1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam

225 874 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Thúc Đẩy Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Tại Việt Nam
Tác giả ThS. Đào Thị Minh, TS. Lờ Quốc Hưng, ThS. Nguyễn Thị Nguyệt, ThS. Lờ Thành Trung, CN. Ngụ Thị Thỳy Võn
Trường học Bộ Thông Tin Và Truyền Thông
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam

Trang 1

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CỤC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Cơ quan quản lý: Bộ Thông tin và Truyền thông

Đơn vị chủ trì: Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin

Hà Nội – 2007

Trang 2

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG CỤC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

¸µ

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM

Cơ quan quản lý: Bộ Thông tin và Truyền thông Đơn vị chủ trì: Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin Chủ trì đề tài: ThS Đào Thị Minh

Tham gia: TS Lê Quốc Hưng

ThS Lê Thành Trung

CN Ngô Thị Thúy Vân

Hà Nội – 2007

Trang 3

Và đương nhiên là hành động đi kèm theo hoàn toàn được quan tâm Trong chục năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng thúc đẩy mảng ứng dụng CNTT vào mọi mặt trong đời sống, xã hội Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, trong đó xác định: "CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội thế giới hiện đại

Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh

và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.”

Chỉ thị 58 đề ra mục tiêu đến năm 2010 CNTT Việt Nam “đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” và có chủ trương rất rõ về ứng dụng CNTT: “Ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước”; và “Mọi lĩnh vực hoạt động, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển”

Bộ Chính trị đã yêu cầu các cấp, các ngành triển khai thực hiện 5 nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

1) Ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội;

2) Tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng CNTT và phát triển CNTT;

3) Đẩy mạnh đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển CNTT; 4) Đẩy nhanh việc xây dựng mạng thông tin quốc gia, bao gồm hệ thống viễn thông và Internet Việt Nam;

5) Tăng cường, đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT

Trên cơ sở Chỉ thị 58, Đảng và Nhà nước đã có nhiều văn bản, quyết định về chương trình, kế hoạch phát triển ứng dụng CNTT cho từng giai đoạn (các văn bản này

sẽ được tóm tắt lại trong phần 2.1, chương 2 của đề tài này) và dài hạn Tuy nhiên, sau

Trang 4

đề xuất được các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT phát triển hơn nữa

là rất cần thiết Đây chính là lý do cơ bản để đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT tại Việt Nam”

1.2 MỘT SỐ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Do điều kiện hạn chế về kinh phí cũng như nhân lực thực hiện đề tài, đề tài này không tham vọng nhiều vào việc sẽ ra được các giải pháp tổng thể để thúc đẩy ứng dụng CNTT về mọi mặt trong đời sống, xã hội của đất nước Việt Nam trên cơ sở khảo sát tổng thể thực địa thực tế mà sẽ giới hạn trong một số điều kiện cụ thể sau:

- Nghiên cứu thực trạng được thông qua các báo cáo thực tế của các tỉnh thành, bộ ngành… cũng như dựa trên “Báo cáo tổng kết 5 năm (2001-2005) thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phương hướng nhiệm

vụ giai đoạn 2006-2010” được diễn ra trong tháng 6 năm 2007 vừa qua

- Nghiên cứu các văn bản đã được ban hành trong nước, các kinh nghiệm, học hỏi

từ một số nước láng giềng thông qua các tài liệu cũng như các khóa học nước ngoài của một số thành viên thực hiện đề tài

- Các ý kiến góp ý của một số chuyên gia về CNTT trong nước về phương hướng phát triển ứng dụng CNTT trong thời gian tới

- Các nhóm giải pháp sẽ được tập trung nhiều vào việc phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về CNTT của Bộ Thông tin và Truyền thông (trước đây là Bộ Bưu chính, Viễn thông)

1.3 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CẦN ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI

a Mục tiêu: Nhằm tìm ra một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT tại các bộ ngành, tỉnh thành, doanh nghiệp và các hiệp hội trên cơ sở hiện trạng, nhu cầu và những kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước để có giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT hiệu quả hơn

Trang 5

tổ chức (sẽ lấy tài liệu từ một số các bộ ngành, các tỉnh thành và Hiệp hội thông qua các báo cáo tổng kết 58 và dự thảo kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2007-2010 của các tỉnh thành và bộ ngành )

- Đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực (đối với Bộ Thông tin và Truyền thông: chủ yếu đề xuất các giải pháp về chính sách quản lý để thúc đẩy ƯDCNTT)

c Kết quả: Các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy mạnh ƯDCNTT tại Việt Nam

Trang 6

Chương 2 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ VĂN BẢN NHÀ NƯỚC

VÀ THỰC TIỄN NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ỨNG DỤNG CNTT

2.1 MỘT SỐ VĂN BẢN NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Sự ra đời của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) được xem như cuộc cách mạng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của mỗi nước trên thế giới, Việt Nam không

có lý do gì để đứng ngoài cuộc cách mạng này Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng với những cơ hội và thách thức đan xen của Việt Nam, CNTT-TT càng khẳng định rõ vị trí mang tính quyết định thành công trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Có thể nói đây là xu thế, là sức ép khách quan buộc chúng ta phải thúc đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT

Việc thúc đẩy ứng dụng CNTT là một quá trình lâu dài, có thành công nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thất bại Đảng và Chính phủ ta đã thể hiện rõ quyết tâm thông qua các định hướng chiến lược, luật và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

2.1.1 Hệ thống văn bản luật hiện có liên quan đến CNTT

Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm thấy được ý nghĩa chiến lược và vai trò quan trọng của CNTT-TT đối với quá trình CNH-HĐH đất nước Nhìn lại tổng thể, từ năm

1975, ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ đã hai lần ra nghị quyết: Nghị quyết

số 173-CP/1975 về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý

Nhà nước đã được ban hành và Nghị quyết số 245-CP/1976 về tăng cường quản lý và

sử dụng máy tính điện tử trong cả nước Bước đầu nâng cao nhận thức trong toàn xã hội

về vai trò của máy tính đối với phát triển đất nước Năm 1981, Bộ Chính trị trong Nghị

quyết số 37-NQ/TW đã chỉ rõ phải “hết sức chú trọng phục vụ thông tin cho lãnh đạo

và quản lý, đúng nhu cầu và bằng những hình thức thích hợp, góp phần nâng cao chất

quyết định của các cấp” Năm 1991, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số

26-NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đất nước, khẳng

định công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát

triển so với các nước công nghiệp tiên tiến Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị

quyết 49/CP và Kế hoạch Tổng thể về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90,

với mục tiêu chung là “xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu

hạ tầng về CNTT trong xã hội, có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý Nhà nước và trong các hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời tích cực xây dựng ngành công nghiệp CNTT thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩn bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế

kỷ 21” nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, an ninh,

chính trị, xã hội của đất nước Tháng 7/1999 Chính phủ đã ra quyết định thành lập Ban

Trang 7

Mở đầu là Chỉ thị 58/CT-TW đã tạo ra một môi trường pháp lý mới cho ứng dụng CNTT ở nước ta, tiếp tục triển khai định hướng của Đảng Trong những năm đầu của Thế kỷ XXI, Nhà nước đã tích cực ban hành các văn bản pháp luật để ngày càng củng

cố môi trường pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT

Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về CNTT-TT được ban hành từ năm 2001 đến nay được ghi trong Phụ lục 1 Trong đó phải kể đến 4 văn bản mức luật liên quan trực tiếp ứng dụng và phát triển CNTT, 16 nghị định của Chính phủ, 25 quyết định của Thủ tướng, nhiều quyết định, chỉ thị, thông tư của các Bộ ngành đã ban hành tạo hành lang pháp lý để triển khai phát triển CNTT-VT và Internet của Việt Nam

2.1.2 Các văn bản chính có liên quan đến thúc đẩy ứng dụng CNTT

Theo quan điểm thúc đẩy ứng dụng CNTT nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của người dân và doanh nghiệp để phát triển đất nước theo chỉ đạo định hướng của Đảng, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, Đảng và Nhà nước đã ban hành những văn bản như đã nêu trên (Phụ lục 1) Với những văn bản chính liên quan đến thúc đẩy ứng dụng CNTT, Nhóm nghiên cứu căn cứ vào các văn bản đã được ban hành, chia văn bản theo những nhóm, cần thiết để thúc đẩy ứng dụng CNTT, như sau: (1) sự quyết tâm của lãnh đạo; (2) nguồn nhân lực; (3) xây dựng và đảm bảo trao đổi dữ liệu, hạ tầng CNTT và truyền thông; (4) xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu; (5) tuyên truyền và nhận thức; (6) nguồn tài chính; và (7) cơ chế tổ chức và quản lý thực hiện

1) Sự quyết tâm của lãnh đạo

Sau khi Chỉ thị 58 ra đời, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành làm cơ sở ban đầu tạo môi trường xây dựng nền tảng cho ứng dụng CNTT trong nhiều hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ quy trình hoạt động truyền thống sang phương thức mới có sử dụng CNTT-TT là quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo kiên quyết đưa ra tầm nhìn chiến lược, mục tiêu và kế hoạch thúc đẩy ứng dụng CNTT, tiếp đó có chính sách, biện pháp nhằm

đạt được kết quả mong muốn đã đặt ra

Các nhà lãnh đạo vừa có chức năng đảm đương vai trò lãnh đạo chính trị, hiểu biết những phức tạp liên quan đến nhà nước điện tử (Nhóm nghiên cứu quy định gọi nhà nước điện tử với nghĩa nhà nước ứng dụng CNTT-TT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước, trong các hoạt động giao dịch giữa cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp) và cả những thay đổi về tổ chức do ảnh hưởng của CNTT-TT Những yếu tố này là rất cần thiết cho khả năng xây dựng, phát triển và sự thành công về ứng dụng CNTT

Các nhà lãnh đạo khẳng định tầm nhìn ứng dụng CNTT, xác định rõ những mục tiêu chính và những kết quả mong muốn, đưa ra các ưu tiên trong các thành phần của từng giai đoạn ứng dụng CNTT, huy động sự ủng hộ của chính quyền, huy động được các nguồn nhân lực và tài chính cần thiết Thêm nữa, là họ chịu trách nhiệm đối với quá trình thực hiện các kết quả của quá trình này

Trang 8

Vì mục tiêu của ứng dụng CNTT là bao gồm cả hỗ trợ cải cách hành chính trên một diện rộng, ứng dụng CNTT sẽ gây một ảnh hưởng lớn đến quản lý hành chính của chính phủ, do đó sẽ phải chịu một sự tranh luận rất mạnh trong nội bộ chính phủ, do đó yêu cầu lãnh đạo phải có sự cam kết và quyết tâm thực hiện

Những điều kiện trên có thể xem như những tiêu chí cần thiết đối với lãnh đạo ở các cấp, đặc biệt ở cấp Trung ương cần vào cuộc với các tiêu chí này để chỉ đạo từ trên xuống Tuy nhiên, đi cùng các tiêu chí này nhà lãnh đạo cần có những quyền hạn đủ mạnh, tích hợp cả về chính trị, hành chính và tài chính để thực thi và chịu trách nhiệm, là đối tượng điều chỉnh của những chế tài thích hợp trước nhiệm vụ thực hiện

Vấn đề này được đề cập đến trong Luật công nghệ thông tin, đặc biệt Nghị định Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan Nhà nước (Điều 44, Chương IV, Nghị định 64/2007/NĐ-CP)

có những kỹ năng trong phạm vi quản lý nhà nước kết hợp với những kỹ năng về thông

tin và CNTT-TT; thành phần thứ hai liên quan đến một cộng đồng lớn hơn - đó là các

công dân, họ cần biết sử dụng CNTT để có thể thụ hưởng một cách tối đa những lợi ích

từ các ứng dụng CNTT-TT; các doanh nghiệp, họ cần biết kết hợp chặt chẽ với CNTT

để tận dụng lợi thế của những ứng dụng CNTT trong kinh doanh; thành phần thứ ba liên

quan đến các doanh nghiệp CNTT, đặc biệt là các doanh nghiệp CNTT trong nước, họ cần có những kỹ năng cần thiết để trở thành chuyên gia CNTT đắc lực hợp tác với đơn

vị có nhu cầu đặt hàng (như khu vực chính phủ…) trong việc xây dựng các ứng dụng CNTT cho công tác nghiệp vụ của họ

Ứng dụng CNTT trong các cơ quan yêu cầu một loạt những kỹ năng mà các cơ

quan truyền thống có thể chưa có Những kỹ năng các cơ quan cần có để thực hiện có

thể được chia thành những mảng sau:

- Phát triển các hệ thống thông tin: Những công việc thuần túy thuộc về kỹ thuật như xây dựng các phần mềm ứng dụng, xây dựng CSDL, xây dựng thiết lập các mạng máy tính, viễn thông là những công việc nền tảng thường để các công ty CNTT chuyên nghiệp cung cấp Hoạt động này liên quan đến khái niệm thuê nguồn lực bên ngoài (outsourcing) Các cơ quan, tổ chức của nhà nước ứng dụng CNTT cần tập trung năng lực của mình để xác định loại hệ thống nào và những ứng dụng gì các cơ quan thấy cần thiết

và có thể làm được

- Quản lý chương trình, dự án: Những sáng kiến về ứng dụng CNTT trong các cơ quan có khuynh hướng phức tạp vì với một dịch vụ công cụ thể nào đó không chỉ liên quan tới một cơ quan chức năng, mà còn liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau và các

cơ quan tham gia với những vai trò khác nhau Việc quản lý thực hiện một sáng kiến ứng dụng CNTT, điều phối giữa các cơ quan và những chủ thể liên quan khác nhau,

Trang 9

đảm bảo thời hạn và các kết quả theo kế hoạch, đồng thời việc bao quát toàn bộ quá trình đòi hỏi các cơ quan có những kỹ năng quản lý chương trình, dự án Thực tế ở nước

ta việc phối kết hợp hoạt động giữa các cơ quan, nhất là giữa các cơ quan chính phủ cũng còn nhiều hạn chế

ứng dụng CNTT

- Quản lý thay đổi: Đi kèm với là cải cách tổ chức, phải đào tạo lại kỹ năng và bố trí lại nguồn nhân lực trong nội bộ các cơ quan Trong bối cảnh này, việc phản ứng lại những thay đổi có thể diễn ra Đòi hỏi cần có những chuyên gia từ phía chính phủ có kỹ năng quản lý thay đổi để hướng dẫn các cơ quan chính phủ trong suốt quá trình cơ cấu lại tổ chức này

- Quản lý việc mua sắm CNTT và truyền thông, quản lý việc thuê nhân lực bên ngoài: Chính phủ cần phải là "người mua thông minh" cơ sở hạ tầng và dịch vụ CNTT-TT, có khả năng xác định cụ thể nhu cầu của mình, quản lý quá trình mua sắm, quản lý các nhà cung cấp

Để đương đầu với những thách thức trên, ở Việt Nam, các cơ quan chính phủ cần

có kế hoạch và xem xét lại những tiêu chuẩn tuyển dụng, đào tạo và đào tạo lại các

công chức Cần có chính sách phù hợp như chức danh, chế độ tiền lương ưu đãi, đào tạo và đào tạo lại để thu hút và không mất các công chức có năng lực phù hợp với

thực tế ứng dụng CNTT hiện nay

Đối với giáo dục cộng đồng, cần có chính sách xã hội hoá giáo dục công dân điện

tử và doanh nhân điện tử

Đối với lực lượng chuyên gia về CNTT, cần phải xây dựng cho họ một năng lực

thực sự có thể cung cấp được những giải pháp toàn diện đặc biệt trong những bài toán cần ứng dụng CNTT, đặc biệt về Chính phủ điện tử (CPĐT) Chúng ta là nước nghèo, việc thuê các chuyên gia nước ngoài là rất đắt và chúng ta đang cần tìm kiếm thị trường

mà thị trường trong nước lại đánh mất là một điều cần xem xét Cần có chiến lược kêu gọi đồng bào Việt kiều trở về đất nước giúp đỡ xây dựng hoặc giúp quản lý các chương trình, dự án CNTT Một điều rất quan trọng nữa là việc đào tạo các nhà quản lý CNTT, các nhà lãnh đạo CNTT và thông tin (CIO) của các cơ quan chính phủ

Vấn đề này được đề cập đến trong:

- Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ só 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005

- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (Chương II, mục 3)

Trang 10

- Chương trình phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin từ nay đến năm

2010 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 331/QĐ-TTg ngày 06/4/2004)

- Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020(Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007)

3) Xây dựng và đảm bảo trao đổi dữ liệu, hạ tầng CNTT-TT

Kinh nghiệm của các nước và trong nước cho thấy rằng khung quy chế trao đổi thông tin là một trong những yếu tố quyết định cho việc xây dựng thành công hệ thống ứng dụng CNTT Quy chế về trao đổi thông tin là một việc phải làm để tạo nền tảng cho

đa số các ứng dụng CNTT trong các cơ quan, tổ chức phải tuân theo Có thể nói, trường hợp ứng dụng CNTT không tuân thủ khung quy chế trao đổi thông tin được quy định gần như không có cơ hội hội nhập và tồn tại

Quá trình ứng dụng CNTT đòi hỏi phải thiết lập một loạt các tiêu chuẩn mang tính pháp lý và quy chế thích hợp, đặc biệt trong các cơ quan chính phủ, nhằm:

- Tích hợp và chia sẻ các hệ thống dữ liệu bên trong và giữa các cơ quan

- Bảo vệ sự riêng tư và an toàn thông tin cho các bên tham gia hệ thống đặc biệt là khu vực tư nhân khi họ sử dụng hệ thống thông tin công

- Hỗ trợ việc trao đổi trực tuyến, tương tác và giao dịch giữa các cơ quan chính phủ, công dân và doanh nghiệp

- Giao tiếp với người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua nhiều thiết

bị tuỳ theo người sử dụng lựa chọn như máy tính, điện thoại di động

Nhiều nơi trên thế giới, điều làm người ta lo ngại đối với việc ứng dụng CNTT, đặc biệt sử dụng hệ thống thông tin công, là vấn đề an toàn, an ninh môi trường truyền

và lưu trữ thông tin điện tử Một cuộc khảo sát tại Mỹ cho thấy đa số người dân đều có nguyện vọng tăng cường hơn nữa các dịch vụ hành chính trực tuyến của chính phủ Những dịch vụ mà họ thấy cần có sự ưu tiên trực tuyến là đăng ký kinh doanh, cấp thẻ môn bài, bằng lái xe, nộp thuế và khoản phạt, các thủ tin xin nhập học hay xin việc làm Hầu hết mọi người dân Mỹ đều tin rằng các dịch vụ này được cung cấp trực tuyến sẽ cải thiện hoạt động của chính phủ, người dân tin sau 10 năm nữa ảnh hưởng của CPĐT chủ yếu mang tính tích cực hơn là tiêu cực Tuy nhiên, với khoảng 2 phần 3 người dân lại mong muốn quá trình tiến triển các dịch vụ công của chính phủ chậm lại vì họ quan tâm

và e ngại vấn đề bảo mật, riêng tư và khả năng truy cập [Reports based on findings of

surveys conducted by Hart-Teeter for The Council for Excellence in Government,

January 2001] Cần đảm bảo bằng hệ thống luật pháp để bảo vệ thông tin, sự riêng tư, tội phạm máy tính trong thời đại số Luật về quyền sở hữu trí tuệ cần phải bao gồm cả việc bảo vệ quyền sở hữu nội dung điện tử Cần có luật pháp áp dụng cho "những thủ

tục điện tử" tương đương với các thủ tục giấy tờ truyền thống như chứng minh thư nhân

dân, ký và lưu trữ hồ sơ Do vậy, cần có luật về dịch vụ điện tử trong chính phủ, trong

đó bao gồm chữ ký điện tử, xác thực điện tử và cho phép lưu giữ bản ghi điện tử

Trong mọi thành phần của các hệ thống ứng dụng CNTT đều đòi hỏi cần có sự chuyển dịch theo hướng tăng cường chia sẻ thông tin trong nội bộ và giữa các cơ quan

chính phủ, để làm được như vậy, cần thiết phải xây dựng luật để xác nhận và điều chỉnh

Trang 11

sự truy nhập tới thông tin và dữ liệu tương ứng

Vấn đề này được đề cập trong:

- Luật giao dịch điện tử,

- Luật Công nghệ thông tin,

- Nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử),

- Nghị định Thương mại điện tử (số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006),

- Nghị định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (số 64/2007/NĐ-CP)

Để khai thác được sức mạnh của các hệ thống ứng dụng CNTT, cần phải tạo thuận lợi làm tăng khả năng tiếp cận của người dân tới chính phủ và ngược lại Muốn vậy thì

sự sẵn sàng và khả năng dễ truy cập tới các dịch vụ viễn thông - Internet cần được nâng

cao thông qua những chính sách mở cửa thị trường viễn thông phù hợp với các điều

kiện của đất nước nhằm đảm bảo tính cạnh tranh và thu hút đầu tư vào hạ tầng này Về vấn đề này, trong thời gian ngắn vừa qua Chính phủ Việt Nam đã làm tốt thông qua một loạt những văn bản như pháp lệnh, nghị định, chỉ thị và thông tư đã được ban hành và đang được thực thi có hiệu quả đáng kể Đó là:

- Luật công nghệ thông tin

- Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010 (Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/2/2006)

- Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông (Số: 43/2002/PL-UBTVQH10 được công bố ngày 7/6/2002)

- Nghị định số 55 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet (Số 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001)

Thêm nữa là công việc triển khai phần cứng, phần mềm cần được hỗ trợ bằng những chính sách về đầu tư và mua sắm phù hợp như đối với hệ thống thuế nhập khẩu

và tính khấu hao đối với các thiết bị phần cứng và phần mềm liên quan đến CNTT và truyền thông

Về vấn đề này được đề cập trong:

- Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/07/2006 quy định về việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

- Quyết định số 223/2006/QĐ-TTg ngày 04/10/2006 sửa đổi một số điều của Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/07/2006 quy định về việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

4) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu

Dữ liệu là nguồn lực cơ bản khi nói đến các giai đoạn ứng dụng CNTT trong các

cơ quan, tổ chức Việc chuẩn hoá dữ liệu là vấn đề lớn, là nguyên nhân chính làm giảm các chi phí giao dịch khi sử dụng lại các thông tin qua hệ thống này Đây cũng chính là

Trang 12

điểm mạnh của ứng dụng CNTT, giúp cho nhiều đối tượng, nhiều hoạt động được triển khai trên cùng một hạ tầng nền, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, tăng thêm sự minh bạch

và tin tưởng lẫn nhau trong hệ thống cán bộ chính phủ

Việc chuẩn hoá dữ liệu không dựa vào tiêu chí nội bộ của từng cơ quan, mà phải dựa vào chuẩn đã được nhất trí giữa các cơ quan và cơ quan sở hữu dự liệu buộc phải tuân theo để các chuẩn hoá dữ liệu này để dữ liệu trở thành tài nguyên chung cho nhiều

cơ quan khác cùng sử dụng

Theo quan điểm này, các qui định liên quan đến định dạng, thu thập, mã hoá, xử

lý, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu nên được các cơ quan có liên quan sử dụng cùng thống nhất

nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp được hiệu quả và minh bạch

Nhiệm vụ xây dựng chuẩn dữ liệu không phải là nhiệm vụ đơn giản, nhất là chuẩn mới được đề xuất khi mà nhiều tổ chức đã có sẵn chuẩn của riêng họ và cũng có thể có một cảm giác nản lòng nếu không có một ý chí lãnh đạo mạnh ủng hộ khi mà sau nhiều

lần tranh luận không một cơ quan đơn lẻ nào hài lòng với hệ thống chuẩn mới Vai trò lãnh đạo rất quyết định trong việc thúc đẩy xây dựng chuẩn dữ liệu chung, phối hợp các

cơ quan, hợp nhất các cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin, các thể loại tương tác, giao dịch trên mạng

Việc thu thập, chia sẻ thông tin cũng cần có quy định và chế tài để tránh việc không có thông tin hoặc cát cứ thông tin

Về việc này, nhóm nghiên cứu được biết:

- Trong khuôn khổ Đề án 112, có nghiên cứu xây dựng chuẩn thông tin nhưng chưa chính thức ban hành bằng văn bản pháp lý

- Bộ Thông tin và Truyền thông đang dự thảo quy chế về xây dựng, quản lý và khai thác CSDL

Muốn vậy cần đưa ra một chiến lược tuyên truyền, nâng cao nhận thức về những

lợi ích, triển vọng tiềm năng của việc ứng dụng CNTT Đồng thời phải thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo cao cấp, những nhà quản lý, các công chức, doanh nghiệp và công dân Chiến lược này cần được xem như một phần quan trọng trong quá trình ứng dụng CNTT, đặc biệt xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT)

Nói chung, việc tham gia của công dân vào quá trình ứng dụng CNTT không tự xảy ra và hơn nữa là cần giảm sự phân cách số trong mọi tầng lớp cộng đồng xã hội Thực tế đã tồn tại, ngay cả những nơi có trang bị cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông được trang bị khá đầy đủ, vẫn tồn tại nhiều người dân không có khả năng sử dụng các hạ

Trang 13

tầng này vì họ thiếu “nhận thức hoặc kiến thức điện tử” Nên cần có chính sách đào tạo

về kiến thức và nhận thức điện tử đối với người dân Các chính sách này cần xem xét

đến những yếu tố về tổ chức lớp học, ngôn ngữ, giới, tuổi tác

Hiện nay chúng ta đã phổ biến kiến thức về CNTT nói chung và thuật ngữ CPĐT nói riêng trên một số các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài, báo, tạp

chí, trang báo điện tử Song với giới báo chí, các nhà báo cần được nâng cao nhận thức về CPĐT và luôn cập nhật cho họ các thông tin về xu thế, các thành tựu của CNTT

và truyền thông và những ứng dụng trong lĩnh vực CPĐT trong và ngoài nước

Khi tương tác giao dịch giữa các cơ quan chính phủ, giữa người dân với chính phủ , cần có biện pháp tuyên truyền để tạo lòng tin giữa các bên tham gia và bảo đảm

an toàn, an ninh, riêng tư với những lợi ích rõ ràng cho các bên tham gia trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến

Bên cạnh đó cũng cần có những hội nghị, hội thảo và hội nghị chuyên đề trong nước

và quốc tế về CPĐT nhằm nâng cao nhận thức và có sự ủng hộ chính trị cho CPĐT Hoạt động này, Việt Nam đã thực hiện rất tích cực trong thời gian qua Nhưng vẫn chưa đạt tới ngưỡng để có thể ban hành được các băn bản liên quan đến thuật ngữ CPĐT

Về vấn đề này có đề cập trong Nghị định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của

cơ quan nhà nước (Nghị định số 64/2007/NĐ-CP)

6) Các nguồn tài chính

Việc đầu tư tài chính cho những sáng kiến ứng dụng CNTT ở mức nào sẽ phụ thuộc vào loại dự án mà chính phủ sẽ tham gia và kế hoạch thực hiện dự án Yêu cầu về tài chính đối với hệ thống ứng dụng CNTT có thể là lớn nhưng có thể là ít nếu so với đầu tư cho đường xá và y tế

Qua kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể thấy các nước đang phát triển cần

có biện pháp chính sách để kêu gọi nguồn kinh phí từ khu vực tư nhân và nguồn vốn từ các địa phương cùng đầu tư Nhất là đối với bản chất của việc xây dựng CPĐT nhằm tạo

ra tính liên thông giữa các cơ quan chính phủ thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính cần có những điều phối ngân sách Nhà nước hợp lý cho CPĐT

Cần thể hiện rõ quyết tâm và phát huy nội lực cho việc ứng dụng CNTT quốc gia thông qua những chính sách phù hợp và thực hiện quản lý tốt, ngoài ra cần kêu gọi sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của cộng đồng quốc tế

Vấn đề này được đề cập trong Nghị định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của

cơ quan nhà nước (Nghị định số 64/2007/NĐ-CP)

7) Cơ chế tổ chức và quản lý thực hiện

Với bản chất đặc thù của ứng dụng CNTT, đặc biệt là mối liên hệ chặt chẽ với cải cách hành chính, mang tính liên thông giữa các cơ quan hành chính Nhà nước, theo kinh nghiệm của nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po, Hàn Quốc đều thành lập cơ quan chỉ đạo điều phối quốc gia về CNTT Cơ quan này cần có quyền hạn và nhiệm vụ:

- Là cơ quan đưa ra chiến lược chỉ đạo từ trên xuống, điều phối thực hiện toàn bộ chương trình ứng dụng CNTT để đảm bảo những sáng kiến đơn lẻ được triển khai và

Trang 14

duy trì trong khuôn khổ hệ thống thống nhất;

- Tập trung được lực lượng các chủ thể có liên quan để xây dựng tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch ứng dụng CNTT;

- Phối hợp triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức;

- Thường xuyên đánh giá khả năng sẵn sàng điện tử để đề xuất việc sửa đổi văn bản pháp luật và cải cách tổ chức các cơ quan chính phủ cho phù hợp với yêu cầu của quá trình ứng dụng CNTT cũng như sự phối kết hợp với các chương trình khác như cải cách hành chính, chương trình giáo dục và đào tạo;

- Thúc đẩy việc chia sẻ thông tin và tri thức giữa các bên tham gia vào quá trình ứng dụng CNTT với các vai trò khác nhau, phổ biến những điển hình thành công trong nước cũng như quốc tế;

- Điều phối và giám sát sử dụng vốn cơ bản, xem xét đầu tư cho các sáng kiến mới;

- Giám sát, đánh giá và báo cáo tiến độ đạt được trong quá trình xây dựng các hệ thống ứng dụng CNTT

Cơ quan này đặc biệt quan trọng vì có trách nhiệm tìm ra được những sáng kiến đảm bảo sự hài hoà giữa tính nhất quán và tính đổi mới trong hệ thống toàn bộ chính phủ Những sáng kiến mang tính nhất quán sẽ dễ thuyết phục lãnh đạo hơn, song các sáng kiến lại mang tính đổi mới nhiều vì nguồn gốc xuất thân là từ các cơ sở chính quyền tiếp xúc trực tiếp với dân, doanh nghiệp

Về vấn đề này:

- Năm 2002, nhà nước ta đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Bộ Bưu chính Viễn thông nhằm đảm bảo việc định hướng và quản lý nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT

- Năm 2007, đã có quyết định thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm đẩy mạnh việc phát triển và ứng dụng CNTT trong môi trường tích hợp đa dạng ngày nay, ứng dụng CNTT tác động mạnh đến mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động của bất cứ nhà nước hoặc lĩnh vực nào trên thế giới

2.1.3 Giới thiệu Luật CNTT, Nghị định 64 liên quan đến ứng dụng CNTT

Nhóm nghiên cứu xin tóm tắt những nội dung chính của Luật CNTT và Nghị định

64, cơ sở pháp lý thực hiện thúc đẩy ứng dụng CNTT hiện nay ở Việt Nam

a) Luật CNTT: ngày 29/5/2006, Luật CNTT số 67/2006/QH11 được Quốc Hội

thông qua bao gồm 6 chương, 79 điều

Luật quy định “ứng dụng CNTT là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (khoản 5, Điều 4)

Luật có nêu Nhà nước có chính sách ưu tiên ứng dụng CNTT trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực thiết yếu (tại Điều 5)

Trang 15

Ứng dụng CNTT được nêu trong Chương II, bao gồm:

Mục 2: Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước (từ Điều 24 đến Điều 28)

Việc ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước được ưu tiên, phải thúc đẩy chương trình đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương trình cải cách hành chính Người đứng đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc ứng dụng CNTT thuộc thẩm quyền quản lý của mình

Chính phủ xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước gồm những nội dung: xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin; xây dựng, thu thập và duy trì cơ sở dữ liệu; xây dựng các biểu mẫu trao đổi trên môi trường mạng; thiết lập trang thông tin điện tử; Cung cấp, chia sẻ thông tin với cơ quan khác của Nhà nước; thực hiện việc cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng; xây dựng thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng CNTT của cán bộ và công chức

Hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng bao gồm: cung cấp, trao đổi, thu thập thông tin với tổ chức, cá nhân; chia sẻ thông tin trong nội bộ và với cơ quan khác của Nhà nước; cung cấp các dịch vụ công; các hoạt động khác theo quy định của Chính phủ

Mục 3: Ứng dụng CNTT trong thương mại (từ Điều 29 đến Điều 33)

Tổ chức, cá nhân có quyền ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại; có quyền thiết lập trang thông tin điện tử bán hàng bảo đảm các quy định theo yêu cầu; sở hữu trang thông tin điện tử bán hàng chịu trách nhiệm về nội dung thông tin cung cấp trên trang thông tin điện tử; Cung cấp thông tin cho việc giao kết hợp đồng trên môi trường mạng; Giải quyết hậu quả do lỗi nhập sai thông tin thương mại trên môi trường mạng; Nhà nước khuyến khích thanh toán trên môi trường mạng

Mục 4: Ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực (từ Điều 34-37)

Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong: Giáo dục và đào tạo;

Y tế; Văn hoá-thông tin

Hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ: Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Điều 64); Hỗ trợ người tàn tật (Điều 74)

Biện pháp bảo đảm ứng dụng CNTT:

1 Nguồn nhân lực: (Mục 2, Chương 3) có chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT; sử dụng nguồn nhân lực CNTT; khuyến khích phổ cập kiến thức CNTT trong phạm vi cả nước

2 Phát triển và bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu (Mục 1, Chương 4)

Cơ sở hạ tầng thông tin được định nghĩa là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu

Trang 16

Nhà nước có chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia;

Cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương

được thống nhất xây dựng và quản lý theo quy định của Chính phủ

Nhà nước có chính sách ưu tiên vốn đầu tư và có cơ chế hỗ trợ tài chính cho việc

xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ công ích và thu hẹp khoảng cách số

Có chính sách xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu Quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành

và địa phương

3 Đầu tư (Mục 2, Chương 4)

Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT để đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;

Đầu tư cho CNTT là đầu tư phát triển

Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách cho CNTT, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách cho CNTT hằng năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước

Mục lục ngân sách nhà nước có loại chi riêng về CNTT

Kết luận: Đây là một bộ luật đầu tiên trong lĩnh vực CNTT và là cơ sở pháp lý cho

hoạt động ứng dụng CNTT đất nước Về hoạt động ứng dụng, nội dung của Luật có quy định tất cả các ngành, các cấp đều phải ứng dụng CNTT Ứng dụng CNTT có một chương riêng quy định việc khuyến khích và tạo điều kiện cho tất cả các tổ chức, cá nhân, các ngành và các lĩnh vực đều được ứng dụng CNTT Khuyến khích ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước cũng là một trọng tâm của Luật và có thể nói đây là tiền đề quan trọng để phát triển CPĐT Luật đã đề cập đến hầu hết các yếu tố cần thiết

và làm sở cứ để thúc đẩy ứng dụng CNTT Tuy nhiên, để Luật có thể đi vào cuộc sống, còn cần xây dựng nhiều văn bản dưới Luật

b) Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định) bao gồm 5 chương với 56 điều Nghị định quy định nội dung và điều kiện bảo đảm ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (từ Điều 10 đến Điều 32); hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng (từ Điều 33 đến Điều 43); tổ chức thực hiện ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước

- Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định cho các trang thông tin của cơ quan nhà nước;

Trang 17

- Cung cấp các biểu mẫu điện tử, tiến đến có lộ trình cung cấp các dịch vụ hành chính công;

- Tạo ra thông tin dạng số và lưu trữ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định ở các cơ quan nhà nước;

- Áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn về kết nối mạng, trao đổi dữ liệu và thông tin theo kiến trúc chuẩn thông tin quốc gia;

- Thực hiện các nguyên tắc về an toàn thông tin;

- Quy định về kế hoạch ứng dụng CNTT và đầu tư cho ứng dụng CNTT được xem là đầu tư phát triển, hàng năm nhà nước có kế hoạch bố trí ngân sách cho ứng dụng CNTT

- Chính sách phát triển và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong cơ quan nhà nước;

- Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước để chỉ đạo ứng dụng CNTT, tổ chức các bộ máy chuyên trách về ứng dụng CNTT tại các bộ, ngành và địa phương

- Quy định về quy trình hoạt động ứng dụng CNTT phù hợp với chương trình cải cách hành chính của Chính phủ

Kết luận: Nghị định 64 ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng

CNTT trong các cơ quan nhà nước hiện nay, cơ sở pháp lý mang tính hệ thống và đầy

đủ những yếu tố cần thiết để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, đặt nền móng pháp lý ban đầu cho việc xây dựng chính phủ điện tử Tuy nhiên, để triển khai Nghị định còn cần phải xây dựng nhiều quy chế, quy định và chính sách cụ thể, chi tiết hơn mới có thể tạo tiền đề cụ thể để thúc đẩy ứng dụng CNTT phát triển ở nước ta

2.2 TIN HỌC HÓA VÀ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ

NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trước khi đặt vấn đề nghiên cứu tình hình ứng dụng CNTT và xây dựng CPĐT của một số nước trên thế giới, nhóm nghiên cứu đề tài thấy cần phải đưa ra những tiêu chí nhất định để lựa chọn quốc gia nghiên cứu sao cho gần gũi và phù hợp với Việt Nam nhất, có tính khả thi với Việt Nam Dưới đây là một số tiêu chí đưa ra của nhóm nghiên cứu đề tài:

- Những nước được coi là thành công trong việc xây dựng CPĐT

- Những nước có cơ cấu tổ chức hành chính, điều kiện xã hội tương đồng với Việt Nam

- Có khả năng khai thác tư liệu tương đối thỏa mãn với các nội dung đặt ra của nhóm nghiên cứu

Dựa trên những tiêu chí này, một số nước được chọn nghiên cứu:

- Xin-ga-po: là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có trình độ phát triển triển CNTT và CPĐT hàng đầu thế giới

- Hàn Quốc và Nhật Bản: là các nước thuộc châu Á có truyền thống, phong tục gần gũi với Việt Nam Hiện là hai nước được xếp hạng thuộc nhóm các nước đứng đầu thế giới về phát triển, ứng dụng CNTT và xây dựng CPĐT

- Ai Cập: Là đất nước thuộc châu Phi, có điểm xuất phát về xây dựng CPĐT tương

Trang 18

đương với Việt Nam Mặc dù chưa phải là đất nước dẫn đầu về chính phủ điện điện tử nhưng trong những năm vừa qua, Ai Cập được đánh giá là điểm sáng, là nước thành công trên thế giới trong việc xây dựng CPĐT

Để tiện cho việc trình bày, nhóm nghiên cứu xếp thứ tự ưu tiên tham khảo của Việt Nam như sau: (1) Hàn Quốc; (2) Nhật Bản; (3) Ai Cập và (4) Xin-ga-po

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu báo cáo, tài tiệu, thông tin trên các trang tin điện tử; các bài giảng của một số thành viên được sang các nước nói trên để học, nghiên cứu về CNTT và xây dựng CPĐT; tìm hiểu các dịch vụ trực tuyến được cung cấp trên cổng thông tin điện tử của quốc gia được lựa chọn

2.2.1 Tin học hoá và xây dựng CPĐT ở Hàn Quốc

Các giai đoạn phát triển chính về tin học hoá và xây dựng CPĐT

Nhìn chung, mục đích chủ yếu của tin học hóa và phát triển CPĐT Hàn Quốc bao gồm: lấy nhu cầu của dân chúng làm trung tâm, cung cấp dịch vụ công cộng có chất lượng cao; đơn giản hoá qui trình quản lý của chính phủ, nâng cao hiệu suất công tác của chính phủ; thúc đẩy cải cách hành chính của chính phủ Lịch trình phát triển tin học hoá và xây dựng CPĐT ở Hàn quốc đã trải qua 4 giai đoạn, hiện đang trong giai đoạn tích hợp ở mức độ tương đối cao (thúc đẩy hệ thống tích hợp chính phủ theo phương thức “mọi nơi, mọi lúc” và cung cấp các dịch vụ loại thông minh)

Giai đoạn một (1977 – 1996), Chính phủ Hàn Quốc trong thời gian 10 năm (1977 – 1986) đã tiến hành điện toán hoá hành chính lần thứ nhất; 10 năm tiếp theo (1987 – 1996) đã thúc đẩy xây dựng mạng điện toán hành chính lần thứ hai Qua 20 năm xây dựng điện toán hoá hành chính và xây dựng mạng điện toán hành chính, Hàn Quốc đã thực hiện tin học hoá và trực tuyến hoá các tài liệu chủ yếu chẳng hạn như đăng ký cư dân, đăng ký ôtô, đăng ký bất động sản Mục đích của các công trình thời kỳ này chỉ là nâng cao hiệu suất công tác trong nội bộ các cơ quan của chính phủ

Giai đoạn hai (1997 – 2000), vào năm 1996, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành

“Luật cơ bản Thúc đẩy Tin học hoá”, đã hoàn thành quy hoạch cơ bản thúc đẩy tin học hoá 5 năm lần thứ nhất; căn cứ quy hoạch cơ bản đã thực sự thúc đẩy tin học hoá hành chính Đặc điểm của thời kỳ này là coi trọng việc nối mạng công tác trong nội bộ cơ quan của chính phủ, áp dụng mạng cục bộ truyền thống (LAN), kỹ thuật tin học kết nối

hệ thống khách hàng dựa trên đĩa gốc máy chủ

Giai đoạn ba (2001 – 2006): căn cứ Luật CPĐT đã có hiệu lực năm 2001, Chính

phủ Hàn Quốc đã thông qua Ủy ban CPĐT, mở rộng tin học hoá hành chính, chính thức khởi động Chương trình CPĐT Mục tiêu chủ yếu của Chương trình CPĐT thời kỳ này

là đổi mới Chính phủ Hàn Quốc Đặc điểm của chương trình thời kỳ này là dùng Web

và Internet, coi trọng thúc đẩy dân chúng tham gia dịch vụ công cộng và hợp tác giữa các cơ quan của chính phủ

Giai đoạn bốn (từ 2007 trở đi): Sách lược cơ bản về CPĐT mà Chính phủ Hàn Quốc thúc đẩy trong 6 năm là tiến thêm một bước xây dựng CPĐT Cốt lõi của thời kỳ này là thông qua thúc đẩy chính phủ “mọi nơi, mọi lúc (Ubiquitous)” để điện toán mọi

Trang 19

nơi, mọi lúc (Ubiquitous computing) tích hợp hệ thống kỹ thuật Web và cung cấp các loại dịch vụ thông minh

CPĐT thế hệ mới của Hàn Quốc lấy cải thiện dịch vụ làm phương hướng chỉ đạo

Xác định ranh giới về khái niệm CPĐT thế hệ mới của các tổ chức quốc tế (chẳng hạn như của Liên hợp quốc), của các nước có thể khác nhau, nhưng quan điểm chung là khái niệm về CPĐT thế hệ mới bao hàm sử dụng kỹ thuật thông tin, tin học tiên tiến, thiết lập sự tin cậy, sáng tạo giá trị công dân Khái niệm CPĐT thế hệ mới của Hàn quốc

là áp dụng kỹ thuật tin học mới nhất, cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao và tăng cường chính sách của chính phủ, tăng cường mối quan hệ dựa vào nhau giữa công dân với chính phủ

Nhìn từ phương diện phục vụ công cộng, đặc trưng của phương hướng thúc đẩy

CPĐT thế hệ mới của Hàn Quốc là: 1) Chuyển biến từ phục vụ hướng đến cơ quan chính phủ là chính và tự động hoá bộ phận công tác của chính phủ sang chuyển biến phục vụ chủ yếu nhằm vào công dân và hợp tác không còn có khoảng cách giữa các cơ quan và liên kết, tích hợp giữa các hệ thống; 2) Từ phát triển phục vụ điện tử đến phục

vụ mọi nơi, mọi lúc, tức là từ kênh phục vụ đơn nhất trước kia, lấy người cung ứng làm

đối tượng chính phục vụ chuyển sang nhiều kênh phục vụ, lấy người sử dụng làm đối tượng chính, phục vụ có chọn lọc và phục vụ cho cá nhân có tính chất thông minh; 3)

Từ phục vụ theo chức năng là chính chuyển sang phục vụ xã hội, cũng tức là từ phục vụ

hành chính tiện lợi, phục vụ chính phủ, nhất là phục vụ chính phủ trung ương là chính chuyển sang phục vụ người sử dụng là chính, phục vụ quần chúng xã hội, đặc biệt là phục vụ sự liên kết giữa chính phủ trung ương và địa phương

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng CPĐT, cũng đã bộc lộ ra nhiều vấn đề thực tế,

ví dụ như độ tín nhiệm thực tế thấp kém, suất sử dụng của công dân đối với CPĐT không cao (số liệu năm 2006 là 47%) Cho nên nhiệm vụ thúc đẩy CPĐT thế hệ mới của Hàn Quốc là làm thế nào để nâng cao suất sử dụng và tín nhiệm của công dân đối với CPĐT Để giải quyết vấn đề nêu trên, Chính phủ Hàn Quốc đang xây dựng quy hoạch thúc đẩy CPĐT thế hệ mới

Để có thể hiểu rõ hơn về tiến trình phát triển tin học hoá và xây dựng CPĐT của Hàn Quốc, chúng ta có thể nghiên cứu kỹ hơn thông qua phần trình bày dưới đây:

Những vấn đề và những cơ hội về CPĐT của Hàn Quốc

2.2.1.1 Tầm nhìn về CPĐT của Hàn Quốc

- Chính phủ Một cửa – Bất kỳ nơi nào và 24/24 (One & Non & Any Stop Gov’t),

- Chính phủ Không giấy tờ và Không khoảng cách (Paperless & Buildingless Gov’t),

- Chính phủ tri thức (Thần kinh số ) (Knowledge Gov’t [Digital Nervous]),

- Chính phủ minh bạch (Clean Gov’t)

Những yếu tố cơ bản:

Thứ nhất, CPĐT phải làm tăng hiệu suất và hiệu quả bằng cách sử dụng CNTT

Trang 20

trong quản lý nhà nước Hơn nữa, cần cải thiện chất lượng sống của người dân như là mục tiêu cao nhất bằng cách xem xét tính minh bạch của quản lý nhà nước và tính dân chủ Thứ hai, CPĐT cần cung cấp các dịch vụ công đầy đủ và hiệu quả bằng cách áp dụng CNTT đúng những nơi thích hợp Để làm được điều này, các dịch vụ công phải được đổi mới theo các qui trình công việc định hướng đến người dân

Thứ ba, CPĐT phải được xây dựng và sắp xếp lại các qui trình quản lý nhà nước

và cần tính đến một nỗ lực có hệ thống để thay đổi các mô hình quản lý nhà nước

Thứ tư, CPĐT cần tham chiếu đến không chỉ là các dịch vụ công định thông tin mà còn phải là một mô hình chính phủ tiên tiến trong một xã hội thông tin và quan tâm đến tính cân bằng của xã hội thông qua các dịch vụ công được mở rộng theo các ý tưởng dân chủ, bình đẳng

2.2.1.2 Những yếu tố thành công và thất bại xây dựng CPĐT được Hàn Quốc nhận thức

Những yếu tố thành công được thể hiện trong sơ đồ hình 2.1 dưới đây (theo UNDPEPA & ASPA, 2002, 6)

Hình 2.1 Những yếu tố thành công xây dựng CPĐT

Trang 21

Những yếu tố dẫn đến thất bại về CPĐT được liệt kê sau đây như là những nhân tố dẫn đến thất bại khi các nước đang phát triển thực hiện CPĐT (xem bảng 2.1) (dựa theo báo cáo của UNDPEPA & ASPA, (2004 6)):

- Hệ thống quản lý nhà nước,

- Không đầy đủ các kế hoạch và các chiến lược,

- Thiếu nhân lực có khả năng, thỏa đáng,

- Chưa có kế hoạch đầu tư,

- Thiếu số lượng các nhà cung cấp IT và hệ thống,

- Các công nghệ chưa chín muồi

Bảng 2.1 dưới đây trình bày nguyên nhân và kết quả về các yếu tố dẫn đến thất bại

mà các nước đang phát triển phải đối mặt trong việc thực hiện CPĐT

Bảng 2.1 Phân tích các yếu tố dẫn đến thất bại về xây dựng CPĐT

Thất bại triển khai/ứng dụng hệ thống và đầu tư quá mức

Thiếu nhân lực có khả

năng

Thiếu về mặt số lượng các chuyên gia và đào tạo

Các kỹ năng sử dụng thông tin

công nghiệp IT

Thiếu về mặt số lượng các nhà cung cấp IT và thiết bị

Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật, tiếp tục khó khăn với các dự án

2.2.1.3 Lịch sử phát triển CPĐT của Hàn Quốc

Hình 2.2 trình bày lịch sử phát triển CPĐT Hàn Quốc trong đó, các chữ viết tắt là:

Hình 2.2 Lịch sử phát triển CPĐT của Hàn Quốc

Trang 22

BPR (Business Process Re-engineering): Sắp xếp lại qui trình hoạt động

EA (Enterprise Architechture): Kiến trúc tổ chức

TFT (Task Force Team): Đội đặc trách

Có thể thấy mối quan hệ giữa Chính phủ và công dân của Hàn Quốc được tóm tắt theo chiến lược CPĐT qua các giai đoạn như bảng 2.2:

Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân theo Chiến lược CPĐT

Giám sát Chính phủ

Loại IV

Chính phủ minh bạch tới người dân

Các dự án và những hiệu quả cơ bản

1) Kế hoạch cơ bản lần thứ nhất: Các dự án hệ thống thông tin cơ bản và mạng của quốc gia (1987 – 1996) (Nationwide Basic Information System & Network Projects)

- Chiến lược

- Giải pháp quản lý của Chính phủ từ trên xuống (Top-Down): Chính phủ như là một động cơ thúc đẩy (Lập kế hoạch)

- Đầu tư trước, sau khi dự án hoàn thành được Chính phủ trả tiền: Tiền được dùng

để cài đặt, thực hiện (Ngân sách)

- Đã ban hành “Luật Xúc tiến và Phát triển Mạng Máy tính” (Computer Network Proliferation & Promotion Act) (tháng 12 năm 1986): Luật như là một Công cụ thực thi

- Đã công bố “Ủy ban Chỉ đạo Mạng Máy tính” dưới Văn phòng Tổng thống: tháng 5 năm 1987: tổ chức dùng để phối hợp (Organization for Coordination)

Bảng 2.3 trình bày 6 hệ thống thông tin và mạng cơ bản được xây dựng trong giai đoạn kế hoạch 1987 – 1996

Bảng 2.3 Sáu hệ thống thông tin và mạng cơ bản

- Thay đổi đất đai

- Thay đổi quyển sở hữu đất đai/phát hành giấy chứng nhận

02/1991 273 cơ quan quản lý

nhà nước của thành phố, tỉnh, quận huyện

3) Quản lý xe cộ - Đăng ký xe cộ/phát hành giấy

chứng nhận

3/1990 168 tổ chức có liên quan

(59 cơ quan đăng ký và

Trang 23

- Quản lý thuế, tiền mặt

- Qui trình Hải quan/Vận tải

4/1990 109 tổ chức có liên

quan (Hải quan Seoul custom, 43 cơ quan vận tải, 3 ngân hàng)

5) Quản lý nhân

viên

- Thông tin nhân viên

- Thông tin hoạt động/Giáo dục

- Xây dựng Internet băng rộng, tốc độ cao,

- Tòan cầu hóa hệ thống quản lý có thể sử dụng Internet,

- Tạo ra đất nước Hàn Quốc là nước sử dụng máy tính tốt nhất trên thế giới (giáo dục, đào tạo 10 triệu dân),

- Xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý và thể chế dùng cho xã hội thông tin,

- Văn hóa an toàn và văn hóa điều khiển hợp lý (logíc)

b) Làm tăng hiệu suất trên toàn đất nước bằng cách sử dụng cơ sở hạ tầng tri thức

và thông tin:

- Xây dựng CPĐT gọn nhẹ nhưng có hiệu quả,

- Xây dựng hệ thống quản lý tri thức (KMS) dùng cho các ngành nhằm làm tăng hiệu suất,

- Làm tăng sức mạnh về khả năng cá nhân thông quan trại “người tri thức mới” (“new knowledge person” campaign)

c) Tạo ra nhiều công việc mới bằng cách sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin

+ Tạo ra các ngành mới dựa trên Internet,

+ Xúc tiến, thúc đẩy các ngành IT

Tóm lại, Cyber Korea 21 phản ánh tính cấp thiết sau cuộc khủng hoảng kinh tế, tạo

ra việc làm cho người dân

3 Kế hoạch cơ bản lần thứ ba: e-Korea Vision 2006 (2002-2006)

e-Korea Vision được dựa trên các thành tựu đã có và Hàn Quốc lúc này đang trở thành một nước đứng đầu tòan cầu về CNTT Có ba lĩnh vực quan tâm chính:

a) Tin học hóa quốc gia và xã hội

• Làm tăng cường học tập thông tin: Học tập suốt đời, hệ thống làm việc điện tử…

Trang 24

• Tin học hóa trong các ngành: thương mại điện tử,

• Tin học hóa trong các lĩnh vực công: các dịch vụ công trực tuyến, đổi mới các hoạt động công, nâng cấp CPĐT…

b) Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin

• Nâng cấp tính pháp lý và thể chế về phía xã hội thông tin,

• Tăng cường tính an toàn và độ tin cậy trong mạng thông tin điều khiển,

• Mở rộng NGI,

• Xúc tiến về mặt chiến lược các ngành IT

c) Tăng cường hợp tác quốc tế theo hướng xã hội thông tin toàn cầu

• Cơ hội trở thành quốc gia trung tâm ở vùng Đông Bắc châu Á (NE Asia),

• Dẫn đầu hợp tác quốc tế về IT,

• Phát triển mạnh cơ sở hạ tầng để thúc đẩy các công ty IT của Hàn Quốc để toàn cầu hóa

Tóm lại, kế hoạch này phản ánh được IT Korea đã được nâng cấp và nhấn mạnh đến vai trò của Hàn Quốc trong CNTT toàn cầu

2.2.1.4 Một số các vấn đề còn tồn tại

- Còn sự đua tranh và có các mâu thuẫn lác đác giữa các Bộ:

• Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (Ministry of Commerce, Industry and Energy – MoCIE): về Chính sách công nghiệp CNTT

• Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Hành chính và Nội vụ (MOGAHA – Ministry of Governement Administration & Home Affairs): về CPĐT

• Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Văn hóa và Du lịch (Ministry of Culture and Tourism – MCT): về các nội dung số

• Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Ủy ban Phát thanh – Truyền hình (Broadcasting Comm.): về hội tụ viễn thông với phát thanh và truyền hình

- Văn phòng quản lý Tin học hóa: được đặt tại Bộ Thông tin và Truyền thông nhưng lại có ảnh hưởng đến các bộ ngành khác theo hướng tin học hóa toàn bộ

- Vào lúc bắt đầu triển khai phải chi tiêu quá nhiều trong khi lại đạt được quá ít thành tựu Nguyên nhân là do:

• Đầu tiên, các hệ thống thông tin được đưa ra mà không có sự tiêu chuẩn hóa và không được sử dụng thường xuyên

• Khi mọi người bắt đầu sử dụng nó thì hệ thống đã trở nên quá cũ

• Các hệ thống được đưa ra mà không có các chuẩn bị về pháp lý và thể chế phù hợp

2.2.1.5 Các chiến lược thành công

(1) Thứ nhất, đánh giá trình độ các nguồn lực của đất nước để thực hiện CPĐT cũng như định hướng thông tin

Trang 25

(2) Cung cấp định hướng và tầm nhìn vững chắc để dịch chuyển đến giai đoạn tiếp theo của CPĐT

(3) Phân tích các vấn đề và các thành phần đã kỳ vọng mà sẽ hạn chế quá trình dịch chuyển đến mức tiếp theo của CPĐT

(4) Cung cấp các dặm phát triển chính và các lộ trình mà sẽ biến thành hiện thực các tầm nhìn và các mục tiêu của CPĐT

(5) Thiết lập các chiến lược dùng cho việc huy động ngân sách, các hệ thống điều hành, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác

2.2.1.6 Khung pháp lý CNTT&TT và Lịch sử phát triển CNTT&TT của Hàn Quốc

Khung pháp lý CNTT&TT được thể hiện trong hình 2.3

Hình 2.3 Sơ đồ khung pháp lý CNTT&TT của Hàn Quốc

Trang 26

2.2.1.7 Một số nội dung liên quan khác trong việc tổ chức triển khai tin học hoá và

Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổ chức Ủy ban Thúc đẩy Tin học hóa

b) Ủy ban Tổng thống về Đổi mới Chính phủ và Phi tập trung hóa (The Presidential Committee on Government Innovation and Decentralization - PCGID): cơ cấu tổ chức được trình bày trong hình 2.5 liên quan đến xây dựng CPĐT của Hàn Quốc

c) Giới thiệu vai trò của một số tổ chức hỗ trợ tin học hóa: Bảng 2.4 cho thấy vai

trò của một số tổ chức hỗ trợ tin học hóa được phản ánh cụ thể trong một số Luật liên quan của Hàn Quốc

2.2.1.8 Một số bài học và kinh nghiệm từ Hàn Quốc

1) Quá trình phát triển của Việt Nam từ trước cho đến nay gần giống với quá trình phát triển ban đầu của Hàn Quốc Đây là điểm rất quan trọng vì Việt Nam có thể rút ra được bài học và kinh nghiệm mà Hàn Quốc đã trải qua để rút ngắn giai đoạn phát triển

mà không vấp phải những gì Hàn Quốc đã vấp phải

2) Việc xây dựng CPĐT ở Hàn Quốc rất coi trọng quy hoạch thống nhất và tiêu chuẩn thống nhất, đã xây dựng quy hoạch cơ bản thúc đẩy tin học hoá Quy hoạch cơ bản này đã thúc đẩy tin học hoá hành chính chính thức

Trang 27

Hình 2.5 Ủy ban Tổng thống về Đổi mới Chính phủ và Phi tập trung hóa (PCGID)

và Tiểu ban CPĐT

Bảng 2.4 Vai trò chính của các tổ chức hỗ trợ cho Tin học hóa

Tổ chức Luật liên quan Các vai trò chính

Cơ quan điện

tóan hóa quốc

về Xúc tiến Tin học hóa

- Phát triển các Chính sách Tin học hóa

- Hỗ trợ thiết lập và thi hành các kế hoạch xúc tiến và hành động tin học hóa

- Xây dựng, khai thác các mạng IT và hệ thống chia sẻ thông tin dùng cho các tổ chức công

- Tiêu chuẩn hóa Thông tin và Truyền thông

- Đánh giá và kiểm toán quản lý nguồn lực và các dự án tin học hóa của các tổ chức công và hỗ trợ các thể chế liên quan

- Xây dựng một lộ trình cho các chính sách và các dự án làm giảm khoảng cách số

- Nghiên cứu, xuất bản và xúc tiến những nỗ lực làm giảm khoảng cách số và cải thiện những thể chế liên quan

- Bảo đảm cung cấp các dịch vụ IT cho người tàn tật và người già

- Các môi trường khuyến khích sử dụng các dịch vụ thông tin

và truyền thông tốc độ cao

- Cài đặt và khai thác các phương tiện sử dụng có hiệu quả thông tin

- Cung cấp giáo dục đào tạo về tin học hóa

- Thuyết phục và hỗ trợ các dự án liên kết để làm giảm khoảng cách số với các công ty đa quốc gia chẳng hạn như Microsoft, Intel và các tổ chức quốc tế chẳng hạn như ITU và APT

Cơ quan Bảo

và Bảo vệ thông tin cá nhân

- Đáp ứng các vi phạm bảo mật trên Internet và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật

- Bảo vệ cơ sở hạ tầng IT và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật

- Đánh giá bảo mật của các hệ thống thông tin và cung cấp hỗ trợ kỹ nghệ

- Phát triển các công nghệ bảo mật thông tin

Trang 28

3) Quá trình xây dựng CPĐT ở Hàn Quốc rất coi trọng các hoạt động lập pháp có liên quan với CPĐT, đã ban hành “Luật mở rộng phổ cập mạng điện toán và thúc đẩy việc sử dụng” (1986), “Luật cơ bản thúc đẩy tin học hoá” (1996), “Luật CPĐT” (2001)

4) Trong quá trình xây dựng CPĐT, Hàn Quốc rất coi trọng việc thông qua phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư để nâng cao hiệu quả đầu tư CPĐT

5) Để tin học hóa thành công thì cơ cấu tổ chức hoạt động của Ủy ban Tin học hóa hoặc Ủy ban Tổng thống về đổi mới CP đều có thêm bộ phận Tư vấn và bộ phận phân tích đánh giá gồm các thành viên là các chuyên gia từ các ngành công nghiệp, các trường đại học và các Viện nghiên cứu

6) CPĐT Hàn Quốc phát triển đã chú trọng đến việc lấy nhu cầu của dân chúng làm trung tâm, cung cấp dịch vụ công cộng có chất lượng cao; đơn giản hoá qui trình quản lý của chính phủ, nâng cao hiệu suất công tác của chính phủ; thúc đẩy cải cách hành chính của chính phủ luôn luôn áp dụng kỹ thuật tin học mới nhất và hiện hướng tới việc cung cấp các dịch vụ loại thông minh

7) Có mục đích, lộ trình và kế hoạch phát triển rất cụ thể, rõ ràng, ví dụ Giai đoạn

1977 – 1996 là nâng cao hiệu suất công tác trong nội bộ các cơ quan của chính phủ, Giai đoạn 1997 – 2000 là coi trọng việc nối mạng công tác trong nội bộ cơ quan của chính phủ, áp dụng mạng cục bộ truyền thống (LAN), Giai đoạn 2001 – 2006 là CPĐT làm đổi mới Chính phủ Hàn Quốc, thúc đẩy dân chúng tham gia dịch vụ công cộng và hợp tác giữa các cơ quan của chính phủ dựa trên dùng Web và Internet, Giai đoạn từ 2007 trở đi là phát triển CPĐT theo phương thức điện toán mọi nơi, mọi lúc (Ubiquitous computing), tích hợp hệ thống kỹ thuật Web và cung cấp các loại dịch vụ thông minh 8) Đặc biệt Hàn Quốc đã rút ra được một số yếu tố dẫn đến thành công mà Việt Nam có thể cũng dựa vào đó để áp dụng:

(1) Thứ nhất, đánh giá trình độ các nguồn lực của đất nước để thực hiện CPĐT cũng như định hướng thông tin

(2) Cung cấp định hướng và tầm nhìn vững chắc để dịch chuyển đến giai đoạn tiếp theo của CPĐT

(3) Phân tích các vấn đề và các thành phần đã kỳ vọng mà sẽ hạn chế quá trình dịch chuyển đến mức tiếp theo của CPĐT

(4) Cung cấp các dặm phát triển chính và các lộ trình mà sẽ biến thành hiện thực các tầm nhìn và các mục tiêu của CPĐT

(5) Thiết lập các chiến lược dùng cho việc huy động ngân sách, các hệ thống điều hành, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác

2.2.2 Tin học hóa và xây dựng CPĐT của Nhật Bản

2.2.2.1 Hiện trạng về tin học hóa và xây dựng CPĐT của Nhật Bản

Mặc dù chưa thuộc nhóm 10 nước đứng đầu về tin học hóa và xây dựng CPĐT, nhưng từ năm 2000 trở lại đây, Nhật Bản đã có bước đi vững chắc trong việc tin học hóa

và xây dựng CPĐT: năm 2001 mọi người dân có thể truy nhập Internet với giá rất hợp

Trang 29

lý; Năm 2002 xây dựng hạ tầng hệ thống và các quy tắc cho thương mại điện tử; Năm

2003, CPĐT được hiện thực hóa; Năm 2005 hoàn thành việc cho phép truy nhập Internet với tốc độ cực cao và nguồn nhân lực CNTT cao tương đương với Mỹ Trong 5 năm, từ năm 2003-2007, theo đánh giá về CNTT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, Nhật Bản luôn thuộc nhóm 20 quốc gia hành đầu về phát triển CPĐT [WEF] Năm

2007, theo đánh giá của đại học Waseda Nhật Bản, CPĐT của Nhật Bản được xếp hạng thứ tư (sau Mỹ, Xin-ga-po và Ca-na-đa) [Waseda]

Trong những năm gần đây, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng được hạ tầng CNTT tiên tiến nhất thế giới và đang đều đặn cung cấp thêm các dịch vụ trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp Từ 1% dịch vụ hành chính trực tuyến vào năm 2001, đến tháng 3/2005, 96% các dịch vụ hành chính công cấp quốc gia đã được đưa thành dịch vụ trực tuyến trong đó bao gồm cả dịch vụ trả và hoàn thuế quốc gia, môi trường giao dịch trực tuyến đã được hoàn thiện Nhiều Bộ của Nhật Bản đã cung cấp dịch vụ mua bán, đấu thầu chính phủ trực tuyến như Bộ Sức khỏe, Lao động và Phúc lợi xã hội (http://www.ebid.mhlw.go.jp ), Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (http://portal.bid.mext.go.jp), Bộ Tài chính (http://portal.bid.mof.go.jp),

Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Nhật Bản (http://www.e-gov.go.jp) là một trong số ít cổng thông tin chính phủ cho phép truy nhập qua mạng không dây từ các thiết

bị di động (m-Government) Công dân sử dụng dịch vụ có thể khai thác thông tin do Bộ Đất đai, Hạ tầng và giao thông cung cấp về tình trạng giao thông (đường đang bị tắc, cảnh báo giao thông, ), thời tiết, Thông qua thiết bị di động, người dân cũng có thể thông báo cho Chính phủ về những thông tin, thắc mắc hay vấn đề vướng mắc xảy ra Thông qua m-Goverment, nhiều bộ, ngành cung cung cấp những dịch vụ hiệu quả cho người dân và các tổ chức, ví dụ như: Bộ Ngoại giao cung cấp dịch vụ hướng dẫn cấp hộ chiếu và Visa; Bộ Công an cung cấp hình ảnh và thông tin về tội phạm cần truy nã; Đặc biệt Văn phòng Thủ tướng cũng cung cấp một loạt các thông tin thuộc nhiều lĩnh vực, cung cấp dịch vụ hỏi và trả lời các vấn đề về chính sách của chính phủ đã trở thành một công cụ sắc bén của Chính phủ

Để hỗ trợ và khuyến khích công dân khai thác, sử dụng các dịch vụ CPĐT, Nhật Bản đã thành lập Trung tâm Hỗ trợ khách hàng CPĐT Trung tâm tiếp nhận các yêu cầu qua Cổng thông tin điện tử cũng như điện thoại và Fax

Hiện tại, Chính phủ Nhật Bản đang nỗ lực thực hiện “Chiến lược cải cách CNTT mới” và Chương trình thúc đẩy nâng cấp CPĐT nhằm đi thẳng tới mục đích đáp ứng tốt nhất, thỏa mãn nhu cầu và làm người dân hài lòng với CNTT mọi lúc, mọi nơi

2.2.2.2 Các kế hoạch tin học hóa và phát triển CPĐT

Để đạt được những thành công như hiện nay về CPĐT, từ những năm 1990, Nhật Bản đã nỗ lực xây dựng hạ tầng CNTT Năm 1995 Nhật Bản đã ban hành Chính sách cơ bản thúc đẩy xã hội CNTT tiên tiến, tuy nhiên chính sách này dường như không được thành công vì còn có một chương trình khác với sáng kiến tiến thẳng tới CNTT Dưới tình hình như vậy, để tạo đà đưa Nhật Bản thành quốc gia CNTT tiên tiến, Chính phủ đã thông qua việc thay đổi khung pháp lý cho phép các giao dịch hành chính và thương mại

Trang 30

trực tuyến đồng thời với việc xây dựng một mạng cỡ lớn với băng thông rộng Để có cơ

sở thực hiện, năm 2000, Chính phủ đã ban hành “Luật Cơ bản để hình thành một Xã hội

mạng viễn thông tiên tiến” (Basic Law to formulate an Advanced Telecommunications Network Society hay còn gọi là IT Basic Law) nhằm mục đích xây dựng mạng truyền

thông và thông tin hiện đại nhất thế giới để người dân có thể truy nhập Internet dễ dàng với chi phí thấp

IT Basic Law đã thành lập Ban Chỉ đạo chiến lược CNTT (IT Strategic Headquarters) do Thủ tướng đứng đầu Sau khi được thành lập, Ban Chỉ đạo đã ban hành Chiến lược e-Japan (e-Japan Strategy) vào năm 2001 và năm 2003 đã ban hành Chiến lược e-Japan pha II (e-Japan Strategy II) với mục đích đưa Nhật Bản thành quốc

gia CNTT tiên tiến nhất thế giới vào năm 2005

Cùng với các chiến lược này, Ban Chỉ đạo hàng năm ban hành kế hoạch hành động

cụ thể được gọi là Chương trình chính sách ưu tiên CPĐT (e-Japan Priority Policy Program) Năm 2003, Hội đồng Giám đốc thông tin (Chief Information Officer (CIO) Council), được thành lập năm 2002 bao gồm tất cả các giám đốc CNTT của các Bộ, đã đưa ra Chương trình Xây dựng CPĐT (Program for Building e-Government) giai đoạn

2003-2005

Trong vòng 5 năm, qua Chương trình “e-Japan Strategy”, Nhật Bản đã xây dựng được hạ tầng CNTT tiên tiến nhất thế giới với băng thông rộng và khung cho cả khu vực công và khu vực tư nhân Tuy nhiên tại thời điểm đó, Nhật Bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ công như người dân mong đợi Để khắc phục điều này, tháng 01/2006, Ban Chỉ đạo đã xây dựng kế hoạch 5 năm “Chiến lược cải cách CNTT mới”

(New IT Reform Strategy) nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ tốt hơn cho người dân

và đáp ứng được mong đợi của họ

Hình 2.6 thể hiện lộ trình và kế hoạch xây dựng CPĐT của Nhật Bản Trong từng giai đoạn kế hoạch, Chính phủ Nhật Bản đã xác định rõ những mục tiêu, chính sách và các chương trình ưu tiên

Giai đoạn 2000-2002, Chiến lược e-Japan đầu tiên (e-Japan Strategy): Mục tiêu

trọng tâm giai đoạn này là xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT Ngay từ giai đoạn này, Nhật Bản đã xác định rõ mối quan hệ giữa khối cơ quan nhà nước và khối tư nhân, trong đó nhà nước giữ vai trò xây dựng môi trường, cơ chế và trực tiếp giữ vai trò người thực hiện trong các lĩnh vực phi tư nhân chẳng hạn như CPĐT, nghiên cứu triển khai, ; Khối

tư nhân là lực lượng triển khai

Giai đoạn 2003-2005, Chiến lược e-Japan II: Giai đoạn này xây dựng một loạt các

chính sách mới phục vụ triển khai các ứng dụng, xây dựng hạ tầng CNTT và công nghệ tiên tiến Nhật Bản tập trung thúc đẩy ứng dụng trong 7 lĩnh vực hàng đầu: các dịch vụ y

tế, thực phẩm, kiểu sống, tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tri thức, lao động việc làm và các dịch vụ công

Giai đoạn 2006 - 2010, Chiến lược cải cách CNTT mới: Chiến lược cải cách

CNTT mới đặt mục đích: Hiện thực hóa chiến lược xã hội mạng toàn cầu và có ở mọi nơi nhằm làm cho mọi người đều được hưởng lợi ích của CNTT Để đạt được mục đích, Nhật Bản đã xây dựng chương trình Chính sách ưu tiên (Priority Policy Program 2006) với 3 nội dung chính:

Trang 31

Hình 2.6 Kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử của Nhật Bản

a) Tiếp tục theo đuổi mục tiêu cải cách cấu trúc CNTT nhằm: Cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe qua CNTT, phấn đấu 100% xử lý trực tuyến cho bảo hiểm y tế; Môi trường xã hội thân thiện sử dụng CNTT; Xây dựng xã hội và môi trường giao thông mạng an toàn và tin cậy hàng đầu thế giới; Xây dựng CPĐT thuận tiện và hiệu quả nhất thế giới; Tăng cường khả năng kinh doanh thông qua việc sử dụng CNTT trong quản lý; Tạo xã hội thân thiện với môi trường ứng dụng CNTT

b) Phát triển hạ tầng CNTT với các mục tiêu: Xây dựng xã hội CNTT không có khoảng cách số; Thiết kế và tạo ra một xã hội CNTT an toàn nhất thế giới; Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng cạnh tranh với bất kỳ nước nào trên thế giới; Thúc đẩy nghiên cứu và triển khai (R&D) tạo nền móng cho xã hội CNTT thế hệ tiếp theo

c) Chia sẻ thông tin với thế giới nhằm đưa Nhật Bản thành một trung tâm thông tin hàng đầu thế giới

2.2.2.3 Bộ máy tổ chức triển khai các kế hoạch tin học hóa và xây dựng CPĐT của

Nhật Bản

Hình 2.7 thể hiện sơ đồ tổ chức bộ máy để tổ chức triển khai các kế hoạch tin học hóa và xây dựng CPĐT của Nhật Bản [JPICA]

Trang 32

Hình 2.7 Cơ cấu tổ chức thúc đẩy Chính phủ điện tử của Nhật Bản

Sau khi ban hành Luật IT cơ bản (IT Basic Law), tháng 01/2001 Nhật Bản đã thành lập Ban Chỉ đạo chiến lược CNTT (IT Strategic Headquarters) Đứng đầu Ban chỉ đạo là Thủ tướng, thành viên là tất cả các Bộ trưởng, một số đại diện của khối tư nhân

và khối nghiên cứu Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ hàng năm nghiên cứu tiến trình thực hiện vào mùa xuân và mùa thu, rà soát lại các chương trình triển khai, đánh giá và công bố kết quả của các chương trình Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo còn có nhiệm vụ thảo luận dựa trên kế hoạch, xác định hiệu quả và thúc đẩy việc triển khai

Dưới Ban Chỉ đạo có Hội đồng Giám đốc thông tin (CIO Council - Hội đồng CIO)

với thành viên là tất cả Giám đốc thông tin của các Bộ Hội đồng Giám đốc thông tin được thành lập vào tháng 9/2002

Dưới Hội đồng giám đốc thông tin có bộ máy giúp việc là Hội đồng thư ký Giám

đốc thông tin (Assistant CIOs Council) Hội đồng này được thành lập vào tháng 12/2003

với các thành viên là các chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật Hội đồng có nhiệm vụ hỗ trợ Hội đồng Giám đốc thông tin của Bộ phụ trách trong việc phân tích quy trình và tối ưu hóa

kế hoạch

Để thực hiện Chiến lược Cải cách CNTT mới, tháng 6/2006, Ủy ban Đánh giá CPĐT được thành lập dưới sự điều hành của Ban Chỉ đạo Chiến lược CNTT với các thành viên là các chuyên gia CNTT trong khối tư nhân Ủy ban triển khai CPĐT có nhiệm vụ hỗ trợ giải quyết nâng cao hiệu quả đối với các công việc liên ngành

Văn phòng quản lý chương trình Chính phủ (Government Program Management Office - GPMO) thành lập tháng 4/2006 có nhiệm vụ tối ưu hóa các tiến trình công việc

và hệ thống giữa các bộ Văn phòng có nhiệm vụ tăng cường chức năng quản lý liên bộ

Tại mỗi bộ, thành lập Văn phòng quản lý chương trình (Program Management

Trang 33

Office - PMO) Văn phòng chương trình của Bộ do Giám đốc Thông tin của bộ lãnh đạo

Văn phòng có nhiệm vụ quản lý toàn bộ các công việc của bộ, bao gồm: xây dựng kế hoạch, phát triển, điều hành và thực hiện các dự án dưới sự trợ giúp và hỗ trợ của Hội

đồng Thư ký Giám đốc thông tin (Assistants CIO)

2.2.2.4 Bài học kinh nghiệm

1) Xây dựng bộ máy điều hành chặt chẽ từ trung ương tới địa phương và giao trách nhiệm rõ ràng cho từng đơn vị Trong đó Ban Chỉ đạo Chiến lược CNTT có vai trò hết sức quan trọng trong việc hoạch định, tổ chức và đánh giá việc thực hiện các kế hoạch

đề ra và theo dõi để đảm bảo các dự án không có nội dung chồng chéo

2) Quyết tâm của Chính phủ: Chính phủ Nhật Bản thể hiện sự quyết tâm rất cao trong việc triển khai CPĐT Thủ tướng và toàn thể các Bộ trưởng đều tham gia vào Ban Chỉ đạo Chiến lược CNTT

3) Luôn tạo môi trường và kích thích các công ty ngoài nhà nước tham gia và đầu

tư vào việc tin học hóa xây dựng CPĐT

4) Nghiên cứu gắn liền với triển khai và nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra công nghệ nâng cao chất lượng dịch vụ

Ví dụ như các kết quả nghiên cứu đã giúp tăng tốc độ đường truyền tạo nên được mạng superInternet, mạng có tốc độ xử lý nhanh hơn 10.000 lần với quy mô tăng hơn 30.000 lần so với mạng Internet hiện tại đã đem lại cho người sử dụng thông tin nhanh, an toàn

và ổn định

6) Tạo được phép đo đánh giá kết quả thực hiện của từng kế hoạch, chương trình, dự

án Điều này giúp đánh giá đúng và đầy đủ kết quả thực hiện qua từng giai đoạn từ đó giúp cho có những điều chỉnh hợp lý đối với các kế hoạch, chương trình, dự án đã và đang thực hiện

7) Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng CPĐT và cải cách hành chính Tính hiệu quả và thành công của các dịch vụ công trực tuyến gắn liền với việc cải tiến quy trình xử lý hành chính một cách đồng bộ

8) Đào tạo nguồn nhân lực CNTT trình độ cao là một trong những yếu tố dẫn đến thành công trong việc xây dựng CPĐT

9) Kích thích người dân sử dụng các dịch vụ điện tử bằng việc nâng cao nhận thức và đưa thông tin đến tận tay người dân qua việc xây dựng các Trung tâm hỗ trợ khách hàng

2.2.3 Xây dựng CPĐT của Ai Cập

2.2.3.1 Hiện trạng về xây dựng CPĐT của Ai Cập

Vào năm 2003, theo đánh giá của Liên hợp quốc, Ai Cập được xếp hạng thứ 140

về mức độ sẵn sàng CPĐT (Việt Nam được xếp hạng: 97) và mức độ sẵn sàng của các thành phần CPĐT được xếp hạng 106 (Việt Nam được xếp hạng: 98) [UN2003]

Vào năm 2004, Ai Cập đã khai trương cổng dịch vụ CPĐT mới tại địa chỉ http://www.egypt.gov.eg với hai ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Ả Rập và tiếng Anh Đây là bước khởi đầu chính trong việc phối tích hợp thông tin và dịch vụ Cổng thông tin với giao diện thân thiện nhằm phục tiêu phục vụ người dân, khách nước ngoài và doanh nghiệp đã cung cấp các dịch vụ từ việc cung cấp thông tin cơ bản đến việc thanh

Trang 34

toán trực tuyến Các dịch vụ trực tuyến được cung cấp gồm có cấp giấy khai sinh, trả cước phí điện thoại và cấp lại bằng lái xe Trong năm này, mức độ sẵn sàng CPĐT của

Ai Cập, theo đánh giá của Liên hiệp quốc, đã tăng lên 4 bậc so với năm 2003 (từ 140 lên 136) [UN2004]

Vào năm 2005, Ai Cập đã có bước tiến bộ vượt bậc trong việc xây dựng CPĐT, mức độ xếp hạng sẵn sàng CPĐT theo đánh giá của Liên hiệp quốc đã tăng 37 bậc so với năm 2004 (từ 136 lên 99, trong khi Việt Nam lúc này được xếp hạng 105) [UN2005] Cổng thông tin chính phủ http://www.egypt.gov.eg với thông tin liên quan tới gần 700 dịch vụ Mặc dù tại thời điểm này phần lớn các bộ của Ai Cập chưa liên kết với cổng thông tin chính phủ nhưng nhiều bộ ngành đã xây dựng cổng thông tin riêng rất hữu dụng và hiệu quả như cổng thông tin về đầu tư http://www investment.gov.eg, cổng thông tin về Thông tin Ai Cập http://www.idsc.gov.eg CPĐT của Ai Cập đã được xác định định hướng tập trung vào sửa đổi lại các quy trình giải quyết công việc giữa Chính phủ và người dân Ai Cập bắt đầu xây dựng các thủ tục để làm trong suốt và minh bạch các dịch vụ của Chính phủ Ví dụ: quy trình xử lý đăng ký khai sinh, sao chụp giấy khai sinh, giấy khai tử đã thông suốt và người dân có thể dễ dàng truy cập qua đường điện thoại nóng và Internet Theo hướng này, Chính phủ Ai Cập đã bắt đầu trao quyền lực cho người dân và loại dần các cách thức làm việc truyền thống không còn phù hợp Hiện nay Ai Cập đã cung cấp cho người dân trên 700 dịch vụ công trực tuyến thông qua cổng thông tin quốc gia

2.2.3.2 Chính sách xây dựng CPĐT của Ai Cập

Xây dựng Ai Cập thành một xã hội thông tin là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Với chính sách này, Tổng thống Ai Cập Mubarak đã đem lại động lực thúc đẩy phát triển CNTT và truyền thông ở Ai Cập và liên kết chúng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính phủ Ai Cập với tư cách là người có quyền lợi trong xã hội đã cam kết xây dựng một xã hội thông tin Ai Cập, trong đó cung cấp cho mỗi cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng cơ hội sắc bén để hưởng lợi từ kỷ nguyên thông tin để hoàn thành các ưu tiên của quốc gia

Năm 1985, Ai Cập thành lập Trung tâm Hỗ trợ Thông tin và ra Quyết định quốc

gia (Cabinet Information and Decision Support Center - IDSC) để xây dựng ngành công

nghiệp CNTT và hạ tầng phục vụ quyết định của chính phủ IDSC tập trung thực hiện cam kết của Chính phủ và tiến tới tham gia vào cuộc cách mạng CNTT của thế giới Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là cung khả năng truy cập rộng rãi thông tin với sự tập trung vào việc hỗ trợ kinh doanh và đầu tư Trong vòng 8 năm, IDSC đã triển khai thành công nhiều dự án CNTT trong cải cách luật pháp, cải cách khối cơ quan công, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm, truy cập Internet, đăng ký kinh doanh, quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn di sản văn hóa, quy hoạch đô thị và các dự án tại các cấp bộ và chính phủ trong rất nhiều lĩnh vực

Tháng 9/1999, Ai Cập tuyên bố chương trình quốc gia phát triển CNTT và truyền thông Chương trình có mục đích tạo ra một xã hội thông tin tại Ai Cập và định hướng xuất khẩu công nghiệp CNTT

Tháng 10/1999, Ai Cập thành lập Bộ CNTT và Truyền thông (Ministry of

Trang 35

Communications and Information Technology - MCIT) Bộ CNTT-TT có nhiệm vụ xây

dựng Ai Cập thành xã hội thông tin

Năm 2000, Bộ CNTT-TT đã xây dựng Kế hoạch quốc gia về CNTT-TT Các dự án của Bộ CNTT-TT đã hướng thẳng tới việc hỗ trợ và thúc đẩy xã hội thông tin của Ai Cập gắn liền với các cơ quan chính phủ và khối tư nhân Kết quả Ai Cập đã xây dựng thành công hạ tầng truyền thông, thành lập hàng trăm câu lạc bộ CNTT, nâng cao trình

độ CNTT của người lao động và tạo ra nhiều CSDL và hệ thống thông tin quốc gia Kế hoạch quốc gia về CNTT-TT đã mở đường cho việc xây dựng Chương trình hành động

xã hội thông tin Ai Cập (Egyptian Information Society Initiative - EISI) vào năm 2003

Năm 2007, Ai Cập ban hành Chiến lược Công nghệ thông tin và Truyền thông Ai Cập giai đoạn 2007-2010 [EGYPT07]

2.2.3.2.1 Chương trình hành động xã hội thông tin Ai Cập

Tháng 10/2000, Ai Cập bắt đầu xây dựng kế hoạch xây dựng CPĐT, đến tháng 7/2001 chương trình bắt đầu được khởi động Đến năm 2003, Ai Cập bắt đầu Chương trình hành động xã hội thông tin Chương trình đặt mục đích: đến năm 2007, Ai Cập có thể đưa vào sử dụng các dịch vụ có chất lượng cao cho cộng đồng

1) Chương trình xác định 3 nguyên tắc cơ bản

- Dịch vụ tập trung cho công dân: Chính phủ Ai Cập đã đưa ra khẩu hiệu

“government now delivers” và định hướng xây dựng các dịch vụ mà người dân cần và cung cấp thông qua một cửa (one stop)

- Sự tham gia của cộng đồng: Các yêu cầu của người dân luôn được phân tích và cân nhắc kỹ lưỡng Các công ty nhà nước và tư nhân đều được tham gia quản lý và thực hiện các dự án

- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực của chính phủ: Năng suất, hạ giá thành và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là những kết quả mong muốn chính từ việc triển khai dự án

2) Các mục tiêu của Chương trình

- Đưa vào sử dụng các dịch vụ phục vụ người dân theo khuôn dạng phù hợp và cho phép chia sẻ trong quá trình tạo ra quyết định

- Tạo môi trường hiệu quả cho đầu tư thông qua các thủ tục thông suốt, dễ dàng truy cập các dịch vụ chính phủ và cung cấp các dịch vụ kinh doanh một cửa nhằm khuyến khích đầu tư từ trong và ngoài nước

- Cung cấp các thông tin cập nhật và chính xác hỗ trợ quá trình ra quyết định nhằm giúp đỡ việc lập kế hoạch và theo dõi trong quá trình triển khai

- Xây dựng các lý luận và thực hành mới của quản lý hiện đại trong chính phủ nhằm làm cho các hoạt động của chính phủ được hiệu quả

- Làm giảm chi phí chính phủ thông qua việc xây dựng các mô hình mới cho mua

sắm và lập kế hoạch tài nguyên doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP)

- Thúc đẩy sự cạnh tranh và tăng mức độ sẵn sàng để đảm bảo khả năng tích hợp trơn tru của chính phủ với cộng đồng trong nước và quốc tế

3) Các chính sách thực hiện

Trang 36

- Nhấn mạnh mối hợp tác giữa các đối tác chính phủ và tư nhân

- Chấp nhận các mô hình phát triển mới như thuê gia công (outsourcing) và kế

hoạch tự chủ tài chính

- Tư bản hóa các hệ thống đang tồn tại

- Phân quyền việc phân phát dịch vụ bằng cách cung cấp nhiều kênh phân phát truyền thông và các trung tâm cho thuê dịch vụ

- Trang bị và khuyến khích trao đổi thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan chính phủ

- Chỉ định xác thực điện tử

- Bảo hiểm chất lượng và tiêu chuẩn các giao dịch

- Xây dựng các văn phản quy phạm pháp luật yêu cầu cho việc xác thực, thanh toán điện tử và đảm bảo an ninh

- Ban hành các chương trình phát triển nguồn lực chuyên sâu và các kế hoạch khuyến khích thực hiện

4) Các dự án thành phần

Chương trình hành động xã hội thông tin Ai Cập bao gồm 4 dự án thành phần cơ bản: Dự án Hạ tầng cơ sở, Dự án Dịch vụ điện tử, Dự án Tự động hóa hoạt động trong các cơ quan nhà nước và Dự án CSDL kinh tế và hỗ trợ quyết định

i) Dự án Hạ tầng cơ sở: Dự án này bao gồm các dự án con trong 5 lĩnh vực:

a Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Mục đích của dự án là đưa ra các khái niệm về an toàn và tính riêng tư trong môi trường mạng tạo môi trường pháp lý của Ai Cập Dự án đã xây dựng và được Quốc hội thông qua Luật chữ ký điện tử Một số luật khác đã được đề cập xây dựng như luật tội phạm mạng, luật hợp đồng/khế ước điện tử

b Xây dựng các chuẩn: Chương trình đề xuất và xây dựng 4 bộ tài liệu chuẩn: Chuẩn về mạng và thông điệp điện tử, Chuẩn quản lý và phân loại tài liệu, Chuẩn giao tiếp và Chuẩn về an toàn thông tin

- Chuẩn về mạng và thông điệp điện tử: tài liệu định nghĩa các yêu cầu cơ bản để cung cấp các dịch vụ mạng, tiêu chuẩn xây dựng thông điệp và hệ thống cộng tác trong chính phủ

- Chuẩn quản lý và phân loại tài liệu: Chuẩn này đề cập đến các thủ tục để xây dựng hệ thống quản lý tài liệu và lưu trữ điện tử Chuẩn quy định quy trình quản lý tài liệu từ khởi tạo đến phê duyệt, xác định quyền truy nhập vàd định nghĩa các yêu cầu cho một hệ thống quản lý tài liệu điện tử

- Chuẩn giao tiếp: Chuẩn quy định các tiêu chuẩn, các giải pháp và quy tắc để đảm bảo việc tích hợp giữa các lớp ứng dụng khác nhau của chính phủ được thông suốt

- Chuẩn về an toàn thông tin: Tài liệu cung cấp các hướng dẫn cho việc tạo, triển khai và duy trì sự an toàn trong các tổ chức chính phủ

c Hạ tầng khóa công khai: Chương trình thiết kế và xây dựng Hệ thống khóa công khai của Ai Cập phục vụ mục đích đảm bảo tính an toàn và riêng tư của mạng chính phủ Hệ thống được Bộ CNTT-TT hợp tác với các bộ khác và các cơ quan thuộc chính

Trang 37

phủ và phối hợp với các công ty CNTT-TT và các trung tâm khoa học thiết kế và triển khai cho toàn chính phủ

d Sự sẵn sàng CNTT-TT: Ai Cập đã triển khai hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia lớn như Microsoft và Oracle để sử dụng bản quyền và phát triển các công cụ cho toàn bộ các cơ quan chính phủ và với sự thành lập mạng chính phủ đã cho phép dữ liệu truyền tải giữa các cơ quan chính phủ được thông suốt

e Cổng thông tin chính phủ: Các chuyên gia Ai Cập đã thiết kế và triển khai Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Cổng thông tin được tích hợp nhiều dịch vụ và cung cấp cho người sử dụng với giao diện thân thiện lấy người dân làm trung tâm Cổng thông tin gồm có bộ máy đăng ký và xác thực, bộ máy định tuyến giao dịch, bộ máy thanh toán điện tử và dịch vụ của nhiều nhà cung cấp và kết nối

ii Dự án Dịch vụ điện tử

Mục đích của dự án là xây dựng và đưa vào sử dụng toàn diện chương trình CPĐT phục vụ đời sống của người dân vào năm 2007 Dự án xây dựng các dịch vụ chính phủ nhằm đáp ứng được yêu cầu và mong đợi của người dân và các nhà đầu tư Dự án đưa ra văn hóa quản lý quan hệ khách hàng cho chính phủ, trong đó người dân được xem như khách hàng và các tổ chức chính phủ làm thỏa mãn các yêu cầu của người dân Các dịch

vụ chính phủ với nhiều bước được cải cách thành một bước thông qua công thông tin chính phủ

Tháng 10/2001, dịch vụ đầu tiên - thanh toán cước điện thoại được đưa vào thử nghiệm, trong đó Công ty Viễn thông Ai Cập cung cấp dịch vụ tra cứu và thanh toán cước điện thoại qua thẻ tín dụng

Một dự án quan trọng là xây dựng Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Cổng thông tin điện tử của Chính phủ được các đối tác Ai Cập phối hợp với Microsoft thiết

kế, xây dựng Năm 2004, cổng được khai trương với 19 dịch vụ trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp

iii Dự án Tự động hóa hoạt động trong các cơ quan nhà nước

Mục đích chính của dự án là ứng dụng CNTT-TT nhằm đem lại hiệu quả và giảm chi phí trong các hoạt động Dự án đề xuất việc tự động hóa thông qua một ‘gói’ các ứng dụng trong các cơ quan bao gồm trả lương, thanh toán, ngân sách, nhân sự, đầu tư

và mua sắm Bộ CNTT và Truyền thông của Ai Cập đã hoàn toàn được tự động hóa và triển khai ERP, các bộ khác đã bắt đầu triển khai Nội dung thứ hai là số hóa tài liệu quản lý Bước 1, dự án được triển khai thử nghiệm tại 5 bộ và Văn phòng Thủ tướng Nội dung thứ ba của dự án là tự động hóa xử lý kinh doanh nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của các dịch vụ cho người dân Trong dự án này, trên 28 dự án con đã được xây dựng và triển khai trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức

iv Dự án CSDL kinh tế và hỗ trợ quyết định

Mục tiêu của dự án là cung cấp thông tin chính xác cho việc ra quyết định thông qua việc biên tập, liên kết và khai phá các CSDL về kinh tế trong các ngành Dự án nhằm phục vụ không chỉ cho chính phủ mà còn cho cả cho các nhà đầu tư để phục vụ việc xây dựng các dự án khả thi và giảm rủi ro cho các dự án

Trang 38

2.2.3.2.2 Chiến lược CNTT-TT của Ai Cập giai đoạn 2007-2010

Chiến lược CNTT-TT của Ai Cập giai đoạn 2007-2010 củng cố và xây dựng CPĐT bằng sự hợp tác của chính phủ với khối tư nhân và xã hội dân sự Ai Cập xác định ICT là một trong các chìa khóa điều khiển sự phát triển và lớn mạnh của nền kinh

tế Ai Cập đã xác định các ưu tiên:

- Tiếp tục xây dựng hạ tầng CNTT-TT tiên tiến nhằm cung cấp môi trường cho CPĐT và kinh doanh trên toàn đất nước và kết nối với thế giới

- Tạo ra nền công nghiệp CNTT mạnh với định hướng xuất khẩu

- Thúc đẩy sự hợp tác nhà nước - tư nhân

- Làm cho xã hội tiếp thu và thu được lợi ích bằng việc mở rộng nguồn thông tin

- Tạo ra cộng đồng học tập mà các thành viên được truy cập tới tất cả các tài nguyên và thông tin mà họ yêu cầu không phụ thuộc giới tính và địa điểm

- Hỗ trợ phát triển các kỹ năng đáp ứng yêu cầu của công nghiệp CNTT-TT

- Hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới trong lĩnh vực CNTT-TT

Để đạt được các mục tiêu, Bộ CNTT-TT của Ai Cập thực hiện theo 3 hướng:

1 Tổ chức lại lĩnh vực CNTT-TT

i) Phát triển các dịch vụ và hạ tầng thông tin tiên tiến:

- Tích hợp hạ tầng của Ai Cập với hạ tầng toàn cầu thông qua:

+ Cấp phép hệ thống cáp biển với các tập đoàn quốc gia và các nhà cung cấp trong khu vực

+ Cấp phép các cổng quốc tế mới dành cho âm thanh và dữ liệu

- Triển khai kết nối băng thông rộng và các dịch vụ hội tụ trên toàn Ai Cập:

+ Cấp phép dịch vụ 3.5G cho các công ty ETISALAT và Vodafone trên đất nước Ai Cập

+ Trao đổi về việc cấp phép cho dải tần Wi-Max

+ Triển khai khung cơ cấu mới cho việc cấp phép các dịch vụ ‘triple play’ (đa

người dùng đồng thời) dành cho dữ liệu âm thanh và vi-đê-ô

ii) Cải cách lĩnh vực bưu điện

- Phát triển các dịch vụ bưu điện theo trình độ thế giới:

+ Ủng hộ việc tái tổ chức ENPO (Egyptian National Postal Organization)

+ Xây dựng mạng bưu điện hiện đại

- Tăng số lượng các công ty tư nhân trong việc lĩnh vực dịch vụ bưu điện:

+ Xây dựng khung và cơ chế điều chỉnh

+ Hợp tác với các nhà đầu tư mới trong lĩnh vực tài chính, các dịch vụ nhà nước

và xã hội

iii) Nâng cao khung cơ cấu dịch vụ và mạng CNTT

- Tích hợp Ai cập với khung thương mại toàn cầu trong lĩnh vực CNTT-TT

Trang 39

- Ban hành các chương trình để đảm bảo việc truy cập công bằng các dịch vụ viễn thông trên toàn Ai Cập: Tiếp tục triển khai kết nối hạ tầng cho vùng nông thôn

- Tăng cường bảo vệ thông tin cá nhân trong xã hội mạng và đấu tranh với tội phạm mạng và phá hoại nội dung số: Hợp tác với khối tư nhân xây dựng các cơ chế, hành động nhằm phát hiện, ngăn chặn các hoạt động tội phạm mạng; Xây dựng các luật phòng chống sử dụng sai mục đích; Đào tạo nâng cao nhận thức

- Nâng cao sự thâm nhập của CNTT vào đời sống

- Nâng cao chất lượng cuộc sống và các dịch vụ công bằng việc sử dụng mạng khai thác tri thức

- Mở rộng việc sử dụng các điểm bưu điện cung cấp các dịch vụ công

- Mở rộng kết nối Internet tốc độ cao cho toàn cộng đồng

- Đào tạo và khuyến khích thanh niên, người lao động nâng cao kỹ năng CNTT ii) CNTT-TT phục vụ giáo dục, đào tạo

Bộ thông tin và truyền thông kết hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo đào tạo

CNTT thông qua nhiều dự án đặc biệt là dự án Sáng kiến giáo dục Ai Cập (Egyptian Education Initiative - EEI) trong đó:

- Triển khai hợp tác với các công ty hàng đầu thế giới về CNTT như CISCO, Computer Associates, HP, IBM, Intel, Lucent, Microsoft, Oracle, Siemens;

- EEI chia làm bốn nhánh:

+ Đào tạo nâng cao: đào tạo nâng cao năng lực lập kế hoạch, triển khai và quản lý + Đào tạo đại học: xây dựng các hệ thống e-learning, e-content Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp xây dựng các phòng thí nghiệm e-Learning trong tất cả các trường đại học; xây dựng các câu lạc bộ CNTT trong các

trường đại học; Xây dựng mạng đào tạo và nghiên cứu Ai Cập (Egyptian Universities and Research Network - EURN), kết nối tất cả các trường đại học với các trung tâm

nghiên cứu qua Internet

+ Học suốt đời: xây dựng hạ tầng và nội dung cho học suốt đời

+ Phát triển công nghiệp CNTT: đào tạo chuyên gia CNTT qua đó khuyến khích công nghiệp xây dựng hệ thống e-Learning và e-Content

Trang 40

- Các dự án chính:

+ Tự động hóa 400 cơ sở chăm sóc sức khỏe chính

+ Hiện đại hóa các hệ thống cấp cứu

+ Xây dựng hệ thống khám bệnh từ xa

iv) Nội dung số

Xây dựng công nghiệp nội dung số Sáng kiến Arabic e-content đặt mục đích mở rộng khả năng cạnh tranh của công nghiệp nội dung số của Ai Cập bằng việc hỗ trợ sản xuất và phân tán nội dung số Arabic trên mạng toàn cầu

3 Đổi mới và phát triển công nghiệp CNTT-TT

- Thúc đẩy đầu tư và FDI cho CNTT-TT để đảm bảo tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 20%

- Phát triển môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư FDI, Business Process Outsourcing và Knowledge Process Outsourcing;

- Thực hiện chiến lược thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu CNTT-TT và dịch vụ từ

350 triệu USD trong năm 2007 lên 1.1 tỷ USD vào năm 2010, đồng thời tạo ra 20 nghìn việc làm

- Thực hiện chiến lược hợp tác đa quốc gia nhằm thúc đẩy tăng trưởng đầu tư, xuất khẩu, việc làm và chuyển giao công nghệ

2.2.3.3 Bài học kinh nghiệm từ Ai Cập

1 Sự quyết tâm và tầm nhìn của Lãnh đạo là yếu tố chính quyết định sự thành công

2 Có nhận thức tổng thể hơn về xây dựng hạ tầng cơ sở (không chỉ thuần tuý về hạ tầng mạng lưới, cung cấp dịch vụ viễn thông), bao gồm 5 lĩnh vực chính: (1) Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (2) Xây dựng các chuẩn; (3) Hạ tầng khóa công khai; (4)

Sự sẵn sàng CNTT-TT; (5) Cổng thông tin chính phủ

Xây dựng tốt các chuẩn, đây chính là yếu tố quan trọng, quyết định khả năng chia

sẻ, ghép nối giữa các hệ thống để tạo ra được một hệ thống chung thống nhất

3 Hợp tác nhà nước và tư nhân là chìa khóa cho sự phát triển CNTT-TT Đồng thời quyết tâm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của chính phủ

4 Xác định dịch vụ định hướng tập trung cho công dân để từ đó xây dựng các dịch

vụ mà người dân cần và cung cấp thông qua một cửa (phù hợp với định hướng cải cách hành chính ở nước ta)

5 Xác định việc xây dựng các chính sách phù hợp như các chính sách về mối hợp tác giữa đối tác chính phủ và tư nhân, chấp nhận các mô hình phát triển mới như thuê gia công (outsourcing) và kế hoạch tự chủ tài chính , các kế hoạch khuyến khích thực hiện

2.2.4 Tin học hóa và xây dựng CPĐT của Xin-ga-po

2.2.4.1 Hiện trạng triển khai CPĐT ở Xin-ga-po

Hiện nay Xin-ga-po được coi là quốc gia rất thành công trong lĩnh vực CPĐT Năm 2003 có khoảng 73% dịch vụ công được đưa vào cung cấp trực tuyến, năm 2004 là 88%, năm 2005 là 86%, năm 2006 là 97% dịch vụ công đã được đưa vào cung cấp trực

Ngày đăng: 13/04/2013, 11:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Những yếu tố thành công xây dựng CPĐT - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.1 Những yếu tố thành công xây dựng CPĐT (Trang 20)
Bảng 2.1 Phân tích các yếu tố dẫn đến thất bại về xây dựng CPĐT - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Bảng 2.1 Phân tích các yếu tố dẫn đến thất bại về xây dựng CPĐT (Trang 21)
Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân theo Chiến lược CPĐT - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Bảng 2.2 Mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân theo Chiến lược CPĐT (Trang 22)
Bảng 2.3 trình bày 6 hệ thống thông tin và mạng cơ bản được xây dựng trong giai  đoạn kế hoạch 1987 – 1996 - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Bảng 2.3 trình bày 6 hệ thống thông tin và mạng cơ bản được xây dựng trong giai đoạn kế hoạch 1987 – 1996 (Trang 22)
Hình 2.3 Sơ đồ khung pháp lý CNTT&TT của Hàn Quốc - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.3 Sơ đồ khung pháp lý CNTT&TT của Hàn Quốc (Trang 25)
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổ chức Ủy ban Thúc đẩy Tin học hóa - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổ chức Ủy ban Thúc đẩy Tin học hóa (Trang 26)
Hình 2.5 Ủy ban Tổng thống về Đổi mới Chính phủ và Phi tập trung hóa (PCGID) - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.5 Ủy ban Tổng thống về Đổi mới Chính phủ và Phi tập trung hóa (PCGID) (Trang 27)
Hình 2.6 Kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử của Nhật Bản - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.6 Kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử của Nhật Bản (Trang 31)
Hình 2.7 Cơ cấu tổ chức thúc đẩy Chính phủ điện tử của Nhật Bản - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.7 Cơ cấu tổ chức thúc đẩy Chính phủ điện tử của Nhật Bản (Trang 32)
Bảng 2.5 Lợi ích của CPĐT tại Xin-ga-po - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Bảng 2.5 Lợi ích của CPĐT tại Xin-ga-po (Trang 41)
Hình 2.8 Các kế hoạch tin học hóa và phát triển CPĐT của Xin-ga-po - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 2.8 Các kế hoạch tin học hóa và phát triển CPĐT của Xin-ga-po (Trang 42)
Hình 4.1 Mô hình hoạt động của hệ thống chỉ đạo quốc gia - giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam
Hình 4.1 Mô hình hoạt động của hệ thống chỉ đạo quốc gia (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w