Theo phương pháp này kết cấu hầm được xây dựng bên trong khối đào và được dùng khi đường viền hầm đặt nông và công đoạn đào từ mặt đất là khả thi và nông là ưu điểm.. Phương pháp thi côn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
TRẦN ĐÌNH DŨNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TRƯỢT Ở CỬA HẦM
VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ TRONG QUÁ TRÌNH
THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
TRẦN ĐÌNH DŨNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG TRƯỢT Ở CỬA HẦM
THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy lợi
Mã số: 60 - 58 - 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Vũ Trọng Hồng
Hà Nội - 2012
Trang 4LỜI CẢM ƠN
sau đại học – Trường Đại Học Thủy Lợi đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
tượng nghiên cứu là một công trình có điều kiện địa chất phức tạp nên nội dung của
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các quí vị quan tâm
Trang 5
ĐẶC ĐIỂM THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM VÀ YÊU CẦU VỀ SỰ ỔN
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HIỆN
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Chỉ tiêu cơ lý các lớp địa chất 54
Bảng 3.1: Các trị số dính bám đá/vữa đã và đang được kiến nghị cho thiết kế (theo Littlejohn và Bruce 1977) 80
Bảng 3.2: Chiều dài bầu neo cho các neo đá phun vữa xi măng đã và đang được sử dụng hoặc kiến nghị trong thực tế (theo Littlejohn và Bruce 1977 82
Bảng 3.3: Các kích thước tiêu chuẩn và độ bền đặc trưng của thép làm thanh neo ứng suất trước 87
Bảng 4.1: Các đặc trưng hình thái lưu vực tính đến tuyến công trình 91
Bảng 4.2: Chỉ tiêu cơ lý các lớp địa chất 97
1B DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Dạng chung của khiên 6
Hình 1.2: Kết cấu khiên không cơ giới hóa 6
Hình 1.3: Máy đào TBM 7
Hình 1.4: Các hình thức đào mặt cắt ngang hầm 12
Hình 1.5: Sơ đồ hệ thống đường ống dẫn nước nhà máy thủy điện 13
Hình 1.6: Cửa hầm đèo Hải Vân 15
Hình 1.7: Sơ đồ mặt cắt dọc cửa hầm có khối đắp phản áp 16
Hình 1.8: Sơ đồ mặt cắt dọc cửa hầm có tường mặt phản áp 16
Hình 1.9: Cấu tạo tiết diện cửa hầm 17
Hình 1.10 - Hố sụt nóc cửa tạm thời phía Nam nhánh chính hầm Hải Vân khi đang thi công 19
Hình 1.11 - Chống mái dốc trước cửa hầm 24
Hình 2.1: Các dạng mặt trượt 29
Hình 2.2: Mái dốc trên cửa hầm 31
Hình 2.3: Sơ đồ phân tích ổn định mái đất rời lý tưởng khi khô hoặc ngập nước 33
Hình 2.4: Sơ đồ phân tích ổn định của mái đất dính lý tưởng 35
Hình 2.5: Mặt trượt cung tròn 37
Hình 2.6: Đường cong quan hệ c gh = f(ϕgh) 37
Trang 8Hình 2.7: Sơ đồ tính toán ổn định theo phương pháp phân mảnh 39
Hình 2.8: Sơ đồ tính toán ổn định khi xem khối đất như vật rắn nguyên khối 40
Hình 2.9: Sơ đồ tính toán theo phương pháp của 14TK.Terzaghi14T 43
Hình 2.10: Sơ đồ tính toán theo phương pháp phân mảnh của Bishop 44
Hình 2.11: Cửa sổ chính của chương trình geoslope 48
Hình 2.12: Các phương pháp chính trong Geoslope 49
Hình 2.13: Cửa sổ lặp tính ổn định mái dốc 50
Hình 2.14: Xem kết quả phân tích mặt trượt 51
Hình 2.15: Trường hợp mái dốc 2:1 từ cao trình 700 ÷ 710 m 52
Hình 2.16: Trường hợp hạ thấp mái dốc 1:1 53
Hình 2.17 – 2.19 (Sơ đồ tính toán TH1) 55-56 Hình 2.20 – 2.22 (Sơ đồ tính toán TH2) 57-58 Hình 2.23 – 2.26 (Sơ đồ tính toán TH3) 59-63 Hình 2.27 – 2.29 (Sơ đồ tính toán TH4) 64-65 Hình 2.30 – 2.32 (Sơ đồ tính toán TH5) 66-67 Hình 2.33 – 2.36 (Sơ đồ tính toán TH6) 68-70 Hình 3.1: Xử lý các bờ dốc xung quanh hào cửa Nam hầm Hải Vân 73
Hình 3.2: Phun vẩy gia cố mái 76
Hình 3.3: Các dạng neo gia cố 79
Hình 3.4: Neo điển hình trong đá 79
Hình 3.5: Neo điển hình trong đất 83
Hình 3.6: Quan hệ giữa hệ số sức chị tải NR q R và dóc có hiệu của sức kháng cắt 84
Hình 4.1: Vị trí vùng dự án thủy điện Nậm An 90
Hình 4.2: Bản đồ địa chất khu vực xây dựng Nhà máy thủy điện 94
Hình 4.3: Kết quả tính toán cho trường hợp mái dốc 2:1 từ cao trình 700 ÷710m 98
Hình 4.4: Kết quả tính toán cho trường hợp hạ thấp mái dốc 1:1 99
Hình 4.5: Sơ đồ neo gia cố cho trường hợp mái dốc 2:1 từ cao trình 700 ÷710m 100 Hình 4.6: Sơ đồ neo gia cố cho trường hợp hạ thấp mái dốc 1:1 101
Trang 9MỞ ĐẦU
I Tính c ấp thiết của đề tài
Hiện nay đường hầm của Việt Nam đang phát triển rất mạnh, trong đó bao gồm đường hầm phục vụ cho giao thông, thủy lợi, thủy điện… Đặc điểm của đường hầm là hay đi qua các vùng có địa chất khác nhau: đá cứng, đất mềm… nên khả năng trượt dễ xảy ra
II M ục đích của đề tài
III Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
ngoài nước có liên quan đến đề tài này
IV K ết quả dự kiến đạt được
V N ội dung của luận văn:
Trang 10CHƯƠNG I
7B
ĐẶC ĐIỂM THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM VÀ YÊU CẦU VỀ SỰ ỔN ĐỊNH
CỦA CỬA VÀO
đất đá xung quanh hầm trước khi thi công kết cấu vỏ hầm sau cùng, người ta tiến
thông thường hoặc xây đá theo từng phân đoạn Trước khi đổ bê tông, vỏ hầm thường được xử lý chống thấm bằng một lớp bao tải tẩm nhựa đường hoặc bằng
quanh người ta phụt vữa bù hoặc phụt vữa gia cố ở sau vỏ Trong trường hợp đào
Phương pháp khoan nổ có thể sử dụng đào toàn mặt cắt gương hầm cũng như đào chia nhỏ mặt cắt gương hầm Chu kỳ đào hầm được chia nhỏ thành các công đoạn gồm khoan gương hầm, nạp thuốc mìn, nổ mìn, thông gió, xúc chuyển ra bãi
Trong đào hầm bố trí 3 loại lỗ mìn:
cao
Trang 11Lỗ mìn phá, bố trí trên toàn bộ gương hầm nhằm phá đá
dáng đường viền gương hầm phù hợp thiết kế hoặc giảm ảnh hưởng lay động do nổ mìn đến đất đã xung quanh hầm
đào, thí dụ đào hầm có mặt cắt không tròn hoặc cũng mặt cắt hầm tròn nhưng có
đá vò nát hoặc đá quá cứng (k>9) thì phương pháp nổ mìn ưu việt hơn hẳn so với máy đào TBM
điểm tiếp xúc nên vẫn có xu hướng biến dạng vào phía trong đường hầm nhằm lấp đầy khoảng trống nói trên
Đặc điểm của phương pháp nổ mìn đào hầm là các công đoạn phải theo phương pháp tuần tự nên tốc độ đào chậm, mặt đào không đều và nhiều khuyết
Trang 12điểm khác như: khi nổ phá địa tầng bị xáo động nhiều, an toàn kém, môi trường thi công độc hại, lao động của công nhân căng thẳng Ngoài ra đối với đường hầm dài, L>1km, để đẩy nhanh tiến độ đào luôn phải mở các cửa hầm phụ để tăng thêm mặt công tác, do đó tăng giá thành công trình
b) Đào hầm bằng phương pháp NATM
NATM
Phương pháp xây dựng hầm mới của Áo (NATM) là phương pháp xây dựng
đó, tự bản thân khối đất đá xung quanh sẽ trở thành một phần kết cấu chống đỡ
Trước tiên đào hầm dẫn trên hoặc dưới Hầm dẫn được đào còn kết hợp đánh giá địa
Trang 13* Ưu điểm:
nhanh
* Nhược điểm:
đã trải qua thực tế
36B
a) Phương pháp đào bằng khiên
dùng khiên đào đường hầm ngầm dưới mặt đất Khiên (Shield) là một loại kêt cấu ống thép hoạt động dưới sự che chống áp lực địa tầng lại có thể hoạt động tiến lên trong địa tầng
Đoạn đầu ống có thiết bị che chống và đào đất, đoạn giữa của ống được lắp
Trang 14khiên, đồng thời người ta sẽ ép vữa xi măng cát vào khe hở đằng sau lưng các vòng
bê tông để đề phòng hầm và mặt cắt lún xuống Phản lực đẩy khiên tiến lên do vòng
đứng, lắp ráp khiên cũng tại giếng đứng, đất đá do khiên đào xong được đưa qua
ngang; 6 kích sàn; 7 kích gương; 8 Bản đệm; 9 áo khiên; 10 kích khiên; 11 đế kê
Trang 15* Ưu điểm:
băng chuyền, hệ thống thông gió, hệ thống điện, các kích thủy lực … Ở đầu TBM là
cái đục giống như những chiếc răng, hoặc những đĩa thép răng cưa hoặc kết hợp cả
nát đá cho đến khi rơi ra, chui qua những hốc trên mặt khay chảy vào một hệ thống băng chuyền Hệ thống băng chuyền tiếp tục chuyển đá vụn ra đuôi của TBM để xe
TBM để đẩy TBM tiến lên phía trước
Trang 16Trong lúc sự vận hành TBM được coi là một quá trình liên tục, thì đó không
cho đến khi đã đạt được giới hạn vươn tới nhờ bộ phận pittong thủy lực tỳ vào mặt trước Tại điểm này công đoạn đào dừng lại, đuôi của máy được chống đỡ, bộ đỡ
khi TBM đào trong đá cứng cho hầm không vỏ, thì đó là TBM phải gồm đầu cắt,
mô tơ, vỏ chính, và những bộ đỡ ở phía trước, nối tiếp bởi những xilanh thủy lực đối với khung ở đuôi và một bộ đỡ thứ hai Trong một số máy bộ phận tỳ thủy lực đặt xiên để chống lại lực quay
cường độ lao động thấp, địa tầng ít bị lay động, chất lượng che chắn bằng vỏ hầm
37B
1.1.3 Phương pháp dánh chìm
Đường hầm dạng ống đánh chìm là loại hầm được xây dựng dưới đường nước chảy Dưới đáy sông hoặc đáy biển đào sẵn một hào, những đốt hầm dạng bê
hành đánh chìm vào hào Sau đó bơm nước ra khỏi các đốt hầm và lắp các đệm cao
Thiêm qua sông Sài Gòn được xây dựng bằng phương pháp này
Trang 17Theo phương pháp này kết cấu hầm được xây dựng bên trong khối đào và
được dùng khi đường viền hầm đặt nông và công đoạn đào từ mặt đất là khả thi và
nông là ưu điểm Hai phương pháp thi công được áp dụng cho xây dựng hầm theo cách đào và lấp và bottom-up và Top-down Đối với chiều sâu đặt hầm từ 30 đến 40
phương pháp top – down
1.1.5 Phương pháp kích các ống bê tông cốt thép vào đất
Phương pháp kích các ống bê tông cốt thép để tạo ra đường ống dẫn mà
pháp này được coi là giải pháp kinh tế khi đường ống đặt ở độ sâu lớn hơn 5m với
nước đô thị có thể thi công theo phương pháp này
Ống bê tông cốt thép được kích từ một hố kích tới hố tiếp nhận thường bố trí
ở những khoang tiếp cận đường ống Những thiết bị kích chính bố trí trong hố kích thường dùng để ấn những ống bê tông cốt thép vào lỗ đã được bộ phận phía trước đào trong quá trình tiến lên của hệ đường ống Năng lực của kích chính và lực đẩy
chui vào Thông thường có hai hoặc bốn loại kích với năng lực tới 300T và chiều dài đẩy được 1200mm
Trang 18Lực kích bị chống lại bởi khối bị ép trong hố kích và tác dụng lên đầu ống bê
Thông thường khiên và ống dẫn hướng được ấn vào hố tiếp nhận và tháo ra
để dùng lại Những trạm kích trung chuyển có thể yêu cầu về chiều dài và điều kiện đất cứng Để giảm ma sát cho ống khi ép vào đất có thể sử dụng vữa bentonite phụt vào đất ở xung quanh ống
Phương pháp thi công nhìn chung đi theo một chuỗi công đoạn lặp đi lặp lại như đào đất ở gương hầm, ép ống vào trong khối đã đào và chuyển đất thải bằng cách xúc lên xe ray đặt ở phía đáy ống
Giai đoạn lắp ống quan trọng nhất là khi chiều dài của 2 ống trong 3 ống đầu
vào tường của hố kích, nó rời khỏi những ray đỡ và được chống đỡ bởi đất ở tường
Thông thường việc kiểm soát tuyến được trợ giúp bằng cách gắn vào mặt thẳng đứng bịt kín ở hố tiếp nhận bằng những tấm gỗ hoặc cọc cừ và sẽ tháo đi khi vị trí
Trang 19Nhìn chung, công đoạn kích ống được tiến hành 2 ca một ngày, mỗi ca gồm
8 đến 10h và chiều dài tiến đạt được còn phụ thuộc kích thước ống và điều kiện của đất, rất khác nhau, có thể được 1 đến 6 ống một ca Thông thường đòi hỏi nhân lực
2 người trên mặt đất ( thợ lái cần trục), và 3 người trong ống và hố kích, (2 người đứng ở gương hầm và 1 người đứng ở hố kích) Đối với những dự án nhỏ hơn số người có thể giảm đến 3 vẫn đảm bảo công việc tiến hành tốt
23B
đó là vỏ hầm
trường hợp đào một lần thì diện tích của gương bằng diện tích toàn tiết diện hầm
tác đào đất đá, mở rộng tiết diện hầm đến kích thước thiết kế 2,4,5,7 Vỏ hầm 3,6,8 được xây dựng một lần trong hầm đã được gia cố và hoàn toàn tự do, hoặc theo
Trang 20Đối với đường hầm dẫn nước của nhà máy thủy điện cần đảm bảo độ dốc cho nước có thể tự chảy trong hệ thống đường dẫn nước và gồm các bộ phận:
tuabin phát điện ra ngoài
nước sinh ra không tác dụng lên đường dẫn nước vào Tháp điều áp có thể đặt trên
Trang 21mặt đất hoặc trong lòng đất Trường hợp đặt trong lòng đất thì cấu trúc của tháp điều áp giống cấu tạo của hầm đứng Tháp điều áp thường được bố trí ở vị trí tiếp
ngay trong nước hoặc trong lòng đất
40B
xu hướng tăng số lượng gương đào Việc mở diện thi công đào hầm có thể tiến hành trực tiếp từ đường đào trước cửa, từ giếng đứng, bố trí dọc tuyến hầm, hoặc qua các hầm ngang, đào vuông góc với hướng trục hầm
công trình
Trang 22Việc sử dụng các hầm ngang là cực kỳ hợp lý, bởi vì nó không đòi hỏi chi
còn có các lò mù để thăm dò địa chất, để tạo không gian phụt vữa gia cố
41B
Ngoài ra còn có các công tác phụ trợ trong thi công hầm bao gồm:
42B
bất kỳ thời điểm nào và ở tất cả các diện thi công Trong hầm có sự thay đổi gay gắt của nhiệt độ không khí, điều này cũng tác động có hại cho trạng thái sức khỏe con người Vì thế thông gió cũng có nhiệm vụ giữ nhiệt độ và độ ẩm tối ưu ở nơi có người, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động trong hầm Điều quan trọng là nhớ thông gió để hòa loãng khí độc (do người thải ra, do nổ mìn, do xe, máy thải ra…)
khô
trong quá trình thi công cũng khá lớn ( khoan, công tác bê tông, các loại nước tưới
thoát nước tự nhiên và thoát nước nhân tạo
đều phải chiếu sáng nhân tạo bằng điện Việc chiếu sáng cục bộ trong gương, chỗ
Trang 23năng lượng cơ bản Vì thế khi xây dựng các tổ hợp ngầm thường phải xây dựng
điện xoay chiều điện áp 380V qua biến thế riêng đặt ở gần cửa hầm
24B
1.3 Đặc điểm của cửa hầm
43B
Tường chắn được bố trí vuông góc với trụ hầm, có thể cấu tạo thẳng đứng
để gia cố
Trang 248 6
1
3
1 7
6
4 5
10
2 9
cường) bảo vệ bờ dốc; 6- Lỗ thoát nước giảm
Trang 25Hình 1.9: Cấu tạo tiết diện cửa hầm
Thông thường, có thể chia các bờ dốc xung quanh cửa hầm xuyên núi, theo hướng
Trang 26quanh, vẫn có thể còn phải xử lý cả địa hình, địa vật và môi trường bờ dốc ở đây
còn để tránh khả năng dẫn đến những tác hại cho toàn bộ kết cấu và khả năng công
động chính của lũ và những phóng vật độc lập có thể lao xuống cửa hầm, sân công
trôi trượt theo hướng dốc chính, gây nguy hại cho người và phương tiện vận tải hoạt động tại cửa hầm; đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu các biện pháp phòng tránh phù
44B
dưới tác dụng của những khối lớn đất đá
Trang 27- Nếu có mối nguy hiểm đá rơi hoặc thấm nước mặt thì khi đó cần có tường
được thiết kế như những tường chống - Do cửa hầm nằm ở nếp lõm của tầng địa
định, người ta tường phải đào bỏ đoạn cổ hầm đến độ sâu lớp phủ trên cửa hầm với
chung do đặc tính của bờ dốc
định: Tải trọng của đất đá sườn
núi theo hướng ngang từ trong ra
trong đó đối với cửa và cổ hầm, lại tùy theo từng giai đoạn hình thành, phát triển và
thi công
Trang 28cửa và cổ hầm, cùng với bờ dốc chính diện hào cửa hầm chưa hoàn thành kết cấu gia cường cố định thích hợp
45B
quan khác nhau Trong đó, đáng chú ý là:
46B
Để mở gương ngầm ngoài cùng của cổ hầm ở đây, chúng ta đều phải
ứng gồm 1 bờ dốc chính diện có chứa không gian ngầm và 2 bờ dốc cánh gà ở 2 bên Khi đó mặt bằng sân công tác trước cửa hầm giới hạn bởi đường chân các bờ
nhau; trong đó quan trọng nhất là:
Trang 29- Phòng chống tác hại của các dòng nước và các dòng phóng vật rắn từ trên
đó có đặc tính cơ học là chịu áp lực đất đá xung quanh theo các phương vuông góc
tính cơ học là chịu áp lực đất đá xung quanh theo phương song song với trục dọc công trình, đặc tính vật lý là chống cháy nổ cùng với đặc tính kiến trúc và bảo vệ môi trường sinh thái nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người
nhau Ngay khi chưa kể đến yêu cầu kiến trúc mỹ thuật, các thông số cơ bản của
đó cơ bản là:
Trang 30- Các yêu cầu cụ thể liên quan đến công nghệ mở gương ngầm ngoài cùng
đường hầm nói chung trên cơ sở các tiêu chuẩn thiết kế thi công, nghiệm thu và sử
sau:
trước cửa hầm và các sườn dốc xung quanh cửa hầm theo cả phương vuông góc và phương song song với trục dọc công trình
trong đất đá xung quanh cửa hầm;
đổi;
đường và sân công tác trước cửa hầm cùng với các công trình xây dựng và các trang
Trang 31- Tạo thuận lợi cho sự sinh trưởng của thảm thực vật trên các bờ dốc xung
cơ bản làm 2 nhiệm vụ cơ học cơ bản nhưng có liên quan mật thiết với nhau:
dòng định sẵn hai bên cửa hầm và hai bên bờ dốc cánh gà, nhất định không được
25B
trước của đường đào cần được chống đỡ tạm để tránh sụt lở Việc chống đỡ mái dốc
Trong trường hợp cần thiết ở phía trong của các cây gỗ nằm ngang 6 có đặt ván chèn
Trang 32Ở phía trên vì chống mái dốc có đặt các máng 5 để giữ đá long rơi ngẫu
Trong các đá cứng thì việc chống đỡ mái dốc thường không cần thiết Tuy
Trang 33K ết luận chương I
Theo phương dọc trục đường hầm, cửa hầm có chiều dài rất ngắn Tiết diện
thước thích hợp
cũng như khai thác sử dụng
trôi trượt theo hướng dốc chính, gây nguy hại cho người và phương tiện vận tải hoạt động tại cửa hầm Chúng ta phải nghiên cứu các biện pháp phòng tránh phù hợp với
Trang 34Năm 1776 Coulomb đã đưa ra phương trình đầu tiên về cường độ chống cắt
n tg c
τ σ= ϕ+
hưởng của áp lực nước lỗ rỗng và của các ứng suất
Năm 1862 Rankine đã nhận thấy sức kháng trên mặt trượt trong khối đất một
hưởng của lực dính dần tiêu tan do những quá trình cơ học, do vậy độ ổn định lâu
Năm 1912, sau khi các khối trượt lớn xảy ra ở cảng Gothemburg (Thụy Điển), chính phủ Thụy Điển đã triệu tập một Ủy ban Địa kỹ thuật để xác định nguyên nhân trượt nhằm đề ra các giải pháp xử lý Tuy nhiên các kết quả rút ra từ
Hultin đã xây dựng phương pháp cung tròn ma sát để tính toán và được gọi là phương pháp Thụy Điển Phương pháp đã dùng khối lượng riêng đẩy nổi của đất, nhưng chưa xét đến áp lực nước lỗ rỗng và ứng suất hiệu quả Hellon đề nghị dùng cường độ chống cắt không thoát nước của đất khi tính toán
Trang 35Năm 1918 Fellenius đã kết hợp ý tưởng của Hellon và phương pháp của
Năm 1920 Terzaghi đã đưa nguyên lý cường độ chống cắt hiệu quả và mối
' ( ) '
f c n u tg
Năm 1930 đến 1935, Jurgenson và Casagrande đã đóng góp lớn cho sự phát
Năm 1936 trong Hội nghị khoa học quốc tế về Cơ học đất và Nền móng ở trường Đại học Havard (Mỹ), (Terzaghi đã đề nghị có thể dùng phương pháp ứng
Năm 1937, Hvorslev đề nghị sử dụng các thông số để tính ổn định mái dốc
Năm 1952, Bishop đưa ra phương trình và phương pháp tính ổn định mái dốc đơn giản
Năm 1952 – 1953, Taylor đưa ra phương pháp gần giống Bishop nhưng có xét đến lực tương tác giữa các mảnh của khối trượt
Năm 1953 tại Hội nghị khoa học quốc tế về Cơ học đất và Nền móng lần thứ
Năm 1957 Skempton và cộng sự đã tìm ra rằng đối với phân tích ổn định lâu
o
P
Năm 1963 Skempton đã thảo luận sự khác nhau giữa đất sét cứng nguyên
Trang 36Ông cũng đã đưa ra lý do triệt tiêu lực dính tại thời điểm trượt là cường độ chống
Các nguyên nhân chính
Như đã biết, nguyên nhân gây trượt có thể hoặc là do độ bền của đất đá bị
nguyên nhân trên làm cho điều kiện cân bằng của khối đất đá ở sườn dốc bị phá
công trình ), các điều kiện địa lý tự nhiên (địa hình, địa mạo, khí tượng, thủy văn ), các yếu tố thời gian và các yếu tố nhân sinh (phá rừng, các loại ngoại lực do con người tác dụng lên sườn dốc, mức độ đúng đắn của phương án thiết kế, công
Trang 37Hình 2.1: Các dạng mặt trượt a) Trượt phẳng; b) Cung tròn; c) Không theo quy tắc; d) Phức hợp
Trượt phẳng là sự di chuyển theo mặt phẳng ở nông song song với mái dốc kéo dài Thường khi có lớp đất cứng hơn nằm dưới thì mặt phá hoại theo một mặt
đẩy do áp lực nước lỗ rỗng tăng đột ngột, đặc biệt trong đất bề mặt bị sấy khô một
Trong trường hợp nền đất có lớp kẹp mềm yếu, mặt trượt sẽ gồm 2 đoạn mặt
trượt phức hợp
47B
đất Trọng lượng của đất trên mái dốc được phân ra thành hai thành phần, một thành
Trang 38phần vuông góc với mái dốc, một thành phần song song với mái dốc là lực chính
cường độ chống cắt của đất là lực chống trượt lớn nhất trên một đơn vị diện tích hay
Đối với đá: trong đá cứng lực chống trượt phụ thuộc vào độ bền liên kết giữa
nhau
Đối với đất rời: lực chống trượt trong đất đá rời rạc chủ yếu phụ thuộc vào
Đối với đất loại sét (đất dính) sức chống cắt không chỉ phụ thuộc vào lực ma
cũng chịu ảnh hưởng của lực ma sát giữa các hạt với nhau tạo nên góc ma sát trong
48B
lý, đặc biệt là góc nội ma sát và lực dính kết giảm đột ngột, là nơi tàng trữ nước,
sinh các quá trình địa động lực khác và nó có tác dụng gây trượt
Trang 39quá trình phát sinh trượt Bề dày của các lớp vỏ phong hoá càng dày thì quá trình trượt càng dễ xảy ra và quy mô các khối trượt lở càng lớn
Mưa nhiều sẽ tạo dòng chảy mặt lớn gây xói lở sườn dốc, mái dốc, hình
nước mưa được ngấm sâu vào đất đá vỏ phong hoá gây tẩm ướt vừa làm tăng khối lượng thể tích, vừa làm giảm lực kháng cắt của đất đá, thậm chí có thể tạo ra tầng nước ngầm với áp lực thuỷ tĩnh và áp lực thuỷ động lớn đe doạ ổn định sườn dốc
Trang 40Mái dốc là khối đất có mặt giới hạn là mặt dốc (hình 2.2) Mái dốc được hình
Như chúng ta đã biết mái dốc càng thoải thì độ ổn định sẽ càng cao, nhưng
định mái dốc là xác định được độ dốc mái thỏa mãn yêu cầu kinh tế và kỹ thuật
Để đánh giá ổn định của mái dốc, về mặt lý thuyết hiện nay tồn tại nhiều phương pháp tính, nhưng có thể gộp chúng thành hai nhóm phương pháp chính như sau:
50B
trượt giả định, được áp dụng rộng rãi)
Đặc điểm của nhóm phương pháp dùng mặt trượt giả định là không căn cứ
đó nêu lên phương pháp tính toán, đồng thời xem khối trượt như là một vật thể rắn
ở trạng thái cân bằng giới hạn
Phương pháp tính toán dựa vào giả thiêt mặt trượt là mặt hình trụ tròn do K.E.Pettecxon đề nghị năm 1916, về sau được nhiều nhà nghiên cứu về ổn định mái
đồng nhất Đáng kể nhất đối với các phương pháp tính toán theo gia thiết này là