1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

160 925 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sự hạn chế vai trò của nam giới trong việcchăm sóc sức khoẻ sinh sản đã dẫn đến tình trạng đẻ dầy, đẻ nhiều, không quan tâmđến chăm sóc SKSS, không sử dụng biện pháp tránh thai, kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THU HÀ

vai trß cña nam giíi d©n téc h'm«ng vïng t©y

b¾c trong ch¨m sãc søc khoÎ sinh s¶n

(Nghiên cứu trường hợp xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 62 31 30 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phạm Văn Quyết

Hà Nội - 2014

Trang 2

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Đóng góp của luận án15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 16

1.1 Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung 16

1.2 Điểm luận một số nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam 21

1.3 Điểm luận một số nghiên cứu đề cập đến sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản34

1.4 Tiểu kết 46

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 47

2.1 Các khái niệm công cụ 47

2.1.1 Vai trò xã hội 47

2.1.2 Sức khoẻ sinh sản và chăm sóc sức khoẻ sinh sản 49

2.2 Tiếp cận các lý thuyết xã hội học51

2.2.1 Thuyết cơ cấu - chức năng 51

2.2.2 Lý thuyết về vai trò xã hội 54

2.2.3 Lý thuyết xã hội học về giới 57

2.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản 61

Trang 3

Chương 3 THỰC TRẠNG NAM GIỚI DÂN TỘC H’MÔNG XÃ HUỔI MỘT, HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA THỰC HIỆN VAI TRÒ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN 64

3.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu và những đặc điểm cơ bản của cộng đồng dân tộc H’Mông 64

3.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 64

3.1.2 Đặc điểm cơ bản của cộng đồng dân tộc H’Mông 66

3.2 Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình 72

3.2.1 Nam giới nhận thức về vai trò của bản thân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình 72

3.2.2 Nam giới thực hiện vai trò kế hoạch hoá gia đình 81

3.3 Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai 87

3.3.1 Nam giới nhận thức về vai trò của bản thân trong chăm sóc sức khoẻ

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số con trong gia đình và mong muốn có thêm con của nam giới

74

Bảng 3.2 Tuổi kết hôn của nam nữ thanh niên H’Mông 77

Bảng 3.3 Người quyết định số con trong gia đình 84

Bảng 3.4 Sự thực hiện vai trò chia sẻ sử dụng biện pháp tránh thai 86

Bảng 3.5 Nhận thức về vai trò của bản thân trong hoạt động tiêm phòng cho

Bảng 3.8 Lý do nam giới không đưa vợ đi khám thai 99

Bảng 3.9 Lý do nam giới không đưa vợ đi tiêm phòng 103

Bảng 3.10 Người đảm nhận công việc nấu cơm khi phụ nữ “ở cữ” 107

Bảng 4.1 Độ tuổi và vai trò chia sẻ thông tin với người vợ 111

Bảng 4.2 Độ tuổi và vai trò quyết định sinh con 112

Bảng 4.3 Độ tuổi và vai trò chia sẻ sử dụng biện pháp tránh thai của nam giới

113

Bảng 4.4 Độ tuổi và nhận thức của nam giới về vai trò của bản thân trong việc cần có kiến thức phòng tránh thai 114

Bảng 4.5 Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi khám thai 116

Bảng 4.6 Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi tiêm phòng uốn ván 117

Bảng 4.7 Trình độ học vấn và sự hiểu biết về số con của nam giới 119

Bảng 4.8 Trình độ học vấn và sự thực hiện vai trò đưa vợ đến cơ sở y tế khám thai

120

Trang 6

Bảng 4.9 Trình độ học vấn và sự thực hiện vai trò nấu cơm cho vợ khi vợ ở cữ

121

Bảng 4.10 Tương quan giữa việc được nghe tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản với nhận thức về vai trò của nam giới 134

Bảng 4.11 Tương quan giữa việc biết đến thông tin về chăm sóc SKSS qua SBĐTV

và nghe tuyên truyền với hành vi không để vợ đi làm nương khi có thai 137

DANH MỤC BIỂU

Biểu 3.1 Tỷ lệ nam giới đưa vợ đi tiêm phòng uốn ván 102

Biểu 4.1 Độ tuổi và nhận thức về vai trò của bản thân đối với yêu cầu thăm khám thai 115

Biểu 4.2 Tương quan giữa việc được nghe tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản với hiểu biết về yêu cầu thăm khám thai 135

Biểu 4.3 Tương quan giữa việc được nghe tuyên truyền về SKSS với hành vi đưa vợ đến cơ sở y tế để khám thai 136

Biểu 4.4 Biết đến thông tin về chăm sóc sức khoẻ qua sách báo, đài, ti vi với sự thực hiện vai trò chia sẻ công việc nhà 138

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch n đ tài ọ ề

Trong tiến trình phát triển của thế giới, đặc biệt trong nửa thế kỉ qua đã chothấy, vấn đề dân số và chất lượng dân số không chỉ là điều quan tâm của một dântộc, một quốc gia, một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu Đối mặt với vấn

đề dân số và phát triển, Việt Nam là một trong những quốc gia sớm nhận thức đượcmối quan hệ chặt chẽ giữa hai lĩnh vực này Một số chủ trương và chính sách dân số

đã được Nhà nước ban hành từ những năm 60 của thế kỉ trước Qua quá trình thựchiện, đến nay, chương trình dân số Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định.Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, kết quả đạt được chưa ổn định, quy

mô dân số vẫn có xu hướng gia tăng theo tốc độ không mong muốn, chất lượng dân

số và cuộc sống chậm được cải thiện [Bộ Y Tế, 2008, tr 8]

Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc của tổ quốc Với dân sốtrên 1 triệu người, trong đó có 82% là dân tộc thiểu số, bao gồm các dân tộc:Thái, H’Mông, Kinh, Dao, Khơmú… Cho đến nay, Sơn La vẫn là một trongnhững tỉnh đặc biệt khó khăn, nhất là các xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng biêngiới Trong những năm qua, việc giải quyết bài toán về mối quan hệ giữa dân

số và phát triển vẫn đang là một thách thức mà tỉnh Sơn La phải đối mặt Dohoạt động kinh tế của người dân vùng dân tộc thiểu số chủ yếu vẫn dựa vào sảnxuất nông nghiệp tự cung, tự cấp với trình độ canh tác đơn giản, ít có sự ứngdụng khoa học kỹ thuật và một phần thu nhập thêm qua khai thác sản phẩm từ

tự nhiên nên đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến trong cộng đồng cư dân sinhsống tại các vùng sâu vùng xa Bên cạnh đói nghèo, dân số và chất lượng chămsóc dân số cũng là vấn đề đáng lo ngại có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triểnkinh tế - xã hội tại những địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa Nhiều nghiêncứu cho thấy, ở những vùng càng nghèo dân số gia tăng càng nhanh Mức sinhcao và những phong tục lạc hậu trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản là một trongnhững nguyên nhân gây nên tử vong của sản phụ và trẻ em hoặc ảnh hưởng lớnđến sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em sau này

Trang 8

Trường hợp điển hình ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, là địabàn có 53,4% là người dân tộc H’Mông H’Mông là cộng đồng dân tộc được cácnhà khoa học quan tâm nghiên cứu Họ được nhìn nhận như một cộng đồng đặc biệtvới nhiều nét đặc thù trong lịch sử và lối sống Hiện nay, cộng đồng dân tộcH’Mông vẫn duy trì lối sống khép kín, nhiều truyền thống dân tộc được bảo lưu Xãhội người H’Mông là xã hội phụ quyền rất mạnh, đề cao vai trò, quyền lợi và tráchnhiệm của người đàn ông Đàn ông là trụ cột trong gia đình, quyết định mọi vấn đềlớn nhỏ Tuy nhiên, trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản, những người đànông dân tộc H’Mông vừa chưa nhận thức đúng được vai trò của mình, vừa chưa thểhiện được vai trò đó Nam giới, một trong hai chủ thể của hành vi sinh sản lại nhậnthức rằng “sinh đẻ là việc của phụ nữ”, đàn ông mà thể hiện vai trò trong lĩnh vựcnày thì sẽ bị cộng đồng chê cười Chính sự hạn chế vai trò của nam giới trong việcchăm sóc sức khoẻ sinh sản đã dẫn đến tình trạng đẻ dầy, đẻ nhiều, không quan tâmđến chăm sóc SKSS, không sử dụng biện pháp tránh thai, không thăm khám thaiđịnh kì, không sinh con ở cơ sở y tế… Những tồn tại nói trên đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng dân số, gây khó khăn cho việc thực hiện chiến lược phát triểnnguồn nhân lực của Sơn La nói riêng và cả nước nói chung.

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản là khâu then chốt để nâng cao chất lượng dân số,yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở cộng đồng cácdân tộc thiểu số Một trong những lời giải cho bài toán về mối quan hệ giữa dân số

và phát triển đó là mọi người dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số ở vùngsâu, vùng xa, vùng biên giới Tây Bắc nói riêng cần quan tâm hơn nữa đến việcchăm sóc SKSS cho bản thân và gia đình Trong đó, nhóm nam giới cần đặc biệtquan tâm và được quan tâm hơn nữa đến vấn đề này Một vấn đề cần nhận thứcđúng là nam giới - một trong hai chủ thể chính tham gia vào hành vi sinh sản, đóngvai trò rất quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sứckhoẻ bà mẹ trước, trong và sau khi sinh Họ cần phải được cung cấp thông tin vàthực hiện vai trò, chia sẻ trách nhiệm với người vợ trong hoạt động này Nếu vai tròcủa nam giới được tăng cường thì sẽ phần nào giảm bớt gánh nặng trách nhiệm

Trang 9

chăm sóc SKSS của người phụ nữ, đồng thời còn góp phần thực hiện sự bình đẳnggiới, giúp người phụ nữ dần nâng cao vai trò và vị thế của mình trong xã hội.

Tác giả là người được sinh ra, lớn lên và công tác ở tỉnh Sơn La, vùng cóđông đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống nên có điều kiện tiếp cận thực tế, có vốnhiểu biết nhất định về điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội của đồng bào Thực hiện

đề tài “Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông vùng Tây Bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản” (Nghiên cứu trường hợp xã Huổi Một, huyện Sông Mã,

tỉnh Sơn La) tác giả mong muốn góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của xã hội

về vai trò của nam giới trong chăm sóc SKSS, từ đó tiến tới thực hiện bình đẳnggiới, nâng cao quyền và vị thế cho người phụ nữ nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

♦ Trong bối cảnh tình hình chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở nhóm đồng bào cácdân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa còn nhiều vấn đề bất cập, đồng thời vai trò củanam giới trong chăm sóc SKSS còn chưa thu hút được sự quan tâm của giới nghiêncứu khoa học xã hội trong nước thì việc đề cập đến vấn đề này trong luận án có giátrị thực tiễn nhất định Để tài luận án sẽ cung cấp một dữ liệu thực nghiệm mới vềvai trò chăm sóc SKSS của nam giới người dân tộc H’Mông ở Tây Bắc, qua đó bổsung nhận thức chung về vai trò của nam giới người dân tộc thiểu số trong chăm sócSKSS mà các nghiên cứu trước chưa khai thác Từ đó góp thêm tiếng nói vào việctuyên truyền vận động người dân sinh đẻ có kế hoạch, quan tâm chăm sóc SKSS,đặc biệt là đối với nam giới

3 M c đích và nhi m v nghiên c u ụ ệ ụ ứ

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu vai trò của nam giới dân tộc H’Mông ở xã HuổiMột, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình vàchăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai Cụ thể:

♦ Tìm hiểu nhận thức của nam giới về trách nhiệm của bản thân và thựctrạng hành vi của nam giới trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc

bà mẹ mang thai

♦ Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò thực hiện kế hoạch hoá gia đình

và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai của nam giới

♦ Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò của nam giới trong việc thực hiện kếhoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

♦ Tổng quan các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề chăm sócsức khoẻ sinh sản trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung, cùng những tàiliệu có liên quan đến vai trò của nam giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản

♦ Hệ thống các khái niệm liên quan đến vai trò của nam giới trong việc thựchiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai: vai trò xã hội;sức khoẻ sinh sản; chăm sóc sức khoẻ sinh sản

♦ Hệ thống các lý thuyết xã hội học liên quan đến vai trò của nam giới trongviệc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

♦ Nhận diện vai trò của nam giới dân tộc H’Mông xã Huổi Một, huyện Sông

Mã, tỉnh Sơn La trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ

Trang 11

cao chất lượng dân số, nâng cao vị thế người phụ nữ H’Mông trong gia đình vàcộng đồng

4 Đ i t ng, khách th và ph m vi nghiên c u ố ượ ể ạ ứ

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn Latrong thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

4.2 Khách thể nghiên cứu

Nhóm nam giới và phụ nữ người dân tộc H’Mông đang có vợ hoặc chồng ở

xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La

4.3 Phạm vi nghiên cứu

♦ Nội dung nghiên cứu: Trong giới hạn nội dung nghiên cứu, đề tài luận ántập trung nghiên cứu vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong việc thực hiện kếhoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai Vì qua quá trình tìmhiểu, đánh giá và tiếp cận với các cán bộ ở địa phương cho thấy: kế hoạch hoá giađình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ là hai vấn đề nổi cộm, bức xúc nhất và cần quantâm giải quyết nhất trong những vấn đề về chăm sóc SKSS của đồng bào H’Môngtại địa bàn nghiên cứu hiện nay

♦ Không gian nghiên cứu: Chúng tôi chọn xã Huổi Một, huyện Sông Mã,tỉnh Sơn La để nghiên cứu vì đây là một xã có 53,04% là dân tộc H’Mông sinhsống Những đặc trưng văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông nơiđây còn được lưu giữ khá đậm nét Quan sát tiền trạm đã ghi nhận một số thôngtin đáng chú ý như: người H’Mông ở đây sống rất khép kín, họ không chấpnhận sự có mặt của người lạ trong cộng đồng, để vào được bản của ngườiH’Mông, tiếp cận với người dân trong bản phải đi cùng với người biết tiếngH’Mông, hay đi cùng với cán bộ xã; trong cộng đồng có nhiều cặp vợ chồngcòn rất trẻ; đa số hộ gia đình có trên 3 người con; vẫn thấy những phụ nữ cóthai bụng to ở trên nương, làm việc trong điều kiện thời tiết khá khắc nghiệt

Trang 12

như nắng nóng, bữa ăn lại đơn giản chỉ có cơm nắm với ít muối vừng Như vậy,đây chính là địa bàn phù hợp để nghiên cứu về vai trò của nam giới trong chămsóc sức khoẻ sinh sản

♦ Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến 2014

5 Câu h i nghiên c u, gi thuy t nghiên c u và khung phân tích ỏ ứ ả ế ứ

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Nam giới dân tộc H’mông ở xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhậnthức như thế nào về vai trò của bản thân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình;chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai?

Nhóm đối tượng này có vai trò như thế nào trong quá trình thực hiện kếhoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai?

Những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến vai trò của nam giới dân tộc H’Môngtrong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

♦ Hầu hết nam giới chưa thể hiện được vai trò trong việc thực hiện kế hoạchhoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

♦ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản củanam giới nói chung Trong đó, ở cộng đồng dân tộc H’mông, yếu tố dân tộc nổi lênnhư một yếu tố có tác động mạnh nhất đến vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản củanam giới

♦ Vai trò chăm sóc sức khoẻ sinh sản của nam giới dân tộc H’mông sẽ dần

có sự biến đổi, tuy nhiên quá trình biến đổi diễn ra chậm và không đồng nhất trongcác nhóm nam giới có đặc trưng nhân khẩu khác nhau

5.3 Khung phân tích

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp tổng quan phân tích tài liệu

Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình tác giả xây dựng đềcương nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Trướckhi tiến hành điều tra khảo sát, tác giả nghiên cứu đã tiến hành phân tích các tài liệuthu thập được có liên quan đến các vấn đề của đề tài nghiên cứu Trên cơ sở đó pháthiện những vấn đề chưa được đề cập, chưa được làm sáng tỏ từ đó hướng nghiên cứu vàolàm rõ những vấn đề còn bỏ ngỏ Tài liệu là các quan điểm, văn bản chính sách đã ban

Bối cảnh kinh tế - văn hoá - xã hội

- Số con trong gia đình

Vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong

chăm sóc SKSS

Nhận thức của nam giới về

vai trò của bản thân trong

Sự tham gia thực hiện KHHGĐ Sự tham gia chăm sóc sức khỏe bà

mẹ mang thai

Trang 14

hành của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân số, chăm sóc SKSS nói chung, vàđối với cộng đồng các dân tộc thiểu số nói riêng Các công trình nghiên cứutrước đây như sách, bài báo, tạp chí… có liên quan đến cuộc nghiên cứu

6.2 Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp được sử dụng triệt để trong quá trình thu thậpthông tin tại địa bàn nghiên cứu Tác giả thực hiện phương pháp này trong quátrình trực tiếp khảo sát địa bàn nghiên cứu Thông tin thu được từ quan sát bổxung thêm những hiểu biết cần thiết về văn hoá, lối sống, phong tục tập quáncủa nhóm dân tộc này Tác giả đã có cơ hội được trải nghiệm, hoà vào cùngmột số hoạt động của gia đình và cộng đồng H’Mông nơi đây Đó là những trảinghiệm rất thiết thực và có nhiều ý nghĩa giúp tác giả thực hiện luận án thànhcông

 Cơ cấu tuổi

Trang 15

Phỏng vấn sâu 20 đối tượng, trong đó 13 đối tượng nam giới và 7 đối tượng

nữ giới Qua phỏng vấn sâu, chúng tôi thu được nhiều thông tin định tính có ý nghĩagóp phần minh chứng thêm cho những thông tin định lượng trong luận án

6.5 Phương pháp thảo luận nhóm

Để thu thập thông tin từ nhóm nữ dân tộc H’Mông về vai trò của nam giớitrong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ: Phụ nữđánh giá và có kì vọng như thế nào về vai trò của nam giới trong gia đình nói chung

và trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ mang thai

Trang 16

nói riêng Đề tài luận án đã thực hiện một cuộc thảo luận nhóm Nhóm thảo luậngồm 8 phụ nữ dân tộc H’Mông tại địa bàn nghiên cứu Nhóm gồm những phụ nữ đãlập gia đình, đang trong độ tuổi sinh sản (từ 15 đến 49 tuổi)

7 Đóng góp của luận án

♦ Điểm luận khá đầy đủ và có tính hệ thống những công trình nghiên cứu về

chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung; chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong nhóm dântộc thiểu số ở Việt Nam; sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

♦ Xây dựng cơ sở lý luận cần thiết cho các nghiên cứu tìm hiểu về vai trò củanam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

♦ Lần đầu tiên vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong chăm sóc sứckhoẻ sinh sản được nghiên cứu ở phạm vi một đề tài luận án Cụ thể, nghiên cứu đãchỉ ra nhận thức của nam giới về vai trò của bản thân và sự thực hiện vai trò chămsóc sức khoẻ sinh sản của nam giới Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích làm rõnhững yếu tố tác động đến vai trò của nam giới dân tộc H’Mông trong chăm sóc sứckhoẻ sinh sản

♦ Đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò chăm sóc sức khoẻ sinhsản của nam giới dân tộc H’Mông

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) là lĩnh vực sớm được nhiều quốc gia trênthế giới quan tâm nghiên cứu và hiện nay đã trở thành mối quan tâm hàng đầu củanhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Khái niệm SKSS và chăm sócSKSS lần đầu tiên được đưa ra trong Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế

về Dân số và Phát triển diễn ra tại Cai - ro, Ai - Cập năm 1994 Sau Hội nghị này,chương trình Dân số - KHHGĐ của Việt Nam cũng chuyển hướng với sự chú ýnhiều hơn dành cho chăm sóc SKSS Chương này sẽ cho thấy những luận điểm chủyếu trong các nghiên cứu về chăm sóc SKSS nói chung, hẹp hơn là những nghiên cứutrong nhóm các dân tộc thiểu số và đặc biệt là những nghiên cứu đề cập đến sự thamgia của nam giới trong chăm sóc SKSS

1.1 Đi m lu n m t s nghiên c u v chăm sóc s c kho sinh s n nói ể ậ ộ ố ứ ề ứ ẻ ả chung

Kể từ sau hội nghị Dân số và Phát triển Cairo 1994, vấn đề dân số trên thếgiới không chỉ còn tập trung vào nội dung giảm sinh Các chương trình dân số đãtừng bước chuyển từ vấn đề quy mô dân số sang những thách thức lớn hơn, đó làchất lượng, dịch vụ và những vấn đề có liên quan như sức khoẻ sinh sản, bình đẳnggiới,… Cùng với xu hướng đó, ở Việt Nam đã có rất nhiều dự án, nghiên cứu đượcthực hiện, tập trung vào những nội dung cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻsinh sản như: kế hoạch hoá gia đình, làm mẹ an toàn, phá thai an toàn… Ở đây,chúng tôi điểm luận nhấn mạnh vào hai nội dung: kế hoạch hoá gia đình và làm mẹ

an toàn

Thứ nhất, về nội dung kế hoạch hoá gia đình, có thể kể đến những tác giảnhư Nguyễn Thị Vân Anh bàn về sở thích sinh đẻ ở một số vùng nông thôn ViệtNam Tác giả cho thấy, ở nhiều vùng nông thôn, phụ nữ vẫn mong muốn có nhiềuhơn 2 người con, đặc biệt nhu cầu phải có con trai vẫn rất mạnh mẽ Sở thích sinh

đẻ có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố về nhân khẩu (như tuổi, độ dài kết hôn, quy

Trang 18

mô gia đình hiện có, số con trai…) hơn là những yếu tố xã hội (như học vấn, nghềnghiệp…) [Nguyễn Thị Vân Anh, 1993, tr 35 - 47] Sở thích sinh đẻ là một trongnhững chỉ báo quan trọng để dự báo mức sinh trong tương lai Cũng nhằm mục đích

dự báo mức sinh, phản ánh nguyện vọng sinh con của các gia đình, tác giả MaiQuỳnh Nam đã nghiên cứu dư luận xã hội về số con Về mặt nhận thức vẫn có một

bộ phận không nhỏ người dân mong muốn có 3, 4 người con, mong muốn có contrai được thể hiện rất rõ, mong muốn có con trai là tác nhân mạnh mẽ phá vỡ mụctiêu mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con, vì người dân sẽ không dừng lại cho đếnkhi nào sinh được con trai Tác giả còn cho thấy kiến thức người dân về các BPTTcòn hạn chế, hầu như chỉ biết đến biện pháp đơn giản nhất là vòng tránh thai [MaiQuỳnh Nam, 1994, tr 46 - 51]

Bàn về kiến thức, thái độ và việc thực hiện KHHGĐ ở Việt Nam, tác giảPhạm Bích San đã cho thấy sự hiểu biết và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐphụ thuộc và những yếu tố như khu vực sinh sống, tuổi, trình độ học vấn, nghềnghiệp, số con Sự hiểu biết của nhân dân mới chỉ xoay quanh vòng tránh thai vàđây cũng là phương pháp chủ yếu được người dân sử dụng Nghiên cứu này đã đánhgiá mặt bằng kiến thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ trong nhândân Việt Nam tại một số tỉnh trong chu kì tài trợ của quỹ Dân số Liên hợp quốc.Nhìn chung, tâm thế người dân đã dần chấp nhận mô hình gia đình nhỏ, mỗi cặp vợchồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con, tuy nhiên vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ cáccặp vợ chồng muốn có 3 con trở lên Chuẩn mực đông con và có con trai trong giađình vẫn còn khá dai dẳng Tuy nhiên, nghiên cứu chưa quan tâm đến việc so sánh

sự khác biệt về nhận thức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ giữa phụ

nữ và nam giới, nhóm nam giới chưa được quan tâm, chú ý đến trong nghiên cứunày [Phạm Bích San, 1994, tr 3 - 6] Tác giả Phạm Bá Nhất lại phân tích kiến thức,thái độ và việc thực hiện KHHGĐ trong phạm vi nhóm đối tượng ở đô thị Ở khuvực đô thị, ý tưởng về mô hình gia đình ít con, về kiến thức trong lĩnh vực dân số vàKHHGĐ, về việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ đã có điều kiện du nhập vàotrong thái độ của những dân thành phố Trong đó phụ nữ là nhóm có mong muốn ít

Trang 19

con hơn so với nam giới Tuy nhiên, số liệu chưa cho phép kết luận rằng các kết quả

đó là sản phẩm tự nó, chắc chắn của một trình độ phát triển cao hơn của các khuvực đô thị Bài viết quan tâm làm rõ nhu cầu, mong muốn của người dân về số controng gia đình từ đó thấy được thái độ, ý tưởng của người dân đô thị về mô hình giađình ít con Bài viết cũng đã có sự xem xét vấn đề từ góc độ giới, tuy nhiên mớidừng lại ở sự đề cập chung chung, chưa đi sâu phân tích kiến thức, thái độ về môhình gia đình ít con và việc sử dụng biện pháp KHHGĐ của nam giới [Phạm BáNhất, 1994, tr 99 - 102] Cũng nhằm bàn về kiến thức, tâm thế đối với việc thựchiện KHHGĐ, nhưng tác giả Vũ Tuấn Huy chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là cán

bộ hoạt động trong hệ thống truyền thông đại chúng Đây là nhóm đối tượng cótrình độ học vấn khá cao Kết quả cho thấy nhận thức của nhóm đối tượng này vềcác biện pháp tránh thai cao hơn mặt bằng chung trong nhân dân, tâm thế hướngđến gia đình ít con cũng phổ biến và mạnh hơn Trong bài viết, tác giả cũng có điểmnhanh về sự khác biệt tâm thế giữa phụ nữ và nam giới, phụ nữ có xu hướng chấpnhận gia đình ít con mạnh hơn nam giới [Vũ Tuấn Huy, 1994, tr 52 - 63] Tác giảPhạm Bích San cũng đã khẳng định ý tưởng về một gia đình ít con đã xâm nhậpđược vào trong xã hội Việt Nam Sự hiện diện của ý tưởng này là phổ quát tại cáckhu vực đô thị, nông thôn đồng bằng sông Hồng cũng như một số các khu vực kháctrong cả nước Nguyện vọng về con trai tuy đã có những chuyển đổi đáng kể nhưnghãy còn rất lớn Nhu cầu về con trai tồn tại như một sự cần thiết rất thân thiết củacác gia đình Việt Nam, đặc biệt là nông dân Tác giả cũng đã dự báo ý tưởng về môhình gia đình ít con sẽ nhanh chóng lan truyền rộng khắp trong xã hội Việt Nam,còn nhu cầu phải có con trai thì sẽ thay đổi chậm chạp trong những năm sắp tới[Phạm Bích San, 1995, tr 10 - 18] Tác giả Trương Xuân Trường thì xem xét nhậnthức, thái độ và việc sử dụng các biện pháp KHHGĐ trong nhóm công nhân ở vùng

mỏ Quảng Ninh Nhìn chung, vấn đề nhận thức và việc sử dụng các biện phápKHHGĐ tại vùng mỏ còn tồn tại nhiều mâu thuẫn và các khoảng trống Kết quảkhảo sát về tất cả các vấn đề cũng cho phép kết luận rằng chưa phải cứ có một đờisống kinh tế khá ổn định, một mặt bằng trình độ học vấn và tiêu dùng văn hoá

Trang 20

tương đối khá là có thể có ngay sự thay đổi toàn diện về các hành vi dân số theochiều hướng mong muốn [Trương Xuân Trường, 1996, tr 58 - 65] Một nghiên cứutìm hiểu nhận thức về số con của phụ nữ nông thôn cũng cho thấy phụ nữ nông thôn

có nhận thức khá tốt về số con theo quy định của Nhà nước, cũng như mong muốn

về số con được thể hiện khá tích cực Tác giả cũng khẳng định vai trò quyết địnhcủa yếu tố thiên vị giới tính nam đối với nguyện vọng về số con, như đã được xácnhận đối với một số nước có truyền thống Khổng giáo Mong muốn có ít nhất mộtcon trai trong số phụ nữ nông thôn chắc chắn là một lực ép nặng nề đối với mọi mụctiêu của chương trình dân số và KHHGĐ trong tương lai [Nguyễn Minh Thắng,Charles Hirschman, Nguyễn Hữu Minh, 1996, tr 3 - 15] Nhu cầu sinh nhiều con,

và nhất thiết phải có con trai còn thấy rõ ở vùng biển, đảo và ven biển Việt Nam

Vấn đề chăm sóc SKSS ở Việt Nam trong hơn một thập kỉ qua đã được quantâm và có sự chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, việc thực hiện chiến lược dân sốtrong những năm gần đây ở nhiều vùng miền trên đất nước, như là ở vùng biển, đảo

và ven biển còn chưa đạt yêu cầu mà chiến lược đã đề ra như: người dân vẫn sinhnhiều con, tỷ lệ hộ sinh con thứ 3 chưa giảm, việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho

bà mẹ và trẻ sơ sinh chưa đảm bảo [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010, tr 6]

Ở những vùng biển, đảo và ven biển nước ta các cặp vợ chồng vẫn có nhu cầu phảisinh được con trai, càng nhiều càng tốt, chất lượng dân số thấp, số trẻ em sinh ra bị khuyếttật và thiểu năng trí tuệ có tỷ lệ cao [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010, tr 7]

Thái độ và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân ở vùngbiển, đảo và ven biển chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: kinh tế, xã hội,môi trường sống, trình độ học vấn… Tuy nhiên, trong những yếu tố tác động nóitrên thì yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp có sự tác động mạnh mẽ hơn hẳncác yếu tố khác Chính yếu tố này đã có những tác động thiếu tích cực đến thái độ

và hành vi sinh sản cũng như chăm sóc SKSS của người dân, làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến việc đảm bảo chất lượng dân số, quy mô dân số Bản thân nhóm dân cưtrong độ tuổi sinh đẻ ở vùng biển, đảo và ven biển có nhận thức tương đối tốt về nộidung “Làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em” Điều đó thể hiện qua việc

Trang 21

nhận biết của họ về những nội dung liên quan trực tiếp tới chăm sóc bà mẹ và trẻ

em trước, trong và sau khi sinh với tỷ lệ khá cao Tuy nhiên, nhận thức về nội dung

kế hoạch hoá gia đình, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, hậu quả của nạo pháthai, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản… còn thấp Người dân vùng biển đảo

và ven biển rất quan tâm đến các thông tin về tuổi kết hôn, KHHGĐ, chăm sócSKSS Số người cho biết những thông tin trên rất cần thiết đối với bản thân họchiếm tỷ lệ rất cao Có một số lượng nhất định quan tâm đến hiện tượng tảo hôn ởđịa phương và cho biết những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó Tuy nhiên,nhiều người vẫn thể hiện thái độ đồng tình thông qua ý kiến cho rằng con cái kếthôn sớm để trưởng thành sớm Việc sinh con nói chung và sinh con trai nói riêngcũng là mối quan tâm của nhiều người dân nơi đây Trong những thực hành chămsóc SKSS, một điều đáng lưu ý là tỷ lệ người sử dụng các BPTT, đặc biệt là cácBPTT hiện đại đang có xu hướng giảm đi Số người trong độ tuổi sinh đẻ trao đổivới những người xung quanh về các thông tin CS SKSS/KHHGĐ với tỷ lệ khônglớn Phần lớn người trong độ tuổi sinh đẻ trao đổi thường xuyên những thông tin đóvới vợ/chồng của họ [Nguyễn Đình Tấn và các cộng sự, 2010]

Thứ hai, về nội dung làm mẹ an toàn cũng đã được nhiều học giả quan tâmnghiên cứu Tác giả Nguyễn Khánh Bích Trâm đã đề cập vài nét về tình hình sứckhoẻ bà mẹ và trẻ em trong dự án của Quỹ nhi đồng Anh tại Hải Phòng Việc chămsóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em đóng vai trò sống còn trong việc nâng cao sức khoẻcộng đồng Việc tiêm chủng cho phụ nữ có thai chống uốn ván đã góp phần quantrọng vào việc hạ thấp tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ sơ sinh Ở thời điểm nghiêncứu vẫn còn gần nửa số sản phụ không đi khám thai, gần một phần tư ca đẻ ở nhà,

số người sử dụng biện pháp tránh thai chiếm một phần ba trong tổng mẫu nghiêncứu Trạm y tế xã đóng vai trò rất quan trọng trong một loạt các hoạt động phòngbệnh và giáo dục y tế như khám thai, đỡ đẻ, KHHGĐ và tiêm chủng Hoạt động củacác trạm y tế xã còn có những yếu kém cần phải khắc phục nhưng không thể khôngxét đến vai trò, khả năng của các tổ chức này trong việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Do vậy, cần tập trung hơn nữa vào việc cải thiện khả năng làm việc của trạm y tế

Trang 22

xã, nâng cao tinh thần của các nhân viên y tế xã và chú ý đến sự đãi ngộ đối với họ[Nguyễn Khánh Bích Trâm, 1994, tr 85 - 88] Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ cóthai không chỉ phản ánh tình trạng sức khoẻ nói chung, mà còn đóng một vai tròquyết định đối với hạnh phúc của cả mẹ và con Thiếu dự trữ sắt sẽ dẫn đến thiếumáu và thêm vào đó là những nguy cơ bất lợi cho người mẹ trong khi sinh đẻ Khẩuphần ăn của người mẹ nếu bị thiếu hụt sẽ góp phần gây ra đẻ non và trẻ sơ sinh bịnhẹ cân, ngoài ra có thể kéo theo những nguy hiểm cho bào thai và trẻ sơ sinh.Những vấn đề về sức khoẻ của phụ nữ càng ngày càng được xã hội nhận thức rõdần Kết quả nghiên cứu cho thấy thói quen ăn uống của phụ nữ trong thời kỳ cóthai bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những vai trò xã hội của họ Những mong muốn tiêuchuẩn của một phụ nữ đã kết hôn là chị ta phải làm việc không mệt mỏi để xâydựng gia đình nhà chồng (kể cả gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân), phải kìmnét những nhu cầu và sở thích vì các thành viên khác trong gia đình đặc biệt làngười già và trẻ em Phụ nữ có thai vẫn ăn như thường lệ là xu hướng phổ biến; thainghén không có lý do gì để nghỉ ngơi; phụ nữ có thai ít có quyền trong việc cầmtiền chi tiêu cho ăn uống Như vậy, mô hình văn hoá đang chi phối lối sống của làngquê qua phong tục, tập quán, dư luận xã hội đang đè nặng lên cuộc sống của ngườiphụ nữ đang mang thai, cần được nghiên cứu một cách sâu sắc để chỉ ra những ảnhhưởng xấu đến sức khoẻ phụ nữ nông thôn [Đỗ Ngọc Nga, 1997, tr 76-80]

Tóm lại, những nghiên cứu về nội dung KHHGĐ và làm mẹ an toàn đã chothấy một bức tranh thực trạng chăm sóc SKSS có xu hướng khởi sắc sau Hội nghịQuốc tế về Dân số và Phát triển Cairo 1994 Chính sách dân số dần chuyển hướngtập trung hơn vào những lĩnh vực liên quan đến chất lượng dân số Chăm sóc SKSStrở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt là các chuyên gia y học và

Trang 23

lệch, xoá dần những khác biệt trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực chăm sócSKSS Những nghiên cứu về khía cạnh chăm sóc SKSS của nhóm dân tộc thiểu sốcũng đã dần được chú ý và gia tăng trong những năm qua Các nghiên cứu gần đâytại Việt Nam cho thấy tình trạng SKSS của đồng bào các dân tộc thiểu số còn kémhơn nhiều so với mặt bằng chung của quốc gia Theo tổ chức y tế thế giới, tỷ lệchết trẻ em của vùng Đông Bắc là 58,3‰ và ở vùng duyên hải miền Trung là40,6‰ trong khi tỷ lệ chung của cả nước là 36,7‰ [Tổ chức Y tế Thế giới, 2003].Theo số liệu điều tra biến động dân số tính đến ngày 1/4/2011, tổng tỷ suất sinh(TFR) của vùng Tây Nguyên, nơi có nhiều đồng bảo dân tộc sinh sôngs là 2,58, caonhất trong cả nước Tiếp theo là vùng trung du và miền núi phía Bắc (2,21) so vớitổng tỷ suất sinh của cả nước là 1,99 [Tổng cục thống kê, 2011] Rõ ràng, tình trạngyếu kém về sức khoẻ nói chung, SKSS nói riêng của đồng bào dân tộc thiểu số làvấn đề cần được quan nhiều hơn nữa.

Xung quanh nội dung KHHGĐ, thực hiện mô hình gia đình ít con, tác giảĐặng Thu, Cao Thị Thuý đã thăm dò về dân tộc Dao đối với mục tiêu chính sáchdân số - KHHGĐ Tìm hiểu thái độ của người dân tộc Dao đối với các mục tiêudân số sẽ giúp ta có những kiến nghị chính xác hơn về chính sách dân số đối vớicác dân tộc ít người Nghiên cứu được thực hiện trên cả nam và nữ Kết quả chothấy đa số người Dao mong muốn có 3, 4 người con, vẫn còn một tỷ lệ nhất địnhmong muốn có 4, 5 thậm chí là 7, 8 người con Người phụ nữ Dao còn sống kháphụ thuộc, họ cho rằng việc kết hôn ở độ tuổi nào là do cha mẹ quyết định, hay cóngười đến hỏi khi nào thì lấy chồng khi đó Việc sử dụng các biện pháp KHHGĐcũng rất hạn chế trong cộng đồng người dân tộc Dao Nghiên cứu này đã góp phầnkhẳng định vấn đề KHHGĐ vẫn còn khá xa lạ với cộng đồng các dân tộc thiểu sốnói chung và người dân tộc Dao nói riêng [Đặng Thu, Cao Thị Thuý, 1995, tr 27-30] Phát hiện những chuẩn mực sinh sản: kiến thức, thái độ và việc thực hiệnKHHGĐ của các nhóm dân tộc ít người, tình trạng chăm sóc SKSS, những yếu tốảnh hưởng tới mức sinh cùng với việc chăm sóc thai nghén và sau khi sinh là mụctiêu cụ thể của cuộc nghiên cứu “Sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình tại các khu

Trang 24

vực dân tộc thiểu số” [Phạm Bích San, 1998, tr 13 - 24] Kết quả nghiên cứu đãphản ánh thực trạng khá cơ bản Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhómđối tượng nữ Nhìn chung, trình độ học vấn trong nhóm các dân tộc thiểu số đượcnghiên cứu còn thấp, nhất là cộng đồng dân tộc H’Mông Tuổi kết hôn lần đầu ởcộng đồng dân tộc thiểu số còn thấp, đồng thời là tuổi sinh con lần đầu thấp vìngười dân kết hôn xong là sinh con ngay Nhóm dân tộc H’Mông và Thái ở TâyBắc ít sử dụng BPTT Trong các BPTT thì vòng tránh thai là phương tiện chủ đạonhất Nhóm dân tộc H’Mông có lối sống cô lập, khá tách biệt với các dân tộc khác.Một ghi nhận phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số là sự xao nhãng trongchăm sóc thai nghén; sinh con không có tư vấn; chỉ đi khám thai trong trường hợpxảy ra sự cố hoặc cảm thấy không bình thường, họ không nhận thức được vai tròcủa việc thăm khám thai định kỳ Phụ nữ khi mang thai vẫn lao động làm các côngviệc đồng áng, nương rẫy như khi không có thai Phần lớn phụ nữ sinh con tại nhàvới chế độ kiêng cữ khá đặc biệt, ăn uống kiêng khem, có nhiều kiêng cữ không cólợi cho sức khoẻ bà mẹ Việc truyền thông giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, hành

vi thực hiện KHHGĐ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ cho nhóm dân tộc thiểu số cũnggặp nhiều khó khăn vì những rào cản ngôn ngữ, văn hoá

Cũng bàn về về hành vi chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản ở cộngđồng các dân tộc thiểu số, nhưng tác giả Bế Trung Anh tập trung chủ yếu vào nhómphụ nữ dân tộc Tày ở Thái Nguyên Những quan niệm cũ về chăm sóc sức khoẻ bà

mẹ vẫn phần nào chi phối cách thức chăm sóc bà mẹ mang thai Do quan niệm lạchậu: sợ ăn nhiều thai nhi sẽ to, khó sinh, phụ nữ Tày khi mang thai cũng chưa cóchế độ ăn uống giàu dinh dưỡng Trong suốt thời gian mang thai họ vẫn phải đảmđương công việc đồng áng và gia đình Điều này có ảnh hưởng từ quan niệm: phụ

nữ có thai nên làm công việc nặng nhọc để sinh con dễ dàng hơn Tuy nhiên, dođược tuyên truyền rộng rãi, nhiều phụ nữ Tày khi có thai đã tự tìm đến các cơ sở y

tế để khám thai, nhiều người được tiêm phòng uốn ván khi mang thai Đây là dấuhiệu đáng mừng cho thấy những suy nghĩ tiến bộ về chăm sóc thai nghén đang dầnthay thế các thói quen cũ bằng hành vi tiến bộ hơn là đi khám thai (tuy không

Trang 25

nhiều) Tác giả bài viết đã kết luận đặc tính dân tộc ít người và đa số không là yếu

tố ảnh hưởng đến hành vi chăm sóc SKSS và thực hiện KHHGĐ, có chăng sự khácnhau căn bản là giữa các vùng xa vùng núi với vùng gần trung tâm đô thị Ở nhữngvùng núi, vùng xa thường vẫn còn nhiều thiệt thòi, bất lợi cả về kinh tế - xã hội vàtrong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ

Thực tế cho thấy, đa số phụ nữ H’Mông và Dao ở miền núi phía Bắc cònduy trì những luật tục truyền thống về việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và thai nhikhi đang thai nghén Họ phải tuân theo nhiều kiêng cữ chẳng những không giúpcho việc bảo vệ sức khoẻ của họ cũng như đứa con, thậm chí còn có hại Quan sátcho thấy người phụ nữ mang thai phải kiêng bước qua dây buộc gia súc, không ănnhộng ong, nhộng tằm, kiêng hái các quả bưởi, cam, chanh, không được đi trướcngười khác, kiêng cầm vào hạt giống, kiêng đến gần bàn thờ tổ tiên… Tuy nhiênrất nhiều phụ nữ được hỏi lại không kiêng làm việc nặng khi có thai (86%)[Nguyễn Hữu Minh cùng cộng sự, 2001] Tương tự, phụ nữ Chăm ở Ninh Thuận

và An Giang cũng vẫn phải lao động nhiều trước khi sinh [Nguyễn Thế Huệ, 2004]

Có nghiên cứu đã phát hiện ra rằng đối với các nhóm dân tộc thiểu số, sựmang thai phần lớn được các phụ nữ và người dân coi là một sự kiện tự nhiên vàbình thường Do quan niệm “bình thường” này nên khi có thai, phụ nữ vẫn giữnguyên cường độ làm việc như lúc trước, làm việc cho tới khi sinh Rất ít phụ nữcho rằng mang thai là một thời kỳ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ củangười phụ nữ Thông thường người dân dựa vào những thực hành mang tính kinhnghiệm truyền thống để xem xét quá trình mang thai Ví dụ, nếu lần mang thai vàsinh nở trước diễn ra xuôn xẻ thì họ cho rằng mang thai là chuyện bình thường, cònngược lại họ sẽ cho mang thai là khó khăn Hoặc người dân còn cho rằng mang thai

có tính di truyền, nếu như mẹ người phụ nữ ấy đẻ khó thì người phụ nữ ấy cũng đẻkhó và sẽ phải cẩn thận khi mang thai Vì coi chửa, đẻ là chuyện của tự nhiên nhưcâu ngạn ngữ Thái “Pha họ pha kháy”- tức là trời gói thì trời lại mở, nên khi có thainếu không xảy ra điều gì bất thường thì họ sẽ không nghĩ đến việc đi khám thai.Chỉ khi nào người phụ nữ mang thai thấy quá mệt mỏi, có những dấu hiệu thai

Trang 26

nghén bất thường thì mới đến cơ sở y tế để khám thai [Viện Nghiên cứu phát triển

xã hội, 2003] Thậm chí có những người phụ nữ mang thai đến tháng thứ 5 mớinhận ra là mình đã có thai Kiến thức về các dấu hiệu thai nghén và cách tính tuổithai của phụ nữ người dân tộc thiểu số còn rất mơ hồ Nghiên cứu về dân tộcH’Mông và Dao ở miền núi phía Bắc cũng cho thấy trong thời kỳ mang thai, họchỉ đến cơ sở y tế khi bị đau ốm nặng Chỉ báo quan trọng về việc chăm sóc sứckhoẻ bà mẹ mang thai là tỷ lệ khám thai Nhóm dân tộc H’Mông và Dao được khảosát ở khu vực Tây Bắc có tỷ lệ phụ nữ đi khám thai thấp nhất so với mọi vùng kháctrong cả nước Trong khi mức trung bình của cả nước là 71% thì ở ba xã được khảosát chỉ có 32% phụ nữ dân tộc H’Mông và Dao đi khám thai (29% đối với dân tộcH’Mông, 39% đối với dân tộc Dao) Trong những người đi khám thai, gần một nửachỉ đi khám thai một lần, 42% đi khám 2 lần, những người đi khám thai đủ 3 lần rất

ít [Phạm Tất Dong cùng cộng sự, 2002]

Ninh Thuận và An Giang là hai tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc Chăm sinh sống,tri thức của đồng bào Chăm về chăm sóc SKSS đã có nhiều tiến bộ, nhất là trong mảngphát hiện thai và thăm khám thai ở cơ sở y tế Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2004 đã chỉ rarằng vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ phụ nữ dân tộc Chăm không đi khám thai Ở NinhThuận là 23%, An Giang là 47,7% Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa trình độ học vấnvới thực hành khám thai ở phụ nữ, số phụ nữ không đi khám thai thường rơi vào nhómphụ nữ có trình độ học vấn thấp [Nguyễn Thế Huệ, 2004]

Nghiên cứu thực tiễn chăm sóc thai nghén của phụ nữ các dân tộc thiểu số ởNghệ An đã chỉ ra rằng nhóm phụ nữ Thái, Khơ Mú, Ơ Đu và H’Mông lần lượt có

sự nhận thức về tầm quan trọng của việc khám thai từ cao đến thấp Trong đó, nhậnthức thấp nhất là nhóm phụ nữ dân tộc H’Mông, đồng thời với nhận thức thấp thìphụ nữ H’Mông đa số không đi khám thai [Viện Nghiên cứu phát triển xã hội,2003] Nghiên cứu này đã cho ta thấy tình trạng chăm sóc SKSS của các dân tộcthiểu số là một mảng màu xám trong bức tranh toàn cảnh Việt Nam, đặc biệt nhómdân tộc H’Mông có tình trạng chăm sóc SKSS ảm đạm nhất Quan tâm hơn nữađến vấn đề chăm sóc SKSS của người dân tộc H’Mông là việc làm có ý nghĩa thực

Trang 27

tiễn cao trong bối cảnh hiện nay.

Trên tạp chí Dân số và phát triển, số 8 năm 2004 cũng có bài viết “Tìm hiểumột số tập quán chăm sóc sức khoẻ sinh sản của người Dao ở Yên Bái” Tại cộngđồng người Dao xã An Bình tỉnh Yên Bái 2002, cho thấy có 81 người mang thaichỉ có 85 số lần khám thai Như vậy trung bình mỗi người chỉ được khám một lần,đến quý 3 năm 2003 thì có thay đổi hơn với 90 lần khám thai trên 76 người mangthai Theo Trạm trưởng trạm y tế xã thì rất ít người đến khám lần thứ hai Đối vớingười Dao, đặc biệt là nhóm Dao đen ở khu vực khá sâu của xã (thôn 4) thì số đếnkhám thai lại càng hạn chế và do không khám thai hoặc ít được khám thai nên sốphụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván đủ liều, được uống viên sắt cũng rấthạn chế [Nguyễn Hữu Nhân, Phạm Anh Tuấn, 2004]

Một nghiên cứu định tính ở Bình Định về sinh đẻ của cộng đồng dân tộcthiểu số cũng cho kết quả tương tự Điều kiện sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em ở vùngsâu, vùng xa và miền núi tương đối yếu kém so với các khu vực thuận lợi khác ởtỉnh Bình Định Ở khu vực miền núi, chỉ có 40% phụ nữ thực hiện khám thai 3 lầntrong quá trình mang thai; và chỉ có 10% các ca đẻ có sự tham gia của nhân viên y

tế (trong khi đó tỷ lệ trung bình của tỉnh tương ứng là 78% và 50%) Như vậy, BìnhĐịnh là tỉnh mà UNFPA phối hợp với Uỷ ban Nhân dân thực hiện dự án sức khoẻ

bà mẹ trẻ em hướng đến mục tiêu thiên niên kỷ, với tổng tài trợ 3 triệu USD, dự ánthực hiện từ năm 2004 đến hết năm 2008 Năm 2005, báo cáo đánh giá giữa kỳ kếtluận rằng trong khi dự án mang lại những tiến bộ đáng kể trong việc cung cấp cácdịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng tới những cộng đồng dân cư khu vực thànhthị và đồng bằng thuộc tỉnh Bình Định, dự án gặp phải những khó khăn trong tiếpcận tới những nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống tại các vùng núi cao,vùng sâu, và tới những người nhập cư và thanh niên [Trường ĐH Y tế công cộng,2009] Thực tế cho thấy, chăm sóc SKSS chịu sự ảnh hưởng của yếu tố tộc người

So sánh sự khác nhau về mức sinh, điều hoà mức sinh và chăm chăm sóc sức khoẻ

bà mẹ, trẻ em giữa dân tộc kinh và các dân tộc ít người đã cho thấy yếu tố tộcngười có ảnh hưởng đến chăm sóc SKSS Tác giả Phạm Văn Quyết đã chỉ ra yếu tố

Trang 28

cơ bản dẫn đến sự khác biệt này đó là văn hoá, phong tục, tập quán, lối sống củacác nhóm dân tộc Về mong muốn sinh con, do tập quán sinh hoạt còn lạc hậu, tỷsuất chết ở trẻ em cao, chế độ sản xuất, canh tác thô sơ, nhu cầu về sức lao độngcao nên hầu hết đồng bào dân tộc đều mong muốn có nhiều con hơn so với đồngbào dân tộc kinh Quan niệm và việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tránh thaicũng có nhiều khác biệt giữa các dân tộc Do tập quán làm ăn, sinh hoạt, do điềukiện sống mất vệ sinh, do hạn chế về sức khoẻ nên tỷ lệ phụ nữ các dân tộc sử dụngBPTT bị tác dụng phụ/tai biến cao hơn, từ đó xuất hiện những quan niệm khôngđúng và ngại sử dụng BPTT, nhất là các BPTT hiện đại Do trình độ hạn chế nên tỷ

lệ phụ nữ bị thất bại khi sử dụng các BPTT ở nhóm các dân tộc ít người cũng caohơn, dễ dẫn đến tâm lý cộng đồng không tin tưởng vào các biện pháp tránh thaihiện đại Về chăm sóc bà mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ thì mỗi dântộc có những quan niệm truyền thống, tập quán ứng xử riêng Với đa số các bà mẹdân tộc ít người, do trình độ học vấn còn thấp nên những quan niệm truyền thống,những tập tục của cộng đồng đều có thể coi là những yếu tố quan trọng trực tiếp tácđộng tới hành vi của họ trong chăm sóc SKSS Mang thai, sinh đẻ và nuôi con lànhững chuyện tự nhiên, bình thường trong đời sống hàng ngày Chỉ khi nào bị ốmhay mang thai, nuôi con có “vấn đề” thì mới đến bác sĩ, đến cơ sở y tế khám chữa.Thầy Mo vẫn là người có vai trò chịu trách nhiệm “chữa bệnh” cho người dântrong cộng đồng Phụ nữ người dân tộc khi mang thai, sinh con đều phải kiêng cữnhiều thứ, nhiều kiêng cữ không những không có lợi mà còn tác động không tốtđến sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em [Phạm Văn Quyết, 2006, tr 32 - 41]

Một báo cáo về sức khoẻ sinh sản của đồng bào H’Mông tỉnh Hà Giangcũng minh chứng thêm cho tình trạng chăm sóc thai nghén còn nhiều hạn chế Đa

số phụ nữ H’Mông không có thói quen đi khám trước sinh

Nhiều phụ nữ thậm chí còn không biết những dấu hiệu của sự kiện có thai là

gì Thường thì họ không đến y tế cho đến khi gần sinh Đa số phụ nữ chỉ đi khámthai nếu họ gặp khó khăn trong lần mang thai hay sinh nở đầu tiên Khi sinh đẻ,phần lớn họ thích được đẻ tại nhà, họ chỉ đến cơ sở y tế khi trong quá trình sinh nở

Trang 29

xảy ra tai biến Kinh nghiệm trong việc đỡ đẻ được đánh giá cao hơn là kỹ thuậthiện đại Bà đỡ có thể là một nữ hộ sinh chuyên nghiệp, có thể là mẹ đẻ của thaiphụ, mẹ chồng, chị em ruột, chị em chồng, hoặc bất kỳ phụ nữ lớn tuổi nào tronglàng có kinh nghiệm đỡ đẻ [UNFPA, 2008a]

Để theo dõi quá trình phát triển của thai nhi và tình hình sức khoẻ của bà mẹmang thai nhằm tránh những rủi ro và tai biến trong quá trình mang thai và sinh đẻ,người mẹ mang thai được khuyến cáo phải đi khám thai ít nhất ba lần trong suốtthai kì Tuy nhiên, nhóm phụ nữ người dân tộc thiểu số ở nhiều nơi hầu như khôngthực hành thăm khám thai Nhiều phụ nữ dân tộc không nhận biết được các dấuhiệu mang thai, có từ 2/3 đến 3/4 phụ nữ người dân tộc liệt kê được ít nhất một dấuhiệu bất thường, nguy hiểm khi mang thai Tỷ lệ đi khám thai dao động từ 1/3 đến3/4, trong đó ở Tây Nguyên có tỷ lệ cao nhất (70%), thấp nhất là ở Miền núi phíaBắc (30 - 40%) So sánh các nhóm dân tộc thì người Thái có tỷ lệ khám thai caonhất (90%), thấp nhất là nhóm đồng bào dân tộc H’Mông (từ 6 - 29%) Số phụ nữ

đi khám thai lần đầu còn rất ít [UNFPA, 2008b]

Hầu hết các nghiên cứu đều đồng nhất trong việc chỉ ra một số nguyên nhâncăn bản dẫn đến tỷ lệ khám thai thấp trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưquan niệm thai nghén, sinh đẻ là tự nhiên, do vậy cũng không cần thiết phải đikhám thai, nhiều phụ nữ khi được hỏi lý do vì sao không đi khám thai họ đã nóirằng vì họ cảm thấy khoẻ mạnh nên không cần phải đi khám, họ chỉ đi khám thaikhi nào thấy mệt mỏi Thêm vào đó là những trở ngại về mặt địa lý, đường đi xaxôi, nhiều đèo dốc mới đến được trạm xá, nhiều người dân không có phương tiện đilại, chủ yếu là đi bộ Rào cản về mặt tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân

cơ bản cản trở người phụ nữ đến các cơ sở y tế để thăm khám thai Nhiều phụ nữcảm thấy vô cùng xấu hổ khi nhân viên y tế động chạm đến các bộ phận nhạy cảmtrên cơ thể, nhất là nếu nhân viên y tế đó là nam giới Hơn nữa nhiều người cònphàn nàn rằng nhân viên y tế có thái độ không thân thiện, thậm chí còn có ý khinhthường bệnh nhân… Như vậy, chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS cũng là một yếu

tố tác động đến tình trạng trên

Trang 30

Vấn đề dinh dưỡng khi mang thai cũng chưa được người dân thuộc cácnhóm dân tộc thiểu số quan tâm đúng mức, phụ nữ khi mang thai vẫn ăn những bữa

ăn có chế độ dinh dưỡng như thường ngày, hầu như không có chế độ bồi dưỡng đặcbiệt đối với thai phụ Thậm chí trong cộng đồng dân tộc thiểu số còn có những tậpquán ăn uống kiêng khem khi mang thai Họ tin rằng thai phụ không nên ăn quánhiều, đặc biệt là các thực phẩm giàu dinh dưỡng vì như vậy thai nhi sẽ to và dẫnđến tình trạng khó đẻ [Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, 2003] Trong thời gianmang thai 50% phụ nữ vẫn ăn như bình thường, thậm chí còn ăn ít hơn vì họ tinrằng ăn nhiều sẽ dẫn đến đẻ khó [UNFPA, 2008b] Cản trở trong chăm sóc dinhdưỡng của thai phụ là tình trạng khó khăn về kinh tế, thức ăn lại không có sẵn (ítchợ, chợ họp theo phiên, ở xa nhà, đi lại khó khăn) Vấn đề dinh dưỡng cho thaiphụ trong thời gian mang thai cũng rất quan trọng, nó không những ảnh hưởng đến

sự phát triển của bào thai mà còn ảnh hưởng đến sự tạo sữa ban đầu của người mẹsau khi đẻ Nhưng thực tế thì điều kiện kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số khákhó khăn, sống ở những vùng nghèo đói, nguồn thu nhập gắn với nương rẫy vàrừng nên phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Do điều kiện kinh tế nên việc bổ sungdinh dưỡng thực sự không dễ dàng với người dân nơi đây Khi thai phụ bị thiếudinh dưỡng thì suy dinh dưỡng bào thai và trẻ sơ sinh là không tránh khỏi Qua tìmhiểu tại xã An Bình, cho thấy số trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 21,4%, dưới

2 tuổi là 10%, riêng tại thôn 5 trong số 28 trẻ có tới 10 trẻ suy dinh dưỡng [NguyễnHữu Nhân, Phạm Anh Tuấn, 2004]

Tiêm phòng uốn ván trong thời kỳ mang thai cũng là một trong những nộidung thuộc chăm sóc SKSS, nhằm bảo vệ sự an toàn cho cả bà mẹ và thai nhi, đềphòng những tai biến sản khoa Trong thời gian mang thai, mỗi phụ nữ cần đượctiêm phòng 2 lần để đảm bảo hiệu lực của vacxin Đối với nhóm phụ nữ người dântộc Kinh ở vùng đồng bằng, thành phố, thị trấn thì thực hành trên là rất phổ biến,nhưng với đồng bào các dân tộc thiểu số thì không phải thai phụ nào cũng dễ dàngđược tiêm phòng uốn ván, đồng thời uống bổ sung thêm sắt, can xi trong quá trìnhmang thai Nghiên cứu năm 2001 về phụ nữ Mông và Dao vùng Tây Bắc cho thấy

Trang 31

chỉ có 49% phụ nữ có thai đi tiêm phòng uốn ván, tỷ lệ tiêm phòng của người Daocao hơn người Mông Chỉ số tiêm phòng uốn ván của người Mông thấp hơn rấtnhiều so với trung bình cho khu vực miền núi và trung du Bắc bộ (64%) và trungbình toàn quốc (72%) [Uỷ ban DS-KHHGD, 2002] Phụ nữ Chăm ở Ninh Thuận và

An Giang được nghiên cứu cũng thấy có tỷ lệ thiếu máu khá cao khi mang thai[Nguyễn Thế Huệ, 2004] Có những vùng như ở Cao Bằng, chỉ có 1/5 thai phụ tiêmphòng uốn ván, tỷ lệ phụ nữ mang thai uống thêm viên sắt còn chưa cao, thấp nhất

là ở Lào Cai, có 21,3% thai phụ uống bổ sung viên sắt Việc không thực hành tiêmphòng uốn ván và uống bổ sung thêm sắt, can xi khi mang thai được giải thích bởi

lý do không biết phải tiêm phòng hay uống bổ sung những vi chất ấy Bên cạnh đó

là lý do về mặt địa lý, cơ sở y tế ở xa nên ngại không muốn đi tiêm Không uốngviên sắt hay can xi vì quên, thấy không cần thiết… [UNFPA, 2008b]

Kế hoạch hoá gia đình là một nội dung lớn trong chương trình chăm sócSKSS Nghiên cứu một số nhóm dân tộc thiểu số ở Nghệ An cho thấy đa số phụ nữsinh con đầu lòng ở độ tuổi 17 - 18, thậm chí có khoảng 10% phụ nữ dân tộcH’Mông sinh con đầu lòng dưới 15 tuổi [Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, 2003].Nghiên cứu đồng bào H’Mông và Dao ở miền núi phía bắc cho thấy hiểu biết củangười dân về độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật còn nhiều hạn chế Chỉ có45% người được hỏi trả lời đúng về độ tuổi kết hôn của nam và nữ theo luật định.Chính vì vậy số người kết hôn trước tuổi quy định còn một tỷ lệ khá cao (42% phụ

nữ H’Mông trong mẫu khảo sát lấy chồng khi chưa đến 18 tuổi, 54% nam giớiH’Mông lấy vợ khi chưa đến 20 tuổi) Điều đáng chú ý là tỷ lệ lập gia đình trướctuổi ở những người hiện đang trong nhóm tuổi trẻ tỏ ra cao hơn đáng kể so với tỷ lệnày ở những người hiện đang ở nhóm tuổi cao Nếu điều này là đúng thì tuổi kếthôn của nam nữ thanh niên các dân tộc H’Mông và Dao không những không tănglên mà còn có chiều hướng giảm xuống [Phạm Tất Dong cùng cộng sự, 2002].Theo lời khuyên y tế, phụ nữ nên sinh con ở độ tuổi từ 22 đến 35, đây là độ tuổiphù hợp nhất để sinh ra những đứa con khoẻ mạnh, thông minh Tuy nhiên, do tậpquán kết hôn sớm nên phụ nữ người dân tộc thiểu số thường sinh con ở độ tuổi còn

Trang 32

rất trẻ Cơ thể cũng như bộ máy sinh dục còn phát triển chưa hoàn thiện, đây chính

là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng dân số thấp Bên cạnh đó, phụ nữ dântộc thiểu số còn sinh rất nhiều con Ở Tây Nguyên, tỷ lệ hộ gia đình có số con từ 4

- 6 chiếm cao nhất (44,6%), tiếp theo là số hộ có từ 6 - 10 con (22,1%) Trung bìnhmỗi phụ nữ Pakoh, Vân Kiều, Dao, Mông có từ 5 đến 6 con và khoảng cách sinhkhá ngắn, trung bình là 12 tháng [UNFPA, 2008b] Đối với nhiều dân tộc thiểu số ởTây Nguyên, quan niệm ít con là phải có 3 - 4, thậm chí là 6 con, theo họ nhiều con

có nghĩa là phải có 9 - 10 đứa [UNFPA, 2007] Nhóm dân tộc H’Mông và Dao ởmiền núi Tây Bắc vẫn còn quan niệm khá truyền thống về giá trị con cái trong giađình Họ cho rằng gia đình hạnh phúc là gia đình có nhiều con, nhất là con trai đểcòn phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già và nối dõi tông đường, thêm con là thêm lộc,nhiều con là nhiều của, đông con là đảm bảo cho cả hiện tại và lúc về già Đối với

họ con trai vẫn có vai trò quan trọng như trước Mong muốn có nhiều con, đặc biệt

là con trai vẫn đang là chuẩn mực của người dân nơi đây Vẫn có 58% ý kiến ngườitrả lời mong muốn có từ 3 con trở lên Số con trung bình của phụ nữ Mông tuổi 40

- 49 là 6,1 con và của phụ nữ Dao là 5,3 con [UNFPA, 2007] Sinh con nhiều vàkhoảng cách giữa hai lần sinh ngắn ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ của ngườiphụ nữ Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến việc tiếp cận sử dụng dịch vụ chăm sóctrước sinh, trong, sau sinh và sức khoẻ bà mẹ trong những lần sinh kế tiếp

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ người dân tộc thiểu số sử dụng biện pháptránh thai để giãn khoảng cách sinh và kiểm soát mức sinh còn thấp Nhìn chung,nhóm dân tộc thiểu số có ít kiến thức về phòng tránh thai hơn so với nhóm dân tộcKinh ở vùng đồng bằng, thành thị [UNFPA, 2008d] Nghiên cứu về chăm sócSKSS của người H’Mông ở Hà Giang cho thấy số người sử dụng biện pháp tránhthai ở huyện Cán Chu Phìn năm 2006 là 147 người trên tổng số dân của huyện là4.725 người (805 hộ), trong đó đặt vòng là phương pháp được sử dụng nhiều nhất[UNFPA, 2008a] Nghiên cứu ở Nghệ An cũng cho thấy, trong 4 nhóm dân tộcthiểu số được nghiên cứu, nhóm dân tộc H’Mông có tỷ lệ phụ nữ sử dụng biệnpháp tránh thai thấp nhất Kiến thức của phụ nữ dân tộc thiểu số về thời gian cần

Trang 33

thiết phải sử dụng biện pháp tránh thai còn hạn chế, họ không biết khi nào nên ápdụng biện pháp tránh thai Cũng có trường hợp đưa ra mốc sự kiện về số con mongmuốn, ví dụ sau khi họ có 1 hay 2 con trai, hoặc sau khi họ có 1 con trai và 1 congái thì sẽ áp dụng kế hoạch hoá gia đình [Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, 2003].Như vậy có thể thấy mục đích sử dụng biện pháp tránh thai trong nhóm dân tộcthiểu số chủ yếu nhằm hạn chế mức sinh, họ chưa ý thức nhiều về việc sử dụngbiện pháp tránh thai để giãn khoảng cách sinh, nhằm tạo điều kiện nâng cao sứckhoẻ bà mẹ và trẻ em

Khi nghiên cứu về tình hình chăm sóc SKSS ở nhóm các dân tộc thiểu số,một nội dung cũng được nhiều học giả quan tâm đó là vấn đề bình đẳng giới trongchăm sóc SKSS Tác giả Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Lan Phương đã bàn đến mốiquan hệ giữa địa vị của người phụ nữ với việc chăm sóc SKSS trong cộng đồngdân tộc Thái và Êđê Mặc dù đã có nhiều thay đổi về địa vị của phụ nữ và nam giớitrong vài thập kỷ gần đây nhưng trong tư tưởng của đa phần dân cư, đặc biệt là cưdân các nhóm dân tộc thiểu số, các giá trị truyền thống của nam giới và phụ nữ vẫnđược bảo lưu Vẫn tồn tại tâm lý thích đông con, có nếp có tẻ, nhưng quan trọng làphải có con trai, con trai vẫn được coi trọng Hiện tượng kết hôn trước tuổi quyđịnh của Nhà nước vẫn tồn tại vì họ thường kết hôn theo tập tục, hôn nhân đượclàng bản và gia đình hai họ chứng kiến là sự ràng buộc chắc chắn nhất của các cặp

vợ chồng Việc đăng ký kết hôn ở UBND xã và khai sinh cho con là điều mà ngườidân ít nghĩ đến Do đó, để nâng cao địa vị của phụ nữ các dân tộc thiểu số cần tăngcường công tác thông tin giáo dục truyền thông dựa trên những đặc thù về địa lý,phong tục tập quán của từng dân tộc, tăng cường mạng lưới chăm sóc sức khoẻ banđầu và KHHGĐ tại các vùng sâu, vùng xa [Đoàn Kim Thắng, Nguyễn Lan Phương,

1998, tr 65 - 73] Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh trong một bài viết đã cho thấyngười phụ nữ H’Mông khi lập gia đình sống lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng vàhầu như không tham gia các hoạt động xã hội như hội họp phụ nữ hoặc thôn bản.Chế độ gia trưởng phụ quyền còn tồn tại rất mạnh Mọi công việc trong gia đìnhnhư xã giao, tiếp xúc và mua bán, thậm chí cả đi chợ đều do người đàn ông trong

Trang 34

gia đình đảm nhiệm Người phụ nữ ít có cơ hội giao lưu, mà chỉ quanh quẩn trongnhà và với công việc ngoài nương rẫy Họ chỉ có cơ hội gặp gỡ, chuyện trò vớinhau khi trong bản có đám cưới, đám ma hoặc trong những ngày tết Phụ nữH’Mông cũng kết hôn sớm hơn phụ nữ các dân tộc khác Mọi thông tin mà phụ nữH’Mông tiếp cận được chủ yếu là qua người chồng hoặc anh em chồng sống trongnhà truyền đạt lại Thời gian nhàn rỗi của phụ nữ là không có Phụ nữ H’Môngcũng rất xấu hổ khi nói đến chuyện riêng tư, thầm kín, đi đâu cũng phải có chồng đikèm, nhất là khi đi khám bệnh [Nguyễn Thị Vân Anh, 1998, tr 46 - 56] Tác giảNguyễn Linh Khiếu cũng đã đề cập đến vị thế của người phụ nữ trong một số vấn

đề của gia đình, trong đó có vấn đề liên quan đến KHHGĐ như việc quyết định sốcon trong gia đình Quyết định số con trong gia đình là một chỉ báo quan trọngphản ánh vị thế của phụ nữ và nam giới trong gia đình So với trước đây, quyềnquyết định số con hoàn toàn phụ thuộc vào người nam giới, thì trong thời gian gầnđây, tình hình có xu hướng thay đổi tích cực hơn, thể hiện qua việc phụ nữ đã cùngvới chồng quyết định về số con trong gia đình và một số việc quan trọng khác Tuynhiên, vai trò và vị trí người phụ nữ vẫn chưa được xã hội đánh giá đúng mức Vẫntồn tại những định kiến giới bất lợi cho sự phát huy những tiềm năng vốn có củangười phụ nữ trong đời sống gia đình [Nguyễn Linh Khiếu, 2002]

Tóm lại, qua báo cáo kết quả những nghiên cứu trên cho thấy, nhìn chungvấn đề chăm sóc SKSS cho nhóm dân tộc thiểu số còn rất hạn chế Thành tựu đạtđược khi thực hiện những chiến lược quốc gia về dân số và sức khoẻ sinh sản rấtkhác nhau giữa các vùng, các khu vực và các địa phương Đặc biệt, đồng bào cácdân tộc thiểu số ở nước ta có tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em còn cao, mức sinh tựnhiên chưa được kiểm soát, tỷ lệ trẻ em suy sinh dưỡng trong cộng đồng các dântộc thiểu số vẫn còn những con số đáng kể, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thựchiện các mục tiêu mà Chính phủ đặt ra trong chiến lược về dân số, sức khoẻ sinhsản ở nước ta Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta vẫn còn duy trìnhiều thực hành sinh đẻ truyền thống, ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ bà mẹ và trẻ

em, gián tiếp làm suy giảm chất lượng dân số

Trang 35

1.3 Đi m lu n m t s nghiên c u đ c p đ n s tham gia c a nam gi i ể ậ ộ ố ứ ề ậ ế ự ủ ớ trong chăm sóc s c kho sinh s n ứ ẻ ả

Hội nghị quốc tế về Dân sốvà Phát triển (ICPD) tại Cairo năm 1994 là mộttrong những hội nghị quốc tế đầu tiên công nhận vai trò nam giới trong chăm sócsức khỏe sinh sản Chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: Những chươngtrình sáng kiến phải được chú ý phát triển để làm cho thông tin, tư vấn và các dịch

vụ về sức khoẻ sinh sản đến được với nam giới nói chung và nam vị thành niên nóiriêng Những chương trình như vậy vừa phải chú ý giáo dục vừa khuyến khích namgiới chia sẻ công bằng hơn với phụ nữ trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình,trách nhiệm nuôi dậy con cái và chịu trách nhiệm chính trong việc phòng chống cácbệnh lây truyền qua đường tình dục

♦ Điểm luận những nghiên cứu về sự tham gia của nam giới nói chung trong chăm sóc SKSS

Nói đến chăm sóc SKSS rất nhiều người nghĩ rằng đây là việc riêng củangười phụ nữ, nam giới không cần phải quan tâm đến vấn đề này Đây là quanđiểm chủ quan, thể hiện quan điểm giới thiếu bình đẳng Phụ nữ và nam giới là haichủ thể đóng vai trò như nhau trong quá trình sinh sản Vì vậy, chăm sóc SKSS làvấn đề cần được sự quan tâm của cả hai giới Tại hội nghị Phụ Nữ Bắc Kinh năm

1995 đã nhận định rằng chia sẻ trách nhiệm giữa phụ nữ và nam giới trong các vấn

đề liên quan đến sinh sản là điều cần thiết để cải thiện sức khoẻ của phụ nữ Đặcbiệt ở những quốc gia nơi quan niệm gia trưởng truyền thống vẫn chi phối mạnh

mẽ hành vi của các cá nhân, nơi đàn ông vẫn được coi là trụ cột chính trong giađình, có quyền quyết định mọi vấn đề lớn nhỏ thì một bằng chứng rõ ràng đã chỉ rarằng sự tham gia chia sẻ của nam giới thực sự sẽ tăng cường sức khoẻ cho phụ nữ[Hoàng Bá Thịnh, 1999, tr 11-24]

Điểm luận một số nghiên cứu về sự tham gia của nam giới trong chăm sócSKSS cho thấy sức khoẻ sinh sản từ lâu đã được nhìn nhận như một vấn đề củariêng phụ nữ, những chương trình kế hoạch hoá gia đình, sinh sản thường tập trung

Trang 36

nhấn mạnh riêng cho đối tượng phụ nữ Rõ ràng, việc xác định phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ là đối tượng chính trong các cuộc vận động KHHGĐ là đúng đắn, songkhông thể xem nhẹ vai trò của nam giới - người chồng trong cuộc vận động này, bởingười chồng là một kênh truyền thông quan trọng trong đời sống các cặp vợ chồng.Ngoài ý nghĩa là một trong những nhân tố quyết định ý thức và hành vi sinh đẻ củaphụ nữ, thì bản thân họ cũng là một nhân tố tạo ra hành vi sinh đẻ Có nghĩa ngườichồng phải được xem là một đối tượng chính để thực hiện các biện pháp KHHGĐ[Đoàn Kim Thắng, 1995, tr 39 - 43] Cũng bàn về vấn đề này, tác giả Trần Cao Sơn

đã khẳng định rằng nếu các chương trình KHHGĐ cũng tập trung vào nam giới, cácchương trình vận động, tuyên truyền về KHHGĐ tích cực vận động nam giới thì họcũng sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ trong việc thực hiện KHHGĐ [TrầnCao Sơn, 1998] Tác giả Lê Thi thì nhấn mạnh rằng cả nam giới và nữ giới đều cótrách nhiệm và quyền lợi trong việc thực hiện KHHGĐ, người vợ và người chồngcùng thực hiện các biện pháp tránh thai, thế nhưng gánh nặng thực hiện KHHGĐ,

sử dụng các biện pháp tránh thai vẫn do phụ nữ đảm nhận là chính Một số biệnpháp như triệt sản, đặc biệt là nạo hút thai có ảnh hưởng không tốt cho sức khoẻ củangười phụ nữ trong khi các biện pháp tránh thai của nam giới ngay như triệt sảncũng đỡ nguy hiểm hơn nhưng nam giới lại ít thực hiện Trong một số gia đình, đặcbiệt là gia đình đông con, nam giới đóng một vai trò quan trọng trong việc có nênsinh con hay không nhưng cứ khi nói đến sinh đẻ, người ta nghĩ ngay đến đó là việccủa phụ nữ và do vậy các cuộc vận động kế hoạch hoá chỉ tập trung vào đối tượng nữ,giao cho phụ nữ thực hiện trách nhiệm đẻ ít con Bên cạnh đó, các chương trình truyềnthông dân số thường đặt trong chương trình sức khoẻ bà mẹ và trẻ em và chỉ thu hút

sự quan tâm của phụ nữ Các cơ quan dịch vụ về KHHGĐ cũng chỉ chú ý phục vụđối tượng nữ [Lê Thi, 1998]

Ở hầu hết các vùng trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, namgiới thể hiện vai trò rất nhỏ bé trong chăm sóc người bạn đời ở giai đoạn thainghén, sinh đẻ Đàn ông thường là những người quyết định khi nào thì điều kiệnsức khoẻ của phụ nữ là nghiêm trọng, cần phải đến cơ sở y tế hay tìm kiếm sự

Trang 37

chăm sóc y tế Như vậy, quyết định và hành động của nam giới trong việc mangthai, sinh đẻ và sau khi em bé ra đời thường làm nên sự khác biệt giữa bệnh tật vàsức khỏe; cái sống và cái chết của những người phụ nữ [Oona Campbell, JonhCleland, Martine Collumbien, Karen Southwick, 1999],

Nam giới thường là những người có vai trò quyết định về quy mô gia đình(số con trong gia đình), về việc có hay không sử dụng biện pháp tránh thai Một sốnghiên cứu ở nước ngoài đã chỉ ra rằng, nam giới thường mong muốn gia đình cóquy mô lớn Như ở Tây Phi, số nam giới muốn có 4 đứa con nhiều hơn hẳn phụ nữ.Phụ nữ thường hay bị phụ thuộc vào người chồng trong việc sử dụng biện pháptránh thai Ở Indonesia, sự đồng ý của người chồng được xem là yếu tố quyết địnhquan trọng nhất đến việc sử dụng biện pháp tránh thai Ở Kenya cũng có xu hướngtương tự, sự đồng ý của người chồng là lý do mạnh mẽ nhất mà những người vợđưa ra để giải thích về việc có hay không sử dụng biện pháp tránh thai [OonaCampbell, Jonh Cleland, Martine Collumbien, Karen Southwick, 1999]

Nghiên cứu ở Jammu và Kashmir - Ấn Độ về sự tham gia của nam giới trongchăm sóc sức khoẻ sinh sản đã công bố phát hiện rằng có 68% nam giới có con dưới

3 tuổi nói rằng họ đã cùng đi khám thai với vợ của mình ít nhất là một lần Sự thamgia của nam giới trong giai đoạn chăm sóc tiền sản có một sự khác biệt nhỏ giữakhu vực thành thị và nông thôn, có 4/3 nam giới ở khu vực thành thị và 2/3 namgiới ở khu vực nông thôn quan tâm đến chăm sóc thai nghén của người vợ Đồngthời nghiên cứu cũng nhận thấy có mối liên hệ giữa độ tuổi, trình độ học vấn, điềukiện kinh tế và số con đã có của người đàn ông với mức độ quan tâm chăm sóc tiềnsản Nhóm nam giới trẻ tuổi, nhóm có trình độ học vấn thấp, nhóm có điều kiệnkinh tế khó khăn và nhóm đã có nhiều con thì ít quan tâm đến vấn đề chăm sóc tiềnsản Tuy nhiên, kiến thức của nam giới trong nghiên cứu này về các dấu hiệu taibiến sản khoa lại rất hạn chế Hầu như có rất ít nam giới biết đầy đủ các dấu hiệu taibiến sản khoa Ở Jammu và Kashmir vẫn còn 11% nam giới cho rằng gia đình họcảm thấy không cần thiết phải thăm khám trước sinh, 12% cho rằng họ không đikhám vì phí dịch vụ cao quá khả năng chi trả Có 47% báo cáo rằng đứa con họ sinh

Trang 38

lần gần đây nhất là sinh ở nhà chứ không đến cơ sở y tế Có 18% cho rằng khôngcần thiết, 17% cho rằng khó khăn trong vấn đề đi lại, còn 9% thì cho rằng phí dịch

vụ quá đắt [Oona Campbell, Jonh Cleland, Martine Collumbien, Karen Southwick,1999] Sự tham gia chăm sóc SKSS của nam giới là một chỉ báo quan trọng thể hiệnmối quan hệ bình đẳng giới Tác giả Nguyễn Minh Thắng và Nguyễn Quý Nghị đãkhẳng định bình đẳng giới và sự tham gia của nam giới trong chăm sóc SKSS là haivấn đề có mối quan hệ chặt chẽ Cũng như nhiều chương trình dân số nói chung, đốitượng của các chương trình chăm sóc SKSS không nên chỉ tập trung vào nhóm đốitượng nữ Bình đẳng giới và đẩy mạnh vai trò của nam giới trong các chương trình

về chăm sóc SKSS là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của côngtác dân số - KHHGĐ và chăm sóc SKSS Trong chăm sóc SKSS, hiểu biết của namgiới về KHHGĐ/SKSS còn hạn chế, chưa đầy đủ Sự tham gia của nam giới vào cáchoạt động có liên quan còn hạn chế, đặc biệt là nhóm đối tượng ở vùng sâu, vùng

xa Nội dung được quan tâm nhiều nhất trong chăm sóc SKSS là KHHGĐ và chămsóc sức khoẻ bà mẹ, những nội dung khác như nạo thai, vô sinh ít được người dânquan tâm đến Trong nghiên cứu đánh giá này có đến 40,8% đối tượng chưa từngnghe đến thuật ngữ chăm sóc SKSS, đối tượng ở vùng sâu, vùng xa thì tỷ lệ đượcnghe đến thuật ngữ này còn thấp hơn các vùng khác Tỷ lệ nữ giới sử dụngBPTT nhiều gấp 5 lần so với nam giới Một đề xuất được đưa ra là nên cónhững buổi sinh hoạt riêng dành cho nam giới [Nguyễn Minh Thắng, NguyễnQuý Nghị, 1999, tr 97-103]

Cho đến bây giờ vẫn có nhiều người cho rằng chăm sóc trước khi sinh làđiều không cần thiết Tuy nhiên, thực tế cho thấy để sinh ra được những đứa trẻkhoẻ mạnh thì những bà mẹ phải luôn quan tâm đến tình trạng sức khoẻ, cũng nhưquá trình phát triển của thai nhi trong suốt thai kì Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằngngười chồng có vai trò rất lớn trong công tác chăm sóc trước sinh, đặc biệt là ở cácquốc gia đang phát triển, nơi người chồng luôn có tiếng nói quyết định đối vớinhiều vấn đề trong gia đình Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng quyết định của ngườichồng là yếu tố quan trọng nhất tác động đến thực hành thăm khám thai của phụ nữ

Trang 39

[Saraswati Raju and Ann Leonard, 2000].

Rõ ràng đàn ông có vai trò quyết định rất lớn đối với sức khoẻ của người phụ

nữ nhất là trong thời kì mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ Tuy nhiên, thực tế chothấy không có nhiều đàn ông ý thức được vai trò của họ Ngay trong xã hội hiện đạingày nay vẫn tồn tại nhiều thực hành và quan điểm truyền thống trong nhóm nhữngngười đàn ông trẻ, dường như những thực hành đó là sản phẩm của sự di truyền từthế hệ trước Sống trong xã hội hiện đại, không phải mọi thực hành và quan niệmđều mang tính hiện đại Ethiopia là một quốc gia đã có nhiều thay đổi lớn về vănhoá, kinh tế và đặc biệt là những thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình ở các đô thị, sựthay đổi đó cũng đã tác động nhiều đến vai trò của người chồng trong chăm sócSKSS cho người vợ trong thời gian mang thai và sinh đẻ Các nghiên cứu cũng đãluôn chứng minh rằng vai trò của người chồng trong việc chăm sóc trước khi sinh làyếu tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy sức khỏe của bà mẹ mang thai và trẻ sơsinh và cũng làm giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh trong thời kỳ mang thai vàthời gian sinh đẻ Do đó sự tham gia của người chồng trong việc chăm sóc trước khisinh được coi là một bước quan trọng trong việc mở rộng quy mô sử dụng dịch vụchăm sóc trước khi sinh của phụ nữ [Mekonnen Muleta, 2009] Nghiên cứu củaMekonnen Muleta đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ đàn ông tham gia chăm sóc trướcsinh ở Ethiopia còn rất thấp, ngay cả đối với những người chồng có trình độ học vấncao và điều kiện kinh tế khá giả thì vai trò của họ trong chăm sóc SKSS vẫn còn rất

mờ nhạt Đây là vấn đề xuất phát từ nguyên nhân truyền thống văn hoá Nhữngquan điểm và thực hành truyền thống trong chăm sóc trước sinh dường như được ditruyền từ thế hệ trước và người ta thực hiện những thực hành đó một cách vô thức,theo truyền thống và không hề ý thức được những tác hại của những thực hành ấy.Những người phụ nữ mang thai luôn cần sự hỗ trợ và chăm sóc của người chồng, họrất cần sự gắn kết, động viên về mặt tâm lý và cảm xúc Người phụ nữ mang thailuôn muốn biết về mọi thứ trong quá trình mang thai của mình thông qua ngườichồng Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta thấy điều ngược lại, rất ít người chồngquan tâm đến vấn đề này [Mekonnen Muleta, 2009]

Trang 40

Cũng theo Mekonnen Muleta, những người đàn ông ở Ethiopia đã tỏ rõ sự quantâm và lo lắng của họ trong quá trình người vợ mang thai và sinh đẻ, họ cũng rất muốn

có được thông tin để hiểu về giai đoạn này, giai đoạn mà họ cho là khá khó khăn tronggia đình Tuy nhiên, những thực hành của người chồng thì không bộc lộ theo xu hướng

ấy, thay vào đó là một sự phản ánh lịch sử cụ thể, thói quen và bối cảnh xã hội mà họđang sống Người đàn ông vẫn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó điều kiệnkinh tế, niềm tin và những thực hành truyền thống là những yếu tố cơ bản nhất cản trởngười đàn ông trong lĩnh vực chăm sóc trước sinh Tác giả cũng chỉ ra tất cả các yếu tốnhư mù chữ, nghèo đói, áp lực xã hội, bất bình đẳng giới và những niềm tin, tập quáncấm kị truyền thống đều góp phần làm giảm sự tham gia của người chồng trong việcchăm sóc trước sinh [Mekonnen Muleta, 2009]

Như vậy, nghiên cứu của Mekonnen Muleta ở Ethiopia cũng đã phần nào lột

tả bức tranh chung ở các nước đang phát triển về vai trò của người chồng trongchăm sóc SKSS nói chung và chăm sóc trước sinh nói riêng Quan điểm và thựchành của nam giới trong xã hội hiện đại ngày nay đã có nhiều chuyển biến tiến bộ,tuy nhiên những chuyển biến ấy không phải là xu hướng phổ biến Bên cạnh nhữngquan điểm và thực hành tiến bộ thì còn tồn tại rất nhiều quan điểm và thực hànhtruyền thống, được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở nhiều nơi trên thếgiới, sinh đẻ vẫn là gánh nặng mà riêng người phụ nữ phải gánh vác, họ ít nhận được sựsan sẻ từ phía người chồng

Phụ nữ từ lâu đã đối tượng đích duy nhất mà các chương trình kế hoạch hoágia đình và chăm sóc SKSS tập trung đến, nam giới thường là đối tượng đứng ngoàicác chương trình nói trên một cách rất tự nhiên Những chương trình tập huấn vềcác biện pháp phòng tránh thai để hạn chế mức sinh hay giãn khoảng cách sinh, rồitập huấn về chăm sóc thai sản… đều mời các đối tượng tham dự chính là phụ nữ Ởnhững nước phát triển, các nỗ lực nhằm liên quan đến người đàn ông bắt đầu sớm từnhững năm 1970, còn ở các nước đang phát triển cho đến những năm gần đây vấn

đề này mới thực sự được quan tâm Hiện nay một số người ủng hộ mạnh mẽ việc sửdụng biện pháp tránh thai để ổn định dân cư vẫn chưa bị thuyết phục rằng sự tham

Ngày đăng: 30/07/2015, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Vân Anh (1993), “Sở thích về sinh đẻ ở một số vùng nông thôn Việt Nam”, Tạp chí Xã hội học (2), tr. 35 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở thích về sinh đẻ ở một số vùng nông thônViệt Nam”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 1993
3. Nguyễn Thị Vân Anh (1998), “Những yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng tới việc tiếp nhận hiệu quả chương trình truyền thông dân số của phụ nữ dân tộc thiểu số ở một số xã miền núi phía Bắc”, Tạp chí Xã hội học (1), tr. 46 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng tới việctiếp nhận hiệu quả chương trình truyền thông dân số của phụ nữ dân tộc thiểu sốở một số xã miền núi phía Bắc”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 1998
4. Phạm Thị Tú Anh (2007), Thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản phụ nữ tuổi mãn kinh quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Khoa Xã hội học, ĐH Khoa học XH và NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản phụ nữ tuổimãn kinh quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Tú Anh
Năm: 2007
5. Bế Trung Anh (1999), “Hành vi chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản của người Tày tại một xã vùng xâu vùng xa: Yên Ninh - Phú Lương - Thái Nguyên”, Tạp chí Xã hội học (3&4), tr. 119 - 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản củangười Tày tại một xã vùng xâu vùng xa: Yên Ninh - Phú Lương - Thái Nguyên”,"Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Bế Trung Anh
Năm: 1999
6. Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Thị Yên (2011), “Chính sách dân số/kế hoạch hoá gia đình/chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em trong mối quan hệ với xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Tạp chí Dân số và Phát triển (1), http://www.gopfp.gov.vn/dan-so-phat-trien, truy cập ngày 22/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân số/kế hoạch hoágia đình/chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em trong mối quan hệ với xoá đói giảmnghèo ở Việt Nam”, "Tạp chí Dân số và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Thị Yên
Năm: 2011
7. Nguyễn Thanh Bình (2012), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi kết hôn lần dầu ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân số và Phát triển (2), http://www.gopfp.gov.vn/dan-so-phat-trien, truy cập ngày 22/10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi kết hôn lần dầuở Việt Nam hiện nay”, "Tạp chí Dân số và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2012
8. Mai Huy Bích (2003), “Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dậy dỗ của người cha”, Tạp chí Xã hội học (2), tr. 18 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dậy dỗ của ngườicha”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Mai Huy Bích
Năm: 2003
9. Mai Huy Bích (2009), Giáo trình xã hội học gia đình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
10. Trần Hữu Bích (2010), “Vai trò của người cha - mối liên quan giữa sự tham gia sớm và sự tham gia của người cha vào chăm sóc trẻ”, Tạp chí Xã hội học (2), tr. 43 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người cha - mối liên quan giữa sự tham gia sớmvà sự tham gia của người cha vào chăm sóc trẻ”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Trần Hữu Bích
Năm: 2010
11. Bilton, T và các tác giả khác (1993), Nhập môn xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Tác giả: Bilton, T và các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 1993
12. Bộ Y Tế, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (2008), Một số văn bản của Đảng, Nhà Nước về công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản củaĐảng, Nhà Nước về công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình hiện nay
Tác giả: Bộ Y Tế, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hoá gia đình
Năm: 2008
13. Bộ Y Tế, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hoá gia đình (2009), Một số văn bản quốc tế liên quan đến chính sách dân số, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bảnquốc tế liên quan đến chính sách dân số, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá giađình
Tác giả: Bộ Y Tế, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hoá gia đình
Năm: 2009
14. Bộ Y Tế (2009), Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Ban hành kèm theo Quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinhsản
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2009
16. Nguyễn Đức Chiện (2011), Sống chung trước hôn nhân của nam, nữ sinh viên hiện nay, Luận án tiến sĩ Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống chung trước hôn nhân của nam, nữ sinh viênhiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Chiện
Năm: 2011
17. Nguyễn Văn Chính (1999), “Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh đẻ của người Việt”, Tạp chí Xã hội học (3&4), tr. 85 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinhđẻ của người Việt”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 1999
18. Nguyễn Đình Cử (1996), “Dân số - kế hoạch hoá gia đình và phát triển”, Tạp chí Xã hội học (3), tr. 82 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số - kế hoạch hoá gia đình và phát triển”, "Tạpchí Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Năm: 1996
19. Khổng Diễn chủ biên (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miềnnúi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
20. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng cùng các cộng sự (2008), Xã hội học, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng cùng các cộng sự
Nhà XB: Nxb ĐHQuốc gia Hà Nội
Năm: 2008
21. Phạm Tất Dong cùng các cộng sự (2002), Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá địa phương đến việc tiếp nhận thông tin-giáo dục-truyền thông về SKSS/KHHGĐ của một số nhóm dân tộc ở Tây Nguyên, Uỷ ban dân số, Gia đình và Trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tốvăn hoá địa phương đến việc tiếp nhận thông tin-giáo dục-truyền thông vềSKSS/KHHGĐ của một số nhóm dân tộc ở Tây Nguyên
Tác giả: Phạm Tất Dong cùng các cộng sự
Năm: 2002
22. Nguyễn Tấn Đức (2011), “Tăng cường bình đẳng giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi”, Tạp chí Dân số và Phát triển (4), http://www.gopfp.gov.vn/dan-so-phat-trien, truy cập ngày 22/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường bình đẳng giới trong chăm sóc sức khoẻsinh sản của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi”, "Tạp chí Dân số vàPhát triển
Tác giả: Nguyễn Tấn Đức
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Số con trong gia đình và mong muốn có thêm con của nam giới - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3.1. Số con trong gia đình và mong muốn có thêm con của nam giới (Trang 77)
Bảng 3.4. Sự thực hiện vai trò chia sẻ sử dụng biện pháp tránh thai Biện pháp tránh thai Tỷ lệ sử dụng - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3.4. Sự thực hiện vai trò chia sẻ sử dụng biện pháp tránh thai Biện pháp tránh thai Tỷ lệ sử dụng (Trang 88)
Bảng 3.6. Nhận thức về vai trò của bản thân đối với chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3.6. Nhận thức về vai trò của bản thân đối với chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp (Trang 95)
Bảng 3.7. Tương quan giữa nhận thức về vai trò và sự thực hiện vai trò - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3.7. Tương quan giữa nhận thức về vai trò và sự thực hiện vai trò (Trang 98)
Bảng 3.9. Lý do nam giới không đưa vợ đi tiêm phòng - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3.9. Lý do nam giới không đưa vợ đi tiêm phòng (Trang 106)
Bảng 4.2. Độ tuổi và vai trò quyết định sinh con - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.2. Độ tuổi và vai trò quyết định sinh con (Trang 115)
Bảng 4.3 cho thấy ở độ tuổi nào thì nam giới cũng ít quan tâm chia sẻ với người phụ nữ gánh nặng KHHGĐ - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.3 cho thấy ở độ tuổi nào thì nam giới cũng ít quan tâm chia sẻ với người phụ nữ gánh nặng KHHGĐ (Trang 116)
Bảng 4.5. Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi khám thai - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.5. Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi khám thai (Trang 118)
Bảng 4.6. Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi tiêm phòng uốn ván Đưa vợ đi tiêm - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.6. Độ tuổi và vai trò đưa vợ đi tiêm phòng uốn ván Đưa vợ đi tiêm (Trang 119)
Bảng 4.7. Trình độ học vấn và sự hiểu biết về số con của nam giới Hiểu biết về số con theo quy - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.7. Trình độ học vấn và sự hiểu biết về số con của nam giới Hiểu biết về số con theo quy (Trang 121)
Bảng 4.9. Trình độ học vấn và sự thực hiện vai trò nấu cơm cho vợ khi vợ ở cữ Trong thời gian vợ ở cữ, ai - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.9. Trình độ học vấn và sự thực hiện vai trò nấu cơm cho vợ khi vợ ở cữ Trong thời gian vợ ở cữ, ai (Trang 123)
Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy một cái nhìn đầy thiện chí với người đàn ông dân tộc H’Mông - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng s ố liệu trên cho chúng ta thấy một cái nhìn đầy thiện chí với người đàn ông dân tộc H’Mông (Trang 123)
Bảng 4.10. Tương quan giữa việc được nghe tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản với - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.10. Tương quan giữa việc được nghe tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản với (Trang 136)
Bảng 4.11. Tương quan giữa việc biết đến thông tin về chăm sóc SKSS qua SBĐTV và - Vai trò của nam giới dân tộc h’mông vùng tây bắc trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 4.11. Tương quan giữa việc biết đến thông tin về chăm sóc SKSS qua SBĐTV và (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w