1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm hiện tại và xu thế chung trong tương lai tới của nền kinh tế thế giới

38 491 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 98,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đặc điểm hiện tại và xu thế chung trong tương lai tới của nền kinh tế thế giới

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀI TẬP QUÁ TRÌNH NHÓM MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẶC ĐIỂM HIỆN TẠI VÀ XU THẾ CHUNG TRONG TƯƠNG LAI TỚI CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI – NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN NỔI CỘM VÀ GIẢI

PHÁP Ở TẦM VĨ MÔ CHO VIỆT NAM KHI HỘI NHẬP

NHÓM 11

Hà Nội, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Kinh tế, trường Đại Học Điện Lực, đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, cung cấp những thông tin cần thiết giúp tôi hoàn thành bài tập quá trình nhóm theo đúng yêu cầu

Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô thầy giáo Phan Duy Hùng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện bài tập quá trình nhóm này

Cuối cùng, các thành viên trong nhóm 11 xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, ủng hộ và giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất giúp hoàn thành bài tập quá trình này !

Do thời gian và trình độ nghiên cứu lý luận còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong bài Vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự góp ý kiến để bài tập quá trình có thể hoàn thiện hơn nữa

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 03 năm 2015

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM HIỆN TẠI VÀ NHỮNG

XU THẾ CHUNG TRONG TƯƠNG LAI CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

1.1 Đặc điểm hiện nay của nền kinh tế thế giới

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới là một thể thống nhất bao gồm các nền kinh tế khu vực và quốc gia rất đa dạng, phát triển không đều, chứa đựng nhiều mâu thuẫn

1.1.1.2 Khái niệm nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức là loại hình kinh tế hoạt động dựa trên tri thức, kỹ thuật và công nghệ cao

Đặc điểm của nền kinh tế tri thức:

- Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ là chủ yếu trong đó các ngành nghề cần nhiều tri thức (Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…) chiếm ưu thế tuyệt đối

- Công nghệ chủ yếu để thúc đẩy phát triển: Công nghệ cao, điện tử hóa, tin học hóa, siêu

xa lộ thông tin…

- Cơ cấu lao động: Công nhân tri thức là chủ yếu

- Tỉ lệ đóng góp của khoa học – Công nghệ trong tăng trưởng kinh tế cao

- Giáo dục có tầm quan trọng rất lớn

- Công nghệ thông tin và truyền thông có vai trò quyết định

Điều kiện phát triển của nền kinh tế tri thức:

- Xây dựng cơ sở hạ tầng vững mạnh cho việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ

- Tăng cường xây dựng các trung tâm nghiên cứu, trường Đại học…Chú ý phát triển các trung tâm công nghệ cao, các công viên khoa học, đầu tư lớn cho việc nghiên cứu và phát triển khoa học

- Chú trọng phát triển công nghệ thông tin

- Coi trọng việc phát triển giáo dục – đào tạo, cần có chiến lược ưu tiên phát triển GD -

ĐT, đặc biệt là phát triển nhân tài

Trang 5

1.1.1.3 Khái niệm toàn cầu hóa

Là quá trình liên kết các quốc gia trên thế giới về nhiều mặt từ kinh tế, văn hóa, khoa học,…trong đó quan trọng nhất là toàn cầu hóa về kinh tế

Bản chất của toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mỗi liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động , phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới

Toàn cầu hóa là giai đoạn mới, giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa, nhưng khác với quốc tế hóa là toàn cầu hóa làm cho các mối liên kết giữa các quốc gia, dân tộc tăng lên chưa từng có cả về chiều sâu và bề rộng, bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau, tác động đến mọi quốc gia, khu vực trên thế giới…

Biểu hiện chủ yếu của toàn cầu hóa:

- Thương mại thế giới phát triển mạnh

- Đầu tư nước ngoài tăng nhanh

- Thị trường tài chính quốc tế mở rộng

- Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn

Hệ quả của toàn cầu hóa:

- Thúc đẩy phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế toàn cầu

- Đẩy nhanh đầu tư trong và ngoài nước, tăng cường sự hợp tác quốc tế

- Làm gia tăng khoảng cách giàu, nghèo và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia

1.1.2 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

Đặc trưng:

- Xuất hiện và phát triển nhanh chóng công nghệ cao

Trang 6

- Công nghệ năng lượng: sử dụng ngày càng nhiều dạng năng lượng mới

- Công nghệ thông tin: Tạo ra các vi mạch, chíp điện tử có tốc độ cao, kỹ thuật số hóa, nâng cao năng lực của con người trong truyền tải, xử lí và lưu trữ thông tin

Tác động:

- Tích cực.

+ Khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trước đây sức sản xuất của con người chủ yếu là lao động thể lực, ngày nay người máy dần thay thế sức lao động con người

+ Xuất hiện các ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao (…) có tác dụng giảm nguyên liệu, năng lượng, không gian sản xuất, lao động tạo ra các sản phẩm nhiều hàm lượng KHKT

+ Làm thay đổi cơ cấu lao động, tăng tỉ lệ lao động trí óc để trực tiếp tạo ra sản phẩm

+ Phát triển nhanh chóng mậu dịch quốc tế, làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa cao, gắn bó chặt chẽ với nhau

- Tiêu cực.

+ Ỉ lại vào máy móc

+ Tình trạng mệt nhọc, căng thẳng hoặc phát sinh bệnh nghề nghiệp…

Trang 7

+ Sự ra đời của các loại vũ khí nguy hiểm, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, tai nạn giao thông…

+ Gia tăng khoảng cách giàu – nghèo

1.2 Xu hướng khu vực hóa kinh tế

Khu vực hóa kinh tế là sự liên kết hợp tác kinh tế của các quốc gia trong các khu vực trên thế giới trên cơ sở tương đồng về địa lí, văn hóa, xã hội, hoặc có chung mục tiêu, lợi ích phát triển

Hệ quả của khu vực hóa kinh tế:

- Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng cường tự do hóa thương mại, đầu tư dịch vụ trong khu vực

- Bảo vệ lợi ích của các nước thành viên

- Mở rộng thị trường quốc gia và khu vực, tăng cường toàn cầu hóa kinh tế thế giới

- Vấn đề tự chủ kinh tế, quyền lực quốc gia…bị ảnh hưởng

Xu hướng khu vực hóa kinh tế đang phát triển mạnh:

- Hiện tại trên thế giới đã hình thành được 5 tổ chức liên kết khu vực lớn:

+ Hiệp ước tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA)

+ Liên minh Châu Âu (EU)

+ Hiệp hội các quốc gia ĐNÁ (ASEAN)

+ Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC)

+ Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR)

- Số lượng thành viên các tổ chức này ngày càng tăng:

+ Năm 2004, EU kết nạp thêm 10 thành viên mới, năm 2007 kết nạp thêm 2 thành viên, nâng tổng số thành viên lên 27

+ MERCOSUR kết nạp thêm 1 thành viên nâng tổng số thành viên lên 6 vào năm 2006

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu và tài liệu được dùng để thực hiện đề tài này được thu thập từ một số trang web như mpi.gov.vn, tapchitaichinh.vn, mofahcm.gov.vn, tuoitre.vn,…và một số bài báo cũng như cuốn sách khác

Trang 8

1.3.2 Phương pháp so sánh

Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Đây là phương pháp đơn giản sử dụng nhiều trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh cũng như trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế -

xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô Tiêu chuẩn so sánh thường là :chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình nền kinh tế đã qua

2.1 Đặc điểm hiện tại của nền kinh tế thế giới

Ngày nay, thế giới đang có sự biến động sâu sắc về nhiều mặt Về phương diện kinh

tế, các quan hệ kinh tế quốc dân đan quyện vào nhau và chi phối nền kinh tế của tất cả các nước Bối cảnh quốc tế mới vừa tạo ra thời cơ mới tương đối thuận lợi, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới đối với nền kinh tế của các quốc gia

- Kinh tế thế giới chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu

- Kinh tế thế giới phát triển gắn liền với cuộc CMKH và CN hiện đại

Trang 9

- Quá trình toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ.

- Những thách thức nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt:

+ Thế giới sẽ phải đối mặt với một kịch bản tăng trưởng thấp đi kèm với nợ công cao và thất nghiệp, nếu các nhà hoạch định chính sách không sớm có kế hoạch để đảo ngược thực trạng này Đó là nhận định, đồng thời là lời cảnh báo được Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế đưa ra trước thềm cuộc họp giữa Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới

+ Tổng Giám đốc Lagarde nhận định mặc dù tốc độ tăng trưởng toàn cầu ở mức 3,4% trong năm ngoái là phù hợp với mức trung bình trong ba thập kỷ qua, song tốc độ tăng trưởng khiêm tốn này không đủ để "chữa lành những tổn thương" do cuộc Đại Suy thoái kinh tế 2007-2009 gây ra khi tỷ lệ thất nghiệp ở giới trẻ vẫn cao ở mức 50% tại một

số nước Bà cũng lưu ý tăng trưởng toàn cầu hiện vẫn ở mức "vừa phải và chưa đồng đều", và tiếp tục phải đối mặt với nhiều rủi ro gia tăng Cụ thể, trong khi các nền kinh tế phát triển, bao gồm cả Mỹ, có tốc độ tăng trưởng nhẹ, tình hình kinh tế tại các nền thị trường mới nổi và nước đang phát triển lại không mấy khả quan do giá dầu và hàng hóa sụt giảm Tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc đang có xu hướng chậm lại song vẫn "vững chắc", trong khi một phần của Trung Đông lại đang chìm trong khủng hoảng kinh tế và chính trị

+ Cũng trong bài phát biểu, Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cảnh báo về nguy cơ nền kinh tế toàn cầu sẽ phải trải qua tình trạng tăng trưởng thấp trong dài hạn với nhiều thách thức đang ngày càng gia tăng Theo bà Lagarde, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, hệ thống ngân hàng trên thế giới đã dần ổn định song những rủi ro lại

"dịch chuyển từ các ngân hàng sang các tổ chức phi ngân hàng, từ các nền kinh tế phát triển sang các thị trường mới nổi" Đơn cử như đồng Đô-la tăng giá lại làm suy yếu các đồng tiền chủ chốt khác, khiến các thị trường mới nổi phải gánh một khoản nợ lớn bằng đồng Đô-la Ngoài ra, lãi suất thấp cũng cũng làm gia tăng những rủi ro đối với các nhà đầu tư

Trang 10

+Đối với Nhật Bản và khu vực châu Âu, bà Lagarde kêu gọi những nước này cần tiếp tục điều chỉnh chính sách tiền tệ và chính sách tài chính nhằm thúc đẩy đà phục hồi kinh tế trong khi vẫn duy trì khả năng chịu nợ trong trung hạn Tại Trung Quốc, các doanh nghiệp nhỏ cũng cần được hỗ trợ để có thể tiếp cận nguồn vốn Để có thể củng cố

sự vững chắc của kiến trúc tài chính toàn cầu, nhà lãnh đạo Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng chủ trương thúc đẩy hợp tác với các tổ chức tài trợ mới như Ngân hàng Đầu tư hạ tầng châu

Á (AIIB) nhằm hỗ trợ tài chính cho các dự án ở các nước châu Á

+ Bài phát biểu của Tổng Giám đốc Lagarde được đưa ra hai ngày sau khi Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim cảnh báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại đang đe dọa mục tiêu xóa đói giảm nghèo trên thế giới vào năm 2030 mà thể chế tài chính này đề ra Trước đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng đưa ra cảnh báo các nền kinh tế hàng đầu thế giới nên chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng chậm kéo dài và tình trạng này

sẽ khiến các chính phủ và doanh nghiệp khó khăn hơn trong việc giảm các khoản nợ

+ Ngày 10/4/2015, số liệu mới nhất vừa được 3 công ty nghiên cứu thị trường lớn tại Anh công bố ông bố cho thấy, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đang nổi hiện ở mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng năm 2009, trong khi các nước đang phát triển phải vật lộn ứng phó với tác động đồng Đô-la mạnh lên và giá hàng hóa yếu đi

+Công ty Capital Economics, qua theo dõi số liệu sơ bộ từ 46 thị trường đang nổi,

dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân của các thị trường này trong 3 tháng đầu năm có thể chỉ đạt 4%, thấp hơn so với 4,5% trong quý trước đó và là mức thấp nhất kể từ mức 3,9% trong quý cuối năm 2009

+Trong khi đó, với việc ước tính riêng rẽ về tăng trưởng trung bình Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nhà kinh tế Felix Huefner thuộc Viện Tài chính quốc tế (IIF) dự đoán tốc độ phát triển của các nền kinh tế đang nổi chỉ đạt khoảng 3,4% trong quý đầu năm nay, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái (4,6%) Chuyên gia kinh tế Chris Williamson thuộc hãng Markit Economics nhận định tăng trưởng GDP của các nền kinh

tế đang nổi trong quý I/2015 sẽ rơi xuống dưới 5%

Trang 11

Những con số đáng lo ngại về "sức khỏe" nền kinh tế toàn cầu nói trên được công

bố trong bối cảnh giá dầu thế giới tiếp tục giảm cùng nguy cơ giảm phát ở Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) và thực trạng ảm đạm tại thị trường việc làm của Mỹ Trên thực tế, giá cả hàng hóa và dầu mỏ sụt giảm đã tác động tới nguồn thu từ xuất khẩu của một số nền kinh tế đang nổi như Brazil và Nga Đồng Đô-la mạnh lên cũng đã làm tăng tình trạng vốn "chảy" ra nước ngoài tại nhiều nền kinh tế đang nổi hàng đầu, bao gồm cả Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc

Theo các nhà phân tích, tình trạng giảm tốc của các nền kinh tế đang nổi năm nay

có đặc điểm khác so với thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính cách đây 6 năm Đó là bởi nếu cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009 là một cú sốc bên ngoài mà các nền kinh

tế đang nổi có thể phục hồi khá nhanh chóng thì tình trạng giảm tốc hiện nay xuất phát những nhân tố bên trong và nhiều khả năng kéo dài "dai dẳng" trong suốt một thập kỷ

Thực tế trên đây củng cố thêm nhận định, bất chấp những rủi ro về kinh tế vĩ mô, vốn đã được kiểm soát từ mùa Thu năm ngoái, nền kinh tế thế giới vẫn đang đứng trước nguy cơ tăng tăng trưởng chậm và đối mặt với nhiều khó khăn thách thức

(Nguồn: Theo Báo điện tử – Đảng Cộng Sản Việt Nam)

2.2 Xu thế chung trong tương lai của nền kinh tế thế giới

Chúng ta đã bước sang thế kỉ XXI Đây là thời kỳ mà các quan hệ quốc tế đã phát triển tới mức không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào có thể tôn tại và phát triển mà không chịu sự tác động ấy Đây cũng là thời kỳ diễn ra quá trình biến đổi từ một nền kinh tế thế giới bao gồm nhiều nền kinh tế quốc gia sang nền kinh tế toàn cầu, từ sự phát triển theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Những thành tựu khoa học và công nghệ đã cho thấy loài người đang quá độ từ nèn sản xuất vật chất sang nền sản xuất tinh thần-cơ sở vật chất của xã hội tương lai

2.2.1 Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới đang phát triển thành một thể thống nhất tuy vẫn bao gồm các mặt đối lập và mâu thuẫn nhau

Trang 12

Những quan hệ kinh tế toàn thế giới vốn có những sức mạnh không thể cưỡng lại Thực tế trong nhiều thập kỷ qua, kể từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời, sự đối đầu giữa 2 hệ thống kinh tế xã hội đã đưa nền kinh tế thế giới tới những nguy cơ to lớn chưa thể lường hết được, trái với xu thế khách quan quốc tế hoá đang phát triển Ngay trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu gay gắt, các quan hệ kinh tế Đông –Tây vẫn tồn tại bất chấp ý chí của các chính phủ Trong những điều kiện mới hiện nay, kinh tế các nước vừa phát triển vừa tăng cường liên kết Mỗi nước không chỉ tăng cường tiềm lực kinh tế của mình,

mà còn mở rộng buôn bán các nước khác

Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới phát triển trên cơ sở xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung để giải quyết các vấn đề đó Những vấn đề cấp bách đăt ra là:

- Hệ thống tín dụng quốc tế: Hệ thống tín dụng quốc tế có liên quan đến mọi quốc gia, được tất cả các nước quan tâm Nền kinh tế thế giới đang bị đe doạ đẩy tới bờ vực thẳm của những cuộc khủng hoảng tài chính Hiện nay, trên thế giới có quá nhiều con nợ, nhất

là các nước đang phát triển không có khả năng trả nợ …nếu các nước này đang phá sản thì mọi quốc gia khác cũng chịu những tổn thất nặng nề và không thể lường trước được

- Vấn đề thương mại quốc tế cũng ngày càng trở nên gay gắt vì các quốc gia, kể cả các nước đang phát triển ngày càng đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường thế giới… và tổ chức thương mại thế giới WTO đã ra đời vào ngày 1.1.1995 để giải quyết những xu hướng tự

do hoá thương mại …sẽ có lợi cho mọi quốc gia thành viên

Tính thống nhất của nền kinh tế hay xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế phát triển trên cơ sở mở rộng các quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia Trước đây những quan hệ cùng có lợi dường như chỉ tồn tại trong quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa với các nước đang phát triển chỉ là quan hệ bóc lột, áp bức dân tộc và thôn tính, xâm lược Trong quan hệ đông tây chỉ thấy sự đối đầu, chống phá nhau Từ thực tế đấu tranh của các nước đang phát triển đã buộc các nước phát triển phải xây dựng và mở rộng các quan hệ cùng có lợi với mọi quốc gia

Trang 13

Trong tình hình mới hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển muốn mở rộng thị trường, nguồn vốn đầu tư, địa bàn chuyển nhượng những kỹ thuật truyền thống và hình thành phân công lao động quốc tế thì phải mở rộng những quan hệ quốc tế cùng có lợi Đây chính là một phương hướng mới của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo ra cơ hội để các quốc gia có điều kiện có thể mở rộng các quan hệ phụ thuộc vào nhau Không thể phát triển kinh tế bằng cách xây dựng một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong một nước, thậm chí một nhóm nước

Nền kinh tế khủng hoảng, sản xuất giảm sút, thất nghiệp cao và thiếu vốn đầu tư ở các nước Đông Âu, sự tan rã và suy sụp nhanh chóng của nền kinh tế Liên Xô cũ đã cho thấy rằng mô hình kinh tế tập trung quan liêu, đóng cửa không phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay Nó khẳng định con đường phát triển của nền kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển cũng như đang tiến hành cải cách nền kinh tế theo hướng thị trường Ví dụ như Angiêri từ ngày 1/1/1992 nhà nước đã bỏ chính sách bao cấp giá, giá hàng Angiêri chính thức thả nổi Các nước kinh tế đang phát triển cũng đang tích cực tiến hành nền kinh tế cho phù hợp với xu hướng mới này của thế giới

Xu hướng liên kết toàn thế giới thành một thị trường thống nhất đang được đẩy mạnh hơn Nó phản ánh quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay

2.2.2 Xu hướng nền kinh tế thế giới chuyển sang nền kinh tế có cơ sở vật chất kỹ thuật

mới về chất - một nền văn minh hậu công nghiệp

Từ trước đến nay nền kinh tế thế giới vẫn đang hoạt động chủ yếu dựa vào những

cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới cơ sở này ngày càng tỏ ra không đáp ứng được Tại các nước công nghiệp phát triển, kỹ thuật

cơ khí hoá đã đạt trình độ cao và phổ biến các nguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng nguyên liệu rắn và lỏng, các vật liệu kim khí… đều đã được tận dụng cao độ và nguồn cung cấp chúng ngày càng hạn chế Các quá trình công nghệ không liên tục ngày càng không đáp ứng các yêu cầu phát triển, không gian lục địa đã tỏ ra không đủ cho một nền kinh tế thế giới trong tương lai…

Trang 14

Thế kỷ XXI nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển Đó là những người máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những người lao động Các quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế Các nguồn năng lượng mặt trời và nhiệt hạch… sẽ phổ biến và thay thế cho những cho các nguồn năng lượng hiện có Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền… sẽ thay thế các vật liệu truyền thống Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển… Các công nghệ liên tục sẽ được sử dụng rộng rãi Không gian của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại Dương và vũ trụ … Khi đó nền sản xuất thế giới sẽ đảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuất vật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé so với các khu vực kinh tế trí tuệ

Để có thể thực hiện bước quá độ sang một nền kinh tế mới, các nước trên thế giới

dù thuộc chế độ chính trị nào cũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc thượng tầng, nhưng theo cách riêng của mình Bất cứ quốc gia nào, muốn đạt được sự phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá đều phải giải quyết hai vấn

đề cơ bản:

Một là, tạo ra phát minh mới trên các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao (vi điện tử,

năng lượng, vật liệu, công nghệ) hoặc du nhập chúng và áp dụng nhanh chóng vào sản xuất

Hai là, chuyển nhượng sang nơi khác các kỹ thuật trung gian và truyền thống

Hai vấn đề này có mối liên quan và đòi hỏi có sự phối hợp toàn cầu nếu không chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian truyền thống sang các quốc gia kém phát triển hơn thì các tiến bộ kỹ thuật dù có đạt được cũng không có nơi sử dụng hoặc việc áp dụng có nhiều

hạn chế

Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao coi khoa học công nghệ là cốt lõi của biến đổi nền kinh tế Các nước này áp dụng nhiều biện pháp để dành được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như: tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa

Trang 15

học công nghệ và tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, thành lập các thành phố khoa học kỹ thuật cao.

Việc chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian và truyền thống ở các nước phát triển sang các nước kém phát triển hơn Nhờ đó mà các nước nghèo rút ngắn được chu kỳ đổi mới kỹ thuật và thời gian hoàn vốn cho những kỹ thuật nhập khẩu Cách thứ hai là áp dụng kết cấu hai tầng trong công nghiệp Tầng thứ nhất gồm các xí nghiệp lớn, hiện đại Tầng thứ hai gồm các xí nghiệp nhỏ và vừa kém hiện đại hơn Các kỹ thuật được xem là

cũ luôn luôn được chuyển nhượng từ tầng thứ nhất sang tầng thứ hai Nhật Bản đã thành công trong việc chuyển nhượng kỹ thuật trung gian và truyền thống theo cả hai cách này Các nước NIC hiện cũng đang tìm một tầng công nghiệp thứ hai ở các công nghiệp nước kém phát triển hơn

Bước quá độ chuyển sang một nền kinh tế mới ở các nước kém phát triển Để xây dựng những ngành công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế của mình đa số các quốc gia đi theo hai hướng:

Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian và truyền thống của các nước phát triển trên

cơ sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế giới Nam Triều Tiên là nước đi theo con đường này

Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào sản

xuất để tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại Tầng công nghiệp truyền thống được coi là tiền đề để áp dụng hướng thứ hai Hướng thứ nhất càng mở rộng, càng mạnh thì khả năng nghiên cứu ứng dụng và phát minh sáng chế càng lớn

Các nước đang phát triển hiện đứng trước một thách thức mới Đó là lợi thế của các quốc gia này về nguồn nguyên liệu, nhưng tỷ trọng giao dịch nông sản phẩm khoáng sản trên thị trường thế giới ngày càng giảm do cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phổ biến Vì vậy, các nước đang phát triển phải áp dụng chính sách kinh tế mới, thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, tham gia cạnh tranh quốc tế, sử dụng những

Trang 16

Những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới dẫn tới những thay đổi về thị trường: thị trường của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao và thị trường dịch vụ sẽ ngày càng mở rộng, còn thị trường hàng hoá truyền thống sẽ ngày càng thu hẹp và cạnh tranh để tiêu thụ ngày càng gay gắt.

Hiện nay, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm khoảng 50 – 60% dân số lao động và 60 – 65% tổng số sản phẩm quốc dân, khu vực công nghiệp chỉ còn chiếm khoảng 40% lao động, 30 -35% tổng sản phẩm quốc dân Dự báo thế kỷ XXI khu vực dịch vụ ở các nước này có thể tăng 70 – 80% dân số lao động và khu vực công nghịêp sẽ giảm đi tương ứng, mà trong đó tỷ trọng của những ngành công nghiệp sản xuất ra hàng hoá có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao tăng lên và tỷ trọng của những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật trung gian sẽ giảm đi

2.2.3 Xu hướng nền kinh tế thế giới chuyển sang nền kinh tế có cơ sở vật chất kỹ thuật

mới về chất – Một nền văn minh hậu công nghiệp

Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới cơ sở này ngày càng tỏ ra không đáp ứng được Tại các nước công nghiệp phát triển, kỹ thuật cơ khí hoá đã đạt trình độ cao và phổ biến các nguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng nguyên liệu rắn và lỏng, các vật liệu kim khí… đều đã được tận dụng cao độ và nguồn cung cấp chúng ngày càng hạn chế Các quá trình công nghệ không liên tục ngày càng không đáp ứng các yêu cầu phát triển, không gian lục địa đã tỏ ra không đủ cho một nền kinh tế thế giới trong tương lai…

Thế kỷ XXI nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển Đó là những người máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những người lao động Các quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế Các nguồn năng lượng mặt trời và nhiệt hạch sẽ phổ biến và thay thế cho những cho các nguồn năng lượng hiện có Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền… sẽ thay thế các vật liệu truyền thống Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển… Các công nghệ liên tục sẽ được sử dụng rộng rãi Không gian của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại Dương và vũ trụ

Trang 17

Để có thể thực hiện bước quá độ sang một nền kinh tế mới, các nước trên thế giới

dù thuộc chế độ chính trị nào cũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc thượng tầng, nhưng theo cách riêng của mình Bất cứ quốc gia nào, muốn đạt được sự phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá đều phải giải quyết hai vấn

đề cơ bản:

Một là, tạo ra phát minh mới trên các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao (vi điện tử,

năng lượng, vật liệu, công nghệ) hoặc du nhập chúng và áp dụng nhanh chóng vào sản xuất

Hai là, chuyển nhượng sang nơi khác các kỹ thuật trung gian và truyền thống.

Hai vấn đề này có mối liên quan và đòi hỏi có sự phối hợp toàn cầu nếu không chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian truyền thống sang các quốc gia kém phát triển hơn thì các tiến bộ kỹ thuật dù có đạt được cũng không có nơi sử dụng hoặc việc áp dụng

có nhiều hạn chế

Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao coi khoa học công nghệ là cốt lõi của biến đổi nền kinh tế Các nước này áp dụng nhiều biện pháp để dành được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như: tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học công nghệ và tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, thành lập các thành phố khoa học kỹ thuật cao

Các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản đã đạt được thành tựu kinh tế nổi bật còn nhờ việc nhập bằng phát minh từ nước ngoài và đưa các bằng phát minh này vào ứng dụng trong sản xuất Nhật Bản trong 20 năm (1950-1970) đã nhập 11.606 bằng phát minh, vào những năm gần đây khối lượng các bằng phát minh Nhật nhập vào còn nhiều hơn

Các nước NIC hiện cũng đang tìm một tầng công nghiệp thứ hai ở các công nghiệp nước kém phát triển hơn

Trang 18

Bước quá độ chuyển sang một nền kinh tế mới ở các nước kém phát triển Để xây dựng những ngành công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế của mình đa số các quốc gia đi theo hai hướng:

Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian và truyền thống của các nước phát triển

trên cơ sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế giới Nam Triều Tiên là nước đi theo con đường này

Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào sản

xuất để tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại Tầng công nghiệp truyền thống được coi là tiền đề để áp dụng hướng thứ hai Hướng thứ nhất càng mở rộng, càng mạnh thì khả năng nghiên cứu ứng dụng và phát minh sáng chế càng lớn

Các nước đang phát triển hiện đứng trước một thách thức mới Đó là lợi thế của các quốc gia này về nguồn nguyên liệu, nhưng tỷ trọng giao dịch nông sản phẩm khoáng sản trên thị trường thế giới ngày càng giảm do cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phổ biến

Những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới dẫn tới những thay đổi về thị trường: thị trường của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao và thị trường dịch vụ sẽ ngày càng mở rộng, còn thị trường hàng hoá truyền thống sẽ ngày càng thu hẹp và cạnh tranh để tiêu thụ ngày càng gay gắt

Hiện nay, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm khoảng 50 – 60% dân số lao động và 60 – 65% tổng số sản phẩm quốc dân, khu vực công nghiệp chỉ còn chiếm khoảng 40% lao động, 30 -35% tổng sản phẩm quốc dân Dự báo thế kỷ XXI khu vực dịch vụ ở các nước này có thể tăng 70 – 80% dân số lao động và khu vực công nghịêp sẽ giảm đi tương ứng, mà trong đó tỷ trọng của những ngành công nghiệp sản xuất ra hàng hoá có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao tăng lên và tỷ trọng của những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật trung gian sẽ giảm đi

Trang 19

2.2.4 Xu hướng cải tổ và đổi mới nền kinh tế

Một trật tự quốc tế mới đang được xác lập trên quy mô toàn cầu với những đặc trưng chủ yếu là đối thoại và hợp tác xây dựng các khu vực hoà bình và ổn định, thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau

Công cuộc cải tổ và đổi mới đang diễn ra sâu rộng ở tất cả các nước còn lại trong hệ thống XHCN thế giới với những tên gọi khác nhau (Cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam …) và với các mức độ khác nhau Đây thực sự là cuộc cách mạng thay cũ, đổi mới mà khi phát động các nước đã nêu rõ mục tiêu là đưa nền kinh tế và toàn bộ đời sống

xã hội sang một trạng thái mới về chất

Công cuộc cải cách kinh tế có mục tiêu tạo lập nền kinh tế thị trường, để các hoạt động kinh tế được điều tiết tự nhiên bởi cơ chế thị trường như chính nó đã có và cần phải

có dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước XHCN Đó là lối thoát khỏi sự sụp đổ về kinh tế,

là hướng đi đúng nhằm đưa nền kinh tế của các quốc gia này hoà nhập vào con đường phát triển thông thường của đời sống kinh tế nhân loại

Các nước tư bản phát triển đã và đang bước vào công cuộc cải tổ sâu rộng về kết cấu kinh tế và các thể chế xã hội để thích ứng với điều kiện mới Phương hướng cải tổ của các nước trong khu vực này thể hiện rõ nhất ở một số mặt:

- Tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế, không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà có sự phối hợp điều chỉnh siêu quốc gia

- Phát triển các tổ chức siêu quốc gia mà chúng có ảnh hưởng lớn đến các quan hệ kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia như nhất thể hoá cộng đồng kinh

tế châu Âu, hình thành khu vực tự do Bắc Mỹ, Canada mở rộng tới Mêhicô, tiến tới toàn châu Mỹ liên kết kinh tế nhiều tầng giữa Nhật Bản với các nước ASEAN và NIC tiến tới nhất thể hoá kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

Ngày đăng: 30/07/2015, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w