1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

73 529 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngành Công Nghiệp Phần Mềm Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 905,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

MỞ ĐẦU

ƒ Lý do hình thành đề tài

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra với tốc độ vũ bão, và tạo nên những biến đổi sâu sắc và làm thay đổi tận gốc các mặt của đời sống xã hội loài người

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện đại của thế giới, trong điều kiện của nền kinh tế trí thức ấy, cơ hội phát triển thực sự lớn lao nhưng thử thách không kém phần khắc nghiệt đang đặt ra cho nước ta trên con đường đổi mới của mình Đảng và Nhà nước đã khẳng định công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước, tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh, mạnh, bền vững Chủ trương, chiến lược đã đề

ra, song thực tế việc phát triển ngành công nghiệp non trẻ này, đặc biệt là ngành

công nghiệp phần mềm nhằm khai thác giá nhân công rẻ và trí thông minh người Việt, đang diễn ra không suôn sẻ như mong đợi

Vì thế, hơn lúc nào hết, việc tìm hiểu lý do dưới góc độ lý luận và cả về thực tiễn chiến lược phát triển ngành công nghiệp phần mềm non trẻ nước ta nói chung, đặc biệt là ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, là vô cùng cần thiết để góp phần trụ vững và phát triển ngành Công Nghiệp Phần Mềm TP.Hồ Chí Minh , và qua đó góp phần phát huy được hiệu quả nguồn lực tổng hợp của xã hội, khai thác triệt để nguồn năng lực nội sinh và thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2010 mà Đảng đã đề ra

ƒ Mục tiêu của đề tài

Ba mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn này là:

sách kinh doanh, vận dụng nghiên cứu thực tiễn, kinh nghiệm, xu thế

Trang 2

phát triển ngành công nghiệp phần mềm thế giới và một số nước trong khu vực; chuyển tải những nhận thức mới về ngành công nghiệp phần mềm

trong giai đoạn 2001-2005 của ngành công nghiệp phần mềm thành phố Hồ Chí Minh – vốn là địa bàn với những lợi thế về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực dồi dào và thị trường lớn, môi trường kinh doanh thuận lợi và chiếm đến 50% các công ty phần mềm trong cả nước;

triển ngành công nghiệp phần mềm ở địa bàn TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2010; đề xuất giải pháp giúp cho các cấp quản lý thêm thông tin để điều chỉnh thích hợp cho chiến lược hoạt động và phát triển ngành công nghiệp phần mềm tại TP.Hồ Chí Minh từ đây đến năm 2010

ƒ Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : ngành công nghiệp phần mềm

- Phạm vi nghiên cứu : trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Giai đoạn, thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2001 – 2005

ƒ Phương pháp luận nghiên cứu

dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghệ thông tin, và theo cách tiếp cận hệ thống để phân tích làm rõ thực trạng Từ đó nhận định, phân tích tình hình, phát triển ý tưởng của các quan điểm, để góp phần định hướng chiến lược phát triển ngành công nghiệp phần mềm thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2010

hợp phương pháp thống kê – khảo sát, phân tích – tổng hợp – so sánh

Trang 3

ƒ Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu

Các số liệu thông tin thứ cấp:

2001 – 2002 – 2003 -2005;

(IDG)

2002-2005;

Các số liệu thông tin sơ cấp:

Số liệu sơ cấp là các số liệu thực tế thu thập được qua khảo sát 10 doanh nghiệp phần mềm tại Trung tâm CNPM TPHCM và gần 40 doanh nghiệp khách hàng tham gia và tham quan Hội chợ VietNam Computer World

2004, 2005 và Hội chợ Softmart 2004, 2005 tổ chức hàng năm tại TP.Hồ Chí Minh

ƒ Bố cục đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu (3 trang), kết luận (2 trang), danh mục tài liệu tham khảo (2 trang), phụ lục (14 trang), Luận văn có khối lượng (57 trang), 01 sơ đồ, 03 hình, 19 bảng biểu và có kết cấu như sau:

Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG

NGHIỆP PHẦN MỀM

ChươngII : THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chương III: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM TRÊN

ĐỊA BÀN Û THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

Trang 4

Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM

1.1 KHÁI LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

1.1.1 Khái niệm chiến lược – Chiến lược phát triển

Khái niệm “chiến lược” được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự và sau đó

ở lĩnh vực chính trị Từ những năm 50 của thế kỷ XX, khái niệm chiến lược được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế xã hội

Trong bài báo “Chiến lược là gì?” năm 1996, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược

kinh doanh của trường Harvard, Michael E Porter, cho rằng chiến lược là sự

sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt; thứ hai, chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh; thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty

Có thể nói, Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng

như các kế hoạch chủ yếu để đạt được mục tiêu đó, nó cho thấy rõ tổ chức (đơn vị/ công ty/ngành ) đang hoặc sẽ thực hiện hoạt động gì, và tổ chức đang hoặc sẽ thuộc vào lĩnh vực nào Chiến lược thường được hiểu là hướng và cách giải quyết

nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong thời gian dài, nó chỉ tạo ra các khung nhằm hướng dẫn tư duy để hành động

Quản trị chiến lược bắt nguồn từ khái niệm chiến lược công ty được phát triển

từ những năm 60-70 của thập kỷ 20 Theo Fred R David : Quản trị chiến lược là

nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt đến những mục tiêu đề ra. [12,9]

Chiến lược phát triển của một ngành kinh tế xã hội (sau đây gọi tắt là chiến

lược) được xem như là một công cụ nhằm tác động đến bản chất của quá trình phát triển của một ngành, có tác dụng làm thay đổi hệ thống của ngành, từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất của hệ thống, tức là toàn bộ ngành kinh tế-xã hội Đó là sự thay đổi về mục tiêu, cơ cấu, cơ chế hoạt động của một ngành, những thay đổi này tạo cho ngành có những tính chất mới

Trang 5

Theo chúng tôi, chiến lược là một chương trình hành động tổng thể của một ngành kinh tế-xã hội, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản trên cơ sở xem xét một cách khách quan đến các yếu tố nội tại và ngoại cảnh của ngành nhằm đáp ứng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh, hội nhập quốc tế

1.1.2 Vai trò của chiến lược phát triển đối với một ngành kinh tế

Chiến lược phát triển đóng vai trò quan trọng đối với ngành, thể hiện gồm:

ngành, hướng tới mục tiêu đã chọn

ƒ Tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực hiện có của ngành trong điều kiện thực tế

ƒ Khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường, định hướng mục tiêu, bảo đảm sự cân đối trong hệ thống kinh tế và các mục tiêu xã hội

ƒ Cuối cùng, chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ tổng quát cho việc thiết lập các quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế một cách chủ động và hiệu quả

1.1.3 Những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển

Một chiến lược phát triển ở tầm quốc gia thường có các nội dung cơ bản sau:

1.1.3.1 Căn cứ của chiến lược phát triển

học kinh nghiệm trong quá trình phát triển đã qua của đất nước, nhất là những khoảng thời gian thực hiện chiến lược liền kề trước đó Mặt khác, kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới và khu vực cũng có thể giúp chúng ta nghiên cứu, tham khảo, rút kinh nghiệm khi xây dựng chiến lược

thời điểm mở đầu chiến lược, tìm xem nền kinh tế đang ở giai đoạn nào và trình độ nào so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới

Trang 6

ƒ Đánh giá, dự báo các nguồn lực, các lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh và môi trường phát triển trong thời kỳ chiến lược, bao gồm các yếu tố như: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân số và lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn…

ƒ Đánh giá và dự báo bối cảnh quốc tế, các điều kiện bên ngoài như tác động của quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, nguồn vốn từ bên ngoài, khả năng mở rộng hợp tác quốc tế, và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ

Từ đó, làm rõ các thuận lợi, thời cơ khó khăn và thách thức đối với sự phát triển trong thời gian tới

1.1.3.2 Hệ thống mục tiêu chiến lược phát triển

Hệ thống mục tiêu chiến lược phát triển ở đây đề cập đến các mục tiêu gắn liền với việc giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội và bảo vệ môi trường như tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu, xóa đói giảm nghèo, hội nhập kinh tế quốc tế và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tập trung những biến đổi về chất của nền kinh tế xà hội Những mục tiêu tổng quát, bao trùm của chiến lược phải chứa đựng nhiều mục tiêu cụ thể Trong các loại mục tiêu, có thể phân ra mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể có mức độ đủ rõ để đánh giá được kết quả thực hiện

1.1.3.3 Định hướng và giải pháp chiến lược phát triển

Những định hướng và giải pháp chiến lược phát triển chủ yếu bao gồm:

cấu các ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu công nghệ…

ƒ Giải pháp về cơ chế vận động của nền kinh tế-xã hội, tức là những chính sách và thể chế quản lý Đây là những giải pháp có ý nghĩa tạo

ra động lực và khai thác, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế-xã hội

1.1.4 Phương pháp xây dựng chiến lược phát triển đối với một ngành kinh

tế

1.1.4.1 Nội dung cơ bản

Trang 7

Theo nguồn tài liệu chuyên ngành của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, một chiến lược phát triển ngành cần có các nội dung cơ bản sau:

ƒ Các mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển ngành

ƒ Các chính sách cơ bản cho việc thực hiện chiến lược

ƒ Các giải pháp chính sách cơ bản cho giai đoạn trung hạn sắp tới

ƒ Chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển tổng thể kinh xã hội

tế-1.1.4.2 Quy trình thực hiện

Chiến lược phát triển ngành có thể được xây dựng theo các bước như sau:

ƒ Nghiên cứu các dữ liệu về các ngành kinh tế-xã hội khác Từ các số liệu này, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quan về chiến lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế, qua đó xác định được vị trí của ngành đang nghiên cứu trong mối tương quan với các ngành kinh tế-xã hội khác

để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và đe dọa thách thức đối với sự phát triển của ngành Từ đó tìm ra yếu tố lợi thế của ngành để tập trung phát triển

ƒ Xác định mục tiêu phát triển của ngành Từ các dữ liệu phân tích của ngành và đặc biệt từ dữ liệu phân tích các ngành kinh tế-xã hội khác đã đề cập ở trên, chúng ta xác định được mục tiêu phát triển của ngành

trình trọng điểm, và các vùng phát triển tập trung để làm trục xương sống cho chiến lược phát triển của ngành

ƒ Xây dựng các chiến lược phát triển ngành và giải pháp thực hiện

Việc phân tích thực trạng, kỹ thuật phân tích, cũng như việc xây dựng, lựa chọn chiến lược cho ngành sẽ kế thừa từ kỹ thuật phân tích thực trạng cũng như xây dựng lựa chọn chiến lược doanh nghiệp xuất phát từ một số điểm tương đồng và vai trò hạt nhân kinh tế ngành của doanh nghiệp Các quan điểm về kỹ thuật

Trang 8

phân tích hiện trạng như SWOT… và xây dựng lựa chọn chiến lược phát triển

David[17], nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp[2] và các đồng nghiệp, có thể khái quát ở các điểm sau:

Các loại chiến lược

Có rất nhiều loại chiến lược đã được các tổ chức/doanh nghiệp sử dụng trong thực tiễn để tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường Với các góc nhìn nhận vấn đề khác nhau cũng cho ra các cách phân loại về chiến lược khác nhau Trong thực tiễn việc đề ra các chiến lược đã trở thành một nghệ thuật kết hợp tư duy nhạy bén và các lý thuyết kinh nghiệm Trong thực tế các chiến lược được chia thành 04 nhóm chính theo sơ đồ hình vẽ dưới đây

- Thu hẹp hoạt động

- Cắt bỏ hoạt động

- Phát triển thị phần

- Phát triển sản phẩm

Một số công cụ sử dụng trong hoạch định chiến lược

Trong quá trình hoạch định chiến lược các nhà quản trị ngày nay thường sử dụng một số công cụ kỹ thuật để hỗ trợ việc ra quyết định như :

• Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài ( EFE )

• Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong ( IFE )

• Ma trận vị trí chiến lược và đánh giá hành động ( SPACE )

Trang 9

• Ma trận chiến lược chính (GSM)

1.2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM

1.2.1 Các khái niệm

Phần mềm là một tập hợp các chuỗi lệnh máy và các dữ liệu cần thiết (số liệu,

âm thanh, hình ảnh, ) để điều khiển phần thiết bị và/ hoặc hệ thống thực hiện các chức năng nhất định. [11, 1]

Công nghiệp phần mềm (CNPM) là một ngành kinh tế nhằm phát triển, sản

xuất, phân phối các sản phẩm phần mềm và cung cấp các dịch vụ phần mềm như đào tạo, huấn luyện, tư vấn, cung cấp giải pháp, hổ trợ kỹ thuật bảo trì cho người sử dụng phần mềm. [11,1]

1.2.2 Phân loại sản phẩm phần mềm

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sản phẩm phần mềm cũng như cách phân loại sản phẩm phần mềm Trong luận văn này, sản phẩm phần mềm

được phân loại bao gồm phần mềm đóng gói, phần mềm sản xuất theo hợp đồng và các dịch vụ phần mềm:

1.2.2.1 Phần mềm đóng gói

Phần mềm đóng gói là những sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, có thể sử dụng được ngay sau khi được cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống, được nhà sản xuất đăng ký thương hiệu và sản xuất hàng loạt để bán ra thị trường Phần mềm đóng gói được chia thành phần mềm ứng dụng, phần mềm hệ thống và phần mềm phát triển:

ƒ Phần mềm ứng dụng là phần mềm được phát triển nhằm giúp giải quyết

các công việc hàng ngày cũng như các hoạt động nghiệp vụ như soạn thảo văn bản, quản lý học sinh, quản lý kết quả học tập, quản lý thư viện, phần mềm kế toán, phần mềm quản trị doanh nghiệp v.v

ƒ Phần mềm phát triển (còn gọi là phần mềm công cụ) là các phần mềm

được dùng làm công cụ để cho các lập trình viên, những người phát triển phần mềm sử dụng nó để phát triển các phần mềm ứng dụng

Trang 10

ƒ Phần mềm hệ thống là các phần mềm tạo môi trường cho các phần mềm

khác làm việc Những phần mềm này phải thường trực vì nó phải cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của các phần mềm khác mà không biết trước yêu cầu đó xuất hiện khi nào

1.2.2.2 Phần mềm sản xuất theo hợp đồng

Là những sản phẩm phần mềm được sản xuất đơn lẻ hoặc được phát triển từ những phần mềm sẵn có theo các đơn đặt hàng hay theo hợp đồng giữa người sử dụng với nhà sản xuất phần mềm Phần mềm sản xuất theo hợp đồng có thể là một sản phẩm hoàn chỉnh, một phần mềm gia công hoặc một phần mềm nhúng

ƒ Phần mềm gia công là một hay nhiều phần của một sản phẩm phần mềm

nào đó được một công ty thuê lại một công ty phần mềm khác thực hiện

ƒ Phần mềm nhúng là phần mềm được nhà sản xuất thiết bị cài sẵn vào

thiết bị và chúng được sử dụng ngay cùng với thiết bị mà không cần có sự cài đặt của người sử dụng hay người thứ ba

1.2.2.3 Dịch vụ phần mềm

Dịch vụ phần mềm là các dịch vụ liên quan đến phần mềm như Dịch vụ bảo hành bảo trì, dịch vụ đào tạo, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ dự án, dịch vụ hỗ trợ triển khai, cấp phép sử dụng bản quyền phần mềm, v.v.…

1.2.3 Các đặc điểm của ngành công nghiệp phần mềm

Công nghiệp phần mềm có một số đặc điểm sau:

™ Là một ngành siêu sạch, đem lại lợi nhuận cao

Khác với những ngành kinh tế khác đòi hỏi đến nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí đầu tư cho phát triển ngành công nghiệp phần mềm chủ yếu là chi phí từ hoạt động trí tuệ và tiếp thị Vì vậy, đây là một ngành công nghiệp siêu sạch, không ảnh hưởng đến môi trường, và có thể nói là ngành đem lại lợi nhuận lớn nhất so với các ngành kinh tế khác Thực tế trong những năm cuối thập kỷ 20 trở lại đây, công nghiệp phần mềm đã tạo ra nhiều tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới,

Trang 11

và rất nhiều doanh nhân, chuyên gia đã nhanh chóng trở thành triệu phú, tỷ phú nhờ ngành công nghiệp mới mẻ này

™ Là ngành công nghiệp mới, có nhiều cơ hội cho sự phát triển

Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp mới mẻ Phần lớn các doanh nghiệp phần mềm mới bắt đầu hoạt động trong vòng 20 năm trở lại đây Đặc điểm nổi bật của ngành công nghiệp này là chủ yếu đầu tư đào tạo nhân lực, nâng cao kỹ năng, trí tuệ Thị trường phần mềm toàn cầu nói chung và trong mỗi quốc gia nói riêng đều tăng trưởng khá nhanh Nhu cầu về phần mềm, dịch vụ và nhân lực CNTT ngày càng tăng Các nước có mức độ phát triển càng cao thì nhu cầu về phần mềm và dịch vụ càng lớn, đến mức họ buộc phải tìm kiếm các nhà cung cấp và nguồn nhân lực phần mềm giá rẻ từ các nước kém phát triển hơn Đây là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển biết nắm đúng thời cơ, có những chiến lược đúng đắn, biện pháp hữu hiệu để có thể vượt lên Từ năm

1982, thực tiễn của nước Ấn Độ đã chứng minh cho điều này Và mới đây là Trung Quốc, và một số nước khác trong khu vực như Philippin, Malaysia cũng đang đạt được nhiều thành công lớn trong phát triển CNPM Đây là những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong giai đoạn sắp tới

™ Là ngành công nghiệp vừa có xu hướng tiếp tục phát triển tập trung, vừa lại có xu hướng phân tán trong thời kỳ mới

Công nghiệp phần mềm tập trung phát triển chủ yếu ở Mỹ và xu hướng này tiếp tục tăng Đến nay, ngành công nghiệp này phần lớn do các công ty Mỹ thống trị với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh có chi nhánh hoạt động trên toàn cầu Ngoài Mỹ, Nhật Bản và các nước EU cũng là những khu vực có ngành CNPM phát triển mạnh mẽ Ở những khu vực này các phần mềm được phát triển chủ yếu là những phần mềm đáp ứng nhu cầu nội địa và các thiết bị cho các hãng của các nước này sản xuất

Bên cạnh xu hướng tập trung đó, hiện nay đang xuất hiện xu hướng phân tán Chính sự giao lưu hàng hóa, chuyển dịch lao động, và thông tin vượt khỏi biên giới các quốc gia, tạo nên sự phân tán trong phát triển phần mềm Cùng với sự

Trang 12

phát triển mạnh mẽ của Internet và thương mại điện tử, sự chuyển dịch này ngày càng lớn Ngoài ra, việc hợp tác sản xuất và gia công, xử lý số liệu thông qua mạng đã và đang trở nên phổ biến Nhiều công ty phần mềm ở những nước phát triển đã và đang có xu hướng xây dựng các cơ sở sản xuất phần mềm và gia công phần mềm tại nhiều nước khác nhau, sử dụng nhân công thấp ở các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh về nguồn nhân lực

1.2.4 Vai trò – Ý nghĩa của chiến lược phát triển đối với sự phát triển

ngành công nghiệp phần mềm của một địa phương

Trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, công nghệ thông tin truyền thông nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng – là một trong những động lực quan trọng nhất cho sự phát triển Cùng với một số ngành công nghệ cao khác, nó đã, đang và sẽ còn làm biến đổi sâu sắc cả thế giới

Với các phần mềm ứng dụng, phần mềm công cụ, các dịch vụ phần mềm chúng ta có thể đưa vào tự động hóa tất cả các nghiên cứu, khảo sát, thiết kế, quản lý, đánh giá chất lượng các mặt hoạt động của địa phương: khai thác tài nguyên và quản lý lãnh thổ, các mô hình kinh tế lượng phục vụ quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Và cũng chính với các mô hình ứng dụng này, các địa phương có thể tự xây dựng các kịch bản, các phương án phát triển kinh tế xã hội; trên cơ sở quy hoạch kinh tế xã hội, các dữ liệu tính toán trong mô hình có thể chuyển sang quy hoạch ngành và xây dựng, cập nhật kế hoạch hàng năm Việc ứng dụng và phát triển CNPM có ý nghĩa rất quyết định đối với việc thúc đẩy phát triển nhanh các lĩnh vực đa dạng và phong phú của đời sống, nhất là nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế Đây là một trong những giải pháp hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo

mô hình “rút ngắn”, giúp cho các địa phương, quốc gia đi sau, kém phát triển, ở

xa trung tâm có thể khắc phục tốt nguy cơ lạc hậu so với các địa phương, các nước đang phát triển

Giờ đây, chúng ta không thể phủ nhận được vai trò quan trọng vô cùng lớn của công nghiệp phần mềm đối với sự phát triển của một địa phương Song phát

Trang 13

triển ngành CNPM như thế nào để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi địa phương, để khai thác hết mọi tiềm năng đồng thời có được sự phát triển đồng bộ với các ngành kinh tế khác, nhằm đạt đến sự cộng hưởng về lợi ích trên mọi lĩnh vực đời sốâng kinh tế xã hội của địa phương

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng chiến lược cho phép một địa phương năng động hơn với môi trường hoạt động, với những sự kiện trong việc định hình tương lai Nó cho phép địa phương dự báo trước, sáng tạo ra và tạo ảnh hưởng (hơn là chỉ phản ứng) với môi trường và do đó kiểm soát được số phận của chính mình, thậm chí còn làm biến đổi và kích thích nhu cầu mang lại lợi ích thiết thực cho mình

1.3 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á

[11,7]

1.3.1 Tình hình chung

Trong mấy thập niên gần đây ngành công nghiệp phần mềm thế giới là một ngành có tốc độ phát triển vũ bão Theo tổ chức IDC, chỉ trong khoảng 30 năm từ 1965 đến 1995, doanh thu ngành công nghiệp này trên toàn thế giới tăng lên khoảng hơn 900 lần (từ 0,3 tỷ USD lên 275,3 tỷ USD) Thời kỳ từ 1996 đến 2000 ngành công nghiệp này cũng phát triển rất mạnh với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm từ 10,6% đến 24,5% (gấp từ 3 đến 5 lần tỷ lệ tăng trưởng GDP thế giới) Giai đoạn 2001-2003, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và nạn khủng bố (nhất là sự kiện 11/9/2001), nên sự tăng trưởng CNPM thế giới chậm lại ở mức khá thấp, nhưng vẫn cao hơn tăng trưởng GDP cùng kỳ

Các nước công nghiệp phát triển chiếm ưu thế trong CNPM toàn cầu Trong

những năm đầu thập niên 80, các nước OECD (Organizational Economic operation and Development) chiếm gần 97% doanh thu phần mềm thế giới, đứng đầu là Mỹ (57% với khoảng 120 tỷ USD vào năm 1990), theo thứ tự tiếp tục là 5 nước: Nhật, Pháp, Đức, Anh và Canađa chiếm hơn 37% Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây sự phân bố CNPM thế giới đang có sự thay đổi với sự nổi nên của một số nước đang phát triển nhưng có ngành CNPM được hình thành và phát

Trang 14

Co-Về cơ cấu các loại sản phẩm trong ngành CNPM: thống kê theo IDC cho thấy

tương đối ổn định trong suốt quá trình phát triển Phần mềm đóng gói thường chiếm khoảng gần 1/3 tổng giá trị doanh thu phần mềm toàn cầu và khoảng hơn 2/3 còn lại là các dịch vụ phần mềm Ở các nước có nền CNPM phát triển như Mỹ cũng như các nước OECD tỷ lệ phần mềm đóng gói thường chiếm hơn 1/3 tổng doanh thu, nhưng ở các nước đang phát triển, tỷ lệ phần mềm đóng gói thường thấp hơn rất nhiều Trong tổng số doanh thu của phần mềm đóng gói, phần mềm ứng dụng luôn chiếm phần lớn nhất (khoảng gần 1/2), phần mềm hệ thống luôn chiếm khoảng 1/3 và phần mềm phát triển chiếm phần còn lại (gần 1/4)

Về nguồn nhân lực CNPM: Cùng với sự phát triển nhanh chóng của CNPM thế

giới, nhân công trong lĩnh vực này tăng mạnh hàng năm, đến năm 2001 trên toàn thế giới ước tính có khoảng 2,6 triệu nhân lực phần mềm Hầu hết tất cả các nước có nền CNPM phát triển đều phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực và phải nhập khẩu lao động phần mềm từ các nước đang phát triển

Về sự phân bố các doanh nghiệp phần mềm: các tập đoàn phần mềm lớn

thường có quốc tịch thuộc các nước OECD, song hiện nay xu hướng này đang giảm dần do sự nổi lên của một vài quốc gia khác như Trung Quốc và Ấn Độ, tuy thế và lực các nước này chưa thể sánh bằng Theo nguồn từ Bộ Bưu chính Viễn thông Việt nam, năm 2002 với 300 doanh nghiệp, CNPM Israel đạt doanh thu 4,2 tỷ USD; còn với 4.700 doanh nghiệp, CNPM Trung Quốc chỉ đạt doanh thu 13,3 tỷ USD Chỉ riêng công ty Microsoft của Mỹ đã có doanh thu phần mềm 25,9 tỷ USD, gần gấp đôi của cả ngành CNPM Trung Quốc

1.3.2 Một số kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp phần mềm của

một số nước trên thế giới và trong khu vực Châu Á thời gian qua

Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp có nhiều tiềm năng, triển vọng thành công lớn, và theo nguồn từ Bộ Bưu chính viễn thông Việt Nam, nhiều quốc gia đã thành công với chiến lược, chính sách phát triển công nghiệp phần mềm như: Mỹ, Nhật, Tây Âu, Ấn Độ và Trung Quốc

Trang 15

1.3.2.1 Mỹ

Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới về Công nghiệp phần mềm với doanh thu hiện nay ước khoảng hơn 280 tỷ USD Thị trường tiêu thụ phần mềm của Mỹ luôn lớn nhất thế giới và hiện chiếm hơn 35% tiêu thụ phần mềm toàn cầu Tuy vậy, Mỹ cũng là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu phần mềm từ Ireland và Israel, Ấn Độ, và một số nước đang phát triển khác dưới dạng gia công phần mềm (Software Outsourcing)

chiếm tỷ trọng thuê gia công phần mềm ở nước ngoài lớn nhất gần 40%, theo dự báo sẽ đạt 65% trong tương lai Việc này không những giúp các công ty Mỹ phân tán rủi ro, mặt khác giúp giảm giá thành sản xuất để đối phó với sự suy thoái kinh tế toàn cầu

1.3.2.2 Nhật Bản

Nhật bản là nước có doanh thu phần mềm lớn thứ hai sau Mỹ, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm lên tới trên 45% Hiện Nhật Bản có khoảng 450.000 nhân lực phát triển phần mềm Theo đánh giá của METI, thị trường phần mềm Nhật bản hiện nay khoảng 100 tỷ USD/ năm, chiếm khoảng 20% thị trường phần mềm thế giới

Đặc điểm:

địa, và hàng năm Nhật phải nhập khẩu phần mềm cho thị trường trong nước

Trang 16

- Phần mềm theo đặt hàng chiếm thị phần rất lớn vì yêu cầu phải mang tính thích hợp cao với mô hình kinh tế sẵn có của nước Nhật

đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, và ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật bản áp dụng chiến lược thuê gia công để cắt giảm chi phí Song ngôn ngữ và văn hoá là rào cản lớn nhất cho các nước gia công khi muốn thâm nhập thị trường Nhật Bản Hiện nay, vì các công ty Ấn Độ và Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh và trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với mình, nên các công ty Nhật Bản đang tìm cách chuyển hướng sang làm ăn với các nước khác trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Philippin, Myanmar

1.3.2.3 Các nước Tây Âu

Tây Âu với 17 nước có giá trị tiêu thụ phần mềm chiếm khoảng 24% tổng tiêu thụ toàn cầu, trong đó phần mềm đóng gói trên 1/3 và các dịch vụ phần mềm chiếm khoảng 2/3 Các nước Tây Âu (trừ Ailen, Phần Lan, Thụy Điển) đều có nhập khẩu phần mềm cao hơn xuất khẩu, trong đó phần mềm đóng gói nhập chủ yếu từ Ireland, Mỹ, và Israel, một ít từ Pakistan, Bangladesh, Srilanca và Philippin còn dịch vụ phần mềm chủ yếu đến từ Ấn Độ Các thị trường tiêu thụ phần mềm lớn nhất Tây Aâu và xếp hạng trên thế giới sau Mỹ, Nhật bản lần lượt là Đức, Anh, Pháp, Italia Các công ty phần mềm ở các nước đang phát triển khó thâm nhập được vào thị trường Pháp và Ý do cả hai vấn đề ngôn ngữ và văn hóa (ngay ở Italia cũng đã có sự khác nhau lớn giữa miền Bắc và miền Nam về kinh tế cũng như văn hóa)

1.3.2.4 Ấn Độ

Ấn Độ là một nước đang phát triển, còn nhiều hạn chế về hạ tầng, về điều kiện kinh tế nhưng vẫn được xếp là một trong những cường quốc về gia công xuất khẩu phần mềm Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của CNPM Ấn Độ rất cao, và hiện tỷ lệ tăng trưởng phần mềm Ấn Độ cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới từ 5 đến 7 lần

Trang 17

Đặc điểm:

cứu và phát triển phần mềm như: IBM, Microsoft, Cisco, GE, Oracle, Sun, nhằm tận dụng nhân công giá rẻ và chất lượng cao của nước này

vụ

- Quá trình phát triển của CNPM Ấn Độ đi từ mô hình giá thấp và chất lượng chấp nhận được đến giá vừa phải và chất lượng cao

Độ đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển các công viên phần mềm nhằm thu hút các công ty nước ngoài và trong nước vào làm việc Các công viên phần mềm được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, được hưởng các ưu đãi về đường truyền viễn thông, miễn giảm thuế, giảm giá thuê đất và nhiều chính sách ưu đãi khác

1.3.2.5 Trung Quốc

Ngành CNPM của Trung Quốc chưa đạt được sự thành công rực rỡ như Ấn Độ, tuy nhiên trong mấy năm gần đây CNPM của Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ và trở thành một đối thủ nặng ký đối với ngành phần mềm Ấn Độ Doanh thu của ngành phần mềm tỷ lệ tăng trưởng trung bình ngành hàng năm là 36,1% trong giai đoạn 1992-2002 (gấp 4 lần so với tỷ lệ tăng trưởng GDP cùng kỳ)

Đặc điểm:

để phục vụ nhu cầu trong nước, song trong mấy năm gần đây có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang hướng các dịch vụ để tăng cường xuất khẩu

nước ngoài lớn về CNTT đầu tư lập các trung tâm nghiên cứu phát triển phần mềm cũng như các nhà máy sản xuất thiết bị công nghệ cao

thấp, khả năng tin học, tư duy toán của người Trung Quốc khá tốt cũng như nhờ sự quan tâm, ưu tiên hỗ trợ phát triển của Chính phủ

Trang 18

- Tuy nhiên CNPM Trung Quốc cũng phải đối mặt với những khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, sự tín nhiệm của quốc tế thấp với phần mềm Trung Quốc, nạn sao chụp phần mềm bất hợp pháp cao, cơ sở hạ tầng viễn thông còn hạn chế, tài chính nghèo, trình độ tiếng Anh thấp v.v

1.3.2.6 Một vài nhận xét

Ngành CNPM nói riêng và CNTT nói chung là ngành kinh tế rất quan trọng trong thế kỷ 21 này Thị trường CNTT &TT đang hồi phục sau giai đoạn suy thoái toàn cầu năm 2000 Rất nhiều quốc gia trên thế giới, cả các nước phát triển và đang phát triển, đều tận dụng cơ hội này, vạch ra chiến lược phát triển phù hợp để chiếm lĩnh thị trường, thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác, tăng GDP cho quốc gia

Ưu thế về doanh thu phần mềm thuộc về các nước công nghiệp phát triển trong những năm 1980 hiện đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển: Ấn Độ, Trung Quốc, … các dịch vụ phần mềm ngày càng chiếm ưu thế

Hiện nay các công ty phần mềm lớn trên thế giới đang có xu hướng tìm kiếm đối tác ngoài nước để outsourcing một phần hoặc toàn bộ sản phẩm của mình nhằm lợi dụng giá nhân công rẻ và tốc độ tiếp cận thị trường nhanh hơn Đồng thời, các nước đang phát triển đang cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho các tập đoàn phần mềm lớn thiết lập các chi nhánh và đầu tư ở các nước này Sự bất ổn về an ninh, chính trị, nạn khủng bố đã và đang khiến cho các tập đoàn, công ty đa quốc gia về CNTT tìm cách phân tán đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro Đây thực sự là một

cơ hội cho Việt Nam

Trang 19

Chương II : THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

trong nhiều Nghị quyết của Đảng và Chính phủ như “Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học ”.[6], hay được

xác định “Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân” [7]

Giờ đây, đất nước chúng ta đang đứng trước thách thức của yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước những cột mốc khắc nghiệt của việc thực thi AFTA, thực thi Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ, và xác định lộ trình gia nhập WTO Trong khi đo,ù thế giới đang chuyển từ xã hội công nghệ sang xã hội thông tin Chính công nghệ thông tin truyền thông nói chung và công nghệ phần mềm nói riêng là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ, là động lực phát triển trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế- xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng Chính những thành tựu trong lĩnh vực này góp phần làm tăng vọt năng lực sản xuất và các luồng thông tin, kích thích cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách không gian và thời gian Sự tiến bộ vượt bực và sự hội tụ của các ngành công nghệ tính toán, viễn thông, số thức và internet mặt khác lại tạo cho sản xuất phần mềm và dịch vụ phần mềm thêm cơ hội để hoạt động và phát triển Nó đã tạo ra khả năng và phương thức tiếp cận mới cho phát triển quốc gia, đặc biệt tạo ra cơ hội giúp cho các nước đang phát triển như nước ta vượt qua rào cản lạc hậu, thực hiện những mục tiêu chiến lược tiềm năng của quốc gia, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Trang 20

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

2.2.1 Môi trường hoạt động ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1.1 Môi trường pháp lý và các chính sách của nhà nước

Kể từ khi được tiến hành công cuộc đổi mới vào năm 1986 đến nay, đất nước ta được thế giới đánh giá có một nền chính trị ổn định Chúng ta đang dần hoàn thiện các bộ luật theo xu hướng hội nhập quốc tế Việc phê chuẩn hiệp định thương mại BTA với Mỹ và chuẩn bị gia nhập WTO đang đặt đất nước vào tình thế thuận lợi hơn với các đối tác quốc tế trên các mặt đời sống kinh tế chính trị xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của Công nghiệp Phần mềm, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP (05/06/2000) về xây dựng và phát triển

Công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 – 2005, trong đó xác định “Phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt công nghiệp phần mềm là chủ trương được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên quan tâm, là một trong những cách đi tắt, đón đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc gia” Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW

ngày 17/10/2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, theo đó đến năm 2010 công nghệ thông tin Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Để thực hiện mục

tiêu đó, Bộ Chính trị đã đưa ra một số chủ trương, trong đó phải “Phát triển công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công nghiệp phần mềm”

Thực hiện Nghị quyết 07 của Chính phủ và chỉ thị 58 của Bộ Chính trị, ngày 20/11/2000 Thủ Tướng đã ký Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ban hành nhiều chính sách ưu đãi và biện pháp khuyến khích đầu tư phát triển Công nghiệp phần mềm, theo đó các doanh nghiệp phần mềm đã nhận được nhiều ưu đãi, đặc biệt là các chính sách thuế

Trang 21

Năm 2004, Chính phủ cũng thể hiện việc đặc biệt khuyến khích đầu tư vào CNPM bằng các chính sách thuế ưu đãi ở mức cao nhất Theo tinh thần Nghị định số và Nghị định số 164/2003/NĐ-CP (22/12/2003) và 152/2004/NĐ-CP (06/08/2004) về thuế thu nhập doanh nghiệp, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 123/2004/TT-BTC (22/12/2004) hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp sản xuất và làm dịch vụ phần mềm Những ưu đãi này tập trung vào thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, và thuế thu nhập cá nhân Các doanh nghiệp phần mềm mới thành lập được miễn thuế trong vòng 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo, hoặc được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10% trong vòng 15 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh

thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT cũng đã được ban hành làm tiền đề cho sự phát triển của CNPM Trong hai năm 2004, 2005 Văn phòng Quốc hội cũng soạn thảo hai dự luật về giao dịch điện tử và bảo hộ sở hữu trí tuệ Năm 2004 cũng là năm đầu tiên Chính phủ duyệt chương trình xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp CNTT thông qua các hiệp hội Tất cả các chủ trương, chính sách nêu trên của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn cho sự phát triển của CNTT nói chung và Công nghiệp phần mềm nói riêng

2.2.1.2 Hoạt động quản lý Nhà nước về phát triển công nghệ thông tin

Nhằm thực hiện mục tiêu cho sự phát triển CNTT-TT giai đoạn 2001-2005, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã có những hoạt động điển hình như:

ƒ Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đi tiên phong trong cả nước về lập chợ thiết

bị công nghệ trên mạng từ năm 2001, sau đó bổ sung chợ phần mềm và chợ

tư vấn công nghệ, quản lý trên mạng Hiện nay hơn 2.000 thiết bị, giải

nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 22

ƒ Hội Tin học Thành phố cũng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền cho các doanh nghiệp tham gia Hội chợ triển lãm điện tử và CNTT tại Hồng Kông và kinh phí hỗ trợ xúc tiến thương mại của Bộ Thương mại cho sự kiện Toàn cảnh CNTT Việt Nam Ngoài ra, trong chương trình hợp tác EU-Việt Nam, UBND TP.Hồ Chí Minh đã cho phép Hội Tin học TP.Hồ Chí Minh hợp tác với Công viên Phần mềm Quang Trung thành lập Công viên Ươm tạo Doanh nghiệp Phần mềm

năng đào tạo về công nghệ thông tin của thành phố (Trung tâm đào tạo thiết kế điện tử Cadence, đầu tư 500.000 USD; Trung tâm đào tạo Java, Trung tâm học tập Nhật Bản), xúc tiến đầu tư nước ngoài về công nghệ thông tin-truyền thông vào thành phố, triển khai chương trình Chính phủ điện tử (City Web), thúc đẩy phát triển thị trường (chợ phần mềm), xây dựng Công viên phần mềm Quang Trung thành khu phần mềm tập trung hiện đại, lớn nhất nước

thức như xuất bản ấn phẩm báo chí: Tạp chí Thế giới Vi tính Việt Nam (PC World Viet Nam); Thời báo Vi tính Sài gòn, phát hành Niên giám công nghệ thông tin Việt Nam hàng năm, • Các tờ báo lớn của thành phố đều có các trang chuyên về công nghệ thông tin-truyền thông hàng tuần

Nam tổ chức các giải thưởng cho các sản phẩm công nghệ thông tin xuất sắc Các Công ty như Công ty Phát triển Công viên phần mềm Quang Trung, Trung tâm CNPM Sài Gòn (SSP), FPT TP.HCM … đã nhận được giải thưởng Sao Khuê năm 2004 của Bộ Bưu chính Viễn thông và Hiệp hội phần mềm Việt Nam

2.2.1.3 Các yếu tố xã hội liên quan phát triển ngành công nghiệp phần mềm

Về mặt dân cư, Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh nói riêng được thế giới đánh giá có lớp dân cư trẻ, rất nhiệt tình, chủ động tiếp cận với cái mới, năng động trong

Trang 23

hòa nhập vào giao lưu kinh tế thế giới Về khuynh hướng giáo dục, chúng ta có tỷ lệ người biết đọc, biết viết cao, trong nếp sống văn hoá chúng ta cũng được đánh gía có giáo dục cao Mặt khác, con người Việt Nam rất nhạy bén trong kinh doanh, các ngành chớm phôi thai có xu hướng lợi nhuận cao là rất nhiều người

đầu tư vào Tuy nhiên chúng ta thường có xu hướng bí mật thông tin, giữ nghề…

2.2.1.4 Tình hình công nghệ, hạ tầng viễn thông và internet [10]

Hạ tầng viễn thông, Internet của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đạt được mức phát triển tiên tiến trong khu vực và đáp ứng nhu cầu phát triển rất cao của xã hội Đây là một trong những điều kiện rất tốt cho sự phát triển của CNPM

Dung lượng kết nối Internet quốc tế liên tục tăng trong những năm gần đây với

tốc độ tăng trưởng khoảng 200 – 250%/năm (tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam hiện tại đạt con số 2221 Mbps) từ lúc mới bắt đầu chỉ có không quá 04 dịch vụ internet (gồm thư điện tử, truy cập cơ sở dữ liệu, truyền file dữ liệu, truy nhập từ xa ) đến nay Internet Việt Nam 2005 trở nên đa dạng và phong phú cả về hình thức và số lượng ADSL, VoIP, Wifi, Internet công cộng và các dịch vụ gia tăng trên mạng khác: video, forum, chat, game online khiến cho Internet Việt Nam tăng thêm tính hấp dẫn khiến lôi cuốn thêm sự đầu

tư vào lĩnh vực này ở các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Điều này tạo thêm “đất sống” cho lĩnh vực phần mềm ứng dụng và dịch vụ phần mềm

Vấn đề độc quyền viễn thông đã từng bước được xoá bỏ Hiện tại cả nước có 06

đơn vị cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước và quốc tế (IXP) (bao gồm VNPT, FPT, Vietel, ETC, SPT, và Hanoi Telecom); 13 nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) trong đó VDC, FPT, SPT, Netnam, Vietel, One Connection, Hanoi Telecom đã chính thức hoạt động; và 03 nhà cung cấp điện thoại đường dài trong nước, quốc tế (VNPT, Vietel, ETC)

Xét về lĩnh vực viễn thông, internet theo các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đến nay vẫn là thị trường trọng điểm Năm 2005, thành phố có 3 nhà cung

Trang 24

cấp dịch vụ viễn thông (VNPT, SPT, Viettel) Số thuê bao Internet tăng từ 20.000 năm 2000 lên khoảng 840.000 năm 2005 (tăng 42 lần), đạt tỷ lệ sử dụng

ở mức 13% dân số, xấp xỉ mức bình quân toàn thế giới (13,9%), cao hơn mức bình quân Châu Á (8,4%) Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 40.000 thuê bao ADSL, với 48,56% tổng thuê bao internet trong cả nước, chiếm tỷ lệ phân bổ thuê bao theo đầu người thuộc loại cao nhất cả nước (1/7) Dung lượng kết nối Internet đạt 2,3 GBps Tất cả các Trường Đại học, Cao đẳng, tất cả các trường trung học phổ thông đã kết nối Internet Tất cả các báo lớn đều có phiên bản báo điện tử Trung tâm Đào tạo từ xa đang được xây dựng với tài trợ của Ngân hàng Thế giới

Tuy nhiên, hạ tầng Viễn thông, Internet ở TP.Hồ Chí Minh vẫn còn một số tồn tại sau:

với các nước trong khu vực

thấp

thông chất lượng cao, băng thông lớn và giá cả ưu đãi vẫn còn nhiều khó khăn

hưởng những ưu đãi về viễn thông như các doanh nghiệp thuộc khu CNPM tập trung

2.2.1.5 Phân tích các điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội – công nghệ (PEST)

đối với sự phát triển ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Bảng sau sẽ phân tích tóm tắt các yếu tố Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Công nghệ tác động tới sự phát triển của ngành Công nghiệp phần mềm TP.Hồ Chí Minh Trong bảng phân tích này:

ƒ yếu tố được đánh giá (+) có nghĩa là điều kiện tác động tích cực cho phát triển CNPM;

Trang 25

ƒ yếu tố được đánh giá (-) là ngược lại, sẽ gây ra những khó khăn, cản trở;

ƒ yếu tố được đánh giá (bt) là bình thường

1 – Political – Chính trị

1 Về chính trị: rất ổn định (+)

2 Các điều kiện về thương mại:

Việc phê chuẩn hiệp định

thương mại BTA với Mỹ và

chuẩn bị gia nhập WTO đặt đất

nước vào tình thế thuận lợi hơn

với các khách hàng (+)

3 Chính sách thuế: Rất ưu đãi

cho các doanh nghiệp phần

mềm (+)

4 Chính sách tiền lương: mức

lương tối thiểu thấp hơn nhiều

so với tiêu chuẩn của ngành (+)

5 Về chính sách cho ngành:

ngành được hổ trợ, ưu đãi (+)

6 Chính sách lao động: Tuần làm

việc: theo chuẩn quốc tế , lợi

ích của người lao động thì tuỳ

thuộc thỏa thuận hai bên, song

luật pháp có xu hướng bảo vệ

người lao động (bt)

7 Các bộ luật đang dần hoàn

thiện theo xu thế hội nhập,

khung pháp lý cho hiệu lực của

hợp đồng, giao dịch kinh tế

đang phát triển (bt)

8 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:

thuộc loại kém nhất trên toàn

2 – Economic – Kinh tế

1 Chi phí nhân công: thấp (+)

2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế: cao (+)

3 Hình ảnh quốc gia (về khía cạnh kinh tế) trên thế giới: đang được cải thiện (+)

4 Hệ thống kinh tế: theo đuổi hoà nhập vào hệ thống toàn cầu, định hướng thị trường, đang hoàn thiện (bt)

5 Mức ổn định tỷ giá hối đoái: khá ổn định (bt)

6 Mức độ lành nghề của lực lượng lao động: khá về kỹ thuật, yếu về quản lý (bt)

7 Tỷ lệ thất nghiệp: tỷ lệ thất nghiệp cao (bt)

8 Mức lãi suất và lạm phát: tạm ổn định (bt)

9 Hiệu quả của các thị trường tài chính: thị trường chứng khoán non nớt, đầu tư mạo hiểm rất nhỏ (-)

10 Chất lượng hạ tầng cơ sở: rất nghèo nàn (-)

Tổng: 3 (+), 2 (-) và 5 (bt)

Trang 26

thế giới (-)

9 Thủ tục hành chính và đầu tư:

còn quan liêu, rườm rà, kém

hấp dẫn nhà đầu tư (-)

: Tổng: 5 (+), 2 (-) và 2 (bt)

3 – Social – Xã hội

1 Dân cư: trẻ, rất nhiệt tình, chủ

động tiếp cận cái mới, hoà nhập

vào giao lưu kinh tế thế giới (+)

2 Khuynh hướng giáo dục: tỷ lệ

biết đọc, biết viết cao Trong

nếp sống văn hoá, giáo dục được

đánh giá cao (+)

3 Rất nhạy bén trong kinh doanh:

các ngành có lợi nhuận nhìn

thấy nhiều người mới đầu tư

vào (+)

4 Cơ hội tiếp cận tri thức mới: các

trường đào tạo không theo kịp

trình độ cần thiết, chậm, nghèo

nàn (-)

5 Chia sẻ thông tin: có xu hướng

“dấu nghề”, bít kín, hiếm có sự

chia sẻ thông tin Tạo nên rủi ro

khi ra quyết định (-)

Tổng: 3 (+), 2 (-)

4 – Technological – Công nghệ

1 Các công nghệ phổ biến: cơ sở công nghệ hiện còn hạn chế nên không bị lệ thuộc vào công nghệ nào => có cơ hội nhảy tắt các nước khác (+)

2 Tốc độ phổ biến công nghệ: cơ chế cho phổ biến công nghệ và thông tin nghèo nàn nên các quyết định đưa ra thường không có luận cứ (-)

Tổng: 1 (+) và 1 (-)

Trang 27

Theo kết quả phân tích, có thể thấy số các yếu tố (+) là 12 yếu tố, vượt trội so với số yếu tố (-), có 7 yếu tố, điều này có nghĩa là TP.Hồ Chí Minh đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành CNPM

2.2.2 Hiện trạng ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố

thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2.1 Tổng quan về thị trường ngành công nghiệp phần mềm [11,15]

a Thị trường trong nước

Theo số liệu tổng hợp của Vụ Công nghiệp – Bộ Bưu chính viễn thông, tổng giá trị sản phẩm dịch vụ CNPM năm 2004 đang ở mức 160 – 170 triệu USD, trong đó thị trường nội địa khoảng 125 triệu USD, còn lại là gia công xuất khẩu Trong giai đoạn 2000 – 2004, thị trường phần mềm nước ta có sự tăng trưởng khá nhanh, tốc độ tăng trưởng trung bình của thị trường phần mềm nội địa khoảng 30%, và tăng trưởng của tổng giá trị sản phẩm, dịch vụ phần mềm khoảng hơn 32% Riêng TP.Hồ Chí Minh tốc độ tăng doanh số phần mềm bình quân giai đoạn 2001-2005 là khoảng 30%/năm, chiếm đến gần 50% thành quả của ngành CNPM trong cả nước

Tuy nhiên phần lớn thị trường nội địa hiện chủ yếu vẫn dựa vào sức mua của các

cơ quan Chính phủ, tổ chức và doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ chủ trương đẩy mạnh ứng dụng CNTT của Đảng và Nhà nước Theo kết quả khảo sát về tình hình ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp năm 2004 do Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT thực hiện, thì chỉ có 12% số doanh nghiệp đã áp dụng CNTT là có sử dụng phần mềm trong việc quản lý hoạt động tác nghiệp, trong số đó chỉ có 25% doanh nghiệp tỏ ra hài lòng về chương trình quản lý tác nghiệp mình đang sử dụng Đa số các chương trình quản lý tác nghiệp thiếu tính chuyên nghiệp, xét về độ tinh xảo và phức tạp, phần mềm Việt Nam chưa thể so sánh với các phần mềm chuyên dụng nước ngoài Chúng ta vẫn đang quanh quẩn ở những phần mềm quản lý doanh nghiệp đơn giản, phần nhiều làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Một thị trường công nghiệp rát lớn đầy tiềm năng – thị trường phần mềm công nghiệp – đang bị bỏ ngỏ Thị trường phần mềm

Trang 28

ứng dụng cho doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu

b Thị trường xuất khẩu

Phần mềm của Việt Nam nói chung và của TP.Hồ Chí Minh nói riêng chỉ mới được bắt đầu xuất khẩu từ năm 1997, và từ đó đến nay có mức tăng trưởng tương đối cao qua các năm, nhất là trong vài năm gần đây Phần lớn doanh thu xuất khẩu phần mềm của Việt Nam là từ dịch vụ (gia công sản phẩm, cung cấp dịch vụ phần mềm) Tuy rất cố gắng để vươn tới các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản, song giá trị xuất khẩu phần mềm của chúng ta còn rất khiêm tốn, (đạt khoảng gần 45 triệu USD năm 2004), chiếm khoảng 25% tổng doanh thu của

Từ chỗ hầu như chưa hề có một sản phẩm để xuất khẩu vào năm 2000, đến nay phần mềm do các doanh nghiệp ở TP.Hồ Chí Minh làm ra và các dịch vụ tin học-truyền thông của doanh nghiệp ở thành phố đã được cung cấp cho các doanh nghiệp ở 12 nước trên thế giới (Mỹ, Nhật, Bỉ, Đức, Pháp, Anh, Hàn Quốc, Singapore,…) Dù còn nhiều thua kém so với các doanh nghiệp cường quốc về phần mềm, các doanh nghiệp ở TP.Hồ Chí Minh cũng đang nỗ lực tìm kiếm cho mình một chỗ đứng trên thị trường quốc tế Công ty FPT(với doanh số xuất khẩu

~4,3 triệu USD), Paragon Solutions Vietnam (với doanh số xuất khẩu ~ 2,7 triệu USD), Công ty TMA (doanh số xuất khẩu cũng khoảng 2,7 triệu USD) là một trong số điển hình thành công trong gia công, xuất khẩu sản phẩm phần mềm và dịch vụ trong năm qua Một số lĩnh vực gia công mới đã hình thành và thu hút nhiều nhân lực như: thiết kế mạch điện tử, thiết kế các hệ thống tự động, xuất khẩu xửû lý dữ liệu (call center, data center, BPO) [8]

Tháng 4/2004, tập đoàn tư vấn quốc tế Kearney xếp Việt Nam vào danh sách 25 nước thu hút gia công dịch vụ tốt nhất (most actractive offshore location) Việt Nam với điểm số 4,70/10 được xếp thứ hạng 20 trên 25 nước được chọn vào vòng chung kết (emerged as finalist) Đây có thể xem như một mốc ghi nhận sự phát triển gia công xuất khẩu phần mềm của Việt Nam[10] Tuy nhiên, để gia

Trang 29

công xuất khẩu phần mềm cho thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu, các doanh nghiệp TP.Hồ Chí Minh gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp phần mềm của Ấn Độ cũng như các doanh nghiệp của Trung Quốc, Nga, Philippin và các nước khác Vì thế hiện nay các doanh nghiệp chúng ta đang có xu hướng quay sang tìm kiếm các thị trường gần gũi hơn ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, trong đó thị trường Nhật Bản đang nổi lên như một lựa chọn số một đối với nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

2.2.2.2 Tình hình hoạt động doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh

a Tiêu chí đánh giá ghi nhận doanh nghiệp phần mềm

Để có thể đánh giá là hoạt động trong lĩnh vực phần mềm, một doanh nghiệp phải thỏa tiêu chí như sau: [8]

Số doanh nghiệp và nhân lực phần mềm 1996 - 2004

0 100 200 300 400 500 600 700

Biểu đồ 1: Tổng số doanh nghiệp và nhân lực phần mềm 1996 – 2004

(Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông, Hội Tin học TP Hồ Chí Minh)

Tính đến nay, cả nước có khoảng 2.500 công ty đăng ký kinh doanh sản xuất phần mềm, song thực tế số doanh nghiệp thực sự có hoạt động ít hơn, và theo thời gian số tồn tại là không nhiều Hội Tin học Việt Nam khảo sát nhiều năm qua đã ước lượng tỉ lệ doanh nghiệp phần mềm “sống được” vào khoảng 35% Với ước định đó, hiện cả nước chỉ có khoảng 670 doanh nghiệp phần mềm, thu hút một lực lượng khoảng trên 15.000 nhân lực trực tiếp làm phần mềm Tốc độ

Trang 30

tăng trưởng trung bình hàng năm (về số lượng doanh nghiệp) khoảng 30% Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, với những lợi thế về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực dồi dào và thị trường lớn, môi trường kinh doanh thuận lợi, là những địa phương thu hút được nhiều nhất các công ty phần mềm với tỷ lệ tương ứng là 40% và 50%

b Tình hình hoạt động các doanh nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

b.1 Loại hình doanh nghiệp

Theo kết quả khảo sát trên website của Sở Kế hoạch Đầu tư TP.Hồ Chí Minh, trong 4 năm từ 2001 dến năm 2004 và 8 tháng đầu năm 2005, tình hình đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến ngành nghề sản xuất, kinh doanh dịch vụ phần mềm ( kể cả tư vấn giải pháp phần mềm, đào tạo, thiết kế website và dịch vụ thương mại điện tử…) thể hiện qua bảng (1)

Bảng 1: Số lượng các đơn vị đăng ký hoạt động phần mềm TP.HCM

(Giai đoạn 2001- 8 tháng đầu năm 2005)

(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư TP.HCM, Hội Tin học TP.HCM)

Số lượng công ty 2001 2002 2003 2004 8 tháng 2005 Cộng

Công ty Đăng ký

Kiểm chứng qua số lượng doanh nghiệp phần mềm TP.Hồ Chí Minh, ta thấy với tiêu chí trên: 1.123 x 35% # 393 (đơn vị) Con số này cũng gần đúng với số

doanh nghiệp phần mềm nêu ở bảng (2) (xem bảng 2-trang 27)

Xét về loại hình hoạt động, nghiên cứu này xin lấy số liệu thống kê từ Niên giám CNTT Việt Nam năm 2005 Theo đó, cho thấy hình thức công ty TNHH

chiếm ưu thế, bởi thực tế cũng vậy, phần lớn các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa, kể cả về số lượng nhân viên làm phần mềm cũng như doanh thu từ kinh doanh phần mềm Chỉ có 7,39% trong tổng số các

Trang 31

đơn vị này thuộc quốc doanh, và 8% là các doanh nghiệp liên doanh hay 100%

vốn nước ngoài (xem bảng 3)

Bảng 2: Số lượng các đơn vị chủ yếu hoạt động phần mềm TP.HCM

(Giai đoạn 2001- 8 tháng đầu năm 2005)

Số lượng công ty 2001 2002 2003 2004 8 tháng 2005 Cộng

Công ty hoạt động

chủ yếu về lĩnh

vực phần mềm

(Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư TP.HCM, Hội Tin học TP.HCM)

Bảng 3: Bảng khảo sát loại hình hoạt động các DNPM TP.HCM

LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%)

Công ty 100% vốn nước ngoài 23 13,07

(Nguồn: Niên Giám Công nghệ Thông tin Việt Nam 2005)

b.2 Phân bố địa bàn hoạt động:

Khảo sát số đơn vị hoạt động chuyên biệt ở lĩnh vực phần mềm dựa theo thông

tin Niên giám CNTT Việt Nam năm 2005 cho thấy, các doanh nghiệp phần mềm

hoạt động tập trung ở Quận 1 và Quận 3 do thuận lợi về giao dịch và vị trí trung tâm Công viên phần mềm Quang Trung (Quận 12) cũng thu hút được 10%

doanh

Trang 32

nghiệp Còn lại các doanh nghiệp cũng chọn lựa địa điểm ở các quận khá gần trung tâm thành phố nhưng có thể chi phí thuê mặt bằng thấp hơn (Quận 10, Phú

Nhuận), hay điều kiện hạ tầng hiện đại hơn (E-town, Q.Tân Bình) (xem bảng 4 - phụ lục)

b.3 Năm thành lập:

Kết quả khảo sát cũng cho thấy đa số các doanh nghiệp mới thành lập từ

2001-2004, tỉ lệ các doanh nghiệp có số năm thành lập trên 5 năm (khoảng 30%), 10 năm (khoảng 3%) là rất ít, cho thấy khả năng giữ vững thương hiệu và phát triển theo thời gian của doanh nghiệp phần mềm TP.Hồ Chí Minh không cao Do mới thành lập nên phần nhiều các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm hoạt động, tổ chức bộ máy và quy trình sản xuất chưa chuyên nghiệp, ngay cả địa

điểm trụ sở công ty cũng không ổn định (xem bảng 5- phụ lục)

b.4 Lĩnh vực hoạt động

Qua khảo sát thực địa của 52/371 đơn vị phần mềm đang hoạt động (chiếm tỷ lệ 14%), kết quả cho thấy lĩnh vực hoạt động ưu thế của DNPM là sản xuất phần mềm (85%) và cung cấp giải pháp phần mềm (71%) Hoạt động tư vấn, đào tạo

đi kèm với cung cấp giải pháp hoặc là các dịch vụ đi kèm khi cung cấp phần mềm cho khách hàng Có một số đơn vị mở trung tâm đào tạo CNTT, song thường phải liên kết với đơn vị được Bộ GDĐT cấp giấy phép để văn bằng có giá trị (về mặt nhà nước) Hoạt động gia công xuất khẩu chiếm tỷ trọng khá cao, và rất có tiềm năng trong tương lai Đáng chú ý là hoạt động đại lý phần mềm

nước ngoài là một thách thức với sản phẩm phần mềm nội địa (xem bảng 6- phụ lục)

b.5 Thị trường trong và ngoài nước

Theo ước tính từ các cơ quan chuyên ngành, doanh số các doanh nghiệp phần mềm năm 2005 ước đạt 85 triệu USD trong đó xuất khẩu khoảng 22 triệu USD,

so với mục tiêu đặt ra: 250 triệu USD Tốc độ tăng doanh số phần mềm bình quân giai đoạn 2001-2005 khoảng 30%/năm

Có đến 60% doanh nghiệp chủ yếu định hướng thị trường trong nước, và tỷ lệ thị phần định hướng lên đến trên 70% Như vậy thị trường trong nước rất quan trọng

Trang 33

với đa phần doanh nghiệp phần mềm nhỏ và vừa của chúng ta Vềø định hướng thị trường nước ngoài, Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản là những thị trường xuất khẩu phần mềm lớn nhất của các doanh nghiệp phần mềm TP.Hồ Chí Minh Một cửa ngõ đi vào thị trường phần mềm Châu Âu hiện đang được quan tâm là Hungary

Ngoài ra, Nhật bản cũng được xem là đối tác chiến lược (xem bảng 7- phụ lục)

b.6 Về nâng cao năng lực cạnh tranh

Chi phí marketing, chi cho đào tạo và R&D cũng như chi cho tái đầu tư là các chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Nhìn chung, doanh nghiệp trong nước chưa đủ năng lực tài chính để nâng cao mức chi

phí này Điều đó làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (xem bảng 8- phụ lục)

b.7 Về chứng nhận quản lý

Năm 2000 chưa có doanh nghiệp phần mềm nào của Việt Nam đạt chứng chỉ CMM, thì ngày nay thành phố HCM đã có Công ty Paragon Solution Vietnam (PSV) và FPT Software đạt chứng chỉ CMM bậc 5, Công ty SilkRoad và TMA đạt chứng chỉ CMM bậc 4, và trên 15 doanh nghiệp đạt ISO 9001 Còn lại, có trên 60% doanh nghiệp chưa có chứng chỉ trình độ quản lý, song hiện các doanh nghiệp phần mềm đang nỗ lực đầu tư xây dựng và nâng cao quy trình đảm bảo chất lượng để xin chứng chỉ chất lượng CMM, CMMI trong thời gian sớm nhất

(xem bảng 9- phụ lục)

b.8 Về nhân lực doanh nghiệp

Theo khảo sát (xem bảng 10- phụ lục), kết quả cho thấy:

người chiếm khoảng 80%

ƒ Về phân công nhân sự: doanh nghiệp liên doanh và nước ngoài có tỷ lệ cán bộ điều hành, quản lý thấp hơn doanh nghiệp trong nước, họ cũng sử dụng lượng lập trình viên nhiều hơn, và tỷ lệ nhân sự khâu phục vụ giảm hơn doanh nghiệp trong nước đến 3 lần

Trang 34

ƒ Về trình độ: tỉ lệ sử dụng trình độ cao đẳng, trung cấp của doanh nghiệp trong nước cao hơn doanh nghiệp nước ngoài

2.2.2.3 Tình hình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp phần mềm [5]

Về nhân lực trực tiếp làm phần mềm ước tính đến hết năm 2004 Việt Nam có

khoảng 15.000 người Năng suất trung bình của lập trình viên Việt Nam năm

2004 khoảng hơn 11.000 USD/người/năm, và ở TP.Hồ Chí Minh đạt khoảng 12.000 USD/năm vào năm 2005(tăng 2,4 lần so với năm 2000) Tuy nhiên ở một số doanh nghiệp phần mềm lớn, có nhiều dự án gia công cho nước ngoài, như FPT Software, TMA, Paragon Solutions Vietnam năng suất lên tới 17.000 – 20.000 USD/người/năm

Về hệ thống đào tạo CNTT , hiện nay ở nước ta được phân loại theo hai hình

thức: đào tạo chính quy (văn bằng do nhà nước quy định - từ trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ) với 70 trường đào tạo đại học, 105 cơ sở đào tạo trình độ Cao đẳng và 50 cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp về CNTT, và đào tạo phi chính quy, (với chứng chỉ nghề do các trung tâm đào tạo trực tiếp cấp hoặc nhận bằng cấp từ các công ty tin học quốc tế) Đối với đào tạo phi chính quy, từ năm

2000, Chính phủ đã khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, thuộc mọi thành phần kinh tế, tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT, và đến nay, đã có 69 trung tâm đi vào hoạt động Ước tính đến năm 2005 cả nước sẽ đào tạo được khoảng 38.000 – 40.000 kỹ sư CNTT, 7.000-10.000 chuyên viên CNTT [5]

Trong giai đoạn 2000-2005 bên cạnh việc đào tạo cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ về công nghệ thông tin-truyền thông ở các đại học, thành phố HCM đã hình thành

18 Trung tâm Đào tạo chương trình 2 năm (Diploma) về công nghệ thông tin của nước ngoài (Aptech - Ấn Độ, NIIT - Ấn Độ, Informatics – Singapore, Kent - Úc, Saigon Tech – Houston Community College Mỹ, Tata Infotech - Ấn Độ, Victoria – Úc, Arena – Ấn Độ) với số sinh viên tốt nghiệp hàng năm khoảng 3.000 Cùng với 25 Trung tâm Đào tạo theo chứng chỉ nước ngoài (ngắn hạn) của Microsoft, Cisco, Oracle, Cadence, New Horizons với khoảng 5.000 người tốt nghiệp mỗi

Trang 35

năm Ngoài ra, có khoảng 20 Trung tâm đào tạo của thành phố cho ra trường hàng năm 2.000 kỹ thuật viên Qua 5 năm, thành phố có thêm khoảng 15.000 chuyên viên công nghệ thông tin-truyền thông, trong đó trình độ đại học, cao đẳng khoảng 3.000, thạc sĩ khoảng 200 người.[5]

Năm 2000, thành phố không có doanh nghiệp công nghệ thông tin nào có 100 nhân viên, năm 2005 đã có 3 doanh nghiệp có từ 500 lao động phần mềm trở

lên, với 10 doanh nghiệp lớn nhất về lao động (xem bảng11- phụ lục)

Tuy nhiên việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở TP.Hồ Chí Minh còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục và sẽ được đề cập ở phần (2.2.2.6) tiếp theo

2.2.2.4 Tình hình đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp phần mềm

Sự đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt là của các tập đoàn đa quốc gia, có vai trò hết sức quan trọng nếu không nói là quyết định cho sự thành công của việc xuất khẩu phần mềm tại nhiều cường quốc phần mềm trên thế giới Tại Bangalore, Adelaide , những trung tâm phần mềm lớn của Châu Á, hầu hết những công ty ICT lớn nhất thế giới đều có mặt như IBM, Dell, Motorola, HP Những công ty này mở các Offshore Software Development Center (OSDC) tại chỗ và chính nó đã làm thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp phần mềm ở các nước sở tại Tuy nhiên, Việt Nam lại chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào CNPM, chưa có một tên tuổi lớn nào mở một OSDC, dù chỉ là để thử nghiệm Hiện tại số các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm chưa đến 10% tổng số các doanh nghiệp phần mềm

Song thời gian qua, lực lượng doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng có sự đóng góp không nhỏ cho sự phát triển công nghệ thông tin-truyền thông ở thành phố Hồ Chí Minh Trong 10 doanh nghiệp có số lao động lớn nhất thành phố có

3 doanh nghiệp có sự đóng góp của Việt kiều trong điều hành như: Ông Nguyễn Hữu Lệ(Việt kiều Canada) – giám đốc điều hành Công ty phần mềm TMA; Ông Nguyễn Thịnh (Việt kiều Mỹ) - Giám đốc Công ty PSV; Ông Nguyễn Ngọc Mỹ, Việt kiều Úc, đã được Mặt trận Tổ quốc Việt nam tuyên dương “Vinh danh Đất Việt”, đã có nhiều hoạt động đầu tư ở Việt nam, trong đó có công ty TNHH

Trang 36

Phần mềm Tiếp thị Thể thao đặt tại Công viên Phần mềm Quang Trung; Ông Nguyễn Văn Sáu (Việt kiều Mỹ), Hiệu trưởng trường Saigon Tech

Thành phố Hồ Chí Minh đang có nhiều cơ hội để thu hút các công ty nước ngoài đầu tư mở các trung tâm phát triển gia công phần mềm xuất khẩu Song, bên cạnh điều kiện thuận lợi là sự ổn định về an ninh và chính trị, chúng ta cần phải có các chính sách đồng bộ và các biện pháp ưu đãi hơn nữa như: chính sách đơn giản hoá thủ tục cấp đất, thuê đất, giao quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp, các chính sách hỗ trợ khác như giá cả thuê mặt bằng, dịch vụ viễn thông , ban hành và thực thi nghiêm minh luật bản quyền phần mềm, Như thế cơ hội của chúng ta mới có thể hóa thành hiện thực

2.2.2.5 Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp thuộc

các ngành kinh tế khác

Trong năm 2004, Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về Công nghệ thông tin đã phối hợp với Hiệp hội phần mềm Việt Nam (VINASA) và Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư công nghệ (FPT) tiến hành điều tra, khảo sát về ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp và đã cho kết quả cuối cùng vào tháng 3/2005.[10] Theo kết qủa công bố thì nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong việc hỗ trợ các hoạt động quản lý, sản xuất và kinh doanh

Tỷ lệ có sử dụng CNTT chung là khoảng 55% tổng số các DN Tỷ lệ này trong các DN rất nhỏ thì còn thấp, chỉ khoảng 25% Đầu tư cho ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp còn rất thấp, tỷ lệ chung là khoảng 0,15% - 0,16% doanh số Năm 2004 là 2850 – 3040 tỷ đồng, tức khoảng 180 – 192 triệu USD, chiếm khoảng 1/3 tổng thị trường CNTT cả nước (540 – 576 triệu USD năm 2004)

Ngày đăng: 13/04/2013, 10:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:   Số lượng các đơn vị đăng ký hoạt động phần mềm TP.HCM - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1 Số lượng các đơn vị đăng ký hoạt động phần mềm TP.HCM (Trang 30)
Bảng 14:    DOANH THU NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM VIỆT NAM  (Giai đoạn 1999 - 2004) - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 14 DOANH THU NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM VIỆT NAM (Giai đoạn 1999 - 2004) (Trang 47)
Bảng 12:   Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 12 Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) (Trang 67)
Bảng 13:   Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 13 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) (Trang 68)
Bảng 1:   Số lượng các đơn vị đăng ký hoạt động phần mềm TP.HCM - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 1 Số lượng các đơn vị đăng ký hoạt động phần mềm TP.HCM (Trang 69)
Bảng 11:   Các Doanh nghiệp CNTT-TT có số lao động lớn tại TP.HCM - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 11 Các Doanh nghiệp CNTT-TT có số lao động lớn tại TP.HCM (Trang 71)
Hình thành chiến lược Thực thi chiến lược  Đánh giá - ngành công nghiệp phần mềm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Hình th ành chiến lược Thực thi chiến lược Đánh giá (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w