồm nhiều tổ chức khác nhau,được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng nhưng lại hoạt động và kết hợp với nhau trong một khung thể chế thống nhất phù hợp
Như vậy, phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (CTTL), làm rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa Nhà nước và người dân trong quản lý khai thác CTTL Thực hiện xã hội hoá công tác thuỷ lợi, hay
Trang 11nói cách khác là củng cố tổ chức quản lý theo hướng cộng đồng tham gia quản lý khai thác CTTL, giảm bao cấp của Nhà Nước Theo đó, Nhà Nước chỉ quản lý công trình đầu mối của các hệ thống có quy mô vừa và lớn, công trình có kỹ thuật phức tạp và các trục kênh chính; phần còn lại giao cho các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý Thực hiện chuyển giao quyền quản lý khai thác CTTL trên địa bàn cho người hưởng lợi, gắn trách nhiệm với quyền lợi cho người hưởng lợi
1.1.2 Vai trò của việc phân cấp quản lý công trình thủy lợi
Phân cấp quản lý lý khai thác công trình thủy lợi là một đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình quản lý khai thác hệ thống các công trình thủy lợi,
nó hoàn toàn phù hợp với quy mô và phạm vi quản lý của các hệ thống trong tình hình nhiệm vụ mới Việc phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi có vai trò quan trọng sau đây:
- Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi sẽ làm rõ được trách
nhiệm đối với vận hành và duy tu bảo dưỡng và cơ chế tài chính đối với công
ty, hoặc tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi do nhà nước thành lập và các tổ chức dùng nước Nói một cách khác, phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là việc phân định rạch ròi trách nhiệm, quyền và quyền lợi của các tổ chức tham gia quản lý vận hành công trình thủy lợi, chính vì vậy,
nó sẽ phát huy một cách tốt nhất nội lực và mối quan tâm và sự cộng tác của các thành viên trong tổ chức quản lý;
- Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi sẽ giảm chi phí của Chính phủ, do Chính phủ không thể đủ nguồn lực về nhân lực và tài chính để bao cấp cho mọi hoạt động quản lý, khai thác công trình thủy lợi trên quy mô cả nước Nhà nước chỉ có thể đầu tư xây dựng hệ thống công trình và hỗ trợ một phần kinh phí cho việc quản lý, vận hành công trình thủy lợi lớn, còn cộng đồng người dùng nước cần tự quản lý, vận hành công trình thủy lợi nhỏ
Trang 12và hệ thống thủy lợi nội đồng Phân cấp quản lý là việc thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”;
- Phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi để tăng cường trách nhiệm của người sử dụng nước đối với công trình hạ tầng cơ sở Do công trình thủy lợi trực tiếp phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của người nông dân, hiệu quả hoạt động của công trình thủy lợi sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, thu nhập và đời sống của người dân, nên người dùng nước sẽ luôn gắn bó và có trách nhiệm hơn trong việc quản lý, bảo vệ công trình
- Phân cấp quản lý là cơ sở pháp lý để chuyển giao công trình thủy lợi
có quy mô và yêu cầu kỹ thuật phù hợp cho người dùng nước, người hưởng lợi quản lý, nâng cao tính tự chủ của các tổ chức quản lý, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong công tác thủy lợi, đảm bảo công trình thủy lợi nhỏ và công trình nội đồng cấp xã, thôn có chủ quản lý thật sự, đảm bảo tính bền vững trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi
- Phân cấp quản lý công trình thủy lợi cho các Tổ chức hợp tác dùng nước là đảm bảo sự đồng bộ khép kín về công tác quản lý, làm tốt chức năng cầu nối giữa doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thủy lợi với các dịch
vụ liên quan giúp người dùng nước sử dụng nước hiệu quả Giảm tải và quy
mô tổ chức trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp quản lý công trình thủy lợi, để các đơn vị này tập trung vào những hoạt động ở tầm hệ thống hiệu quả hơn
1.1.3 Hiệu quả của việc phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi
Thước đo trình độ hoạt động quản lý chính là hiệu quả của các hoạt động quản lý Một trong những mục tiêu cơ bản của phân cấp quản lý là phát huy dân chủ, nâng cao tính chủ động, năng động của các cấp quản lý gắn với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định Trước hết, phân cấp quản lý là nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản nllý Tất nhiên không phải bất
Trang 13cứ sự phân cấp như thế nào cũng đem, lại lợi ích, hiệu quả Nếu cấp đó chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật, trình độ, năng lực, khả năng tài chính thì việc phân cấp một cách máy móc sẽ không đem lại hiệu quả, thậm chí gây tác hại
Trên thực tế, chúng ta đang khắc phục những nhược điểm của cơ chế quản lý cũ (quan liêu, mệnh lệnh, ) Do đó, cấp nào sát thực tế hơn, có điều kiện và khả năng giải quyết kịp thời hơn, phục vụ tốt hơn các yêu cầu quản lý thì cần tăng cường phân cấp cho cấp đó Do sát thực tế hơn, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của người dân hơn, nên chắc chắn người dân sẽ quan tâm và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động Và vì vấn đề tính thiết thực cũng như điều kiện thuận lợi hơn nên họ cũng dễ tham gia hơn
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động quản lý nào, hiệu quả của phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi được đánh giá dựa trên các tiêu chí: Chi phí, chất lượng, thời gian và kết quả của quá trình quản lý Ngoài ra, chúng ta càn phải xem xét tới các khía cạnh hiệu quả kinh tế xã hội khác do việc phân cấp quản lý mang lại Cụ thể, hiệu quả của việc phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi như sau:
- Nhận thức của người hưởng lợi và của cộng đồng về vai trò nhiệm vụ của hệ thống công trình thủy lợi đã được nâng cao Người dân nắm vững hơn kỹ thật quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Họ chủ động, tích cực và nâng cao ý thức trong việc đóng góp các nguồn lực để xây dựng, quản lý khai thác và bảo vệ hệ thống vì vậy mà hệ thống được khai thác, sử dụng tốt hơn, mang lại hiệu quả cao hơn, hạn chế được nhiều tác nhân xâm hại, và vì thế công trình kéo dài được thời gian phục vụ hữu ích
- Nguồn vốn đầu tư, các khoản thu chi tài chính của hệ thống được kiểm soát chặt chẽ hơn, sử dụng đúng mục đích hơn Mọi quyết định và hoạt động chi tiêu của Ban quản lý công trình đều được công khai đến các hộ hưởng lợi và đảm bảo thực hiện theo đúng quy chế quản lý tài chính của đơn
Trang 14vị và theo đúng qui định của Nhà nước, được kiểm soát tốt hơn Chính vì vậy, chống được hiện tượng tiêu cực, lãng phí, tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn tài chính cấp của nhà nước cũng như các nguồn lực đóng góp của dân cho mọi hoạt động quản lý vận hành hệ thống
- Các công trình thuỷ lợi đã có người quản lý thực sự và toàn diện trên phạm vi toàn hệ thống, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để người nông dân có thể tham gia vào quản lý các công trình thủy lợi, giảm được sự ỷ lại trông chờ vào bao cấp của Nhà nước, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị chủ đầu tư, đơn vị thi công, giám sát trong việc đầu tư, tu sửa công trình thuỷ lợi
- Các công trình hoạt động tốt hơn, tăng cường hiệu quả khai thác theo hướng phục vụ đa mục tiêu, cải thiện được các chỉ tiêu phục vụ theo nhiệm vụ thiết kế đặt ra, chính vì vậy hiệu quả kinh tế công trình mang lại cũng ngày một lớn hơn Diện tích tưới của các công trình được đảm bảo kịp thời, đúng yêu cầu và có chất lượng phần lớn các công trình diện tích tưới đều tăng hơn
so với trước khi thực hiện phân cấp
- Thuỷ lợi phí và các khoản đóng góp của người dân được thu đều đặn và quản lý tốt hơn, có địa chỉ kiểm tra, kiểm soát rõ ràng, bổ sung được nguồn vốn cho việc duy tu bảo dưỡng hệ thống kênh mương, công trình Nhiều hệ thống còn có thể huy động được nguồn lực cho các chương trình kiên cố hoá kênh mương
- Giảm được thời gian và số lượng đầu việc tác nghiệp, các công việc mang tính sự vụ ở hệ thống công trình thủy lợi nội đồng, công trình thủy lợi nhỏ Mọi công việc tác nghiệp và tình huống xử lý kỹ thuật nội đồng được giải quyết nhanh chóng, kịp thời do chính người dân tham gia đảm nhiệm Chính nhờ đó đã góp phần giảm được biên chế ở các công ty quản lý khai tác công trình thủy lợi, giúp đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật của các công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi tập trung thời gian và trí tuệ
Trang 15giải quyết và xử lý các vấn đề lớn hơn, quan trọng hơn trong quản lý khai thác hệ thống
- Tăng năng suất và sản lượng của các loại cây trồng nông nghiệp do công trình được quản lý, duy tu bảo dưỡng, vận hành tốt dẫn tới cây trồng được tưới tiêu đầy đủ, có những nơi năng suất lúa tăng tới 20 tạ/ha/năm Ngoài ra còn tăng thêm các khoản thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho cộng đồng do người dân được quyền chủ động tăng cường khai thác hệ thống công trình theo hướng đa mục tiêu cho các mục đích như tưới cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia cầm, phát điện nhỏ, Chính vì vậy, việc phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo, ổn định định trật tự an ninh xã hội cho các địa phương
1.1.4 Điều kiện để quản lý và phân cấp quản lý công trình đạt hiệu quả
Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là một trong những yêu cầu đảm bảo cho các hệ thống công trình thủy lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác Trên cơ sở phân tích hệ thống tổ chức quản lý và thực tiễn phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi, ta cần đưa ra một số kiến nghị về thể chế để thực hiện phân cấp quản lý, khai thác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi
Thể chế quản lý nước và các công trình thủy lợi bao gồm: (1) chính sách, bao gồm các chính sách của chính phủ, chính sách của các địa phương và chính sách của các tổ chức quản lý thủy lợi; (2) luật bao gồm các luật của nhà nước, nghị định của chính phủ, thông tư, quy định của các Bộ và UBND các tỉnh, điều lệ, quy chế hoạt động của các tổ chức quản lý công trình thủy lợi và (3) hệ thống tổ chức quản lý, bao gồm các tổ chức quản lý nhà nước và
các tổ chức trực tiếp quản lý khai thác công trình thủy lợi
Trang 16Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các thành phần của thể chế
Ba thành phần thể chế trên có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau, sự thay đổi các yếu tố của thành phần này có thể dẫn đến sự thay đổi các yếu tố của các thành phần khác Theo đó các tổ chức quản lý công trình thủy lợi được xem như một thành phần của thể chế
LUẬT
Quyền quản lý sử dụng nước
Quản lý tranh chấp về nước
Quy định về trách nhiệm các bên
Quy định về nhiệm vụ các bên
Sự tham gia
Q uản lý tổng hợp tài nguyên nước
CHÍNH SÁCH
Sử dụng nước Lựa chọn dự án Thu hồi vốn đầu tư Chuyển giao quản lý
Phân cấp quản lý
Ứng dụng công nghệ
HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ
Sự chi phối của chính phủ
Cơ cấu tổ chức Nguồn nhân lực Tài chính Thủy lợi phí
Quản lý thông tin
Trang 171.2 Tổng quan về việc phân cấp quản lý các công trình thủy lợi trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Phân cấp quản lý các công trình thủy lợi trên thế giới
Do các đặc điểm khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội mà việc thực hiện chương trình quản lý hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt là hệ thống tưới của các nước trên thế giới có khác nhau Sau thời kỳ mở rộng diện tích tưới một cách nhanh chóng trên toàn thế giới từ đầu thập kỷ 50 tới đầu những năm 1980, rất nhiều nước thấy khó khăn về mặt tài chính để trang trải cho những chi phí trong công tác quản lý và vận hành hệ thống tưới hoặc bế tắc trong việc thu thủy lợi phí từ người nông dân Các nhân tố này đã dẫn tới sự xuống cấp nhanh chóng của cơ sở hạ tầng, sự hao hụt diện tích tưới, sự phân phối nước không công bằng, lãng phí nước, tăng úng ngập và nhiễm mặn Bị thúc ép mạnh mẽ với áp lực tài chính, nhiều nước trên thế giới đã cố gắng chuyển giao quyền và trách nhiệm quản lý các hệ thống tưới từ các cơ quan nhà nước cho các nhà cung cấp dịch vụ thủy nông ở địa phương
Từ giữa thập kỷ 80, có sự tăng đột ngột trong nỗ lực của các chính quyền trên toàn thế giới, thực hiện mô hình quản lý hệ thống tưới chuyển giao hệ thống thủy nông từ các cơ quan nhà nước cho các tổ chức nông dân hoặc các
tổ chức phi chính phủ khác Mô hình trên diễn ra ở nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Indonesia, Chilê, Trung Quốc, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ Chính phủ các nước hy vọng rằng việc thực hiện mô hình quản lý hệ thống tưới trên sẽ làm giảm gánh nặng vè chi phí trong tưới tiêu và sẽ tăng năng suất cũng như lợi nhuận từ nền nông nghiệp có tưới đủ để trang trải cho bất cứ chi phí nào của người nông dân
1 Mô hình quản lý tưới ở Philippin
Vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, cơ quan quản lý tưới Quốc gia (National Irrigation Administration – NIA) phải đương đầu với nhiều khó
Trang 18trình thủy lợi ngày càng bị xuống cấp, chính phủ bắt buộc tự trang trải chi phí hoạt động, các vấn đề trên đã tạo ra một thách thức cho sự tồn tại của NIA và bắt buộc NIA thay đổi cơ chế tổ chức và quản lý Rút kinh nghiệm của một số nước phát triển, NIA đã thu hẹp phạm vi quản lý vận hành công trình và mở rộng vai trò tham gia của người hưởng lợi bằng cách thiết lập các hiệp hội tưới (Irrgation Association – IA) để phối hợp với NIA quản lý các hệ thống tưới và đó là mục tiêu chính của công trình đổi mới mô hình tổ chức quản lý mà Chính phủ yêu cầu các NIA xây dựng và phát triển các IA để họ có khả năng đảm nhiệm vai trò quản lý, vận hành và bảo dưỡng các hệ thống tưới (toàn bộ hoặc từng phần) hệ thống Bước đầu chương trình này được thí điểm ở phạm vi nhỏ như các hệ thống cấp xã hoặc từ kênh cấp 2 trở xuống, NIA tập trung chủ yếu vào các công trình đầu mối và kênh chính Để chuyển giao cho
IA quản lý, vận hành, bảo dưỡng và làm chủ hệ thống của họ, IA có thể lựa chọn một trong hai phương án:
Phương án 1: Các IA phải đóng góp cho Chính phủ 30% giá trị xây dựng và nâng cấp hệ thống công trình, 70% còn lại coi như Chính phủ trợ giúp trực tiếp và hệ thống công trình đó thuộc IA
Phương án 2: IA trả dần cho Chính phủ, trả khoảng 10%; 20% trong quá trình xây dựng còn lại trả dần nhưng không vượt quá 50 năm
Đến năm 1980, cơ chế quản lý mới đã đạt những thành công lớn và NIA đã cho áp dụng thí điểm mô hình này trong các hệ thống tưới cấp Quốc gia và cũng đã đạt được các kết quả khích lệ vì vậy năm 1983 tiếp tục mở rộng phạm
vi áp dụng với các hệ thống có diện tích tưới dưới 3.000 ha Đối với loại hệ thống vừa và lớn, IA phối hợp với NIA theo 3 hình thức hợp đồng: Hình thức thứ nhất là hợp đồng đảm nhận và chịu trách nhiệm thực hiện công việc bảo dưỡng thường xuyên các hệ thống kênh cụ thể; Hình thức thứ hai là hợp đồng đảm nhận và chịu trách nhiệm quản lý vận hành công trình và thu thủy lợi phí từ các thành viên trong IA; Hình thức thứ ba là hợp đồng đảm nhận tất cả các
Trang 19trách nhiệm trong vận hành, bảo dưỡng hệ thống và trả dần chi phí xây dựng, chi phí nâng cấp mở rộng
b Mô hình quản lý kênh Paliganj bang Bihar Ấn Độ
Kênh phân phối Paliganj thuộc Bihar được chọn là điểm nghiên cứu thực nghiệm trên cơ sở xây dựng các nguyên tắc chung để cải tổ mô hình quản lý tưới ở Ấn Độ Kênh Paliganj có diện tích tưới là 14.867 ha trong đó diện tích tưới canh tác là 12.197 ha gồm 76 làng với 16.000 hộ dân và trên 114.000 người Trước năm 1988, kênh do cục Tài nguyên nước quản lý và hiệu quả rất kém Để nâng cao hiệu quả, Chính phủ chọn kênh này thí điểm cải tổ thể chế quản lý Sau một thời gian nghiên cứu, nhóm công tác đã chỉ ra nguyên nhân
cơ bản cần phải nghiên cứu giải quyết là thiếu sự liên lạc giữa người sử dụng và cơ quan quản lý hệ thống; thiếu sự tham gia của nông dân vào quá trình quản lý và hệ thống vận hành một cách không hợp lý Để giải quyết các vấn đề trên, nhóm công tác đề xuất cải tổ phương thức quản lý bằng cách thành lập Hiệp hội nông dân vận hành kênh (sau đó chính thức hóa và đổi tên thành Hiệp hội nông dân kênh phân phối Paliganj) là tổ chức đại diện cho nông dân
để phối hợp với Cục Tài nguyên nước để trực tiếp quản lý và vận hành hệ thống tưới Hiệp hội bao gồm các Hội tưới của thôn (VIC) do những người nông dân do làng bầu ra, chịu trách nhiệm quản lý phân phối nước và tu sửa bảo vệ công trình trong phạm vi làng Mỗi VIC sẽ gửi đại diện tham gia vào Hiệp hội vận hành kênh nông dân
c Mô hình quản lý tưới ở Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời về tưới với những hệ thống tưới quy mô lớn được sử sách ghi lại từ năm 605 trước Công Nguyên Với dân số trên 1,2 tỷ người, Chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới vấn đề lương thực chính vì vậy mà các hệ thống tưới có ý nghĩa hết sức quan
trọng Cuối thập kỷ 70, cơ chế quản lý tưới đã bộc lộ nhiều nhược điểm nhất
Trang 20so với tiềm năng công trình Vào đầu năm 1978, Trung Quốc đã mở ra một kỷ nguyên mới về cải cách kinh tế và là tiền đề để đổi mới công tác quản lý tưới, trong khu vực nông nghiệp và nông thôn bắt đầu là việc xóa bỏ các hợp tác xã hoạt động theo kiểu công điểm; hộ nông dân được giao đất dài hạn để canh tác và được phép tự do sản xuất, nghiên cứu thị trường và được giữ lại lợi nhuận do họ làm ra; thay đổi một loạt các thể chế chính sách quản lý tưới theo quan điểm xã hội hóa đã diễn ra mạnh mẽ Tất cả những gì đổi mới ở đây là một cuộc cách mạng để tiến tới thực hiện tự chủ về tài chính cũng như tăng cường quản lý ở địa phương, một loạt các mô hình mới đã xuất hiện những thành tựu , chung lại có 3 mô hình quản lý mới là:
- Mô hình quản lý có sự phối hợp giữa Nhà nước và Hội dùng nước: Mô hình này được áp dụng khá phổ biến ở các tỉnh Hubei, Gansu, Shangdong, Hebei , loại mô hình quản lý này tỏ ra có nhiều ưu điểm nên được nhiều tỉnh
áp dụng Trong hình thức quản lý này Nhà nước quản lý công trình đầu mối đên kênh cấp II, từ kênh cấp III trở xuống giao cho người sử dụng nước quản lý (thông qua hội dùng nước - WUA) Để quản lý phần công trình của Nhà nước, Sở thủy lợi thành lập Ban quản lý công trình đầu mối và kênh chính (BQLĐMKC) quản lý vận hành phân phối nước tưới đến đầu kênh cấp I và tự trang trải các chi phí hoạt động bằng tiền thủy lợi phí thu được và Sở Thủy lợi cấp bù trong một số trường hợp cần thiết Các Chi cục Thủy lợi ở các địa hạt thành lập các ban quản lý kênh nhánh (Ban QLKN) để quản lý vận hành kênh cấp I và cấp II và từ kênh cấp III trở xuống giao cho các WUA thực hiện Các WUA được thành lập theo các tuyến kênh cấp III tương tự mô hình trên WUA là tổ chức đại diện cho các hộ dùng nước trực tiếp giao dịch với công ty cấp nước trong việc mua bán nước, phân phối nước tới các hộ dùng nước, xác định khối lượng nước tiêu dùng của từng hộ, tính toán mức thu và thu thủy lợi phí nộp cho công ty thoát nước
Trang 21- Mô hình đấu thầu cho thuê: Mô hình này đã được thực hiện năm 1998, ở hệ thống Fingui với diện tích tưới 90370 ha thuộc Xianyang và thành phố tự trị Xian, đây là một sự đổi mới táo bạo trong hệ thống quản lý, khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động quản lý nước bằng cách đấu giá hoặc cho thuê để gắn quyền sử dụng và quyền quản lý nước bằng cách đấu giá hoặc cho thuê để gắn quyền sử dụng và quyền quản lý với việc đẩy mạnh hiệu quả tăng lợi nhuận của khu tưới này Cho đến nay đã có 378 tuyến kênh đã thực hiện đấu giá và 90 tuyến kênh cho thuê (chiếm 87% của tổng số 538 kênh nhánh) Kết quả đã đạt được trong việc cải cách được đánh giá là rất cao đó là sự kết hợp giữa quyền lợi, trách nhiệm và lợi nhuận với sự thống nhất của việc xây dựng, quản lý và sử dụng; quản lý tự đầu tư tu sửa nâng cấp công trình và mở rộng diện tích tưới; giảm các khâu trung gian nên đã giảm được phí quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ Hình thức đấu giá là đấu ba quyền chủ yếu đó là: quyền pháp nhân, quyền sử dụng và quyền quản lý theo phương thức cạnh tranh cởi mở công bằng và bình đẳng để tạo ra “quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền xây dựng và quản lý rõ ràng” mặt khác chuyển hình thức quản lý theo kiểu tập thể sang người dùng nước để hình thành một hệ thống tổ chức phi Chính phủ của người dùng nước với sự thống nhất về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đồng thời kết hợp với các hoạt động xây dựng công trình, quản lý và sử dụng nước
Trong những năm gần đây, sự tham gia đóng góp của người dân trong việc xây dựng, phát triển và quản lý các công trình thuỷ lợi ở Trung Quốc ngày một cao hơn Điều này đã làm tăng các khoản thu từ dịch vụ thuỷ lợi để khôi phục, duy tu sửa chữa, hạn chế sự xuống cấp của các công trình thuỷ lợi, giúp cho nguồn tài nguyên nước được giữ gìn tốt hơn, sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả tốt hơn, năng xuất cây trồng cao hơn
Trang 22d Mô hình quản lý của Thổ Nhĩ Kỳ
Đã thực hiện mô hình chuyển giao hệ thống thủy nông cho nông dân bắt đầu từ những năm 1950, nhưng đến năm 1993 nhà nước có chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy việc chuyển giao giảm bớt gánh nặng tài chính đối với vận hành và duy tu Cục Thủy lợi (DSI) trực thuộc Bộ Năng lượng và phát triển nông thôn có chương trình chuyển giao trách nhiệm vận hành và duy tu từ các hệ thống kênh cấp 2 trở xuống cho Hội tưới tiêu Đến năm 1996, có 60% diện tích đã được chuyển giao hoàn toàn Thủy lợi phí đều nộp cho Bộ tài chính thông qua các sở Thủy lợi tỉnh Đối với nhóm tưới tiêu 20 – 25 % thủy lợi phi dành lại để sửa chữa nhỏ
e Mô hình quản lý của Mexico
Là nước điển hình trong chương trình PIM, chính sách từ năm 1971 –
1998 đầu tư nông nghiệp có tưới chiếm 80% đầu tư nhà nước cho ngành nông nghiệp nói chung Từ năm 1989 Chính phủ Mexico đã thành lập Ủy ban nước Quốc gia (CAN) có trách nhiệm tạo nên một nền tảng chính sách quan trọng cho việc thực hiện mô hình quản lý hệ thống tưới, với mục tiêu tạo ra tự hạch toán kinh doanh, tự chủ về tài chính, nhằm cung cấp các dịch vụ về nước đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh, giao trách nhiệm vận hành, bảo dưỡng và quản lý đối với các tổ chức dùng nước; Kế hoạch phát triển quốc gia 1989 – 1994 tạo ra cho các công ty quyền được nhân hóa và dựa vào chính sách này chương trình hiện đại hóa nông nghiệp đã ra đời 1990 – 1994 Thủy lợi phí phải trả vào đầu vụ và trả thông qua ngân hàng, căn cứ vào mức thu do Hội dùng nước tính toán đối với mỗi hộ Đối với việc khôi phục hệ thống, chi phí của nhà nước không thể bù đắp nổi, Ủy ban Hội dùng nước Quốc gia thảo luận: Chính phủ đóng góp 50% và người dùng nước đóng 50% kinh phí
Nhận xét chung
Với những thông tin có được, có thể thấy rằng, hiên nay rất nhiều nước trên thế giới đều nhận thức được vai trò của hệ thống thuỷ lợi đối với việc bảo
Trang 23tồn nguồn nước, đối với việc cấp nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế, nên rất nhiều quốc gia đã chú trọng đầu tư đầu tư xây dựng các hệ thống công trình thuỷ lợi và đặc biệt là việc phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ các hệ thống công trình thủy lợi với sự tham gia của người dân Tùy
theo điều kiện cụ thể mà ở mỗi nước có cách phân loại hệ thống thuỷ lợi để phân cấp quản lý, trách nhiệm, phân quyền khác nhau, nhưng đều có chung một mô hình phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương và cơ sở
Trong những năm gần đây, xu hướng chuyển giao quyền quản lý, sử dụng và sở hữu hệ thống công trình loại nhỏ cho địa phương và những người dùng nước, những người hưởng lợi diễn ra phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Nội dung nổi bật của quá trình chuyển giao quản lý là chuyển trách nhiệm quản lý từ chính phủ cho các nhóm nông dân, hội những người dùng nước,…Chính phủ và các tổ chức quản lý tài nguyên nước quốc gia thực hiện việc quản lý các công trình đã chuyển giao thông qua hợp đồng và chỉ chịu trách nhiệm trong việc điều tiết nguồn nước, hướng dẫn kỹ thuật, công nghệ và cung cấp chuyên gia, dịch vụ cho các hoạt động liên quan đến hệ thống tưới tiêu
Các nước đều hướng tới mục tiêu giảm dần vai trò của chính phủ trong trách nhiệm quản lý hệ thống tưới tiêu, giảm dần các khoản chi ngân sách cho
việc vận hành và duy tu các công trình thuỷ lợi trên cơ sở thực hiện chính sách thu phí dịch vụ thuỷ lợi, gắn trách nhiệm của người hưởng lợi với trách nhiệm quản lý điều hành và bảo dưỡng đối với các công trình tưới tiêu
Các nước đều khuyến khích mở rộng các hình thức quản lý hệ thống tưới tiêu với sự tham gia của người dân, từ khâu thiết kế xây dựng đến quản lý vận hành duy tu và coi đây là một trong những bí quyết đưa đến thành công trong quản lý hệ thống tưới tiêu Đó cũng chính là bài học lớn nhất mà chúng ta đúc rút và học tập được
Trang 241.2.2 Phân cấp quản lý các công trình thủy lợi ở Việt Nam
1 Thực tiễn phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thuỷ lợi, đến ngày 31/12/2008, trên cả nước có 904 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn có diện tích phục vụ từ 200ha trở lên
Trong đó 110 hệ thống thuỷ lợi có diện tích phục vụ từ 2.000ha trở lên bao gồm:
- 19 hệ thống công trình có diện tích phục vụ từ 2.000 ÷ 3.000 ha
- 15 hệ thống công trình có diện tích phục vụ từ 3.000 ÷ 4000 ha
- 9 hệ thống công trình có diện tích phục vụ từ 4.000 ÷ 5000 ha
- 13 hệ thống công trình có diện tích phục vụ từ 5.000 ÷ 10000 ha
- 43 hệ thống CT thuỷ lợi có diện tích phục vụ từ 10.000÷100.000 ha
- 11 hệ thống công trình có diện tích phục vụ lớn hơn 100.000 ha
Cũng theo đó cả nước có trên 5000 hồ chứa các loại, với tổng dung tích trữ nước trên 35,34 tỷ mP
3 P, gồm:
- 26 hồ chứa thuỷ điện có tổng dung tích trữ là 27,12 tỷ mP
3 P
- Trên 10.000 trạm bơm điện lớn với các loại máy bơm khác nhau, có tổng công suất lắp máy phục vụ tưới là 250 Mw, phục vụ tiêu là 300Mw Cùng với hệ thống công trình thuỷ lợi và hồ chứa đó là gần 5.000 cống tưới tiêu lớn các loại Tổng số 126.000km kênh mương, trong đó có trên 1.000 km kênh trục lớn, cùng với hàng vạn công trình trên kênh Trên 26.000
Trang 25km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở Đồng bằng sông Cửu Long, khoảng 3700
km đê sông, trên 2000 km đê biển
Các hệ thống công trình thuỷ lợi này đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu thiết yếu trong sản xuất và đời sống dân sinh Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang diễn ra theo chiều hướng cực đoan và đã có những tác động trực tiếp và rõ nét đối với nước ta đòi hỏi Chính phủ và nhân dân ta cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa trong công tác đầu tư và quản lý khai thác mới có thể đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu ngày càng lớn hiện nay
Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý và khai thác khép kín các công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi, hiện nay, cả nước đã hình thành một hệ thống các tổ chức để quản lý, khai thác các công trình như sau:
- Khoảng 100 doanh nghiệp quản lý các công trình đầu mối lớn, kênh trục chính (cấp 1, cấp 2): các công trình đầu mối lớn, kênh trục chính, chưa bao gồm các tổ chức khác thuộc nhà nước cũng được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
- Khoảng 12.000 tổ chức hợp tác dùng nước bao gồm các hợp tác xã nông lâm nghiệp có làm dịch vụ thuỷ lợi, hợp tác xã dùng nước, tổ chức hợp tác, Ban quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, tổ thuỷ nông, đường nước độc lập quản lý các công trình thuỷ lợi cơ sở nhỏ, hệ thống thuỷ lợi mặt ruộng
- Một số loại hình có tính chất đặc thù khác: như Ban, Trạm Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi huyện, liên xã, Trung tâm quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, Chi cục thuỷ lợi, công ty khác cũng được giao chức năng quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi
Nhiều tỉnh đã thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các địa phương hoặc cho các tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Qua điều tra cho thấy: có 25 tỉnh đã ban hành quy định (kể cả quy định tạm thời) về phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi Từ năm 1996, Tuyên
Trang 26Quang đã thực hiện chuyển giao toàn bộ công trình thủy lợi trong tỉnh cho các TCHTDN Năm 2007 tỉnh Thái Bình là tỉnh đầu tiên đã thực hiện Đề án phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi và tổ chức thực hiện chuyển giao các trạm bơm nhỏ trong một xã cho các Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) trên quy mô toàn tỉnh Kết quả thực hiện đề án phân cấp quản lý ở Thái Bình là đã
chuyển giao được 285 trạm bơm nhỏ quy mô tưới tiêu cho một xã cho các HTXNN thì hiệu quả thì hiệu quả tưới tiêu của các trạm bơm này đã được nâng cao, nhân dân rất phấn khởi, đồng tình với chủ trương phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi của tỉnh
Hiện nay chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thủy lợi phí, quy định miễn thủy lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thủy lợi đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cả trường hợp công trình thủy lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước Chính sách này quy định các tổ chức được ngân sách cấp, sử dụng kinh phí bao gồm cả các công ty khai thác công trình thủy lợi, các tổ chức sự nghiệp và các TCHDN Đây là chính sách thuận lợi cho
việc phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các TCHDN Khi thực hiện chính sách miễn giảm thủy lợi phí theo Nghị định 155/2009/NĐ-CP của Chính phủ, do được sử dụng kinh phí bù miễn thủy lợi phí nên một số địa phương đang có xu hướng chuyển giao ngược các công trình thủy lợi nhỏ cho công ty khai thác công trình thủy lợi Tỉnh Vĩnh Phúc đang thực hiện thí điểm
mô hình tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối theo phương thức: Thực hiện bàn giao toàn bộ các công trình thủy lợi trên địa bàn làm thí điểm (kể cả các công trình do các xã, HTXNN quản lý) cho các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý phục vụ tưới từ đầu mối tới mặt ruộng Trước mắt, trong năm 2007 đã thực hiện thí điểm mô hình này cho các hệ thống thủy lợi của công ty khai thác công trình thủy lợi Tam Đảo, Liễn Sơn, Lập Thạch và Mê Linh Hiệu quả quản lý khai thác công trình thủy lợi của các mô hình
Trang 27thí điểm tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối này cần được điều tra, đánh giá một cách khách quan để khẳng định sự phù hợp của mô hình
Nhìn chung các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thủy lợi nhỏ, phạm vi tưới cho một xã, mức độ quản lý đơn giản cho các TCHTDN Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập), ranh giới hành chính và mức độ phức tạp về quản lý công trình Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lơi thực tê ở các địa phương điều tra và định lượng một số tiêu chí phân cấp quản lý ở các tỉnh được trình bày tóm tắt ở Bảng 1.1 và Bảng 1.2
Hầu hết các tỉnh đều áp dụng tiêu chí ranh giới hành chính để phân cấp công trình thủy lợi Các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thủy lợi nhỏ, phạm vi tưới, tiêu cho một xã cho các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập) Trong đó tiêu chí phân cấp về diện tích tưới là khoảng 30-50 ha, dung tích hồ chứa từ 0,5-1 triệu mP
3
Pvà chiều cao đập từ 8-10 m Một số tỉnh đã đưa vào tiêu chí về mức độ quản lý phức tạp của công trình như Đắc lắc, Hà Giang, Tiền Giang, Ninh Thuận Tiêu chí quy mô công trình thủy lợi (lớn, vừa và nhỏ) được áp dụng ở các tỉnh như Thái Bình, Ninh Thuận, tuy nhiên chưa xác định tiêu chí cụ thể phân loại các cống trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ Một số tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh như tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phỏng, trong khi đó tiêu chí loại kênh được áp dụng ở tỉnh Quảng Nam Trong đó kênh loại I là kênh tưới liên huyện, kênh loại II là kênh tưới liên xã và kênh loại III là kênh tưới trong một xã Theo tiêu chí phân loại kênh, tỉnh Quảng Nam đã phân cấp quản lý kênh loại III cho các HTXNN
Trang 28Nhiều tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh nội đồng cho các tổ chức thủy nông cơ sở Tuy nhiên tiêu chí kênh nội đồng chưa được định lượng cụ thể
Bảng 1.1: Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ
lợi được áp dụng ở các tỉnh điều tra
TT Vùng/tỉnh
Diện tích tưới
Dung tích hồ
Chiều cao đập
Cấp kênh/loại kênh
Ranh giới hành chính
Tính chất phức tạp của công trình
Trang 29Nguồn: Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi
Ghi chú: x - Tiêu chí phân cấp được áp dụng
Trang 30Bảng 1.2: Định lượng các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô
công trình thuỷ lợi ở các tỉnh điều tra
Diện tích tưới (ha)
Dung tích
hồ (10P
Cấp kênh/loại kênh
1 Hà Giang <30
3 Thái Nguyên <50
2 Một số mô hình quản lý hệ thống thủy lợi thực hiện ở miền Bắc Việt Nam
Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi gồm 2 nội dung chính: quản lý nhà nước và quản lý khai thác
Trang 31a Quản lý nhà nước về khai thác công trình thủy lợi
Quản lý nhà nước về khai thác công trình thủy lợi được quy định tại chương IV, điều 30 của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi: 1/ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
2/ Bộ Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
3/ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi theo sự phân công của Chính phủ
4/ UBND các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về khai thác và bảo vệ công thủy lợi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ
b Quản lý khai thác công trình thủy lợi
U
* Tổ chức do Nhà nước thành lập quản lý
Hiện nay mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp KTCTTL thực hiện theo các mô hình sau:
Mô hình 1: Mô hình các Công ty liên tỉnh trực tiếp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT như công ty Bắc Hưng Hải, công ty Bắc Nam Hà
Mô hình 2: Mô hình này vận hành cho các tỉnh có nhiều hệ thống thủy lợi lớn như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh thì kiện toàn công ty theo hệ thống trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT
Mô hình 3: Các tỉnh có hệ thống thủy lợi lớn đảm bảo tưới hầu hết cho diện tích cây trồng của tỉnh, chỉ còn lại một ít hệ thống công trình nhỏ độc lập thì lấy hệ thống thủy lợi lớn đó làm công KTCTTL trung tâm tỉnh, trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT
Trang 32Mô hình 4: Mô hình này đặc trưng cho các tỉnh hai khu vực hoặc hai hệ thống độc lập thành lập các công ty độc lập trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh hoặc huyện ra quyết định thành lập, hoạt động theo quy định của doanh nghiệp Nhà nước, một số nơi chuyển sang doanh nghiệp công ích Hoạt động theo chế độ do Nhà nước ban hành và áp đặt như chế độ thủy lợi phí, quá trình vận hành bảo dưỡng Cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân của các công ty, xí nghiệp thực hiện việc quản lý va điều hành hệ thống từ đầu mối đến từng thôn bản, việc lấy nước vào ruộng do các tổ chức thủy nông của thôn bản phụ trách hoặc do các gia đình tự lấy nước vào ruộng
* UMô hình hợp tác xã dịch vụ thủy lợi
Với luật hợp tác xã theo kiểu mới được ban hành, một số địa phương đã
áp dụng theo các quy chế hoạt động phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương và có các hình thức tổ chức sau:
Hình thức thứ nhất: Nhà nước thành lập công ty thủy nông cấp huyện
hoặc tỉnh với nhiệm vụ quản lý hệ thống kênh chính phục vụ liên xã Các kênh lấy nước về các xã, thôn giao cho xã hoặc thôn quản lý, các xã hoặc thôn thành lập Hợp tác xã dịch vụ thủy lợi để quản lý phần hệ thống công trình được giao Hợp tác xã bao gồm một số nông dân có sử dụng nước tự nguyện tham gia đóng góp cổ phần cho hoạt động của HTX, lợi nhuận thu được được chia theo cổ phần đóng góp và sức lao động bỏ ra của mỗi xã viên Nhiệm vụ chính là làm dịch vụ thủy nông, ngoài ra cũng làm một số dịch vụ khác phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp Ban quản trị HTX được các xã viên bầu gồm có
1 chủ nhiệm, phó chủ nhiệm (nếu cần thiết), một kế toán, một thủ quỷ và một số ủy viên Thủy lợi phí được thu nộp cho công ty thủy nông của nhà nước một phần, phần còn để lại cho HTX theo thỏa thuận giữa công ty thủy nông và HTX Mô hình HTX này được xây dựng ở một số địa phương như: HTX Thắng Lợi, xã Tượng Sơn, là một xã nằm ở cuối kênh N7 hồ Kẻ Gỗ, huyện
Trang 33Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh HTX N4B của xí nghiệp thủy nông huyện Yên Thành thuộc công ty Bắc Nghệ An tỉnh Nghệ An
Hình thức thứ hai: Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập ban
quản lý công trình liên huyện khi công trình phục vụ tưới cho các địa phương thuộc nhiều huyện Ban quản lý công trình gồm trưởng ban là cán bộ của trạm thủy nông, một số phó ban, các ủy viên đại diện cho các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, một cán bộ kỹ thuật giúp việc cho ban điều hành Trong các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp có tổ, đội thủy nông để điều hành nước tưới Trưởng ban quản lý công trình trực tiếp điều hành cán bộ kỹ thuật quản lý vận hành từ đầu mối đến các tuyến kênh chính, các thành viên trong ban trực tiếp điều hành các tổ đội điều hành nước tưới, tu sửa nạo vét công trình và kênh mương Với cách làm này chuyển giao toàn bộ công tác quản lý và khai thác hệ thống cho ban quản lý công trình liên huyện Thủy lợi phí được thu theo quy định của tỉnh, chi cho sửa chữa, trả lương cho ban quản lý và các chi phí khác
Hình thức thứ ba: Công trình thủy lợi phục vụ một xã hoặc một số thôn
trong xã Lãnh đạo huyện, xã chỉ đạo các thôn có liên quan thành lập HTX dịch vụ thủy lợi với nhiệm vụ chính là lấy nước tưới bảo vệ tư sửa hệ thống thủy lợi theo quy định của tỉnh, mức chi theo hình thức một phần nộp cho nhà nước, một phần trả lương cho Ban quản trị và một phần để tu sửa hệ thống Ban quản trị do xã viên bầu ra có một chủ nhiệm, một kế toán, một thủ quỹ và một số thành viên, xã viên là tất cả các hô nông dân có dùng nước của hệ thống thủy lợi Các quy chế hoạt động này do dân xây dựng dựa trên cơ sở luật HTX mới
Các hợp tác xã được thành lập theo các hình thức trên được các cấp chính quyền có thẩm quyền công nhận là tổ chức kinh tế đủ tư cách pháp
Trang 34nhân, có đăng ký kinh doanh do UBND có thẩm quyền cấp, có tài sản cố định và vốn hoạt động
* UMô hình hội dùng nướcU
Mô hình hội dùng nước đã được triển khai thực hiện ở nhiều nước trên thế giới khi chuyển giao việc quản lý các công trình thủy lợi nhỏ cho địa phương Ở nước ta mô hình này đã được một số tổ chức nước ngoài như Oxfam Anh, Bỉ, Hồng Kông, AAV, ZOA (Hà Lan), CIDSE, Cộng đồng Châu
Âu (EU), UNDP khi giúp đỡ những vùng khó khăn xây dựng các hệ thống thủy lợi đã đưa vào áp dụng xây dựng hệ thống quản lý để bảo quản và vận hành hệ thống khi công trình được đưa vào hoạt động ở một số địa phương có hiệu quả
Hình thức thứ nhất: Nhà nước thành lập công ty thủy nông quản lý kênh
chính, các kênh nhánh dẫn nước về từng xã giao cho các xã quản lý Dưới sự lãnh đạo của lãnh đạo huyện, xã và sự giúp đỡ của các tổ chức nước ngoài thành lập Hội dùng nước để quản lý hệ thống kênh, Hội người dùng nước cấp xã bao gồm tất cả các gia đình nông dân có sử dụng nước của hệ thống, các kênh nhánh cấp 2 (hoặc 3) thành lập các chi hội người dùng nước cấp xã Hội
tổ chức Hội nghị đại biểu để bầu ra Ban quản lý Hội gồm: Trưởng ban, một kế toán, một thủ quỹ và một số thành viên đại diện cho các chi hội có sử dụng nước, hội nghị toàn thể chi hội bầu ra ban quản lý chi hội để phục vụ cho việc quản lý kênh nhánh và lấy nước tưới Thủy lợi phí thu theo quy định của tỉnh
để lại 1/3 cho hội hoạt động và 2/3 nộp cho công ty thủy nông
Hình thức thứ hai: Các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho nhiều thôn
bản trong một xã hoặc chỉ tưới cho một thôn, một bản Lãnh đạo huyện và xã chỉ đạo thành lập Hội dùng nước cấp xã, Hội viên gồm tất cả những người dùng nước của các công trình thủy lợi, Ban quản lý hội do xã chỉ định hoặc do hội nước của các công trình thủy lợi, Ban quản lý Hội do xã chỉ định hoặc do
Trang 35hội nghị đại biểu các thôn bản bầu ra gồm trưởng ban, Kế toán và thủ quỹ, có nơi chỉ thành lập Ban chỉ đạo Hội dùng nước cấp xã Mỗi công trình thủy lợi thành lập một chi hội hoặc Hội dùng nước cấp công trình, chi hội bầu ra Ban quản lý trực tiếp điều hành nước và quản lý hệ thống công trình Thủy lợi phí thu theo quy định của tỉnh trả cho Ban quản lý xã 5 % số tiền thu được, số tiền còn lại trả công cho những người trực tiếp quản lý của thôn bản, để quỹ sửa chữa và các chi phí khác Tỉ lệ chi phí do Hội nghị Hội những người dùng nước quy định thống nhất
Hình thức thứ ba: Các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho nhiều thôn
bản trong một xã hoặc 2 xã hoặc chỉ tưới cho một thôn, một bản Lãnh đạo huyện và xã chỉ đạo thành lập Hội người dùng nước cấp công trình, không thành lập cấp xã mà trạm thủy nông huyện trực tiếp chỉ đạo việc hoạt động của các Hội người dùng nước hoặc phòng Nông nghiệp và PTNT huyện và Ban Giao thông Thủy lợi xã trực tiếp chỉ đạo Mọi người dùng nước của hệ thống đều tham gia hội và gọi là hội viên của hội Ban quản lý Hội do các hội viên bầu ra Thủy lợi phí thu theo quy định của tỉnh nộp cho trạm thủy nông huyện 1/3 hoặc theo tỷ lệ khác tùy theo quy định của huyện, số còn lại chi trả công cho người quản lý, tu sửa hệ thống và các chi phí khác của Hội
Hình thức thứ tư: Các công trình thủy lợi phục vụ tưới cho nhiều thôn
bản trong một xã hoặc chỉ tưới cho một thôn, một bản Lãnh đạo huyện và xã chỉ đạo thành lập Hội dùng nước cấp công trình gồm tất cả những người dùng nước của hê thống tham gia, bầu ra ban quản lý có trưởng thôn bản, kế toán và thủ quỹ của thôn bản và những người trực tiếp đấu thầu bảo vệ từng đoạn kênh và lấy nước tưới cho các khu vực ruộng Thủy lợi phí thu theo quy định của tỉnh cách chi do hội nghị Hội dùng nước quyết định Ban Giao thông Thủy lợi xã trực tiếp chỉ đạo Hội
Trang 363 Tồn tại vướng mắc khi thực hiện phân cấp quản lý khai thác CTTL
- Một số tỉnh chỉ có công ty khai thác công trình thủy lợi tỉnh, mà không thành lập các xí nghiệp khai thác thủy lợi huyện (tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang), thực tế cho thấy công ty cũng chỉ quản lý được các công trình đầu mối, công trình xây đúc còn toàn bộ hệ thống kênh mương nhất là các tuyến kênh liên xã không quản lý được nên hệ thống này không có chủ quản lý đích thực Việc phân công trách nhiệm vận hành, duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình thủy lợi giữa các công ty khai thác công trình thủy lợi và các TCHDN không rõ ràng, là nguyên nhân chủ yếu gây nên hiệu quả quản lý thấp ở nhiều hệ thống thủy lợi
- Một số tỉnh hiện nay chưa có công ty khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhiều tỉnh miền núi đến nay chỉ thành lập các trạm thủy lợi cấp huyện, như tỉnh Lai Châu, Lào Cai ở tỉnh Đồng Tháp, do chưa có công ty khai thác công trình thủy lợi nên việc quản lý khai thác công trình thủy lợi là do UBND tỉnh, huyện và các tổ chức hợp tác thực hiện Tỉnh Long An chưa có công ty khai thác công trình thủy lợi cấp tỉnh mà chỉ có các trạm thủy lợi huyện, do vậy nên gặp khó khăn trong việc quản lý khai thác các công trình, tuyến kênh tưới, tiêu liên huyện Ở một số tỉnh các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi như Chi cục quản lý thủy nông tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Chi cục thủy lợi tỉnh Cần Thơ thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi
- Do thiếu cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính nên mặc dù thấy được hiệu quả song nhiều địa phương vẫn còn dè dặt trong phân giao quản lý các công trình thủy lợi nhỏ, kỹ thuật đơn giản cho các TCHTDN và cá nhân quản
lý
- Một số tỉnh không thực hiện phân cấp quản lý trực tiếp cho các TCHTDN mà phân cấp cho các huyện Nhưng một số huyện không thành lập
Trang 37được các trạm khai thác thủy lợi hoặc các TCHTDN, nên huyện tạm thời cử cản bộ của phòng kinh tế huyện quản lý Các phỏng kinh tế huyện là cơ quan
có chức năng quản lý nhà nước vừa kết hợp quản lý khai thác công trình thủy lợi Hơn nữa, các cán bộ huyện không đủ nhân lực để quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, dẫn đến tình trạng thực chất là các công trình thủy lợi chưa có chủ quản lý đích thực, không đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công trình thủy lợi Ví dụ như ở tỉnh Đắc Lắc phân cấp quản lý một số công trình thủy lợi cho UBND huyện, sau đó UBND huyện giao cho phòng nông nghiệp địa chính hoặc UBND xã quản lý một số công trình thủy lợi nhỏ cho UBND xã quản lý một số công trình dẫn đến không có chủ quản lý đích thực bởi vì không có người quản lý trực tiếp Một số người được giao nhiệm vụ quản lý công trình này được hưởng chế độ như là công chức do ngân sách huyện hoặc xã trả hoàn toàn không phải tổ chức thu thủy lợi phí để có kinh phí quản lý và sửa chữa thường xuyên
- Ở nhiều địa phương, hiện nay các công trình thủy lợi nhỏ và các kênh nội đồng (kênh loại III) trong một xã vẫn do các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý, ví dụ như ở tỉnh Quảng Nam, Hải Dương , Nghệ An Trong khi đó, đối với các công trình thủy lợi nhỏ ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Hòa Bình ) về danh nghĩa các công ty khai thác công trình thủy lợi chịu trách nhiệm quản lý công trình đầu mối và tuyến kênh chính còn các tổ chức thủy nông cơ sở (thôn, bản) quản lý hệ thống kênh nội đồng, nhưng thực tế các công trình đầu mối và kênh chính cũng do các thôn bản quản lý, vận hành
- Các tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi thực hiện khác nhau ở các địa phương Tiêu chí phân cấp hệ thống công trình thủy lợi
có quy mô nhỏ, vừa và lớn chưa được thống nhất trong các văn bản pháp quy cũng như trong các báo cáo khoa học Tiêu chí về quy mô công trình thủy lợi
Trang 38tiêu chí kênh chính, kênh nhánh cấp 1, 2, 3, kênh nội đồng, trong khi đó có tỉnh phân loại kênh theo tiêu chí kênh loại 1, 2, 3
- Nhiều tỉnh khuyến khích phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi cho các TCHTDN, nhưng chưa đề ra tiêu chí phân cấp quản lý công trình thủy lợi đầu mối là các trạm bơm điện hoặc đập dâng nước
Những tồn tại và nguyên nhân
- Hệ thống công trình năng lực phục vụ thấp so với năng lực thiết kế
- Hệ thống công trình xuống cấp nghiêm trọng
Về công trình đầu mối: hệ thống công trình không đồng bộ, nhiều công trình thủy nông đã hết tuổi thọ chưa được thay thế, điển hình là nhiều cống tưới tiêu dưới đê xây dựng từ đầu thế kỷ chưa được đại tu nâng cấp, đây là những điểm xung yếu xảy ra trong mùa mưa lũ Nhiều trạm bơm đã xây dựng trên 30 năm, giờ đáng được thay thế nhưng vẫn phải vận hành
Các kênh trục, kênh nổi: đắp không đủ mặt cắt và cao trình, chỗ sạt lở bồi lắng không được tu bổ, nạo vét Kênh đi qua vùng sình lầy, lún sụt không được xử lý triệt để Kênh qua vùng cát thấm nhiều không được gia cố, các cống trên kênh không kín nước, thậm chí không có cửa van Hệ thống kênh chìm còn hàng chục triệu kmP
3 Pđất chưa được nạo vét Vì vậy việc điều tiết, phân phối và dẫn nước rất khó khăn và lãng phí
Mạng lưới công trình mặt ruộng: trước đây chúng ta có nhiều thập kỷ tập trung xây dựng mạng lưới công trình, cải tạo đồng ruộng Ở các hợp tác xã nông nghiệp đều có đội chuyên xây dựng thủy lợi và đội thủy nông quản lý bảo vệ công trình mặt ruộng, thực hiện tưới tiêu khoa học Nhưng đến nay việc tưới tiêu trên đồng ruộng lui về mức chống úng, chống hạn Đồng bằng sông Hồng, nơi tập trung nhiều hệ thống thủy nông được hoàn chỉnh đến nay diện tích tưới chủ động giảm xuống chỉ còn 40%, diện tích tưới tạo nguồn lên tới 49%, trong khi các hệ thống công trình đều thiết kế tưới chủ động với mức
Trang 39gần 100% Do lưu lượng, mực nước, thời gian tưới cho diện tích cuối kênh không đảm bảo đã phát sinh nhiều trạm bơm cục bộ, cống vượt cấp gây rối loạn các hệ thống công trình và làm cho giá thành tưới tiêu có nơi tăng lên gấp đôi, quản lý rất khó khăn, vất vả
Công tác quản lý khai thác bảo vệ công trình thủy lợi chưa tương xứng với cơ sở vật chất to lớn về thủy lợi đã có Đây vừa là tồn tại vừa là nguyên nhân gây hậu quả xuống cấp công trình và các công trình khai thác hiệu quả Một thời gian dài chúng ta chỉ tập trung đầu tư kinh phí, nhân vật lực, kỹ thuật cho xây dựng công trình mới, coi nhẹ quản lý nâng cao hiệu quả công trình đã có, cơ chế chính sách trong quản lý đặc biệt là cơ chế đầu tư và chính sách kinh tế không đáp ứng yêu cầu
Tình trạng chung là thiếu kinh phí duy tu bảo dưỡng nên công trình xuống cấp nhanh Vật tư dự phòng, trang thiết bị quản lý thiếu Việc nâng cao năng lực cán bộ, công nhân quản lý chưa tương xứng với yêu cầu Tình trạng trên gây tâm lý lo ngại, trong vấn đề an toàn cho nhân dân vùng hạ du khi mùa mưa lũ đến
Về mô hình tổ chức quản lý các doanh nghiệp cũng chưa thật thống nhất, tổ chức ở các địa phương còn khác nhau, có nơi hệ thống bị chia cắt nhưng có nơi lại muốn tập trung quá mức gây cản trở cho quản lý Việc tổ chức quản lý còn tùy thuộc vào ý chí của người lãnh đạo, nên tình hình không
ổn định để kéo dài, phương thức hoạt động nửa doanh nghiệp, nửa sự nghiệp
có nơi còn mang nặng hành chính bao cấp, thực hiện hạch toán còn lúng túng Chuyển giao cho nông dân những công trình có thể quản lý được là đúng đắn, nhưng một số nơi giao không có tổ chức quản lý, cơ chế chính sách hướng dẫn thiếu đồng bộ, hiện nhiều công trình còn vô chủ
Công tác thủy lợi phí vừa qua chúng ta mới quan tâm giải quyết lương
Trang 40nghiệp, cây ăn quả, việc cấp nước sinh hoạt cho nhân dân các ngành kinh tế chưa được quan tâm đúng mức Hiện nay nhiều nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng chưa được bảo vệ, khôi phục nhất là các hệ thống ở vùng ven
đô, khu công nghiệp, vùng dân cư tập trung
Như đã phân tích ở trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quản lý các hệ thống công trình thuỷ lợi trong khu vực kém hiệu quả Thứ nhất là
do cơ chế tổ chức quản lý các hệ thống cống trình thuỷ lợi hiện nay không còn phù hợp với yêu cầu thực tế Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ tập chung bao cấp sang kinh tế thị trường Chính sách đổi mới này đòi hỏi sự cải cách ở tất cả các khu vực, các ngành kinh tế Tuy nhiên những đổi mới về quản lý khai thác công trình thủy lợi quy
mô hệ thống chưa đáng kể và chưa theo kịp với sự đổi mới chung của nền kinh tế Sự tụt hậu này làm cho cơ chế tổ chức quản lý các hệ thống công trình thuỷ lợi không đem lại hiệu quả và ngày càng trì trệ Tổ chức bộ máy thuỷ nông chưa mang tính hệ thống, sự phân cấp chưa hợp lý thậm chí một số nơi bị chia cắt phân tán Đây là nguyên nhân sâu xa và trực tiếp gây nên sự trì trệ, yếu kém trong tổ chức quản lý điều hành ở các hệ thống công trình thủy lợi
Thứ hai là việc quản lý khai thác công trình thuỷ lợi từ trước đến nay chỉ tập trung đầu tư xây dựng, công tác quản lý khai thác còn bị xem nhẹ, chưa được quan tâm thỏa đáng Việc nghiên cứu đổi mới cơ chế chính sách quản lý công trình thuỷ lợi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội chưa được coi trọng Cơ chế chính sách trong quản lý công trình được ban hành từ thời bao cấp đã không còn phù hợp với thực tế nhưng chưa được sửa đổi thay thế, hoặc
có thay thế cũng chưa phù hợp Do đó còn nhiều bất cập, thậm chí còn mâu thuẫn lẫn nhau làm cho công tác tổ chức điều hành hết sức khó khăn Nhiều chính sách ban hành hoặc không phù hợp với thực tế hoặc việc triển khai thực hiện bị trì hoãn như Pháp lệnh về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi Việc