LỜI CẢM ƠN Sau hơn 8 tháng thực hiện, luận văn Thạc sỹ chuyên nghành Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Lựa chọn và kiến nghị phương pháp Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thư
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 8 tháng thực hiện, luận văn Thạc sỹ chuyên nghành Quy hoạch và
Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Lựa chọn và kiến nghị phương pháp Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của Biến đổi khí hậu tới lĩnh vực nông nghiệp” đã được hoàn thành Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn được
sự chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo và các đồng nghiệp, bạn bè Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo,
cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các thầy giáo, cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên môn trong quá trình học tập
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Hà Lương Thuần – Viện nước, Tưới tiêu & Môi trường, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý Trung ương các dự án Thuỷ lợi đã tạo điều kiện cho tôi theo học và hoàn thành khoá học cũng như sự giúp đỡ của các đồng nghiệp đã cung cấp các tài liệu cần thiết cho tác giả hoàn thành luận văn Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và công tác xử lý
số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu sót của Luận văn là không thể tránh khỏi Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và của đồng nghiệp
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thành Trung
Trang 2Tên đề tài Luận văn “Lựa chọn và kiến nghị phương pháp Đánh giá tình trạng
dễ bị tổn thương do tác động của Biến đổi khí hậu tới lĩnh vực nông nghiệp”
Tác giả xin cam đoan đề tài Luận văn được làm dựa trên các số liệu, tư liệu được thu thập từ nguồn thực tế, được công bố trên báo cáo của các cơ quan nhà nước, được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, sách, báo… để đưa ra một số đề xuất giải pháp Tác giả không sao chép bất kỳ một Luận văn hoặc một đề tài nghiên cứu nào trước đó
Tác giả
Nguyễn Thành Trung
Trang 5MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn của thế
kỷ 21, là vấn đề đang được sự quan tâm của cả thế giới Việc nghiên cứu tác động của BĐKH đang là một vấn đề cấp thiết, được sự quan tâm của các cấp các ngành
từ Trung ương tới địa phương Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì Việt Nam
là một trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu Việt Nam
đã thiết lập một Chương trình hành động mục tiêu quốc gia để ứng phó với Biến đổi khí hậu và đã được Chính phủ thông qua vào tháng 12/2008 Tuy nhiên việc nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam đang ở giai đoạn đầu, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong hội thảo “Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm giảm thiểu
và thích ứng với Biến đổi khí hậu” tại Hà Nội ngày 11/1/2008 thì hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có một nghiên cứu chi tiết đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Do đó trong Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu đã nhận định rằng “Không ngừng nghiên cứu tác động của khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và các hiện tượng bất thường khác của khí hậu để phòng tránh” Theo đánh giá chung thì lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chịu ảnh hưởng nhiều do tác động của BĐKH
Trong nhiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và các biện pháp giảm thiểu, thích ứng thì nghiên cứu đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương là bước trung gian sau khi đánh giá các tác động và trước khi đưa ra được các biện pháp giảm thiểu và thích ứng Từ các đánh giá tác động và tình trạng dễ bị tổn thương, lồng ghép với
cơ chế, chính sách, chiến lược, định hướng phát triển của ngành trong tương lai thì chúng ta mới xác định được các biện pháp thích ứng và giảm thiểu
Có rất nhiều phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trên thế giới và
đã được áp dụng rộng rãi, Đối với Việt Nam, hiện tại về phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương chưa có sự thống nhất về phương pháp, các phương pháp được sử dụng đều dựa trên căn bản là đánh giá và quản lý rủi ro thiên tai
Trang 6Theo đánh giá chung, hiện nay các phương pháp đánh giá về tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH đều được sử dụng theo phương pháp riêng của từng cá nhân,
tổ chức chuyên nghiên cứu về BĐKH Chưa có một phương pháp thống nhất đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương để áp dụng chung tại Việt Nam, vì vật rất cần thiết
để chọn ra một phương pháp phù hợp sử dụng cho đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong nông nghiệp và nông thôn
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Đề xuất được các phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong lĩnh vực nông nghiệp do tác động của biến đổi khí hậu
- Đề xuất được các giải pháp ứng phó trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần nâng cao năng lực của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong ứng phó với biến đổi khí hậu
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Những vấn đề chung về Biến đổi khí hậu và kịch bản biến đổi khí hậu đổi với Việt Nam
Lựa chọn phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu
Kiến nghị phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp
Lựa chọn và kiến nghị được phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
do biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực nông nghiệp
Nghiên cứu, đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trong nông nghiệp và nông thôn do tác động của Biến đổi khí hậu để áp dụng chung tại Việt Nam
IV CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 7- Tiếp cận đáp ứng nhu cầu;
- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống;
- Tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng;
- Tiếp cận theo quan điểm bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có;
- Đánh giá nhanh (PRA), phân tích theo khung logic (LFA);
- Điều tra, khảo sát thực địa;
- Phương pháp chuyên gia;
- Nghiên cứu phân tích, thống kê;
- Phương pháp phân tích hệ thống;
- Phương pháp sử dụng mô hình toán, thủy lực và thủy văn
Trang 8CHƯƠNG I BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1 1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khái niệm
Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết (thường là 30 năm) Trong 1000 năm qua, nhiệt độ bề mặt Trái đất khá ổn định tuy nhiên 200 năm trở lại đây, đặc biệt là trong mấy chục năm vừa qua khi công nghiệp phát triển, nhân loại bắt đầu khai thác than đá, dầu lửa, khí đốt, con người đã thải vào bầu khí quyển một lượng khí như CO2, nitơ ôxít và mêtan rất lớn làm bức xạ không thoát ra ngoài được khiến cho nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên Công ước khung về BĐKH của Liên Hợp quốc (UNFCCC) định nghĩa về BĐKH như sau: BĐKH là sự thay đổi khí hậu do tác động trực tiếp hay gián tiếp của các hoạt động con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu, bên cạnh sự biến động của khí hậu tự nhiên, được quan sát qua nhiều thời kỳ
Nguyên nhân
BĐKH được gây ra bởi hai nguyên nhân chính Thứ nhất là nguyên nhân tự
nhiên như thay đổi quỹ đạo chuyển động của trái đất, thay đổi của bề mặt trái đất, hàm lượng khí COR 2 R trong khí quyển, hoạt động của núi lửa, lượng mây, thay đổi
bên trong vỏ trái đất và độ mặn của đại dương Thứ hai là do sự phát thải quá mức
vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính, tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức (tăng thêm) là 2,3w/mP
2
Pkhiến bề mặt trái đất và lớp khí quyển tầng thấp nóng lên BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay chủ yếu do con người gây ra, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại
Các biểu hiện của BĐKH
• Sự nóng lên của bề mặt trái đất;
• Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất;
Trang 9• Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới ngập úng ở những vùng đất thấp và các đảo trên biển;
• Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người;
• Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác;
• Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển
Dự báo
Biến đổi khí hậu được quan tâm từ những năm 1960, một trong những tổ chức
có uy tín nhất trên thế giới nghiên cứu về BĐKH là Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) do UNEP và WHO sáng lập năm 1988
Năm 1990 báo cáo đầu tiên đánh giá về BĐKH đã được IPCC công bố Báo cáo đã khẳng định các bằng chứng khoa học về BĐKH và đã gây được tiếng vang lớn, tác động đến không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả công chúng, nó đã đưa ra các cơ sở để đàm phán Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH được phê chuẩn tại New York tháng 9/1992
Trên cơ sở thành công của báo cáo lần thứ nhất, năm 1995 IPCC tiếp tục hoàn thành và công bố báo cáo đánh giá lần thứ hai Báo cáo lần này được hơn 2000 nhà khoa học và chuyên gia về BĐKH trên thế giới soạn thảo và được trình bày tại hội nghị lần thứ hai của các nước ký công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH tổ chức tại Geneva từ 8-19/6/1996
Năm 2001, Báo cáo lần đánh giá lần thứ 3 của IPCC được công bố Báo cáo này đã khẳng định bằng chứng của BĐKH do tác động của con người là ngày càng
rõ rệt, đồng thời báo cáo cũng đưa ra chi tiết nững tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu với các khu vực trên thế giới Trong báo cáo này cũng đề cấp đến nhiều biện pháp hiệu quả để giảm thải hiệu ứng khí nhà kính và các nỗ lực cần có hơn nữa
từ các chính phủ để loại bỏ rào cản để phát huy hiệu quả
Trang 10Báo cáo đánh giá lần thứ 4 được IPCC hoàn thành năm 2004 Trong báo cáo này các luận chứng khoa học về BĐKH, các tác động và các giải pháp ứng phó tiếp tục được ứng phó Báo cáo đánh giá lần thứ 4 có cách tiếp cận ngược chiều so với báo cáo lần thứ 3 Nếu báo cáo lần thứ 3 giải quyết và lập luận vấn đề theo chiều kim đồng hồ: Phát thải khí nhà kính dẫn đến BĐKH và dẫn tới các tác động thì trong báo cáo lần thứ 4 được bắt đầu với những giả định hoặc các kịch bản về biến đổi khí hậu và chúng ta cần có những giải pháp để phát triển kinh tế xã hội để giữ mức phát thải khí nhà kính cũng như kiểm soát được các tác động của BĐKH Năm
2007, tập thể các nhà khoa học của IPCC đã được trao giải Nobel cho những cống hiến và đóng góp không ngứng mệt mỏi của họ cho nghiên cứu BĐKH toàn cầu Có thể nói các kết quả nghiên cứu của IPCC là nền tảng khoa học quan trọng cho các quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện các chiến lược và kế hoạch ứng phó hiệu quả với BĐKH toàn cầu
Ngoài ra các quốc gia, các khu vực cũng có các nghiên cứu cụ thể về BĐKH như sau:
Ngoài ra các quốc gia, các khu vực cũng có các nghiên cứu cụ thể về BĐKH như sau:
Châu Âu là châu lục có những nghiên cứu tiên phong về BĐKH Các nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ châu lục, quốc gia, lưu vực sông
Demidowicz và nnk (2000) đã thực hiện nghiên cứu về tác động của BĐKH tới ngành nông nghiệp của Ba Lan dựa theo kịch bản của mô hình GISS và GFDL Cả
2 kịch bản đều có tác động đáng kể đến các họt động sản xuất nông nghiệp của Ba Lan thể hiện ở các mặt: thiếu nước, thay đổi mùa vụ gieo trồng và điều kiện canh tác, biến động về năng suất và cơ cấu cây trồng Kết quả phân tích cũng cho thấy tuy có các biến động nhưng an ninh lương thực của Ba Lan vẫn đảm bảo nếu có các biện pháp tốt, và thậm chí có thể có thặng dư lương thực
Arnell (1999) đã đánh giá tác động của BĐKH đến chế độ thủy văn của toàn lưu vực châu Âu Chế độ thủy văn được mô phỏng bằng mô hình toán học, với bước
thời gian là 1 ngày, số liệu đầu vào là 4 kịch bản về BĐKH khác nhau Kết quả tính
Trang 11toán của ông đã chỉ ra rằng lượng dòng chảy mặt của khu vực Nam Âu sẽ giảm trong khi tại khu vực Bắc Âu tăng lên
Hartig và nnk (1997) đã nghiên cứu về tác động của BĐKH đến vùng đất ngập nước ở khu vực Đông Âu và kiến nghị các giải pháp thích ứng Kết quả nghiên cứu cho thấy các kịch bản của BĐKH chỉ ra rằng nhiệt độ và lượng bốc hơi nước tăng lên, kéo theo sự biến động của chế độ thủy văn và gây hủy hoại đến nhiều vùng đất ngập nước ở Czech, Nga, Bulgaria và Estonia Các tác giả đã đưa ra các kiến nghị
về các giải pháp giảm thiểu như thiết lập vùng đệm, sử dụng bền vững vùng đất ngập nước, khôi phục các vùng đất ngập nước đang sử dụng cho nông nghiệp hoặc khai khoáng
Zeidler (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với vùng duyên hải Ba Lan và chiến lược thích ứng Hai kịch bản về nước biển dâng: 30 & 100 cm vào
năm 2010 và 10 & 30 cm vào năm 2030 được tác giả sử dụng cho nghiên cứu Kết qủa cho thấy nếu nước biển dâng 100 cm thì có khoảng 2,200 km2 đất đai và 230,000 người bị ảnh hưởng, tổng thiệt hại về mất đất nếu không có biện pháp ứng phó sẽ là 30 tỷ USD trong khi chi phí để phòng chống triệt để là 18 tỷ USD Tác giả cho rằng công cụ GIS là công cụ rất hữu tích trong việc quy hoạch khu vực ven biển
Sharma và nnk (2000) nghiên cứu tác động của chế độ thủy văn vùng Himalaya với vấn đề sử dụng đất và BĐKH Lưu vực Kosi (54,000 km2) nằm ở trung tâm của dãy Himalayan được chọn làm đại diện cho lưu vực nghiên cứu Các tác giả đã sử dụng mô hình cân bằng nước và các phương pháp dự đoán phân phối
để phân tích tích nhạy cảm về thủy văn của lưu vực tới sử dụng đất vấcc kịch bản BĐKH tiềm tàng Sự tăng lên của dòng chảy mặt cao hơn so với sự tăng lên của mưa đối với tất cả các kịch bản về biến đổi của mưa tiềm tàng áp dụng với nhiệt độ
Trang 12tại cùng thời điểm Kịch bản mưa tại thời điểm và việc nhiệt độ tăng 4P
0
P
C là nguyên nhân làm nước mặt tăng 2-8% phụ thuộc vào vùng được xem xét và các mô hình sử dụng Đối với trường hợp không có sự BĐKH, kết quả của mô hình cân bằng nước
phân phối được áp dụng tại vùng phía Nam ẩm ướt của lưu vực cho thấy lượng nước mặt giảm 1,3% với kịch bản tăng tối đa tại các vùng rừng dưới 4.000m
Aiwen (2000) đánh giá tác động của BĐKH tới tài nguyên nước của Trung Quốc Theo dự báo đến năm 2030, nhiệt độ trung bình hàng năm của Trung Quốc sẽ
Luo và Erda (1999) phân tích tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp và giải pháp thích ứng tại các nước đang phát triển vùng châu Á Thái Bình Dương Kết quả cho thấy sự thay đổi điều kiện khí hậu trung bình và sự biến thiên khí hậu có ảnh hưởng đán kể đến năng suất cây trồng tại một số nơi thuộc châu Á Thái Bình Dương
Ramakrishnan (1998) nghiên cứu về phát triển bền vững, BĐKH và Vùng rừng mưa nhiệt đới Tác động tiềm tàng của BĐKH trong bối cảnh Nam Á nói chung và tiểu lục địa Ấn Độ nói riêng là sự tăng lên về mưa, một số vùng tăng tới 50% Biến đổi khí hậu gây khó khăn đặc biệt với vùng sinh kế bền vững của cư dân vùng rừng mưa và khó khăn đối với chức năng của hệ sinh thái Các tác giả kết luận rằng các chiến lược quản lý phù hợp đối với rừng tự nhiên và đồn điền cần phối hợp chặt chẽ với kế hoạch phục hồi hệ sinh thái nông thôn
Các nghiên cứu thuộc vùng châu Mỹ La tinh cũng tập trung vào nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu Sau đây là một số những nghiên cứu tiêu biểu thuộc khu vực này :
Trang 13Tại Agentina các nghiên cứu tậ trung vào đánh giá tác động của BĐKH đến ngành sản xuất nông nghiệp BĐKH có tác động lớn đối với đất nông nghiệp đặc biệt là vấn đề xói mòn và rửa trôi dinh dưỡng đất (Diaz và nnk, 1997) Nghiên cứu của Magrin và nnk (1997) về tác động của BĐKH đối với hệ canh tác nông nghiệp
ủa Agentina cũng đưa ra các dự báo về sự tăng giảm năng suất của một số loại cây trồng chủ yếu
Tại Mexico các nghiên cứu đi sâu về tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước ngọt, vùng ven biển, hệ sinh thái và năng suất của một số loại cây trồng Mendoza và nnk (1997) nghiên cứu tác động của BĐKH đối với một số lưu vực sông của Mexico Kết quả cho thấy lượng mưa, chế độ dòng chảy, độ ẩm đất, lượng bốc thoát hơi nước của lưu vực đều có biến động đáng kể Magana và Cecilia (2000) đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước mặt vùng Bắc Mexico và
dự báo lượng dòng chảy gia tăng đáng kể trong mùa khô dưới tác động của biến đổi khí hậu
Trong khi đó tại châu Phi, Ai Cập là nước tiên phong trong các nghiên cứu về BĐKH Các nghiên cứu của Ai Cập cũng tập trung vào tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước (Strzepek và nnk, 2000), ảnh hưởng của nước biển dâng tới khu vực duyên hải (Raey, 1999), sản xuất nông nghiệp (Yates, 1998; El-Shaer, 1997)
Úc và New Zealand có nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH tới dòng chảy sông suối (Evans và Sergei, 2002), tác động đến rủi ro cháy rừng (Williams, 2001), tác động đến sản xuất nông nghiệp (Meinke, 1996, Kenny và nnk, 2000) Nhìn chung các nghiên cứu về BĐKH đã được quan tâm rất nhiều trong vài thập kỷ gần đây Các nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh tác động của BĐKH trong đó ngành nông nghiệp, tài nguyên nước vùng duyên hải được quan tâm đặc biệt Các kết quả của kịch bản BĐKH của các mô hình mô phỏng được sử dụng làm
số liệu đầu vào ho các tính toán, phân tích, các mô hình máy tính kết hợp với GIS được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong tương lai
Trang 14Các nhà khoa học cho rằng nếu tình hình phát thải KNK không giảm thì đến năm 2030 nồng độ khí COR 2 Rtrong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu
tố khí hậu khác như lượng mưa, độ ẩm và bức xạ thay đổi theo Theo dự báo, nhiệt
độ mặt đất và tầng đối lưu tăng lên, tại tầng bình lưu nhiệt độ lại giảm, từ độ cao 15÷18 km xuống mặt đất nhiệt độ tăng lên 1÷40P
Theo Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) thì sự nóng lên của khí hậu trái đất không còn đơn thuần là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề của sự phát triển Sự biến đổi diễn ra trên toàn cầu, tại các khu vực, bao gồm cả các thay đổi trong thành phần hoá học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, nước biển dâng, các hiện tượng khí hậu cực đoan, các thiên tai tăng lên về số lượng và cường độ Những thay đổi này dẫn đến những thay đổi trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học
và hệ thống KT-XH trên toàn bộ hành tinh và đang đe doạ sự phát triển và cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái
1 2 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Theo dự báo của các nhà khoa học, các lĩnh vực sau chịu sự tác động của BĐKH:
− Sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực:
− Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái;
Trang 15− Mực nước biển và các vùng ven biển;
− Tài nguyên nước;
− Thiên tai;
− Tác động đến định cư, năng lượng và công nghiệp, sức khoẻ con người
Sản xuất nông nghiệp sẽ đối mặt với rất nhiều thách thức trong các thập kỷ tới
Nếu nhiệt độ trái đất tăng quá ngưỡng 2,5P
0
P
C thì sản lượng lương thực của thế giới bị suy giảm nghiêm trọng Năng suất cây trồng tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới –
những vùng có nhiệt độ đã gần sát với ngưỡng chịu đựng của cây trồng - có thể
giảm tới 1/3 trong khi đó các vùng ôn đới năng suất cây trồng sẽ tăng lên
Nhu cầu nước của cây trồng sẽ có những biến động gây khó khăn cho việc tưới tiêu, vấn đề hạn úng sẽ trầm trọng hơn gây thiệt hại rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp
Mất đất do nước biển dâng và sa mạc hóa dẫn đến giảm diện tích gieo trồng
Tổng sản lượng lương thực thế giới có nguy cơ giảm do giảm diện tích canh tác và thiếu nước tưới
Trong các thập kỷ qua, các khu vực bờ biển là những khu vực phát triển năng động nhất, do đó, ảnh hưởng của mực nước biển dâng sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng Nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt hầu hết các vùng đất thấp của thế
giới, nhiều triệu người sẽ phải di chuyển Trong 100 năm qua, 70% chiều dài của các vùng cát xảy ra hiện tượng biển tiến Vùng dọc bờ biển của khu vực Đông Nam
Á sẽ chịu tổn thương lớn với những hiệu ứng của BĐKH do tính chất về địa lý và địa chất, sự tăng nhanh của mật độ dân số và cơ sở hạ tầng tại vùng bờ biển Cùng
với đó, sự biến động lớn của thuỷ triều, lốc xoáy nhiệt đới cao kết hợp với việc tăng lượng mưa của vùng đã đưa lại những rủi ro tiềm ẩn cho vùng ven biển
Sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ bề mặt nước biển tăng gây ra những tác động tới hệ sinh thái vùng biển Mật độ dày đặc và việc sử dụng hết công suất các vùng đất trũng dọc bờ biển, các đảo và những vùng đồng bằng ven biển làm tăng tình trạng dễ bị tổn thương với sự xói mòn dọc bờ biển, sự mất đất, ngập lụt và lụt
Trang 16lội Nước mặn di chuyển sâu về phía thượng nguồn và sự xâm nhập mặn vào nước
ngầm Đặc biệt các vùng châu thổ lớn của Bangladet, Myanma, Việt nam và Thái lan, và những vùng đất thấp của Inđônêsia, Philipin và Việt nam phải chịu những
rủi ro lớn
Các hệ sinh thái tại vùng Đông Nam Á là những tài sản quý giá đóng góp tới kinh tế vùng bởi sự cung cấp thực phẩm và nước cho việc duy trì đời sống con người cũng như là các nguồn lợi tự nhiên khác như gỗ và thủy sản Sự suy thoái và thiệt hại của hệ sinh thái đưa ra những đe doạ nghiêm trọng tới sự bền vững về kinh
tế, xã hội và văn hóa của khu vực với những công đồng dân cư nghèo sống phụ thuộc vào những hệ sinh thái như vậy
Thay đổi sử dụng đất và sự suy thoái đất, sự khai thác quá mức nguồn nước,
sự đa dạng sinh học và sự nhiễm bẩn của nước vùng đất liền và vùng biển đã đe doạ nghiêm trọng tới nhiều vùng trong khu vực
Sự gia tăng bốc hơi do nhiệt độ tăng và sự biến động của lượng mưa đã có
những tác động tiêu cực tới khả năng phát triển của các đầm lầy nước ngọt Cơ sở
hạ tầng và những hoạt động của con người cũng gây ra những cản trở lớn với sự di trú của cây đước vùng ven biển Thêm vào đó BĐKH cũng làm tăng thêm sự náo động không khí, bùng nổ các dịch bệnh và các chất cháy
Mực nước biển dâng cao cũng làm gia tăng thiệt hại do triều cường, nước
dềnh do bão, sóng thần gây ra Mực nước biển dâng cao đã làm ô nhiễm nguồn nước ngầm của một số quốc gia như Israel, Thái Lan, Đồng bằng sông Dương Tử, Đồng bằng Sông Cửu Long, các đảo thuộc Thái Bình Dương Hiện tượng này sẽ
trầm trọng hơn trong các thập kỷ tới
Nhiều công trình tưới tiêu, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường sẽ không
hoạt động được gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống
Biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới tác động của biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng nhất định tới việc cấp nước cho các ngành dùng nước Kết quả của các mô hình dự báo biến đổi khí hậu cho thấy tại
Trang 17nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa nước dưới đất Điều này làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm sẽ suy giảm
Theo dự báo của IPCC, phần lớn các vùng của châu Á Thái Bình Dương sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước Cùng với nhu cầu về nước tăng lên thì số người sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước cũng sẽ tăng lên
Lượng nước ngọt ở khu vực Trung tâm, Đông, Nam và Đông Nam châu Á có
thể sẽ giảm đi do sự biến đổi của khí hậu, cùng với sự gia tăng của dân số và mức
sống ngày càng nâng cao, điều này có thể ảnh hưởng tới 1 tỷ người châu Á vào
những năm 2050 Dự đoán sẽ có tới 120 triệu đến 1,2 tỷ người sẽ bị ảnh hưởng bởi
sự căng thẳng về nước vào những năm 2020, và vào những năm 2050 thì con số này
sẽ tăng hơn nữa Lớp nước bốc hơi do băng tan tăng lên sẽ càng làm tăng thêm con
số và mức độ trầm trọng của những thiệt hại do lụt lội, sạt lở và giảm lưu lượng dòng chảy do hiện tượng này gây ra
Nhiều khu vực ven biển sẽ chịu nhiều tác động của lũ lụt hơn, xói mòn bờ
biển, thoái hoá rừng ngập mặn, xâm nhập mặn vào các hệ thống cấp nước ngọt Ước tính hiện nay 1,7 tỷ người sống trong các khu vực căng thẳng về nước, dự báo đến năm 2025 con số này sẽ tăng vọt lên tới gần 5 tỷ người Xung đột về nước giữa các quốc gia, giữa các vùng, các ngành dùng nước sẽ ngày càng trở lên căng thẳng, đôi khi dẫn tới xung đột về chính trị hoặc quân sự
Mật độ dông, bão tại các vùng nhiệt đới sẽ tăng lên, đe dọa tới tính mạng và sinh hoạt của con người, cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất, phá hủy các hệ sinh thái Phân bố các khu vực khí hậu sẽ có những biến động
Trang 18 Định cư và sức khỏe con người
Nghiên cứu quốc tế đã dự đoán sự di chuyển của hàng triệu người từ những vùng ven biển khi mực nước biển tăng 1m Chi phí của những biện pháp tương ứng
để giảm mực nước biển tăng (từ 30-50cm) trong khu vực có thể chiếm tới hàng triệu đôla Mỹ mỗi năm
Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của UNDP đã chỉ ra 5 nguy cơ
của tình trạng biến đổi khí hậu đang gia tăng hiện nay đối với sự phát triển của con người, đó là năng suất nông nghiệp đang bị giảm sút, các hệ sinh thái tan vỡ, nguy
cơ thời tiết cực đoan, bệnh tật và tình trạng thiếu nước ngày càng gia tăng; trong đó đáng chú ý là các nước đang phát triển, nước nghèo và người nghèo lại chính và
những đối tượng bị tổn thương nhiều nhất do biến đối khí hậu mang lại Một kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ rủi ro do thiên tai gây ra đối với một số lượng người cụ
thể ở các nước phát triển và con số tương ứng ở các nước đang phát triển, khác nhau
tới 79 lần
1 3 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
1.3.1 3TDi ễn biến Biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Nhiều nghiên cứu kết luận rằng Việt Nam là một trong những quốc gia chịu
những tác động nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng sau Bangladesh và các
quốc đảo nhỏ khác (Thayer, 2007; ISPONRE, 2009; UN, 2009) Theo Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt nam (2009), các biểu hiện chính của BĐKH bao
gồm sự tăng nhiệt độ toàn cầu, sự thay đổi về lượng mưa và nước biển dâng Mức
độ thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng ứng với các kịch bản phát
thải thấp (B1), phát thải trung bình (B2) và phát thải cao (A1FI) cho các vùng khí
hậu của Việt Nam cũng được mô tả chi tiết trong tài liệu này Có bảy vùng khí hậu chính được đề cập đến trong kịch bản BĐKH và nước biển dâng của Việt Nam là Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (2008) đã nêu ra biến đổi của một số yếu tố khí hậu tại Việt Nam như sau:
Trang 19Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm ở
Việt Nam đã tăng lên 0,7˚C Nhiệt độ trung bình năm của bốn thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn nhiệt độ trung bình năm của ba thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành
phố Hồ Chí Minh đều cao hơn nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8˚C; 0,4˚C và 0,6˚C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả ba nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8˚C - 1,3˚C và cao hơn thập kỷ
1991 – 2000 là 0,4˚C - 0,5˚C;
Lượng mưa: Tùy từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong chín thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng,
có thể tăng (từ 0% đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô;
Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù
hợp với xu thế chung của toàn cầu;
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ
gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm 6/7 trường hợp có số đợt không khí
lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào hai
thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997) Một biểu hiện
dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí
lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp;
Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn;
Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 -
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây
1.3.2 3TK ịch bản biến đổi khí hậu cho việt nam
Trang 20Theo đánh giá của UNDP và Ngân hàng thế giới, Việt nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu.Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra nông nghiệp và nông dân là những đối tượng bị tác động nhiều nhất bởi BĐKH Trước những dự báo, cũng như thực trạng thiên tai diễn ra ở Việt nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức hội thảo với chủ đề “ Hướng tới chương trình hành động của ngành nông nghiệp phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng BĐKH ”vào ngày 11/1/2008 chỉ sau Diễn đàn của Liên hiệp quốc về BĐKH tại Bali
một tháng
Việt nam đã xây dựng “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
và nước biển dâng”; thành lập Ban chỉ đạo quốc gia do Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban “Kịch bản Biến đổi khí hậu và Nước Biển dâng cho Viêt Nam” công bố
lần thứ nhất vào tháng 6/2009; tháng 12/2011 công bố “Kịch bản Biến đổi khí hậu
và Nước Biển dâng cho Viêt Nam” lần thứ Hai Theo kịch bản này:
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng 2-3P
0
P
C trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị
có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2-3,0P
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ Mức tăng phổ biến từ 2-7%, riêng Tây Nguyên, Nam
Trang 21Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
- Theo kịch bản phát thải cao: Lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng trên hầu khắp lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng 2-10%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng 1-4%
- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54-72cm; thấp nhất
ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 42-57cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 49-64cm
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62-82cm; thấp nhất
ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49-64cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57-73cm
- Theo kịch bản phát thải cao (A1FI): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85-105cm; thấp nhất
ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 66-85cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78-95cm
Bảng 1 Diện tích có nguy cơ ngập theo các mực nước biển dâng (% diện tích)
Mực
nước
dâng (m)
Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh
Ven biển miền Trung
Thành phố Hồ Chí Minh
Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 221,00 10,5 2,5 20,1 39,0
(Nguồn: Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ TN&MT-2011)
Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông
Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, trên 2,5%
diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp
Hình 1 Kịch bản BĐKH & nước biển dâng cho Việt Nam và Bản đồ nguy cơ ngập
khu vực ven biển Việt Nam ứng với mực nước biển dâng 1m
1.3.3 3TTác động tiềm ẩn của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp
a) Tác động đến nguồn nước
Trang 23Theo kịch bản phát thải trung bình, vào giữa thế kỷ 21, hầu hết diện tích Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có lượng mưa tăng với mức phổ biến là dưới 2%, riêng Tây Bắc Bộ và khu vực tỉnh Hà Tĩnh có mức tăng cao hơn, từ 2 đến trên 4% Đến cuối thế kỷ 21, mức tăng của lượng mưa trên hầu hết diện tích Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ dao động từ 0-6%, riêng một phần diện tích Tây Bắc Bộ có mức tăng trên 6%
Mưa: Theo kết quả thống kê đo đạc thì sự thay đổi về lượng mưa tháng và năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm nhưng lượng mưa ngày và cường độ mưa đang có xu hướng tăng rõ rệt Trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa giảm trong các
tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11 Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc Bộ
và Bắc Trung Bộ
Dòng chảy: Về mùa mưa, do lượng mưa ngày và cường độ mưa có xu hướng tăng nên đỉnh lũ tăng lên đáng kể và chu kỳ tái diễn cũng nhiều lên gây ngập lụt và
đe doạ an toàn các hồ đập
Về mùa khô, lượng mưa giảm đi, cộng với tầng phủ lưu vực bị suy thoái dẫn đến dòng chảy suy giảm, đó cũng là các nguyên nhân gây ra thiếu nước mặt và hạ
thấp nước ngầm
Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước ta, đặc
biệt là các vùng khí hậu phía Nam nhưng lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu, ở các vùng khí hậu phía Bắc mức tăng lượng mưa vào mùa mưa nhiều hơn so với các vùng khí hậu phía Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) Sự thay đổi chế độ mưa với lượng mưa tăng vào mùa mưa nhưng lại giảm vào mùa khô là nguyên nhân gây ra lũ lớn và hạn hán ở nước ta
Bảng 2 Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
STT Tỉnh, TP 2020 2030 2050 2070 2090 2100
1 Bắc Ninh 1,3 1,9 3,4 (3,0 - 4,0) 4,8 6,0 6,5 (5,0 - 8,0)
2 Hà Nội 1,3 1,9 3,4 (3,0 - 4,0) 4,9 6,1 6,6 (6,0 - 8,0)
3 Hưng Yên 1,4 2,1 3,8 (3,0 - 4,0) 5,3 6,6 7,2 (5,0 - 8,0)
Trang 24Biến đổi khí hậu sẽ tác động sâu sắc đến tài nguyên nước của Việt Nam cả
về chất lượng và trữ lượng Dòng chảy năm biến động từ +4% đến -19%, lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng, trong những thập kỷ tới tần suất xuất hiện các
trận lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trầm trọng hơn
Do hiện tượng nước biển dâng cùng với cường độ hạn hán gia tăng vào mùa khô, mặn ngày càng tiến sâu vào nội địa Các đầm hồ trong đất liền bị nhiễm mặn, nguồn nước ngọt giảm sẽ sinh ra thiếu nước sinh hoạt và sản xuất
b) Tác động đến xâm nhập mặn
Cụ thể đối với cấp nước, tóm tắt một số chỉ tiêu sử dụng trong tính toán như sau: Lượng mưa mùa kiệt giảm 5%; Dòng chảy mùa kiệt giảm 14,5%; Mực nước triều tăng 0,69 m và tăng 1,0 m
Đối với trường hợp có tính đến ảnh hưởng của biển đổi khí hậu thì mặc dù đã
sử dụng các hồ chứa điều tiết để cung cấp nước tưới cho hạ du có thể mực nước đảm bảo yêu cầu tưới nhưng mặn vẫn lấn sâu vào nội địa (ranh giới mặn 4%o vào cách cửa sông khoảng 25-40km) Khi mực nước biển dâng thêm 0,69 hay 1,0m thì
một số cống bị ảnh hưởng mặn vượt quá 4%0: như: Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài, Thái Học trên sông Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà Lý, Hệ trên sông Hóa, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba Đồng, Lý Xã, Cao Nội trên sông Thái Bình, Cống Thóp trên sông Ninh Cơ
Các hệ thống ven biển như hệ thống Thủy Nguyên, Đa Độ, An Kim Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Bắc - Nam Thái Bình, Trung- Nam Nam Định và Nam Ninh Bình
sẽ thiếu nước do bị mặn (khoảng 70% diện tích)
Trang 25Đối với thành phố Hải Phòng, nước Biển dâng lên 0,69 m thì gần như các
cống lớn cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho toàn thành phố đều bị nhiễm mặn như các cống: An Sơn, Mới, Rỗ, Bằng Lai, Quảng Đạt Vì vậy gần như 53.000ha diện tích sản xuất nông nghiệp toàn thành phố sẽ bị hạn và nước cấp cho đô thị Hải Phòng, Đồ Sơn và khu vực nông thôn sẽ rất khó khăn
Độ mặn trên các sông ven biển Đồng bằng Bắc Bộ tăng dần từ đầu mùa đến
giữa mùa khô và sau đó giảm dần đến cuối mùa Sự thay đổi này có liên quan tới dòng nước ngọt từ thượng nguồn đổ về Độ mặn trung bình lớn nhất trong mùa kiệt thường xuất hiện vào tháng 3, chiếm khoảng 64,5% các trạm đo, tháng 1 chiếm 32,2% Độ mặn ở sông Hồng đạt cực đại vào tháng 1, nhưng ở sông Thái Bình, độ
mặn cực đại lại xuất hiện vào tháng 3
c) Tác động tới cơ cấu đất đai mùa vụ
Do diện tích bị ngập dẫn đến cơ cấu đất đai cho các laoij cây trồng và nuuoi
trồng thủy sản biến đổi
Bảng 3 Diện tích có nguy cơ bị ngập theo các mực nước biển dâng (% diện tích)
Trang 26Dựa vào mô hình hóa trong cây trồng, các yếu tố dài hạn theo ngày về điều
kiện thời tiết khí hậu như nhiệt độ tối đa, nhiệt độ tối thấp, lượng mưa, giờ nắng, độ
ẩm, độ bốc hơi đã được đưa vào mô hình để đánh giá sự thay đổi năng suất tiềm năng của lúa (xuân, hè), ngô và đậu tương tại 7 vùng sinh thái (mỗi vùng sinh thái
nhất là tại các vùng sản xuất lúa trọng điểm
Bảng 4 Dự báo suy giảm tiềm năng năng suất lúa xuân năm 2030-2050 dựa theo kịch bản trung bình (B1)MONRE, 2009
Vùng
Diện tích canh tác lúa hè thu năm 2008 (1000 ha)
Suy giảm tiềm năng năng suất (kg/ha)
Suy giảm sản lượng (1000 tấn)
Tiềm năng năng suất lúa hè thu cũng suy giảm lớn nhưng ở mức nhẹ hơn so
với lúa xuân Theo tính toán, tiềm năng năng suất lúa hè thu sẽ giảm khoảng 429kg/ha vào năm 2030 và 795kg/ha vào năm 2050 Kết quả này dẫn đến giảm sản lượng 743,8 ngàn tấn lúa vào năm 2030 và 1.475 ngàn tấn vào năm 2050 Tuy
Trang 27nhiên, so sánh giữa các vùng cho thấy vùng có diện tích lúa hè thu lớn lại có tiềm năng suy giảm năng suất thấp hơn so với vùng có diện tích lúa hè thu ít Do vậy, nhà nước cần đầu tư cho các nghiên cứu về các giống có khả năng chống chịu cao, thích ứng với điều kiện BĐKH
Bảng 5 Dự báo suy giảm tiềm năng năng suất lúa hè thu năm 2030-2050 dựa theo kịch bản MONRE, 2009
Vùng
Diện tích canh lúa hè thu tác năm 2008 (1000 ha)
Suy giảm tiềm năng năng
- Suy giảm tiềm năng năng suất ngô
Có thể nói ngô là cây lượng thực quan trọng đối với nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, dựa theo kịch bản về BĐKH cho thấy tiềm năng năng suất ngô có nguy cơ
giảm 444,5 kg/ha vào năm 2030 và 781,9kg/ha vào năm 2050 nếu như không có các
giải pháp cải thiện về giống, biện pháp canh tác hoặc điều kiện sản xuất
Bảng 6 Dự báo suy giảm tiềm năng năng suất ngô thu năm 2030-2050 dựa theo kịch bản MONRE, 2009
Vùng
Diện tích canh tác ngô năm
2008 (1000 ha)
Suy giảm tiềm năng năng suất (kg/ha)
Suy giảm sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Tính toán dựa vào mô hình cây trồng của Mai Văn Trịnh và, 2009 và GSO, 2008)
Nguy cơ suy giảm tiềm năng năng suất ngô sẽ dẫn đến suy giảm về sản ngô
Kết quả ước tính từ bảng dưới đây cho thấy, sản lượng ngô có nguy cơ giảm 500,4 ngàn tấn vào năm 2030 và giảm 880,4 ngàn tấn vào năm 2050 Sản lượng ngô suy
Trang 28giảm là do tiềm năng năng năng suất ngô giảm 0,444 tấn/ha vào năm 2030 và 0,781
tấn/ha vào năm 2050
e) Dự báo tổng thể tác động của BĐKH đối với một số cây trồng chính
Dựa vào kết quả phân tích ở các phần trên, tác động tổng thể được tổng hợp và phân tích tại bảng dưới đây Theo kết quả ước tính dựa vào mô hình hóa cho thấy
nếu diện tích và năng suất lúa được giữ nguyên như năm 2008, sản lượng lúa sẽ
giảm đi so với tiềm năng 8.37% vào năm 2030 và 15,24% vào năm 2050 Đối với cây ngô, sản lượng có nguy cơ giảm đi so với tiềm năng 18.71% vào năm 2030 và 32,91% vào năm 2050 Đối với cây đậu tương, sản lượng có nguy cơ giảm so với
tiềm năng là 3,51% năm 2030 và 9,03% vào năm 2050
Bảng 7 Tổng hợp thiệt hại do tác động của BĐKH với một số cây trồng
chính
Chỉ tiêu
Dự báo đến 2030 Đến năm 2050 Sản lượng
(ngàn tấn)
Tỷ lệ (%)
Sản lượng (ngàn tấn)
Tỷ lệ (%)
1.1 Giảm sản lượng do thiên
tai
-65,27 -0,18 - 65,27 -0,18
1.2 Giảm sản lượng do suy
giảm tiềm năng năng suất
-1.966,6 -8.10 -3.634,7 -14.97
Ghi chú: Sản lượng năm 2008 được đem so sánh để tính % đánh giá tác động của BĐKH
f) Tác động đến sinh kế
Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm: nông dân, ngư dân (nhất là ở những khu vực dễ bị tổn thương), các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ
Trang 29em và các tầng lớp nghèo nhất ở các đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn Nguồn sống phần lớn dựa vào thiên nhiên…
Bảng 8 Tỷ lệ số dân có nguy cơ bị ảnh hưởng trực tiếp (so với tổng dân số vùng) theo các mực nước biển dâng (%)
Trang 30CHƯƠNG II TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ
TỔN THƯƠNG DO TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2.1 KHÁI NIỆM TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
“Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ (degree) mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi
và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC
2001, p.995)”
Do đó tình trạng dễ bị tổn thương (Vulnerability) có thể được biểu thị là hàm của độ khắc nghiệt (Exposure), mức độ nhạy cảm (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity)
V = f(E, S, AC)
Trong đó độ khắc nghiệt (Exposure) được IPCC định nghĩa là bản chất và mức
độ đến một hệ thống chịu tác động của các biến đổi thời tiết đặc biệt; mức độ nhạy cảm (Sensitivity) là mức độ của một hệ thống chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) có lợi cũng như bất lợi bởi các tác nhân kích thích liên quan đến khí hậu; và khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu (bao gồm sự thay đổi cực đoan của khí hậu), nhằm giảm thiểu các thiệt hại, khai thác yếu tố có lợi hoặc để phù hợp với tác động của biến đổi khí hậu
Trang 31Theo Viện Giảm thiểu Thiên Tai (Disaster Reduction Institute – DRI) thì TTDBTT là sự kết hợp của các yếu tố về mức độ khắc nghiệt (Exposure), mức độ nhạy cảm (Suscepbility) và khả năng thích ứng (Coping Capacity)
TTDBTT = UMức độ khắc nghiệt (Exposure) x Mức độ nhạy cảm (Suscepbility) Khả năng thích ứng (Coping Capacity)
Turner (Chủ tịch Ủy ban Biến đổi khí hậu Anh) và các tác giả khác (2003) miêu tả tính dễ bị tổn thương là hàm số có 3 đặc điểm chồng chéo: độ khắc nghiệt (Exposure), mức độ nhạy cảm (Sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity) Metzger và các tác giả khác (2006) đã lý thuyết hóa khái niệm này và biểu diễn bằng toán học tính dễ bị tổn thương (V) là hàm gồm độ khắc nghiệt (E),
độ nhạy cảm (S) và khả năng ứng phó (AC)
V = f(E, S, AC)
Cũng theo Turner thì TTDBTT có thể được biểu thị là hàm của các tác động tiềm tàng (Potential Impacts – PI) và khả năng thích ứng (Adaptation Capacity):
V = f(PI, AC)
Như vậy, có thể nhìn nhận rằng cả định nghĩa của IPCC, khái niệm của DRI
và khái niệm của Turner và Metzger đều có chung các tác động tiềm tàng (hay nguy cơ) trong đó chúng là hàm gồm độ tiếp xúc và độ nhạy cảm
Đánh giá mức độ tổn thương (Vulnerability) hay tác động (Impact) của BĐKH
là hết sức quan trọng vì nó cung cấp cho ta những thông tin làm cơ sở định hướng cho những giải pháp thích ứng và cả giải pháp giảm thiểu như đã đề cập tới trong mục trên
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương là điểm khởi đầu để hiểu được các ảnh hưởng kinh tế xã hội, lý sinh vv… của biến đổi khí hậu và quan trọng hơn là hiểu được năng lực thích ứng của cộng đồng đối với các tác động của biến đổi khí hậu và các hạn chế, rào cản và các cơ hội liên quan tới việc thực hiện các chính sách và biện pháp thích ứng Vì thế đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương không đơn giản là điểm cuối của quá trình phân tích mà trên hết là tính chất của các cộng đồng dân cư,
Trang 32khu vực sống và các hệ sinh thái Để hỗ trợ quá trình phân tích tình trạng dễ bị tổn thương, năng lực thích ứng và xác định các biện pháp can thiệp để phân tích các nhân tố dễ bị tổn thương, O’Brien et al (2004) gợi ý rằng “Lập bản đồ tình trạng dễ
bị tổn thương có thể được sử dụng để xác định các điểm nóng dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu và các yếu tố căng thẳng khác, đồng thời các nghiên cứu điển hình chuyên sâu sẽ cung cấp các kiến thức về các nguyên nhân cơ bản và các cấu trúc định hình tình trạng dễ bị tổn thương”
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sẽ chỉ ra các khu vực, các nhóm người và các hệ sinh thái trong tình trạng rủi ro cao nhất, nguồn gốc tổn thương và làm thế nào để giảm thiểu hay loại bỏ các tổn thương này Vì thế, xác định các vùng và các nhóm người ở mức độ rủi ro cao nhất và đánh giá nguồn gốc, nguyên nhân các tổn thương là rất cần thiết cho việc thiết kế và thực hiện các giải pháp tăng cường năng lực thích ứng Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách xác định được loại can thiệp nào, ở đâu và khi nào có thể thực hiện các loại can thiệp này
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương được dựa trên các kịch bản và các đầu ra
mô hình (toán học, vật lý) và là các bước khởi đầu để hiểu rõ hơn các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu trong tương lai và hướng tới công tác quản lý hiệu quả hơn và phù hợp hơn, cuối cùng là các đầu tư về công trình để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Đánh giá và lập bản đồ tình trạng dễ bị tổn thương đối với các tác động khác nhau được thiết kế để khẳng định các yếu tố tạo nên mức độ dễ bị tổn thương và sự phức tạp trong các tương tác của chúng Smit và Wandel (2006) cho rằng mục đích đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương “không chỉ để xác định mức độ tổn thương hiện tại và tương lai của một cộng đồng cụ thể bằng cách cho điểm (sử dụng phương pháp Weighting = thiết lập thang điểm để đánh giá mức độ tổn thương của từng đối tượng) mà quan trọng hơn là thu thập thông tin về bản chất của tình trạng tổn thương, nguyên nhân và các yếu tố quyết định”
2.1.3 Các kịch bản và mô hình ứng dụng trong đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương
Trang 33Việc lựa chọn và ứng dụng các số liệu nền và các kịch bản đóng vai trò then chốt trong hầu hết các phương pháp luận chuẩn nhất trong đánh giá tác động, tình trạng tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu (e.g., WCC, 1993, 1994; IPCC, 1994; Smith et al., 1996; Feenstra et al., 1998; see Section 2.1) Tuy nhiên, không phải tất cả các đánh giá tác động đều cần một kịch bản, trong một số trường hợp, sự nhạy cảm của một hệ thống đang nghiên cứu đủ để đánh giá tác động và mức độ dễ
bị tổn thương mà không cần phải có bất cứ một giả định nào về tương lai Các kịch bản cần thiết để đánh giá mức độ tổn thương và khả năng thích ứng của một hệ thống bao gồm:
- Kịch bản về sự thay đổi của kinh tế- xã hội;
- Kịch bản của việc sử dụng đất và tầng thảm phủ;
- Kịch bản về sự thay đổi các nhân tố môi trường khác;
- Kịch bản về sự biến đổi của khí hậu;
- Kịch bản của sự gia tăng mực nước biến;
Các mô hình được sử dụng để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương:
Các mô hình như DSSAT,6 SPUR2,7 CLIRUN,8 and the Holdridge Life Zones Classification,9 and WATBAL10 được ứng dụng trong hầu hết các ngành dễ
bị tổn thương như tài nguyên nước, nông nghiệp, sức khoẻ, vùng ven biển và lâm nghiệp Ở các cấp độ cụ thể hơn, các phân tích kinh tế xã hội cũng được áp dụng Cần có chương trình tăng cường năng lực và hoạt động trong khu vực để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và quan trọng hơn là đánh giá tổng hợp bao gồm các phân tích kinh tế và liên ngành các phương án thích ứng ở cấp quốc gia
Các nghiên cứu về tác động và mức độ dễ bị tổn thương trong những năm gần đây đã sử dụng các mô hình đánh giá tác động phức tạp hơn và các đánh giá dựa trên cơ sở tình trạng dễ bị tổn thương, xác định nguyên nhân của tình trạng này, ví
dụ bằng cách điều tra phạm vi các dao động về biến đổi khí hậu, tần suất và cường
độ của các biến đổi cực đoan của khí hậu trong quá khứ và khả năng ứng phó với các biến đổi này trong tương lai Đánh giá các nguồn lực (kinh tế, xã hội và chính trị) hiện tại và tương lai đối với cộng đồng, đánh giá khả năng thích ứng với thay đổi Đánh giá các cơ hội, hiệu quả và chi phí của các hoạt động thích ứng Và làm thế nào để lôi kéo sự tham gia của các đối tác liên quan vào quá trình đánh giá
Trang 34Các cộng đồng địa phương và nông thôn bị ảnh hướng lớn nhất từ biến đổi khí hậu và các phương pháp tiếp cận tập trung vào từ dưới lên nhận thức được các chiến lược ứng phó của địa phương và các kiến thức bản địa và các công nghệ, duy trì tiềm năng cao nhất, khi có thể bổ sung dễ dàng hơn vào năng lực thích ứng của cộng đồng địa phương
Trong các nghiên cứu về tác động của các ngành cụ thể, ở hầu hết các nước các mô hình tác động được ứng dụng như:
- Decision Support System for Agrotechnology Transfer (DSSAT) - Hệ thống hỗ trợ ra quyết định cho việc chuyển giao công nghệ nông nghiệp là một hệ thống phần mềm lồng ghép các mô hình sinh trưởng của cây trồng với các số liệu về mùa vụ, thời tiết và thổ nhưỡng và dự báo các thay đổi tiềm tàng về năng suất cây trồng và sử dụng nước
- Bộ mô hình SPUR2 mô phỏng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các hệ
thống sinh thái đồng cỏ và chăn nuôi gia súc Gói mô hình này bao gồm các
mô hình con về sinh trưởng cây trồng, thuỷ văn/đất đai, chăn nuôi ,
- CLIRUM - Mô hình cân b ằng nước tổng hợp trên cơ sở phần mềm excel được
phát triển để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với dòng chảy lưu vực sông;
- WATBAN mô hình cân bằng nước
Các mô hình nói trên được sử dụng để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của hầu hết các ngành trong đó có ngành nông nghiệp và tài nguyên nước
Bên cạnh đó, các phân tích kinh tế xã hội cũng thường được ứng dụng
Các nghiên cứu gần đây về tác động và tình trạng dễ bị tổn thương sử dụng các mô hình tác động tinh vi, phức tạp và các đánh giá trên cơ sở tình trạng dễ bị tổn thương nhằm xác định các nguồn dễ bị tổn thương
2.2 CÁC KHUNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
Có rất nhiều cách tổng hợp mức độ tổn thương và từ đó đưa ra giải pháp thích ứng như phân theo nguyên nhân (do khí hậu nóng lên; do chế độ mưa thay đổi; cho hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa lớn, ); theo các tiểu hệ thống của hệ trái
Trang 35đất (băng, tuyết tan, của hệ băng quyển; bồi lắng, sói mòn, thoái hoá đất, của hệ địa quyển; suy kiệt thảm động, thực vật của hệ sinh quyển; thay đổi dòng chảy, nước biển dâng, của hệ thuỷ quyển); theo hệ sinh thái; theo vùng lãnh thổ; Tuy nhiên, không có cách tổng hợp nào được coi là “hợp lý nhất” vì số lượng những tác động do BĐKH gây ra rất lớn và quan hệ với nhau rất phức tạp theo dạng mạng nhện (nested, interdependent) Ví dụ như nhiệt độ không khí tăng làm băng tan và băng tan ảnh hưởng tới tất cả các tiểu hệ thống của của hệ trái đất dưới nhiều cách khác nhau
Không có một phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương áp dụng chung cho tất cả các điều kiện Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương cần phải phù hợp với nhu cầu đối tượng trực tiếp thưc hiện (tailor-made) Điển hình, một đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương gồm các bước sau:
- Xác định phạm vi và cấu trúc của đánh giá: Gồm xác định mục tiêu của đánh giá, xác định các kịch bản và các mô hình được ứng dụng và những người sẽ hướng dẫn sử dụng kết quả đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương;
- Xác định các nhóm dễ bị tổn thương và các vùng sẽ chịu ảnh hưởng tiềm tàng
từ biến đổi khí hậu Với việc sử dụng các kịch bản và các mô hình, đánh giá sự tương tác giữa sinh kế và các vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu;
- Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của hệ thống và nhóm tổn thương được lựa chọn Đánh giá xem các nhóm và các khu vực có khả năng phục hồi thế nào với các căng thẳng hiện tại và tiềm tàng trong tương lai;
- Sử dụng các đầu ra của đánh giá cho các chính sách thích ứng và các quy hoạch xây dựng chiến lược và các biện pháp thích ứng
Năng lực ứng phó của các cộng đồng hoặc các cá nhân có thể được đánh giá thông qua các thông số xã hội, địa lý và môi trường như sự khác nhau về tình trạng sức khoẻ, điều kiện kinh tế và các thành tựu về giáo dục Kết hợp các biến số trong các mô hình phát triển cho phép so sánh, xác định các vùng dễ bị tổn thương nhất hoặc các điểm nóng
a) Phương pháp đánh giá TTDBTT của IPCC
Trang 36Khung phương pháp luận đánh giá TTDBTT của IPCC: Được đề xuất đầu tiên vào năm 1991, khung đánh giá này kết hợp chặt chẽ đánh giá của các chuyên gia cùng với việc phân tích các dữ liệu về kinh tế-xã hội và các đặc trưng về mặt vật lý
để hỗ trợ người sử dụng trong việc đánh giá toàn diện tác động của nước biển dâng Khung đánh giá này gồm 7 bước:
(1) Mô tả vùng nghiên cứu;
(2) Xác định, kiểm kê các đặc trưng của vùng nghiên cứu;
(3) Xác định các nhân tố phát triển kinh tế-xã hội liên quan;
(4) đánh giá các thay đổi về mặt vật lý;
(5) Thiết lập chiến lược ứng phó;
Phạm vi của phương pháp được sử dụng linh hoạt tại nhiều cấp độ khác nhau như đánh giá cho vùng ven biển, cho tiểu vùng, cho cấp quốc gia và toàn cầu
Phương pháp yêu cầu các thông số đầu vào là thông tin, số liệu về kinh tế xã hội và đặc điểm vật lý của vùng nghiên cúu Đầu ra của việc đánh giá sẽ là các yếu
tố dễ bị tổn thương, danh mục các chính sách trong tương lai nhằm thích ứng cả về mặt vật lý cũng như kinh tế-xã hội
b) Phương pháp tuyệt đối và tương đối hóa mức độ dễ bị tổn thương
Thực tế đã cho thấy cùng một công thức mô tả tính dễ bị tổn thương nhưng có thể được áp dụng theo nhiều cách khác nhau mà cụ thể là (i) tuyệt đối hoá và (ii) tương đối hoá mức độ tổn thương (Gleick, 1998; IPCC, 2007, Keskinen M., 2009;
Op cit., 2009; Babel M S and Wahid S M., 2009)
Trang 37Theo cách thứ nhất, tất cả các mối ràng buộc đều được mô hình hoá và kết quả đạt được là mức độ tổn thương được thể hiện bằng tiền Ví dụ như khi đánh giá mức
độ tỏn thương cho sản xuất nông nghiệp, ta phải xây dựng mô hình khí hậu để dự báo diễn biến của khí hậu; mô hình thuỷ văn để dự báo được diễn biến của điều kiện thuỷ văn, điều kiện biên của các hệ thống thuỷ nông; mô hình thuỷ lực để dự báo được tình hình úng, hạn; và cuối cùng là mô hình kinh tế hay mô hình sinh học để định giá được thiệt hại do úng, hạn gây ra Cách tiếp cận này mang tính minh bạch (Explicit) vì nó định lượng được mức độ tổn thương nhưng có nhiều nguy cơ đưa ra những sai số vì rất khó có thể xây dựng được tất cả các mô hình một cách sát với thực tế Hơn thế nữa, khối lượng công việc cần tiến hành sẽ trở nên rất lớn khi mức
độ tổn thương tổng quát do nhiều hiện tượng cùng gây ra như bão, úng, hạn, sâu bệnh,
Theo cách thứ hai, mức độ tổn thương được đánh giá bằng cách liệt kê các yếu
tố gây tổn thương (xây dựng bộ chỉ tiêu) rồi cho điểm theo một thang điểm nào đó
và cuối cùng là tổng hợp lại bằng cách sử dụng trọng số cho từng chỉ tiêu Kết quả đạt được chỉ là một giá trị định tính (điểm trung bình) chứ không được qui đổi ra thành tiền (Non-monetary) Khó khăn lớn nhất mà cách tiếp cận này gặp phải là xây dựng thang điểm và xác định các trọng số cho từng chỉ tiêu; và kết quả là giá trị cuối cùng luôn gây tranh cãi về tính thuyết phục (Implicit) Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn được sử dụng rộng rãi vì nó cho ta cái nhìn mang tính so sánh một cách tương đối giữa các vùng (Comparative mapping)
c) Mô hình đánh giá tính dễ bị tổn thương BBC
Một khung đánh giá liên quan đến rủi ro và tính dễ bị tổn thương được phát triển bởi Birkmann và Bogardi (2004) tại Đại học Liên Hiệp Quốc, Viện Bảo vệ Con người và Môi trường (UNU-EHS - Institute for Environment and Human Security) Khung đánh giá này được gọi là mô hình BBC, mô hình này dựa trên mô hình của Cardona (2004b) (do đó mô hình được viết tắt là BBC) và tổng hợp các khía cạnh về khả năng thích ứng và tác động trong khía cạnh dễ bị tổn thương do Chambers vad Bohle đề xuất Có 3 loại dễ bị tổn thương được miêu tả trong mô hình BBC, đó là tổn thương về kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 38Mô hình này sử dụng 4 kỹ thuật chính để xác định, định lượng và đánh giá tính dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng và xen kẽ với các công cụ phù hợp tập trung vào các nguồn dữ liệu khác nhau, các đặc tính khác nhau của tính dễ bị tổn thương 4 kỹ thuật chính đó là:
- Đánh giá môi trường sử dụng viễn thám
- Đánh giá cơ sở hạ tầng chủ yếu và các lĩnh vực dễ bị tổn thương
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương của các nhóm xã hội khác nhau sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn điều tra
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương của các nhóm xã hội và cộng đồng địa phương dựa trên các số liệu thống kê và các chỉ tiêu cơ bản
d) Phương pháp đánh giá của Văn phòng Khí nhà kính Úc
Trong dự án “Đánh giá rủi ro do biến đổi khí hậu và kế hoạch thích ứng tại vùng ven biển Mandurah - Úc” được thực hiển bởi Chính Phủ Úc năm 2009 thì việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu chính là việc đánh giá rủi ro Phương pháp đánh giá cơ bản dựa trên khung đánh giá của Văn phòng Khí nhà kính
Úc (Australian Greenhouse Office – AGO) và sau đó là khung đánh giá rủi ro cho vùng ven biển Mandurah Khung đánh giá AGO gồm các bước chính như sau:
• Thiết lập bối cảnh
- Xác định công việc của cơ quan tổ chức được đánh giá và phạm vi đánh giá
- Xác định mục tiêu của cơ quan tổ chức
- Xác định các bên liên quan, mục tiêu và nhu cầu của họ
- Thiết lập các tiêu chí đánh giá
- Phát triển các lĩnh vực chủ yếu
- Xác định các kịch bản khí hậu liên quan cho việc đánh giá
• Xác định rủi ro
- Những rủi ro gì có thể xảy ra;
- Các rủi ro này xảy ra như thế nào;
Trang 39- Liêu tả và lập danh sách các tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực chủ yếu;
• Phân tích rủi ro
- Xem xét các cơ chế quản lý, giám sát và thích ứng hiện có đến từng loại rủi ro
cụ thể;
- Đánh giá các tác động của từng loại rủi ro đối từng lĩnh vực;
- Thu thập các đánh giá liên quan đến sinh kế của từng loại rủi ro và các tác động
- Phân cấp các rủi ro theo tính khốc liệt của chúng;
- Nghiên các loại rủi ro thứ yếu có thể loại bỏ để công việc được tập trung hơn Các loại rủi ro này cần được phân tích một cách chi tiết
Bước 2: Mô tả các thảm họa
Bước 3: Kiểm kê tài sản
Bước 4: Giám định thiệt hại
Trang 40Quá trình đánh giá 4 bước trên thuộc một trong những giai đoạn cơ bản thiết yếu nhằm hỗ hợ cộng đồng nhằm tăng cường khả năng quy hoạch giảm thiểu tác động của thiên tai
f) Phương pháp đánh giá của Văn phòng Pháp triển quốc tế Canada
Theo Hướng dẫn đánh giá tính dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng và hành động (CV&A) của Văn phòng Pháp triển quốc tế Canada thì CV&A bao gồm 6 giai đoạn chính, đó là:
• Giai đoạn xác định các chính sách thích ứng
Xác định các khung chính sách có thể hướng dẫn để thực hiện CV&A đến cộng đồng, các vấn đề quản lý và quy trình quy hoạch từ cộng đồng đến quốc gia cần phải được xem xét trước khi thực hiện các hoạt động thực địa
• Giai đoạn xác định các rủi ro hiện tại và tương lai
Cộng đồng và tư vấn cùng nhau xác định các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu của cộng đồng mà họ phải đối mặt hằng ngày sử phượng phương pháp vừa làm vừa học có sự tham gia Quá trình xác định sẽ là sự kết hợp của việc nâng cao nhân thức và sự trao đối thông tin giữa cộng đồng và tư vấn
• Giai đoạn đánh giá các rủi ro hiện tại và tương lai
Đánh giá các nguyên nhân và tác động của các rủi ro mà cộng đồng phải đối mặt hằng ngày Việc đánh giá cần phải kết hợp (liên quan) đến các rủi ro hiện tại
mà cộng đồng phải đối mặt trong hiện tại như thế nào và dự đoán các rủi ro này thay đổi như thế nào trong tương lai theo kịch bản biến đổi khí hậu
• Giai đoạn xây dựng và đánh giá các lựa chọn thích ứng
- Xây dựng, phát triển các giải pháp khả thi của cộng đồng đối với các rủi ro
Các giải pháp này khác các giải pháp khác như thế nào trong việc giảm thiểu tính dễ
bị tổn thương của cộng đồng Các hành động thích ứng nào cần phải kết hợp với các khung chính sách và quản lý hiện có của cộng đồng Xem xét các giải pháp thích ứng mang tính ưu tiên
- Việc đánh giá các lựa chọn thích ứng được thực hiện bởi các chuyên gia vùng, quốc gia hoặc địa phương để xác định các giải pháp nào cần được ưu tiên