1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên

150 663 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong những năm gần đây để tận dụng lợi thế về du lịch lịch sử, nâng cao tỷ trọng du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, hồ Pa Khoang ngoài nhiệm vụ cấp nước cho hệ th

Trang 1

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Công trình đại thuỷ nông Nậm Rốm được khởi công xây dựng từ năm 1962

là một trong những công trình lớn nhất trong hệ thống thủy lợi miền núi với một đập chính dài hơn 60m, cao 10,5m, hai tuyến kênh tả, hữu dài 32km, Công trình phục vụ nước tưới tiêu cho hơn 3.500ha lúa và rau màu ở lòng chảo Điện Biên, góp phần đưa năng suất lúa từ 5 - 6 tạ/ha lên 5 - 6 tấn/ha, thậm chí có nơi 7 - 8 tấn/ha Nguồn nước của hệ thống là dòng chảy cơ bản của sông Nậm Rốm và được bổ sung

từ hồ chứa nước Pa Khoang Tuy nhiên trong những năm gần đây để tận dụng lợi thế về du lịch lịch sử, nâng cao tỷ trọng du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, hồ Pa Khoang ngoài nhiệm vụ cấp nước cho hệ thống thủy nông Nậm Rốm được bổ sung thêm nhiệm vụ du lịch kết hợp nuôi trồng thủy sản Để đáp ứng nhu cầu về du lịch kết hợp nuôi trồng thủy sản mực nước chết trong hồ được nâng lên +

920 m nhằm tạo mặt nước thích hợp trong việc tạo cảnh quan du lịch

Do đó lượng nước bổ sung từ hồ chứa nước Pa Khoang cho hệ thống giảm đi đáng kể, hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm đứng trước nguy cơ thiếu nước cho sản suất nông nghiệp, làm cho diện tích tưới của hệ thống bị giảm sút nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng này cần có những giải pháp nâng cao diện tích tưới của hệ thống

Từ những phân tích nêu trên thấy rằng việc nghiên cứu đánh giá hiện trạng,

tìm ra giải pháp nâng cao diện tích tưới của hệ thống Thuỷ nông Pa Khoang – Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên trong điều kiện thay đổi về nhiệm vụ của hồ Pa Khoang là hết

sức cần thiết và cấp bách

II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu của đề tài là đề xuất những giải pháp công trình và phi công trình

nhằm nâng cao diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm, đáp

ứng yêu cầu của giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển đa mục tiêu và đảm bảo phát triển bền vững

Trang 2

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm với diện tích tưới 3.500 ha Đối tượng nghiên cứu là khía cạnh tưới của

hệ thống

IV NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của luận văn gồm:

1.1 Đánh giá hiện trạng hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm

- Hiện trạng các công trình đầu mối và hệ thống kênh mương

- Hiện trạng quản lý khai thác của hệ thống

- Phân tích các nguyên nhân làm giảm hiệu quả tưới của hệ thống

1.2 Tính toán cân bằng nước trên hệ thống theo các giai đoạn

- Phân tích, đánh giá nguồn nước đến của hồ chứa nước Pa Khoang

- Phân tích, đánh giá nhu cầu nước dùng của hệ thống

- Tính toán cân bằng nước trên hệ thống

1.3 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tưới của hệ

thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm

- Nghiên cứu cân bằng nước của hệ thống trong điều kiện thay đổi về nhu cầu nước và nguồn nước đến

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp công trình nhằm nâng cao hiệu quả tưới của hệ thống

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phi công trình nhằm nâng cao hiệu quả tưới của hệ thống

2 P hương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu: Tài liệu hiện trạng các công trình cấp nước tưới và phương hướng phát triển dân sinh, kinh tế

- Phương pháp phân tích thống kê trong phân tích nguồn nước đến

Trang 3

- Phương pháp phân tích hệ thống: đánh giá về tài liệu, đặc trưng của vùng nghiên cứu

- Phương pháp mô hình toán: ứng dụng mô hình tính toán tưới tiết kiệm nước của trường đại học thủy lợi để tính toán nhu cầu cấp nước tưới cho hệ thống

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong việc phân tích tính toán

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NÂNG CAO

HIỆU QUẢ TƯỚI CỦA CÁC HỆ THỐNG THỦY NÔNG

1.1 TỔNG QUAN VỀ HÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới hiện nay có hàng trăm nghìn hệ thống thủy lợi lớn, nhỏ cung cấp nước tưới cho khoảng 150 triệu ha đất trồng lúa và hàng trăm triệu ha cây trồng khác

Trong những năm gần đây cùng với sự biến đổi khí hậu, sự bùng nổ về dân

số dẫn tới đất đai ngày càng bị thu hẹp, nguồn nước ngày càng cạn kiệt, lại bị chi phối cho các nhu cầu khác như công nghiệp, sinh hoạt, dịch vụ ngày càng tăng là một thách thức không nhỏ đối khả năng phục của các hệ thống thủy nông

Vì vậy công tác nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu qủa tưới của các hệ thống thủy nông bằng cách nâng cao hiệu quả sử dụng nước, tăng sản lượng lúa trên một đơn vị sử dụng nước, cải tiến quy trình công nghệ tưới tiết kiệm nước bằng các giải pháp diều tiết nước mặt ruộng hợp lý, sử dụng tối đa nguồn nước mưa sẵn có, giảm thấm, giảm bốc hời mặt thoáng là những giải pháp khá hữu hiệu đã và đang được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới và đặc biệt là khu vực châu Á

Sự thiếu nước như đã nêu ở trên đã thúc đẩy các nhà khoa học tìm kiếm các giải pháp làm giảm nhỏ lượng nước dùng trong các hộ dùng nước nhằm giảm sử mất cân đối trong cán cân tiêu thụ nước của các ngành

Ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo là ngành có tỷ lệ tiêu thu nước lớn nhất chiếm hơn 80% lượng nước tưới ở khu vực châu á Vì vậy đây là khu vực được các nhà khoa học ưu tiên nghiên cứu nhằm tìm các biện pháp tưới thích hợp thay thế biện pháp tưới truyền thống để giảm lượng nước tưới cho lúa Tuỳ theo khu vực nghiên cứu, các giải pháp giảm lượng nước tưới có thể chia làm 2 loại:

- Giảm lượng nước tưới trên hệ thống dẫn

- Giảm lượng nước tưới tại mặt ruộng

Việc giảm lượng nước tưới trên hệ thống dẫn chủ yếu được thực hiện thông qua việc làm giảm tổn thất do thấm trên kênh thông qua việc cải tạo, nâng cấp hệ

Trang 5

thống kênh dẫn nước bằng việc cứng hoá hay lát mái kênh Hay nói cách khác là dùng giải háp công trình để giảm lượng nước tưới Tuy nhiên các biện pháp này thường chỉ giảm được lượng nước tưới từ 5% đến 15% Hơn nữa biện pháp này đòi hỏi vốn đầu tư lớn Ngoài ra các biện pháp khác như biện pháp san phẳng đồng ruộng, biện pháp sử dụng lại nguồn nước hồi quy cũng là những biện pháp hữu hiệu trong việc giảm lượng nước tưới của hệ thống

Các biện pháp hứa hẹn nhiều kết quả là biện pháp giảm lựng nước tưới tại mặt ruộng thông qua việc điều tiết lớp nước mặt ruộng nhằm năng cao hiệu quả sử dụng nước mưa, giảm các thành phần hao nước như thấm và bốc hơi mà không ảnh hưởng đến năng suất lúa Biện pháp tưới nông lộ phơi là biện pháp được chú ý nghiên cứu ở nhiều nước như Nhật, Trung Quốc, Philipin, ấn Độ, Tây Ban Nha, Mỹ

1.2 TỔNG QUAN VỀ HÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Cho tới nay cả nước hiện có 75 hệ thống thủy lợi lớn, chúng ta đã xây dựng được:

Gần 800 hồ chứa lớn và hơn 3.500 hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m3 với chiều cao đập trên 10 m để phục vụ tưới, phát điện như hồ chứa Đại Lải (Vĩnh Phúc), hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô (Hà Tây), hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh), hồ Cửa Đạt (Thanh Hóa)

Hơn 2.000 trạm bơm tưới, tiêu lớn như Trịnh Xá, Bạch Hạc, Hồng Vân, Đan Hoài, La Khê, Vâ Đình và hàng trục nghìn trạm bơm loại vừa và nhỏ với tổng công suất bơm lên tới 24,6 triệu m3

/h

Hơn 5.000 cống lấy nước, cống tiêu tự chảy, đập dâng hình thành các hệ thống thủy lợi lớn như hệ thống Bắc Hưng Hải, Thạch Nham, Nam Thạch Hãn, Nha Trinh – Lâm Cấm, Quản Lộ - Phụng Hiệp, Nam Măng Thít Đến nay các hệ thống thủy lợi đã tưới trực tiếp được 3,5 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha, cung cấp 5 tỷ m3 mỗi năm cho sinh hoạt và công nghiệp

Trang 6

Mặc dù Việt Nam được cho là nước có tài nguyên nước dồi dào Tuy nhiên trong số hơn 800 tỷ m3 nước được hình thành hàng năm, có 2/3 được hình thành bên ngoài lãnh thổ Điều này không đảm bảo sự ổn định về nguồn nước hàng năm

vì sự phụ thuộc vào tỷ lệ khai thác, sử dụng nước của các nước vùng thượng nguồn Mặt khác trong số gần 300 tỷ m3 nước được hình thành trong nội địa, sự phân bố rất không đồng đều cả theo không gian và thời gian đã làm cho nhiều vùng rất khan hiếm nước

Bên cạnh đó, nhu cầu nước của các ngành kinh tế như công nghiệp, thủy sản, giao thông thủy, du lịch dịch vụ đang ngày càng gia tăng làm cho tình hình cấp nước cang trở nên khó khăn Ngành nông nghiệp đang đứng trước thách thức to lớn trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các ngành về nguồn nước cấp cho tưới Thực tế đó đã thúc đẩy việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong tưới qua đó nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống là giải pháp sống còn trong điều

kiện cấp nước ngày càng hạn chế trong nông nghiệp

Một số nghiên cứu nâng cao hiệu quả phục vụ của hệ thống thủy nông điển hình đã được thực hiện trong phạm vi cả nước:

Nguyễn Viết Chiến (1998) đã ứng dụng mô hình IMSOP xây dựng chế độ vận hành quản lý hệ thống thủy nông La Khê nhằm giảm tổn thất do tưới không đúng thời điểm, tăng hệ số sử dụng nước mưa Các nghiên cứu của Đào Xuân Học

và Nguyễn Quang Kim (2000, 2005) chú trọng đến khả năng sử dụng nước hồi quy trong các hệ thống thủy nông của vùng duyên hải Trung bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên Kết quả cho thấy việc sử dụng nước hồi quy có thể tiết kiệm được một lượng nước tưới từ 5 đến 10%

Về thiết bị, công nghệ tưới, gần đây nhiều nghiên cứu được tiến hành bằng

việc ứng dụng các thiết bị tưới hiện đại như tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt áp dụng cho các loại cây trồng cạn cây ăn quả, cây công nghiệp, kết quả cho thấy rất hứa hẹn Sau đây là một số các nghiên cứu điển hình theo hướng này

Năm 2007-2008, Nguyễn Quang Trung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng thiết bị tưới nhỏ giọt vào tưới cho cây nho ở Ninh Thuận và cây Thanh

Trang 7

Long ở Bình Thuận Kết quả cho thấy năng suất cây Thanh Long tăng lên 2,5 lần Lượng nước được tiết kiệm 60% so với phương pháp tưới giải truyền thống

Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Thư và cộng sự (2006) ứng dụng kỹ thuật tưới nhỏ giọt lên cây dứa cũng cho kết quả rất tốt Năng suất dứa tăng 60% so với không tưới, lượng nước tưới giảm nhỏ so với các phương pháp khác

Nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ đi sâu giải quyết theo hướng công nghệ tưới hay quy trình vận hành hệ thống riêng rẽ Các nghiên cứu này chưa kết nối được quy trình công nghệ tưới trên toàn hệ thống và tại mặt ruộng Đây là yếu tố đảm bảo sự thành công trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Trang 8

CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC CỦA HỆ THỐNG 2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

2.1 1.1 Vị trí địa lý

Hệ thống thủy nông Pa Koang - Nậm Rốm nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Điện Biên cách Hà Nội 500km đi theo đường quốc lộ số 6 Có tổng diện tích tự nhiên là 164.000 ha

- Toạ độ địa lý: 20050’ đến 21035’ vĩ độ Bắc

102050’ đến 103010’ kinh độ Đông

+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp 2 huyện trong tỉnh là Mường Chà và Tuần Giáo

+ Phía Đông Nam giáp huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La

+ Phía Đông giáp huyện trong tỉnh là Điện Biên Đông

+ Phía Tây và Tây Nam giáp nước Cộng hoà nhân dân Lào

Bao gồm đất đai của các huyện thị :

, địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều đặc điểm giống như những cánh đồng vùng châu thổ, có khả năng phát triển cây lương thực, thực phẩm rau, màu và cây công nghiệp

2 2.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

a Địa chất

Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng thuộc hệ uốn nếp Tây Việt Nam gồm nhiều đới kiến tạo khác nhau Phía Nam Điện Biên thuộc kiến trúc uốn nếp Hecxini muộn còn các đới khác thuộc kiến trúc Indoxini Với đặc điểm cấu tạo địa

Trang 9

chất phức tạp những đá phát triển trong vùng phần lớn là đá trầm tích phún xuất biết chất và một ít là đá Mắc ma xâm nhập, loại này xuất hiện nhiều ở phía Bắc và Đông Bắc với những khối núi đồ sộ được cấu tạo bằng đá Granit cứng nhọn và có nhiều khe nứt Nham thạch chủ yếu thuộc trầm tích hệ Triát thống trung bậc Neriretty điệp suối bàng (T3n r)Sb Ngoài ra còn có trầm tích hệ Triát thống trung bậc Canxi (T3k) trầm tích này phân bố thành dải hẹp được giới hạn bởi đứt gãy phía Bắc thung lũng Điện Biên Thành phần chủ yếu của trầm tích là cát kết, bột kết, sét kết, đá phiến sét có xen các lớp vôi, các thấu kính hoặc vỉa than mỏng, dưới cùng là lớp cuội kết, sạn kết, cát sét Cacbonat Đất đá đệ tứ ở phía khu vực khảo sát có bề dày trung bình 40cm Một đặc điểm chủ yếu nổi bật là trong đất đá đệ tứ có thành tạo Iluvi chiếm ưu thế về bề dày và bề rộng với thành phần chủ yếu là sét pha lẫn cuội, sỏi, sét pha lẫn dăm sạn

b Thổ nhưỡng

Đặc điểm chung về đất đai của khu vực nghiên cứu là ít vón kết, càng lên cao càng ẩm, mùn càng nhiều Loại đất Feralit có mùn chiếm ưu thế rõ rệt và chiếm phần lớn diện tích Nhìn chung đất đai chia ra làm 4 loại chính:

- Đất Feralit vàng đỏ có mùn, đất có tầng dày khá, ít chua, độ mùn chiếm 4 ÷ 5% nhưng dễ bị rửa trôi do ở độ cao khá lớn, sườn núi dốc, địa hình lại bị chia cắt mạnh nên việc sử dụng loại đất này gặp khó khăn, chỉ dùng cho lâm nghiệp để tu bổ rừng phòng hộ đầu nguồn

- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên sản phẩm phong hoá đá vôi Phần lớn loại đất này có địa hình chia cắt mạnh và có độ dốc >200, chủ yếu dùng cho chăn nuôi, rừng tái sinh và trồng rừng tập trung, còn lại có thể đưa vào sản xuất nông nghiệp, làm ruộng bậc thang, nương định canh, trồng cây công nghiệp lâu năm và kinh tế vườn, rừng

- Đất phù sa, sông suối được hình thành do sự bồi tụ của sông suối, phân bố dọc hai bờ sông hình thành cánh đồng Mường Thanh Thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình đến nặng, đôi chỗ từ nhẹ đến trung bình Địa hình tương đối bằng

Trang 10

phẳng, tầng đất dày, độ phì trung bình thích hợp cho trồng cây lương thực và hoa màu

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, phân bố trong các thung lũng bằng, rộng Nhóm đất này phù hợp với phát triển cây trồng cạn ngắn ngày

2 2.2 Chế độ khí hậu và chế độ thuỷ văn

2 2.2.1 Chế độ khí hậu

a Lưới trạm quan trắc khí tượng

Khu vực nghiên cứu có 1 trạm khí tượng là trạm Điện Biên có thời gian quan trắc từ năm 1963 đến nay

- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau; Là thời kỳ chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thường mưa và rét Khí hậu ẩm ướt, nhiệt độ không khí thấp, độ

ẩm tăng, lượng mưa lớn, thường bị ảnh hưởng của lũ và bão

Bão lụt thường xảy ra từ tháng 9 đến tháng 11, tập trung vào các tháng 9, tháng 10 Mùa bão thường là mùa mưa, bão thường kèm nước biển dâng cao gây lụt lớn làm mất mùa và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống

* Chế độ mưa

Lượng mưa trung bình nhiều năm (thời đoạn 1963 - 2008) tại trạm Điện Biên

là 1602 mm/năm Lượng mưa năm lớn nhất đạt 2.240 mm (năm 1994) lớn gấp 3,06 lần lượng mưa năm nhỏ nhất 731,8 mm (năm 1965) và phân bố không đều theo không gian và thời gian Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 với tổng lượng trung bình nhiều năm là 1.265 chiếm 78,9% tổng lượng mưa toàn năm

Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 22,1% lượng mưa cả năm Trong đó tháng 10 và tháng 4 là hai tháng chuyển

Trang 11

tiếp mùa, lượng mưa hai tháng này còn khá lớn, năm tháng còn lại là các tháng 11,

12, 1, 2, 3 có lượng mưa nhỏ hơn 50 mm/tháng

Bảng 2.1 Lượng mưa trung bình trạm Điện Biên

Bảng 2.2 Độ ẩm tương đối của không khí trạm Điện Biên

Bảng 2.3 Tổng lương bốc hơi ống piche trạm Điện Biên

- Số giờ nắng trung bình nhiều năm tại trạm Điện Biên: 2035 giờ

- Số giờ nắng thấp nhất rơi vào tháng mùa lũ (tháng 7): 134,3 giờ

Trang 12

- Số giờ nắng cao nhất rơi vào các tháng ít mưa (tháng 3, 4): 207,7 giờ

Bảng 2.4 Tổng số giờ nắng trung bình trạm Điện Biên

Bảng 2.5 Biểu tốc độ gió trung bình trạm Điện Biên

Đơn vị: m/s

0.8 1,0 0,9 1,0 1,1 1,0 0,9 0,8 0,7 0,7 0,8 0,8 0,9

(Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Điện Biên)

Bảng 2.6 Biểu tốc độ gió cực đại và hướng xuất hiện trạm Điện Biên

Tháng Yếu tố 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Vmax 32 25 30 40 >40 20 >20 >20 35 20 20 14 >40 Hướng SW NW W N W N NH NH N N NH NE W

(Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Điện Biên)

* Nhiệt độ

- Nhiệt độ trung bình nhiều năm ở trạm Điện Biên là 21,80C

- Nhiệt độ lớn nhất quan trắc được là 38,60C vào ngày 7/5/1960

- Nhiệt độ thấp nhất xuống -0,40C vào ngày 18/1/1961

Trang 13

Bảng 2.7 Biểu nhiệt độ không khí trạm Điện Biên

Trang 14

2 2.2.2 Chế độ thuỷ văn

a Đặc điểm sông ngòi

Tỉnh Điện Biên có 3 hệ thống sông khác nhau là sông Đà, sông Mã, sông Mê Kông, trong đó lưu vực sông Nậm Rốm chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Nậm Rốm là chi lưu của Nậm U, một sông nhánh thuộc phần thượng nguồn sông Mê Kông

Lưu vực sông Nậm Rốm bắt nguồn từ Na Lao thuộc ngọn núi Pu Điên đỉnh Bắc của tỉnh Điện Biên Lưu vực sông Nậm Rốm (kể đến biên giới Việt Lào) có diện tích 1.650 km2 (chiếm 8% diện tích toàn tỉnh) với chiều dài sông L = 75 km Sông ở thượng nguồn dốc, lắm thác ghềnh, đến lòng chảo Điện Biên lại có độ dốc nhỏ và có những đặc điểm của sông đồng bằng Sông Nậm Rốm có dòng chảy quanh co, hệ số uốn khúc là 1,46, dọc theo 2 bờ sông có rất nhiều suối nhỏ, trong đó

có một số nhánh chủ yếu như: Nậm Phăng, Nậm Khẩu Hú, Nậm Cọ và Nậm Núa Sông Nậm Rốm có 6 phụ lưu cấp I, riêng phụ lưu số 5 có 2 phụ lưu cấp II

Bảng 2.8 Đặc trưng hình thái sông lưu vực sông Nậm Rốm

Tên sông

Khoảng cách từ cửa phụ lưu đến cửa sông chính (km)

Chiều dài sông (km)

Diện tích lưu vực sông (km 2 /phần

đá vôi)

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (% 0 )

Hệ số uốn khúc

Trang 15

b Thủy văn nước mặt

* Mạng lưới trạm thuỷ văn Điện Biên

Tình hình quan trắc thuỷ văn trong lưu vực có 3 trạm thuỷ văn quan trắc trên sông Nậm Rốm là Him Lam, Thác Bay, Núa Ngam, cả 3 trạm trên đều có thời gian quan trắc ngắn và đến nay không còn hoạt động

Trang 16

Bảng 2.9 Trạm thuỷ văn, các yếu tố và thời gian quan trắc trên sông Nậm rốm Trạm đo Diện tích lưu

vực (km 2

)

Yếu tố đo đạc

Thời gian quan trắc 4BGhi chú

* Các đặc trưng thuỷ văn dòng chảy

- Dòng chảy mùa lũ

Căn cứ kết quả tính toán lưu lượng trung bình nhiều năm tại Thác Bay và Him Lam cho thấy mùa lũ trên lưu vực sông Nậm Rốm bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng nước mùa lũ chiếm 80 - 85% tổng lượng nước cả năm

Lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 7, 8 Lưu lượng lớn nhất đã quan trắc được tại Thác Bay là 400 m3/s vào ngày 24/6/1996 ứng với mực nước cao nhất là 71,199 cm Tại trạm Him Lam ngày 31/7/1959 đã quan trắc được lưu lượng lớn nhất là 1.100

m3/s Với mực nước lũ là 50.678 cm, lưu lượng trung bình mùa lũ tại Thác Bay là 9,84 m3/s Tại Him Lam là 16,1 m3/s và tại Núa Ngam là 6,85 m3

/s

- Dòng chảy mùa kiệt

Mùa kiệt trên lưu vực sông Nậm Rốm ở Điện Biên kéo dài 7 tháng từ tháng

11 đến tháng 5 năm sau

Trang 17

Bảng 2.11 Lưu lượng kiệt trung bình nhiều năm

- Dòng chảy rắn

Trong phạm vi nghiên cứu số trạm thuỷ văn ít lại không có điều kiện đo dòng chảy bùn cát, do vậy việc đánh giá dòng chảy bùn cát ở đây gặp nhiều khó khăn Qua số liệu nghiên cứu cho toàn miền Bắc Việt Nam của Tổng cục khí tượng thuỷ văn thì lưu vực sông Nậm Rốm nằm trong vùng có moduyn dòng chảy bùn cát từ 80 - 150 tấn/năm/km2 và nước sông có độ đục khoảng 300 g/m3 Ở nhánh Nậm Núa lên tới 500 g/m3và vùng mưa nhiều như Nậm Phăng, Nậm Khẩu Hú là 700 g/m3

c Thủy văn nước ngầm

Trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Điện Biên nước dưới đất ở các dạng tồn tại sau:

- Nước lỗ hổng: Tồn tại và vận động trong lỗ hổng của các loại trầm tích vụn, bở rời hệ đệ tứ (QIV)

- Nước khe nứt và khe nứt castơ: Tồn tại vận động trong các khe nứt hoặc khe nứt castơ của các loại đá cứng có tuổi trước đệ tứ Các đá này bao gồm các trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonat, lục nguyên phun trào, cacbonat, các đá biến chất và mắc

Trang 18

+ Tầng nghèo nước

+ Các thể địa chất rất nghèo nước

+ Nước lỗ hổng - Tầng giàu nước QIV

Các thành tạo đệ tứ phân bố rộng, song nơi có khả năng trữ nước đáng kể nhất là thung lũng Điện Biên Phủ Các thành tạo đệ tứ ở đây có chiều dày thay đổi từ vài mét (xung quanh viền thung lũng) đến 150 m (trung tâm thung lũng), trung bình khoảng 40 - 50m

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tại thung lũng Điện Biên (theo báo cáo Đánh giá tổng quan môi trường nước ngầm tỉnh Lai Châu cũ của Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia thuộc Viện Địa chất) cho thấy nước lỗ hổng của thành tạo đệ tứ ở Điện Biên Phủ chia làm 3 lớp:

- Lớp 1: Phân bố thành dải hẹp ở 2 bên sông Nậm Rốm kéo dài từ nông trường Điện Biên xã Thanh Nưa, qua Thanh Xương đến Sam Mứn Chiều dày 6-10m, chiều sâu của lớp chứa này thay đổi từ 8 - 10m Đây là lớp có trữ lượng khá lớn, có thể cung cấp nước sạch cho Thành phố Điện Biên Phủ

- Lớp 2: Phân bố rộng theo phương ngang từ Tây sang Đông Chiều dày không đồng đều, chiều sâu 38 - 40m

- Lớp 3: Chiều dày 5 - 6m, phân bố ở độ sâu từ 48 - 53m, đến 76 - 81m

Diện tích phân bố của các tầng giàu nước ở các huyện Tủa Chùa, phía đông huyện Tuần Giáo, Tây Nam Thành phố Điện Biên Phủ

2 2.3 Hiện trạng kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

2 2.3.1 Hiện trạng diện tích, dân số và độ tuổi trong vùng nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu bao gồm thành phố Điện Biên Phủ và 13 xã của huyện Điện Biên với diện tích tự nhiên 164.000 ha và dân số 143.622 người

a Dân cư và lao động

* Dân cư

Gồm 18 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm khoảng 40,4%, dân tộc Mông chiếm 28,8%, Kinh chiếm 19,7%, Khơ mú 3,2%, còn lại là các dân tộc khác như Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng… Đồng bào các dân tộc trong tỉnh

Trang 19

có truyền thống đoàn kết, cần cù lao động, tuy nhiên ở một số vùng do tập quán sinh hoạt của đồng bào chủ yếu sinh sống ở những vùng núi cao, vùng xa, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn nên trình độ dân trí còn hạn chế

Tỷ lệ nam, nữ trong tỉnh là gần tương đương 50%, dân số sống ở thành thị là 16,5%, nông thôn là 83,5%

Bảng 2.12 Dân số trung bình phân theo huyện thị năm 2008

Số người trong độ tuổi lao động của tỉnh hiện chiếm 51% tổng dân số Trong

đó số người có khả năng lao động là 96%, lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm khoảng 14% Tỷ lệ thất nghiệp bình quân năm chiếm 0,92%, trong đó khu vực thành thị chiếm 5,28% vào năm 2000, giảm xuống còn 5% vào năm 2003 Mỗi năm

số lao động được đào tạo việc làm mới từ 5000 - 6000 lao động

* Trình độ dân trí, chuyên môn, nghề nghiệp

Trình độ dân trí còn hạn chế, phong tục tập quán của một bộ phận dân cư còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập, thiếu cán bộ quản lý, chuyên gia, các nhà doanh nghiệp giỏi

Trang 20

Hạn chế lớn nhất về nguồn nhân lực là chất lượng lao động thấp, hầu hết lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ đều là lao động từ ngành nông nghiệp chuyển sang Trình độ và tác phong chưa đáp ứng được với yêu cầu của ngành, việc đào tạo của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn về hạ tầng, kinh phí và các điều kiện khác

Do đó năng suất và hiệu quả lao động chưa cao Năm 2000 số lao động được đào tạo chiếm 10,75% tăng lên 14% năm 2004

Nguồn lực về khoa học công nghệ thấp là một hạn chế lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của vùng Điện Biên hiện nay không có các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học, các trường đào tạo nghề của Trung Ương đóng trên địa bàn tỉnh Các cơ sở dạy nghề của tỉnh cũng còn rất ít, việc định hướng nghề nghiệp và các chương trình đào tạo nghề còn yếu trong khâu tổ chức Hiện nay, tỉnh đang rất thiếu các thợ kỹ thuật và công nhân lành nghề để phục vụ cho phát triển công nghiệp

c Đặc điểm văn hóa xã hội

mạnh

- Phát thanh- truyền hình: Đến hết năm 2008, tỷ lệ dân số được phủ sóng

truyền hình đạt 78% và tỷ lệ dân số được phủ sóng phát thanh là 93%

là 13.464 học sinh, trong đó: Tiểu học 5.370 học sinh, THCS 4.077 học sinh, THPT

3.017 họ sinh, nhịp độ tăng bình quân mỗi năm 7,2%

+ Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học tiểu học năm 2008 - 2009 là 98% so với năm học 2000 - 2001 tăng 13%

+ Trường cao đẳng sư phạm mỗi năm tuyển mới đào tạo được từ 1000 - 2.500 học sinh, trong đó riêng hệ Cao đẳng từ 400 - 750 học sinh

+ 100% số xã, phường có cán bộ y tế, trong đó: Tỷ lệ xã có bác sĩ là 16%, 1371/1479 thôn bản có cán bộ y tế đạt 92,7%, 100% số xã, phường, thị trấn và khoảng 93% số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 liều vắc xin Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2008 giảm xuống còn 35,5%

Trang 21

+ Lễ kỷ niệm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

+ Lễ hội thành Bản Phủ

+ Hội tung còn

+ Hội hoa ban Tây Bắc

+ Ngoài ra còn có một số lễ hội cơm mới của người dân tộc Thái

Với việc thực hiện lồng ghép các chương trình dự án và các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo của nhà nước và của tỉnh, đời sống nhân dân các dân tộc đã có những cải thiện căn bản GDP bình quân đầu người năm 2008

là 450 USD bằng khoảng 49% trung bình toàn quốc Hiện tại đã cơ bản không còn

hộ đói kinh niên, số hộ phải cứu đói giáp hạn giảm, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm 5%

Phát thanh, truyền hình có nhiều tiến bộ với sự quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn vốn Thiết bị truyền hình được tăng cường hiện đại hoá; nội dung, chương trình phát sóng được tăng lên đảm bảo phục vụ tốt công tác tuyên truyền và nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân

Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, báo chí xuất bản được chăm lo phát triển, đã phục vụ tốt hơn công tác tuyên truyền và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo được không khí phấn khởi, tin tưởng của đồng bào nhân dân các dân tộc với Đảng

Trang 22

2 1.3.2 kinh tế

a Cơ cấu phát triển kinh tế

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế năm 2008 là: Nông - lâm nghiệp: 37,55%, công nghiệp, xây dựng: 25,8%, dịch vụ: 36,65% Năm 2009 là: Nông - lâm nghiệp: 36,13%, công nghiệp, xây dựng: 26,63%, dịch vụ: 37,24%

Trong những năm qua Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch của thành phần trên địa bàn tỉnh còn chậm

b Kết quả phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân giai đoạn 2005 - 2008 ước đạt 8,67%, cao hơn gần 1,2 lần mức bình quân của cả nước Trong đó năm 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế của các khu vực thuộc tỉnh Điện Biên đạt 7,34%, năm 2006 đạt 8,15%, năm 2007 đạt 8,19%, năm 2008 đạt 10,14%

cấu kinh tế và nâng cao chất lượng sản phẩm

+ Khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp tiếp tục có bước phát triển vững chắc Gía trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng bình quân 5,47% Trong đó nông nghiệp đạt mức tăng 5,73%, lâm nghiệp tăng 4,10%, thuỷ sản tăng 18,1%

+ Sản xuất công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng cao so với giai đoạn 5 năm trước Giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp, xây dựng đạt mức tăng bình quân 19,6% Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15%, xây dựng tăng 22,6%

+ Các ngành dịch vụ có bước phát triển khá với sự tham gia của nhiều thành

phần kinh tế, nhất là các ngành dịch vụ thương mại và du lịch Tuy nhiên nhịp độ phát triển giai đoạn từ 2005 - 2008 của lĩnh vực này chậm hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế nên cơ cấu trong GDP có xu hướng giảm

Trang 23

c Hiện trạng kinh tế nông nghiệp

Qua 4 năm 2005- 2008 thực hiện phát triển nông nghiệp - nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã có những sự chuyển biến tích cực Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất sản phẩm hàng hoá, từ sản xuất độc canh sang sản xuất thâm canh, tăng vụ bước đầu có kết quả, phát triển chăn nuôi, thuỷ sản theo hướng công nghiệp, từng bước trở thành ngành sản xuất chính Cơ cấu cây trồng được chuyển đổi phù hợp với điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh theo hướng chọn loại cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và đem lại hiệu quả kinh tế cao đưa vào sản xuất Diện tích canh tác luôn được mở rộng, chú trọng đầu tư về giống, phân bón, thuốc phòng trừ dịch bệnh

Giá trị sản xuất/ha đất nông nghiệp (giá hiện hành):

+ Năm 1995 là 3,42 triệu đồng, năm 2000 là 3,28 triệu đồng (giảm 4,09%) + Năm 2008 là 8,05 triệu đồng tăng 4,63 triệu đồng so với năm 1995 (tăng 245,43%)

d Sử dụng đất nông nghiệp

Bình quân đất nông nghiệp đầu người khu vực nông thôn là 2.450 m2/người, (đất trồng cây hàng năm chiếm 95% đất nông nghiệp, đất cây lâu năm chiếm 4,1%) Điều đó phản ánh thực trạng sản xuất nông nghiệp là chưa phát huy hết thế mạnh về phát triển cây lâu năm và cây ăn quả… Tuy nhiên nó cũng phản ánh sự khó khăn về hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt đối với cây trồng mang tính chất hàng hoá Đây là một trở ngại lớn đối với sự phát triển của nền nông nghiệp của khu vực

Trang 24

Bảng 2.13 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

5 Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản 67

Trang 25

e Các nguồn lực đã được khai thác và những hạn chế

* Các nguồn lực đã được khai thác

- Tài nguyên thiên nhiên

Có nhiều tài nguyên khoáng sản như: Nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen,

đá granít, một số mỏ quặng sắt và kim loại màu nằm rải rác

Với những đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên như trên, tạo cho tỉnh có lợi thế để phát triển nền nông lâm nghiệp đa dạng gắn với công nghiệp chế biến nông lâm sản, phát triển công nghiệp điện năng và công nghiệp khai khoáng

- Tài nguyên du lịch

Khu vực có nhiều di tích lịch sử gắn với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, tiêu biểu là các di tích thành Tam Vạn, thành Bản Phủ và đặc biệt là di tích chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ… là tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch lịch sử Có nhiều điểm du lịch sinh thái hấp dẫn như: Hồ Pa Khoang, suối khoáng nóng Hua Pe, U Va, động Pa Thơm… là điều kiện thuận lợi

để phát triển du lịch sinh thái và tham quan lịch sử Bên cạnh các tiềm năng về du lịch, với vị trí địa lý tiếp giáp với 2 quốc gia có thể phát triển trở thành đầu mối giao thông quan trọng trong khu vực các nước trong tiểu vùng; mở rộng liên kết với các địa phương trong nước và các nước bạn để hình thành các tour du lịch Quốc tế với

cố đô Luông Pha Bang của Lào, tỉnh Vân Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu trên địa bàn

Trang 26

tại chỗ, chưa tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn để phát triển công nghiệp chế biến, sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, nhiều tiềm năng về công nghiệp khai khoáng, chế biến và sản xuất vật liệu xây dựng chưa được đầu tư thoả đáng, lĩnh vực dịch vụ còn hạn chế, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng

- Trình độ dân trí còn hạn chế, phong tục tập quán của một bộ phận dân cư còn lạc hậu nên dễ bị các thế lực phản động lợi dụng để tuyên truyền đạo trái phép, chống phá cách mạng, chia rẽ sự đoàn kết của các dân tộc

- Đường biên giới dài lại ở những nơi xa xôi hiểm trở nên vấn đề bảo vệ chủ quyền biên giới và an ninh chính trị trong khu vực luôn diễn biến phức tạp, tình trạng buôn lậu qua biên giới, xâm canh, xâm cư vẫn luôn xảy ra

2 1.4 Phương hướng phát triển kinh tế

2 1.4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế

Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách vững chắc dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các tiềm năng về sản xuất nông lâm nghiệp hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến, phát triển mạnh mẽ lĩnh vực dịch

vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch gắn với các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tiếp tục tăng cường đầu tư cho các vùng khó khăn để sớm hoàn thành mục tiêu về xoá đói giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế đi đôi với chăm lo các mặt xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu về học tập, chăm sóc sức khoẻ và đời sống văn hoá cho nhân dân Không ngừng kiện toàn nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch vững mạnh, gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh đảm bảo giữ vững

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới quốc gia

Xuất phát từ bối cảnh thực tế của tỉnh Điện Biên hiện nay cũng như các quan điểm và định hướng phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu công -nông nghiệp

và dịch vụ của tỉnh trong giai đoạn từ nay tới 2020, có tính tới các tác động từ việc phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng Tây Bắc, của cả nước cũng như tác động của quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới đã đưa ra cơ cấu và chỉ tiêu phát triển kinh tế như sau

Trang 27

2 1.4.2 Cơ cấu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này là 12,19%/năm thì ngành nông - lâm nghiệp tăng bình quân cả giai đoạn 2004 - 2020 là 8,16%, thương mại - dịch vụ tăng bình quân 12,97% giai đoạn 2004 - 2020 Trong ngành công nghiệp xây dựng tốc độ tăng bình quân là 15,53% giai đoạn 2004 - 2020 Trong đó tăng trưởng GDP công nghiệp giai đoạn đến 2010 là 15%/năm, giai đoạn

2011 - 2015 là 15,5%/năm, 2016 - 2020 là 16,2%/năm

Mục tiêu định lượng về phát triển kinh tế của tỉnh đến 2020 sẽ là: GDP bình quân đầu người đạt tối thiểu khoảng 15,13 triệu đồng/người (giá cố định 1994) Cơ cấu kinh tế tới 2020 của tỉnh sẽ dịch chuyển theo hướng: Thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, nông - lâm nghiệp

Bảng 2.14 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2020

Tổng GDP (giá cố định 1994) Tỷ đồng 6.211

GDP bình quân/người (giá cố định 1994) Triệu

đồng/người 10,778

Số người trong độ tuổi lao động Người 292.280

Tỷ lệ LĐ được đào tạo trong tổng số LĐ % 39

Trang 28

2 1.4.3 Các giải pháp cơ bản phát triển kinh tế

Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn năm trước Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tạo bước chuyển rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp, nâng cao vai trò của khoa học, công nghệ đóng góp vào yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, cần thực hiện tốt những giải pháp sau:

- Giải pháp về vốn và nguồn vốn để thực hiện những mục tiêu trong quy hoạch

- Giải pháp về thị trường

- Giải pháp phát triển khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường

- Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

- Giải pháp chính sách về tài chính - tín dụng

- Giải pháp về nâng cao năng lực tổ chức, quản lý

2 1.4.4 Định hướng phát triển Nông nghiệp

a Định hướng phát triển

Phát triển mạnh sản xuất lương thực theo hướng sản xuất hàng hoá, đáp ứng cho tiêu dùng nội tỉnh và cung cấp lương thực hàng hoá cho nhu cầu trên các công trường thuỷ điện Sơn La, Nậm Nhùn Tăng lượng dự trữ, đảm bảo an ninh lương thực Tổng sản lượng lương thực năm 2010 phải đạt mức 215.000 -220.000 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 450 kg/người/năm Nhịp độ phát triển bình quân giai đoạn đến năm 2010 đạt 4,7%/năm Tổng sản lượng lương thực đến năm

2020 ước đạt 250.000 tấn, bình quân đầu người đạt 468 kg/người/năm

Đẩy mạnh thâm canh, phát huy tối đa khả năng canh tác của đất, mở rộng phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao để tăng hiệu quả lao động, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích

Phát triển mạnh chăn nuôi, khuyến khích phát triển chăn nuôi đại gia súc tập trung để cung cấp thực phẩm hàng hoá cho tiêu dùng nội tỉnh và nhu cầu thực phẩm của các công trình xây dựng lớn

b Mục tiêu và nhịp độ phát triển ngành nông - lâm nghiệp

Trang 29

- Phấn đấu giá trị sản xuất khu vực nông - lâm nghiệp đạt nhịp độ phát triển bình quân 6,1%/năm, giá trị tăng thêm đạt nhịp độ phát triển bình quân 5,8%, trong

đó nông nghiệp tăng 5,23%, lâm nghiệp tăng 7%, thuỷ sản tăng 11,8%

- Quy mô đất nông nghiệp đến năm 2010 đạt 114.691 ha, tăng thêm 6.609 ha

so với năm 2005 Trong đó, diện tích lúa ruộng đạt 19.048 ha Bình quân mỗi hộ nông nghiệp có 1,6 ha đất canh tác Dự ước đến năm 2020 diện tích canh tác hàng năm là 134.378 ha, trong đó diện tích lúa đạt 40.500 ha, sản lượng 162.100 tấn, diện tích ngô 29.000 ha, sản lượng 87.000 tấn

- Tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp lên 25% Chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn để 65% nông dân làm nông - lâm nghiệp và 35% làm tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Tăng thu nhập bình quân của

hộ nông dân lên gấp 3 lần so với hiện nay

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

c Ngành trồng trọt

Giá trị của ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn khu vực nông lâm nghiệp với tỷ lệ 60,7% Quy mô diện tích canh tác các loại cây lương thực dự kiến 71.640

ha, chiếm 62% quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp Hệ số sử dụng ruộng đất đạt

1,8 lần Tăng diện tích các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập trung vào 2 loại cây công nghiệp chủ đạo là chè và đậu tương, phát triển một số loại cây ăn quả chuyên canh thành vùng tập trung

Các giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp:

- Nhanh chóng xây dựng hoàn thiện quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn đến năm 2010 và dự báo đến 2020 trong đó có quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất trọng điểm, đi liền với các cơ chế, chính sách hỗ trợ về giống, kỹ thuật canh tác, bao tiêu sản phẩm để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung

- Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ khai hoang, đầu tư xây dựng các hồ đập thuỷ lợi lớn để mở rộng diện tích canh tác lúa nước thêm 2000 - 3000 ha

Trang 30

- Tập trung đầu tư kiên cố hoá các công trình thuỷ lợi, nhất là hệ thống kênh mương để đảm bảo nước tưới, tăng diện tích lúa 2 vụ lên 8.500 ha, chiếm 50% diện tích ruộng

- Tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm, đưa vào sản xuất những giống cây trồng mới có năng suất cao, đảm bảo 100% diện tích lúa ruộng, 50 - 60% diện tích ngô được gieo trồng bằng các loại giống mới

- Tăng cường công tác khuyến nông, đầu tư mô hình thí điểm để phát triển các loại cây trồng khác trên đất 1 vụ và 2 vụ lúa

- Xây dựng hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với sản xuất nông nghiệp tập trung, đặc biệt là chính sách tín dụng đối với trồng cây công nghiệp dài ngày

- Củng cố các trạm, trại, trung tâm giống lúa, cây trồng cạn, đầu tư xây dựng các trung tâm giống về gia súc, gia cầm để cung cấp các loại cây, con giống có năng suất chất lượng cao và phù hợp với điều kiện địa phương vào sản xuất

Bảng 2.15 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020

Trang 31

TT Loại đất Diện tích

Hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm bao gồm hai công trình đầu mối

là đập dâng Nậm Rốm, hồ Pa Khoang và hệ thống kênh

Đập tràn, cống xả cát và cống lấy nước

- Kênh chính;

- 2 kênh cấp 1(kênh tả và kênh hữu);

- 76 kênh cấp 2: T1; T2A; T2B; T3; T4; T5; T6; T7; T8A; T8B; T9A; T9B; T10A; T10B; T11A; T11B; T12A; T12B; T12C; T12D; T13;T14; T15A; T15B; T15C; T15D; T16A; T16B; T16C; T16D; T16Đ; T16E; T16F; T16G; T17; T17A;

Trang 32

T18; N1; N2; N3; N4A;N4B; N5; N6A; N6B; N7; N8; N9; N10; N10A; N11; N12; N13A; N13B; N14; N15A; N15B; N15C; N16; N17A; N17B; N18A; N18B; N19A; N19B; N19C; N19D; N20; N21; N22; N23; N23A; N23B; N24A; N24B; N25

Bảng 2.16 : Các thông số kỹ thuật chủ yếu của các công trình mục đầu mối

Trang 33

TT Thông số chủ yếu Đơn vị Trị số

Chiều dài (m)

H k (m)

Cho đến nay hệ thống đã trải qua 4 lần sửa chữa lớn vào các năm 1998,

2000, 2003, 2006 Ngoài ra hàng năm công trình thường xuyên được duy tu, bảo dưỡng và kiên cố hóa dần hệ thống kênh mương

2 3.2.3 Hiện trạng của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm

a Nguồn nước của hệ thống

Hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm tận dụng lưu lượng cơ bản của sông Nậm Rốmvới diện tích lưu vực tính đến đầu mối là 282 km2 Lưu lượng tại

Trang 34

đầu mối bình quân nhiều năm: Q0 = 8,65 m3/s, trong khi đó lưu lượng đầu kênh chính theo thiết kế Q = 3,7 m3/s như vậy chứng tỏ rằng nguồn nước đến đầu mối là dồi dào nhưng lưu lượng cơ bản của sông các tháng trong năm có nhiều thay đổi nên việc cấp nước gặp khó khăn Mùa mưa nước cấp cho sản xuất cần ít thì nước đến của sông lại nhiều Mùa khô nhu cầu cấp nước cần nhiều thì lưu lượng cơ bản của sông lại nhỏ do đó diện tích tưới một số khu vực trong vùng hưởng lợi từ công trình không được tưới

Vấn đề thiếu nước trên hệ thống để nhiều diện tích chưa được tưới là do kênh mương chưa được kiên cố hết, địa chất nhiều tuyến kênh đi qua kém nên làm khả năng chuyển tải của hệ thống kênh giảm, đồng thời việc phân phối nước chưa hợp lý

b Hiện trạng các hạng mục công trình trong hệ thống

- Cống lấy nước điều tiết bằng van kôn: Q = 3,85 m3

/s, D = 0,8m bị sự cố, ống thép tiếp tục phồng

Khảo sát năm 1991: Bê tông thân cống bị thấm ướt, nhiều chỗ nước thấm ra thành dòng, cường độ bê tông giảm vì vậy Bộ thủy lợi (nay là Bộ NN&PTNT) đã cho sửa chữa bằng cách luồn ống thép vào trong lòng cống và khoan phụt vữa xi măng để tăng khả năng chống thấm của cống

Trang 35

Khảo sát năm 1996: mặc dù đã được sửa chữa nhưng chưa giải quyết được triệt để Một số đoạn ống thép gần phía tháp bị phình, chỗ phình lớn nhất đo được ngày 28/6/1995 là 208mm Tuy vậy cống vẫn làm việc bình thường, không ảnh hưởng đến cấp nước phục vụ sản xuất nhưng để công trình làm việc ổn định, lâu dài cần có biện pháp sửa chữa

Biện pháp sửa chữa năm 1996: Xử lý đoạn ống phình, luồn thêm ống thép D

= 0,8m, L=14m đoạn còn lại, khống chế chế độ chảy trong cống luôn ở chế độ có áp bằng cách lắp đặt 1 van kôn tiêu năng kiểu giếng sau cống

Thời gian sửa chữa cống lấy nước lần 2(1996) đến nay đã hơn 10 năm, tại thời điểm sửa chữa, bê tông cống xuống cấp

Trang 36

Cống lấy nước và cống xả cát vẫn hoạt động tốt

Hình 2.3 Kênh chính

Trang 37

Hình 2.4 Kênh tả, kênh hữu

Các công trình trên kênh tả: bao gồm 36 cống lấy nước vào các kênh cấp II,

9 cầu máng và 1 tràn băng

Các công trình trên kênh hữu: bao gồm 40 cống lấy nước vào các kênh cấp

II, 10 cầu máng, 2 tràn băng, 1 Cống hộp và 1 xi phông

Hầu hết các công trình trên kênh được xây dựng từ lâu đến nay đã có biểu hiện xuống cấp, gây rò rỉ làm giảm hệ số sử dụng nước của hệ thống

+ Kênh cấp II

Có tổng cộng 76 kênh cấp II với chiều dài 104,3 km, đến nay đã kiên cố hóa được 35 kênh với chiều dài 60 km, còn lại là kênh đất

c Hiện trạng công tác tổ chức và cơ chế quản lý

Hiện nay hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm do công ty TNHH Quản lý Thủy nông Điện Biên quản lý Công ty có nhiệm vụ:

Cụm thủy nông thực hiện các chức năng và nhiệm vụ sau đây:

+ Trực tiếp vận hành công trình tưới tiêu, điều hòa phân phối nước

Trang 38

+ Kiểm tra và tu bổ, sửa chữa thường xuyên công trình

+ Bảo vệ công trình

+ Nghiệm thu kết quả tưới

+ Hướng dẫn đội thủy nông thực hiện tưới tiêu

2 3.3 Kết quả phục vụ sản xuất của hệ thống tưới

Từ khi được đưa vào khai thác, sử dụng công trình đại thủy nông Nậm Rốm

đã làm thay đổi một cách toàn diện nền sản xuất nông nghiệp của vùng lòng chảo Điện Biên, góp phần đưa năng suất lúa từ 5 - 6 tạ/ha lên 7 - 8 tấn/ha, đưa Điện Biên

từ chỗ thiếu lương thực thành địa phương tự chủ được về lương thực

Tuy nhiên do hệ thống kênh cấp II chưa được hoàn chỉnh và lượng nước đến của sông Nậm Rốm không đều trong năm và sau khi hồ Pa Khoang được bổ sung thêm nhiệm vụ phát triển du lịch nhiện tượng thiếu nước thường xảy ra vào mùa kiệt Theo báo cáo của Công ty TNHH Quản lý Thủy nông Điện Biên, công trình hiện tại chỉ tưới được cho 80% diện tích vụ Đông xuân và 70% diện tích vụ Hè thu

so với diện tích tưới thiết kế

BAN GIÁM ĐỐC

PHÒNG KINH TẾ

Cụm Đầu mối

Cụm

Pa Khoang

Cụm kênh

Tả

Cụm kênh Hữu

Trang 39

Mặt khác do công tác quản lý còn nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng sử dụng nước bừa bãi, gây lãng phí nước, ở nhiều nơi xẩy ra tình trạng đầu kênh thừa nước nhưng đến cuối kênh lại thiếu nước

2 3.4 Đánh giá khả năng phục vụ và các tồn tại của hệ thống công trình

2 3.4.1 Một số đánh giá tổng quan về chất lượng công trình

Hệ thống thủy nông Pa Khoang – Nậm Rốm là hệ thống thuỷ nông lớn nhất của tỉnh Điện Biên Công trình có nhiệm vụ cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp cho vùng lòng chảo Điện Biên nhưng do nguồn nước đến đầu mối phân bố không đều trong các tháng trong năm, nhiều tháng nhu cầu lượng nước cho sản xuất lớn mà nguồn nước thiếu cung cấp không đủ, nhiều tháng nhu cầu lượng nước cho sản xuất nhỏ mà nguồn nước lại nhiều mặt khác nhiều tuyến kênh đi qua vùng có điều kiện địa chất phức tạp nên thấm nước lớn, tổn thất qua các công trình trên kênh lớn, hàng năm bị ảnh hưởng của lũ lụt nên nhiều hạng mục bị xuống cấp chính vì vậy khả năng phục vụ tưới của toàn hệ thống giảm

Tuyến kênh cấp II chưa được đầu tư đồng bộ, vẫn còn 41 kênh với chiều dài 44,3 km là kênh đất

2.3.4.2 Về quản lý và khai thác hệ thống công trình

a Quản lý nước

Việc điều hành phân phối nước trên hệ thống được thực hiện trên cơ sở kế hoạch dùng nước của Công ty TNHH Quản lý Thủy nông Điện Biên lập theo từng thời vụ Phòng Kế hoạch – kỹ thuật của Công ty có trách nhiệm theo dõi thường xuyên và tổng hợp yêu cầu dùng nước trên toàn hệ thống để luôn đảm bảo việc cung cấp nước một cách hợp lý trong mùa hạn cũng như sự an toàn của công trình trong mùa mưa lũ

Do hiện trạng công trình chưa hoàn chỉnh và đồng bộ nên công tác quản lý nước của hệ thống chưa được thực hiện một cách đầy đủ Đối với hồ chứa thượng lưu đập dâng hiện nay chủ yếu là khống chế mực nước trong hồ theo từng tháng còn đối với kênh thì chưa có quy trình vận hành, chủ yếu chỉ khống chế mực nước tối đa cho phép trong kênh cũng như một số cống điều tiết quan trọng

Trang 40

Việc điều hành phân phối nước vẫn dựa trên yêu cầu mực nước tại các đầu kênh cấp I mà chưa tính toán cụ thể về kế hoạch dùng nước cũng như lượng nước cho từng thời đoạn Với những điều kiện trên, mặc dù có những năm, thời đoạn hệ thống thừa nước nhưng do việc điều phối không tốt nên vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước ở cuối kênh đặc biệt là những giai đoạn cấp nước căng thẳng cho vụ Hè Thu Theo số liệu thống kê của Công ty TNHH Quản lý Thủy nông Điện Biên lượng nước sử dụng của hệ thống có thời điểm còn khá lãng phí Mức tưới cho 1 ha lên đến 18.000 m3/ha/năm

b Quản lý khai thác công trình

2 3.4.3 Những tồn tại cần giải quyết của hệ thống

Là một hệ thống mà sự phát triển của nó lại gắn liền với sự phát triển kinh tế của vùng lòng chảo Điện Biên việc đầu tư tưới tiêu đã được chú ý đúng mực và đã phục vụ đắc lực cho việc sản xuất nông nghiệp trong vùng, tuy nhiên qua việc phân tích đánh gía hiện trạng, hệ thống tưới vẫn còn một số tồn tại nhất định cần khắc phục như sau:

+ Về mặt tưới: hệ số tưới của các kênh hiện nay thấp (0,6 ÷ 0.64 l/s/ha) nên cần nâng cao lên để đạt hệ số tưới mặt ruộng mới đảm bảo được các yêu cầu phục

vụ sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.17:  Các thông số kỹ thuật chủ yếu của kênh chính và kênh cấp I - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 2.17 Các thông số kỹ thuật chủ yếu của kênh chính và kênh cấp I (Trang 33)
Hình 2.1.  Đập dâng Nậm Rốm. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Hình 2.1. Đập dâng Nậm Rốm (Trang 35)
Hình 2.2.  Cống lấy nước và cống xả cát. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Hình 2.2. Cống lấy nước và cống xả cát (Trang 36)
Hình 2.3. Kênh chính. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Hình 2.3. Kênh chính (Trang 36)
Hình 2.4. Kênh  tả, kênh hữu. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Hình 2.4. Kênh tả, kênh hữu (Trang 37)
Hình 2.5.  Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động Công ty - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Hình 2.5. Sơ đồ bộ máy tổ chức hoạt động Công ty (Trang 38)
Bảng 3.6. Thời vụ và công thức tưới lúa đông xuân - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.6. Thời vụ và công thức tưới lúa đông xuân (Trang 46)
Bảng 3.12. Lượng nước dùng cho công nghiệp hiện tại - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.12. Lượng nước dùng cho công nghiệp hiện tại (Trang 53)
Bảng 3.13. Lượng nước dùng cho sinh hoạt hiện tại - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.13. Lượng nước dùng cho sinh hoạt hiện tại (Trang 54)
Bảng 3.16. Lượng nước dùng cho sinh hoạt năm 2020 - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.16. Lượng nước dùng cho sinh hoạt năm 2020 (Trang 58)
Bảng 3.18: Kết quả tính toán cân bằng nước hiện tại. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.18 Kết quả tính toán cân bằng nước hiện tại (Trang 63)
Bảng 3.19: Kết quả tính toán cân bằng nước năm 2020. - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 3.19 Kết quả tính toán cân bằng nước năm 2020 (Trang 64)
Bảng 4.3. Chế độ tưới tiết kiệm nước của lúa Đông Xuân - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.3. Chế độ tưới tiết kiệm nước của lúa Đông Xuân (Trang 73)
Bảng 4.4. Chế độ tưới tiết kiệm nước của lúa Hè Thu - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.4. Chế độ tưới tiết kiệm nước của lúa Hè Thu (Trang 78)
Phụ lục 3.9: Đồ thị quan hệ lượng bốc hơi mặt ruộng và nhu cầu nước của đậu tương Hè Thu - Nghiên cứu các giải pháp tăng diện tích tưới của hệ thống thủy nông Pa Khoang - Nậm Rốm, tỉnh Điện Biên
h ụ lục 3.9: Đồ thị quan hệ lượng bốc hơi mặt ruộng và nhu cầu nước của đậu tương Hè Thu (Trang 109)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm