Cơ sở khoa học của trồng rau sinh thái (RST) qua thực nghiệm tại xã thọ xuân huyện đan phượng thành phố hà nội
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Lý do chọn đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu: Thọ Xuân- Đan Phượng- Hà Nội 4 1.1.1 Vị trí địa lý 4
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 4
1.1.3 Điều kiện kinh tế- xã hội 7
1.2 Vài nét về hiện trạng rau trên thế giới 8
1.3 Khái niệm về các dạng rau sạch trên thị trường nước ta hiện nay 9
1.4 Hiện trạng về sản xuất RAT nước ta hiện nay 10
1.4.1 Giống 12
1.4.2 Quá trình chăm sóc 12
1.4.3 Quá trình thu hoạch và đóng gói 13
1.5 Hiện trạng về RAT trên thị trường nước ta 13
1.6 Nguyên nhân dẫn đến RAT chưa thực sự là an toàn 15
1.7 Cơ sở khoa học cho việc trồng RST 17
1.7.1 Lợi ích kinh tế 18
1.7.2 Lợi ích xã hội 19
1.7.3 Lợi ích môi trường 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp phân tích SWOT 22
2.3.2 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Nhu cầu về RST 25
3.2 Phân tích SWOT tính phù hợp của RST qua thử nghiệm 28
3.2.1 Thuận lợi 28
3.2.2 Khó khăn 32
3.2.3 Cơ hội 34
3.2.4 Thách thức 35
3.3 Quá trình thực hiện 36
3.4 Vấn đề thị trường, thương hiệu 44
3.5 Giải pháp 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
1 KẾT LUẬN 51
Trang 22 KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rau an toàn (RAT) đã trở nên quen thuộc với người dân nước ta từ nhữngnăm 90 cho đến nay, hầu khắp các tỉnh, thành phố của nước ta đã triển khai thựchiện sản xuất RAT Những năm gần đây việc triển khai diễn ra ồ ạt, không theo một
khuôn mẫu nhất định mà chỉ nhằm đáp ứng theo nhu cầu thị trường có cầu ắt có cung Khi Việt Nam được sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài xây dựng hoàn
chỉnh quy trình nông nghiệp an toàn VietGAP và Nhà nước đã hoàn thiện các vănbản pháp quy quy định về quy trình sản xuất, tiêu thụ RAT đã tạo điều kiện thuậnlợi cho các bên liên quan như : Người sản xuất, Người tiêu dùng, Nhà kinh doanh,Nhà quản lý cùng với sự giúp đỡ của các Nhà khoa học Tuy nhiên, trong quá trìnhtriển khai thực hiện gặp phải không ít khó khăn và thách thức RAT theo đúng quyđịnh của VietGAP sẽ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho
người sản xuất và giảm mức độ tổn hại đến môi trường tự nhiên Một lớp người với
mức sống cao hơn có nhu cầu tiêu dùng Rau hữu cơ (RHC) với sự an toàn đượcđảm bảo hơn, tuy nhiên việc trồng RHC được tiến hành theo đúng tên gọi của nókhông dễ thực hiện, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Thực tế chứngminh rằng cả RAT và RHC nếu sản xuất- tiêu thụ đúng theo quy định của Nhà nước
sẽ đảm bảo an toàn thực phẩm, tuy nhiên ý nghĩa đối với môi trường chưa thật rõ
ràng Các nhà Môi trường luôn nghiên cứu, đề xuất những hướng sản xuất thân thiện với môi trường nhất, làm giảm thiểu đến mức thấp nhất việc làm phương
hại đến tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Làm thế nào để có thể vừa khaithác được tối đa tiềm năng của tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm với chất lượng tốtnhất, năng suất cao nhất vừa có thể bảo vệ được các nguồn tài nguyên đất, nước,không khí và sức khỏe con người Ngoài việc tìm ra những giống mới, kỹ thuậtcanh tác mới thì khoa học kỹ thuật (KHKT) tiến bộ còn có thể tìm ra những hướng
đi mới phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững về mặt sinh thái- môi trường Dự
án “RST” tại Thọ Xuân- Đan Phượng- Hà Nội được sự hỗ trợ kinh phí từ phíaUBND Thành phố Hà Nội và các nhà Khoa học tâm huyết, cán bộ chuyên sâu vềBVTV nhằm khảo nghiệm mức độ phù hợp, tính khả thi của việc triển khai RST
vào sản xuất theo hướng bền vững nhằm đảm bảo hài hòa, cân bằng giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường Là một sinh viên còn ngồi trên ghế
nhà trường nhưng may mắn được tham gia dự án này nên chúng tôi đã có điều kiệnthu thập số liệu để viết Khóa luận tốt nghiệp với tiêu đề: Cơ sở khoa học của trồng
Trang 4Rau sinh thái (RST) qua thực nghiệm tại xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng thànhphố Hà Nội.
2. Lý do chọn đề tài
Việc chọn đề tài Khóa luận dựa trên những lý do sau:
◦ Tầm quan trọng và ý nghĩa của Rau trong chế độ dinh dưỡng hàng ngàycủa mọi người dân
◦ RAT, RHC được nói đến nhiều và sử dụng nó như là phương thức đưa sảnphẩm của mình đến tay người tiêu dùng thuận lợi nhất, tuy nhiên người tiêu dùngcòn thiếu thông tin về giá trị thực của việc tuân thủ đúng quy trình sản xuất theoquy định hiện hành của Nhà nước
◦ Giữa rau sạch và rau không sạch không có ranh giới rõ ràng, gây thiệt hạiđáng kể về uy tín và kinh tế cho người trồng rau sạch theo đúng tiêu chuẩn, quytrình kỹ thuật, từ đó làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan từ người sản xuất,tiêu thụ, các nhà quản lý, chính quyền địa phương đến người tiêu dùng
º Sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận kinh tế đồng thời phải đảm bảo phúc lợi
xã hội cũng như bảo vệ môi trường sống, không làm thoái hóa nghiêm trọng cácnguồn tài nguyên liên quan đến quá trình sản xuất đặc biệt là môi trường đất, nước,
3. Ý nghĩa của đề tài
º Xây dựng cơ sở khoa học về “RST”, một tên gọi mới về RAT nêu bật ýnghĩa thân thiện với môi trường nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng an toànthực phẩm theo tiêu chuẩn của Nhà nước Việt Nam Trên cơ sở nhận được sự tưvấn, góp ý của các nhà Khoa học, đặc biệt là sự tham gia vào dự án cùng giúpnhững người dân trong quá trình chăm sóc, thu hoạch sản phẩm rau, tác giả mớithấy hết những vất vả, lo toan của những người coi nghề Rau là kế sinh nhai Bêntrong những lợi nhuận thu được chính là Sức khỏe, là vốn liếng Đất, Nước không gì
có thể thay thế được đang dần bị bào mòn, làm thế nào để cân bằng được kinh tế- xãhội và chất lượng môi trường là những gì mà tác giả đề tài muốn đề cập trongkhuôn khổ đề tài
º Coi RST như là một hướng đi mới cho nghề trồng rau dưới con mắt củacác nhà môi trường, từ đó có thể hình thành ý tưởng du lịch sinh thái tại nhữngvùng trồng rau phù hợp với phát triển du lịch Hướng ngành nông nghiệp nước nhàđến một nền nông nghiệp văn minh, sạch, thân thiện với môi trường là niềm mong
Trang 5mỏi không chỉ từ phía Ngành Nông nghiệp mà còn từ những người học, làm về môitrường.
º Mở ra định hướng mới cho bà con nông dân trồng rau xã Thọ Xuân huyệnĐan Phượng thành phố Hà Nội: Trồng rau đảm bảo chất lượng và an toàn theo đúngquy trình kỹ thuật, sản xuất rau sạch theo hướng sạch hơn, tiếp cận với thị trườngtiềm năng hơn
º Trồng rau đảm bảo an toàn không những giữ được cái tâm trong của ngườitrồng rau là đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng cũng như việc đảm bảo sức khỏecho người trồng không phải tiếp xúc với các chất hóa học
Do hạn chế về năng lực và kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Sự phản hồi của độc giả sẽ rất bổ ích và thiết thực để tác giả có thể hoàn thiện mình.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu: xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội
Trang 61.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội cách Trung tâm thành phố35km về phía Tây Bắc, phía Bắc giáp huyện Mê Linh (Hà Nội), phía Nam giáp xãPhương Đình huyện Đan Phượng- Hà Nội, phía Đông giáp xã Trung Châu huyệnĐan Phượng- Hà Nội, phía Tây giáp xã Thọ An huyện Đan Phương- Hà Nội
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
từ năm 2001 xuất hiện rất nhiều lò gạch sản xuất thủ công Tuy nhiên đến khoảngnăm 2006 thì những lò gạch này đã ngừng hoạt động do kiến nghị gay gắt từ phíangười dân bị ảnh hưởng đến sức khỏe và hoa màu
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất ở xã (ha) [13]
STT Loại đất Hiện trạng
(2009)
Định kỳ quy hoạch đến năm
Trang 7Nhìn vào Bảng 1 có thể nhận xét Quy hoạch sử dụng đất của địa phương đếnnăm 2015, 2020 sẽ giảm diện tích đất nông nghiệp, tăng diện tích đất sử dụng chocác mục đích phi nông nghiệp Đây cũng là sự thể hiện của quy hoạch theo xuhướng chung ở những vùng nông thôn đặc biệt là những vùng ngoại vi gần những
đô thị lớn
◦ Hệ thống đường giao thông
Bảng 2: Hiện trạng hệ thống đường giao thông [12]
Tổng chiềudài (km)
Đã được bêTông hóa, nhựa hóa
1 Đường trục liên xã đi qua địa phương 8 4,2
Trang 8Trung tâm Hà Nội)
◦ Khí hậu
Địa bàn nghiên cứu thuộc khu vực Hà Tây cũ nay thuộc thành phố Hà Nộimang những nét đặc trưng của khí hậu vùng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùatrong năm và hai mùa rõ rệt Đông, Hè mà hai mùa chuyển tiếp Xuân, Thu Vào mùa
Hè nhiệt độ trung bình 25- 300C, nhiệt độ cao nhất là 400C Lượng mưa dồi dào, độ
ẩm cao 70- 80% Vào mùa Đông thường rất lạnh và khô hanh, bình quân nhiệt độ là12- 190C Lượng mưa thấp, độ ẩm 40- 50%
Hai hướng gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió mùaĐông Nam xuất hiện quanh năm nhưng mạnh nhất vào các tháng mùa hè; còn giómùa Đông Bắc xuất hiện vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 12
◦ Nguồn nước
- Nước dùng cho sinh hoạt là nước giếng khoan là chủ yếu, ngoài ra còn lànước mưa
- Nước dùng cho tưới là nước ao, hồ, nhiều nhất là nước giếng khoan
1.1.3 Điều kiện kinh tế- xã hội
◦ Kinh tế
Năm 2009, chịu ảnh hưởng của thiên tai bất thường, khắc nghiệt đã tác độngmạnh đến phát triển kinh tế -xã hội Tuy nhiên dưới sự quan tâm chỉ đạo của cáccấp chính quyền, đầu tư phát triển nông nghiệp, mở rộng sản xuất các loại hình dịch
vụ, hình thành các điểm công nghiệp cùng với sự nỗ lực không mệt mỏi của chính
Trang 9quyền và người dân đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tổng giá trị sảnphẩm năm 2009 ước đạt 67 tỉ 426 triệu 012 nghìn đồng.
Bảng 3: Cơ cấu ngành kinh tế của địa phương năm 2009 [11]
Cơ cấu ngành
Giá trị So với cùng
kỳ năm 2008
So với kếhoạch
◦ Văn hóa- xã hội
- Công tác giáo dục
Công tác quản lý giáo dục ở các cấp học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sởkhá tốt, tỉ lệ học sinh đi học cao và đảm bảo, cải thiện dần về cơ sở vật chất và giáodục Ngày càng nhận được sự quan tâm hơn nữa từ phía gia đình, nhà trường và xãhội đối với nền giáo dục của địa phương
- Công tác Y tế- Dân số
+ Y tế: Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh và chăm sóc, khám chữa bệnh
ban đầu cho nhân dân Công tác tiêm chủng 7 loại vacxin phòng bệnh diễn ra hiệuquả, được sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân Trong năm 2009 không có dịchbệnh xảy ra, đảm bảo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường
+ Dân số: Tính đến nay toàn xã hiện có 1990 hộ tương ứng với 9276 nhân
khẩu, có 43 hộ tương ứng với 156 nhân khẩu đến tạm trú để làm ăn sinh sống trênđịa bàn xã, có 7 hộ tương ứng với 25 nhân khẩu tạm vắng mặt tại địa phương đi nơikhác làm ăn
- Công tác vệ sinh môi trường
Trang 10Ngày 01/01/2010 Địa phương đã ký hợp đồng với hợp tác xã dịch vụ ThànhCông- Sơn Tây- Hà Nội trong việc thu gom rác thải sinh hoạt đều đặn vào mỗingày, việc làm này đã được người dân hưởng ứng nhiệt tình thể hiện ý thức bảo vệmôi trường trong mỗi người ngày một cao hơn.
- Các công tác khác như văn hóa thông tin, thể thao, các công tác xã hội, anninh chính trị được đảm bảo và đầu tư từ phía chính quyền cơ sở của địa phương
1.2 Vài nét về hiện trạng rau trên thế giới
Trên thế giới đã xuất hiện các cụm từ như Global GAP (Global GoodAgriculture Practises), mỗi khu vực hay mỗi nước đều có bộ tiêu chuẩn riêng quyđịnh về quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt như Châu Âu có EUROPEGAP, Châu Á có ASIAN GAP, Nước ÚC có FRESH CARE, Trung Quốc có ChinaGAP, Nhật Bản có JGAP, Singapore có GAP- VF, Hiệp hội các nước Đông Nam Á
có ASEAN GAP, Thái Lan có Thai GAP, Indonesia có INDON GAP những quyđịnh này mang lại lợi ích đảm bảo cho người sản xuất chân chính, các nhà quản lý
có thể dễ dàng kiểm soát được tính thông thoáng, minh bạch của thị trường, ngườitiêu dùng an tâm được sử dụng sản phẩm tốt và có thể truy nguyên nguồn gốc nếu
cần [20] Việc tuân thủ theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt đã trở thành thói quen hay sự tự nguyện mà bất cứ nhà sản xuất hay nhà kinh doanh Rau nào muốn
có chỗ đứng trên thị trường.
Bên cạnh sản xuất rau theo tiêu chuẩn Global GAP, thế giới còn đẩy mạnhphát triển nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt là những nước phát triển và có nền nôngnghiệp hiện đại, bền vững Theo báo cáo của Hiệp hội nông dân sinh học Australia(2008), lượng sản phẩm rau, quả hữu cơ được tiêu thụ ở nước này tăng 80% kể từnăm 2004 và có ít nhất 40% người dân có thói quen tiêu thụ sản phẩm hữu cơ.Australia là nước có nhiều đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận trồng các sảnphẩm hữu cơ trên thế giới.[19]
Tại Đài Loan, trong những năm gần đây xu hướng tiêu dùng là lựa chọn thựcphẩm hữu cơ, diện tích canh tác các sản phẩm hữu cơ đã tăng đáng kể Trong năm
2001, diện tích canh tác RHC chỉ là 171 ha trong tổng số 898 ha các sản phẩm hưu
cơ, nhưng đến hết tháng 3 năm 2010 thì diện tích RHC là 944ha trong tổng số3.056ha các sản phẩm hữu cơ [16]
1.3 Khái niệm về các dạng rau sạch trên thị trường nước ta hiện nay
Trang 11Thị trường rau có những tên gọi chỉ những loại rau đảm bảo an toàn thực phẩmnhư: rau sạch, RAT, RHC,… Gọi tên rau sạch mang ý nghĩa chung chung, không rõ
nghĩa, qua tìm hiểu tác giả nhận thấy không có một dạng rau nào trên thị trường là rau sạch tuyệt đối, chỉ có rau đạt ngưỡng an toàn theo quy định của Nhà nước, không gây hại hoặc gây hại ở mức nhẹ cho sức khỏe của người trồng và người sử dụng.
- RAT: Là tên gọi phổ biến nhất là rau mà những chỉ tiêu như : Dư lượngNitrat; Dư lượng kim loại nặng; Dư thuốc BVTV; Dư lượng vi sinh vật gây hại phải
dưới mức cho phép, nếu vượt quá có thể gây nguy hiểm cho người sử dụng (Phụ lục 1,2,3) Gọi là RAT, vì trong quá trình sản xuất, vẫn dùng phân hóa học và thuốc
BVTV, tuy nhiên được hạn chế về liều lượng, dùng vào thời điểm phù hợp và chỉ sửdụng các thuốc BVTV trong danh mục cho phép Phải đảm bảo thời gian cách lykhi sử dụng phân bón và thuốc BVTV đến khi thu hoạch Như vậy, khi thu hoạchRAT vẫn tồn dư lượng nhất định các chất độc hại nằm trong giới hạn cho phép theoquy định của Nhà nước [23] [25]
Theo Đào Duy Tâm (2006): RAT là rau không dập nát, hư hỏng, không bámbụi đất, không chứa các chất hóa học, độc hại, hàm lượng nitrat, hàm lượng kimloại nặng, dư lượng thuốc BVTV cũng như các vi sinh vật gây hại phải được hạnchế theo các tiêu chuẩn an toàn và được trồng trên các vùng đất không bị nhiễm kimloại nặng, canh tác theo những quy trình kỹ thuật tổng hợp, hạn chế được việc sửdụng phân bón và thuốc BVTV ở mức độ tối thiểu cho phép
- RHC: Chưa có một định nghĩa chính thức, tuy nhiên có thể đánh giá chấtlượng RHC qua quy trình sản xuất nghiêm ngặt: Phương thức canh tác thủ công, sửdụng sức lao động làm phương thức đảm bảo năng suất, chất lượng sản phẩm,không sử dụng hóa chất, phân hóa học trong quá trình sản xuất và bảo quản
Tại Việt Nam hiện những dự án RHC đều do Hội Nông dân Việt Nam kết hợpvới tổ chức ADDA (Đan Mạch) và GIZ (Đức) triển khai tại Việt Nam từ năm 2005đến nay tại Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang đến nay đã nhận đượcnhững đánh giá tốt đẹp từ phía người tiêu dùng [20]
Nông dân canh tác theo hình thức hữu cơ dựa tối đa vào việc quay vòng mùa
vụ, các thành phẩm thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác cơ giới đểduy trì năng suất nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, kiểm soát cỏ, côntrùng gây hại và các loại sâu bệnh khác Mục đích của sản xuất RHC là tối đa hóa
Trang 12sức khỏe và năng suất của các yếu tố làm nên sự sống như đất đai, cây trồng, vậtnuôi và con người Như vậy, ý nghĩa của trồng RHC đối với con người và môitrường là rất lớn, nếu việc triển khai trồng RHC phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thịtrường thì sẽ đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vữngmột cách toàn diện Tuy nhiên, RHC mới dừng lại ở những dự án thử nghiệm, dưới
sự hỗ trơ từ các chuyên gia nước ngoài, sản xuất vẫn đang ở mức độ cầm chừng,nhỏ lẻ, năng suất không cao, mẫu mã nhìn không thu hút, khách hàng của RHC làtầng lớp thượng lưu bởi giá cả ở mức quá cao so với mức thu nhập bình quân củangười dân Tính ưu việt lớn nhất của RHC là “sạch hơn rau sạch”, sản xuất nôngnghiệp bền vững và thân thiện với môi trường Tuy nhiên, để mô hình sản xuấtRHC có thể mở rộng ra thành sản xuất đại trà ra thị trường là rất khó bởi những trởngại khi chuyển từ sản xuất bình thường sang sản xuất hữu cơ, chưa có cơ quanchứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm hữu cơ cũng như quy định rõ ràng về giá cả
1.4 Hiện trạng về sản xuất rau, RAT nước ta hiện nay
Theo số liệu thống kê năm 2008 ( Cục Trồng trọt- Bộ NN&PTNT), tổng diệntích trồng rau trên đất nông nghiệp của Việt Nam là 772000 ha, năng suất 15,9tấn/ha, sản lượng là 11.472.000 tấn, bình quân đầu người 133,4 kg/năm nằm ở mức
trung bình so với lượng rau tiêu thụ trên đầu người trên thế giới Với sản lượng rau
trên chỉ đảm bảo tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu Tuy nhiên, sovới sản lượng rau của những năm về trước tăng lên đáng kể Trong đó diện tíchRAT mới chỉ đạt con số khiêm tốn là 12% trong tổng số rau sản xuất ra cho thị
trường ( Viện nghiên cứu rau quả, 2009)
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng [16]
TT Vùng Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng
Trang 131.4.2 Quá trình chăm sóc
- Phân bón
Nhiều nơi sản xuất RAT không tuân theo quy định của Nhà nước về quy trình
sử dụng phân bón, cách làm thiếu khoa học, tình trạng lạm dụng phân hóa học rấtphổ biến ở các vùng trồng rau để tăng năng suất cây trồng làm ảnh hưởng đến chấtlượng rau, đa số người sản xuất có thói quen không thường xuyên làm vệ sinh đồng
Trang 14ruộng, bón phân hữu cơ chưa được ủ hoai, bón nhiều phân Ure Trên thị trường xuấthiện nhiều dạng phân bón chất lượng thấp do hàng giả, hàng nhập lậu từ TrungQuốc.
- Thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV)
Theo Viện BVTV (1998), Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 270 loại thuốctrừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 26loại thuốc kích thích sinh trưởng [2]
Thời gian cách ly của thuốc BVTV: Người dân cách ly thường theo cảm tính.Thuốc BVTV góp phần làm giảm số lượng nhiều loài sinh vật có ích, giảm tính
đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Mặc dù sản xuất RAT nhưngvẫn còn có nơi sử dụng thuốc BVTV có độ độc cao đã bị cấm sử dụng như: DDT,Lindan, Monitor, wofatox…Quy định về sản xuất RAT là sử dụng thuốc BVTVthuộc nhóm III, IV và hạn chế hoặc cấm sử dụng các thuốc BVTV thuộc nhóm I, II.Khi không có sự kiểm soát từ phía cơ quan chức năng cũng như sự giám sát củanhững người có liên quan thì người dân vẫn sử dụng thuốc BVTV cho RAT giốngnhư rau thường
- Nước tưới
Nguồn nước tưới cung cấp cho RAT theo quy định là nước giếng khoan, nướcsông, ao hồ không bị ô nhiễm Tuy nhiên trên thực tế vẫn có hiện tượng sử dụngnước ao hồ, cống rãnh tù đọng không xử lý gây ô nhiễm vi sinh hay nước thải từ cáckhu công nghiệp, bệnh viện, mức độ độc hại rất cao dùng làm nước tưới
1.4.3 Quá trình thu hoạch và đóng gói
Việc bảo quản rau trong quá trình thu hoạch và đóng gói là một khâu rất quantrọng trong quá trình đưa sản phẩm đến được với tay người tiêu dùng mà vẫn đảmbảo được chất lượng và sản lượng Khâu thu hoạch và bảo quản sản phẩm của nước
ta còn yếu kém Công nghệ sau thu hoạch như xử lý, bảo quản, vận chuyển ở nước
ta còn lạc hậu, cơ sở vật chất kèm theo như kho lạnh chuyên dùng, thiết bị rửa, phânloại, xử lý, buồng ủ chín…ít được các doanh nghiệp đầu tư
1.5 Hiện trạng về RAT trên thị trường nước ta
Trang 15◦ Quá trình đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp, làm đường và bê tônghóa, đặc biệt là ở những vùng ngoại ô của các thành phố lớn đã thu hẹp diện tích đấtnông nghiệp Dù đã được đền bù nhưng những người dân xem canh tác nông nghiệp
là nghề nghiệp chính, để đảm bảo được kinh tế cho gia đình họ tìm cách nâng caosản lượng trên diện tích đất ít ỏi còn lại bằng cách bón nhiều hơn phân bón, khôngchỉ phun thuốc trừ sâu quá liều và ngoài danh mục mà còn sử dụng thuốc kích thíchphun trực tiếp vào rau và thời gian cách ly cho đến khi thu hoạch không đảm bảo
● Người tiêu dùng:
Yêu cầu của người tiêu dùng là đảm bảo an toàn thực phẩm, phần lớn ngườidân sẵn lòng trả mức giá cao hơn để được ăn những sản phẩm RAT có rõ nguồngốc, nhãn mác Nhưng thực tế thì RAT không hẳn là RAT, tâm lý nghi ngờ, lo sợ
Hộ sản xuất
Hợp tác xã
tiêu thụ
Khách sạn, nhà hàng
Người thu gom
Người buôn rau
Trang 16vẫn thường trực cho những người nội trợ khi đi mua rau Họ mất niềm tin nơi đạođức của người bán hàng Như vậy, rõ ràng việc kiểm soát chất lượng rau phải đượctất cả các ngành liên quan tập trung giải quyết.
Bên cạnh đó, những người có thu nhập thấp chấp nhận sản phẩm rau giá rẻ màkhông quan tâm đến chất lượng của nó cũng như không có điều kiện chi trả cho giáRAT, tạo điều kiện cho Rau không an toàn có chỗ đứng, len lỏi, nhầm lẫn với RAT
● Doanh nghiệp:
Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa “mặn mà” đến việc kinh doanh RAT, một số chỉ
vì lợi nhuận đã biến Rau không an toàn thành RAT làm mất uy tín cũng như lòngtin của người tiêu dùng và những người sản xuất chân chính
● Nhà quản lý:
◦ Nhà nước và các cơ quan như Bộ NN& PTNN, Bộ Y tế cũng như các cơquan liên quan đã ban hành các Văn bản pháp luật quy định về quản lý sản xuấtkinh doanh RAT Tuy nhiên, các văn bản pháp luật còn chưa quy định rõ quyền hạnnhiệm vụ của các bên liên quan, còn chồng chéo và đan xen, mức độ tuân thủ vàthực hiện theo như quy định còn chưa cao
◦ Tình hình kiểm soát quy trình kỹ thuật trồng RAT chưa chặt chẽ Đặc biệt ởkhâu kiểm tra chất lượng Lực lượng cán bộ chuyên sâu không nhiều, không đủnhân lực đáp ứng những vùng trồng rau dàn trải, manh mún, cán bộ mỏng và yếu
1.6 Nguyên nhân dẫn đến RAT chưa thực sự là an toàn
Nhận thức về vấn đề đảm bảo chất lượng RAT từ các cấp quản lý đến người sảnxuất chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng thực thẩm chưa thực sự đầy đủ vànhất quán Từ đó dẫn đến thiếu ý thức trách nhiệm, thái độ tùy tiện, xem thường củatất cả các bên liên quan với cộng đồng
● Người sản xuất:
◦ Thay cho canh tác theo lối truyền thống, khi áp dụng quy trình trồng RATtheo tiêu chuẩn VietGAP người nông dân phải làm thật bài bản và tuân thủ mọi quyđịnh bắt đầu từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, sau thu hoạch, kể cảnhững yếu tố liên quan đến sản xuất như môi trường, phân bón và thuốc BVTV, bao
bì, đều phải tuân thủ quy trình “sạch” Sản phẩm sản xuất ra phải được công nhậncủa một cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo 4 tiêu chí cơ bản, đó là: an toàn vệsinh thực phẩm, an toàn cho người lao động, bảo vệ môi trường và truy nguyên
Trang 17nguồn gốc Tuy nhiên, người nông dân không chỉ mang bản tính cần cù, chịu khó
mà còn đậm tính “ngại”, ngại trong tiếp thu khoa học kỹ thuật, ngại trong thay đổicách nghĩ về khả năng tải của tự nhiên
◦ Hiểu biết về dịch hại và các biện pháp phòng trừ còn thấp, nhiều nơi nôngdân cứ thấy lá rau héo hoặc bị rỗ là phun, phun định kỳ, tùy tiện, thiếu hiểu biết dẫnđến hiện tượng sâu bệnh hại trên rau vẫn cao, xuất hiện ngày càng nhiều làm mấtcâng bằng sinh thái; thành phần có ích trên ruộng rau bị giảm sút đáng kể Hơn nữa,nước ta có truyền thống canh tác nông nghiệp theo hướng thâm canh, chính điều đótạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển và kháng thuốc.[4]
◦ Chi phí cũng như công sức cho sản xuất RAT tốn kém hơn nhưng giá cả lạikhông được đảm bảo do chưa có sức thuyết phục với người tiêu dùng bởi thực sựkhông có sự đảm bảo về chất lượng từ các cơ quan kiểm định Hơn nữa, do bónlượng phân vô cơ và thuốc BVTV ít hơn cũng như đúng quy định về thời gian cách
ly cho đến lúc thu hoạch nên RAT không mượt, có vẻ già xấu hơn rau không sạch,bán không được giá nên không hấp dẫn được người sản xuất
◦ Chưa xây dựng được kênh bán hàng riêng, tránh tình trạng người trồng bịđộng cả đầu vào và đầu ra, họ không dám mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất màchỉ sản xuất cầm chừng, manh mún, nhỏ lẻ
◦ Trồng RAT chi phí đầu tư cao nhưng tính rủi ro không nhỏ, rủi ro do nhữngnguyên nhân tự nhiên như thời tiết, hay hiện tượng rau rớt giá trên thị trường trongkhi RAT chưa chứng tỏ được thương hiệu, rớt giá có thể do nguyên nhân xã hội và
do người tiêu dùng chi phối
● Người tiêu dùng:
◦ Người dân đã có thói quen và ý thức tiêu dùng những sản phẩm sạch, sảnphẩm an toàn và thân thiện với môi trường, còn lại một bộ phận người dân muốnmua hàng hóa theo giá rẻ, chưa ý thức được tác hại của rau bẩn nên vẫn chưa quantâm đến chất lượng an toàn của rau Người tiêu dùng cũng chưa hiểu rõ và thật racũng chưa quan tâm đến việc sản xuất ra RAT đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặtnhững yêu cầu về đất đai, nước tưới, công chăm sóc, bảo vệ cũng như việc đầu tưtạo nên một khu trồng RAT Do đó, họ khó chấp nhận việc giá RAT cao hơn so vớirau thường
● Nhà Doanh nghiệp
Trang 18◦ Chưa có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc kinh doanh mặt hàng cótính rủi ro cao bởi sự tác động của nhiều yếu tố như sản phẩm mang tính đặc thù chỉbán được trong ngày, giá trị thấp, lãi ít, chi phí vận chuyển, thuê cửa hàng cao nhiều doanh nghiệp không chú trọng cải tiến phương thức thu mua từ người trồng
và phục vụ người tiêu dùng
● Người quản lý:
◦ Mâu thuẫn về trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với các cấpchính quyền địa phương, các cơ quan Nhà nước thì cho rằng chính quyền lơ là vàthiếu trách nhiệm, trong khi đó chính quyền địa phương cho rằng các văn bản phápquy mang tính chất chung chung, không rõ ràng, chưa tìm được tiếng nói chung vàkhông có được sự đồng thuận trong công việc [4]
◦ Nhà nước ban hành thiếu thể chế, chính sách khuyến khích phù hợp đối vớingười trồng, trong tổ chức quản lý thị trường, không có người chịu trách nhiệmkiểm tra, giám sát thường xuyên, lực lượng cán bộ yếu, thiếu và ít quan tâm đếnviệc xác định chất lượng, để thị trường trôi nổi, thiếu sự quản lý và hướng dẫn nên
cả người sản xuất và người tiêu dùng luôn trong tình trạng bất ổn
◦ Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để phân định và quản lý chất lượng rauthường gặp nhiều khó khăn và thiếu thực tế, do rau là mặt hàng thực phẩm tươisống, nhanh hỏng, được kinh doanh với khối lượng lớn, trên địa bàn rộng với nhiềungười tham gia Nếu đánh giá chất lượng bằng phương pháp cảm quan thì khôngbảo đảm độ tin cậy, còn xác định các chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm bằng cácphương pháp phòng thí nghiệm thì đòi hỏi thời gian dài, ít nhất mất từ 2-3 ngày vàchi phí quá lớn (1,5 - 3 triệu đồng/mẫu xét nghiệm)
◦ Quy hoạch vùng sản xuất RAT chưa đồng bộ, có thể ruộng sản xuất RATnằm ngay cạnh ruộng sản xuất rau bẩn, với sự chăm bón của hai chế độ khác nhaunên rau an toàn dễ bị lây ô nhiễm, các vấn đề môi trường tự nhiên cũng bị ảnhhưởng
Chưa có sự liên minh liên kết giữa các bên liên quan từ người sản xuất, người tiêu dùng, nhà khoa học, nhà kinh doanh và nhà quản lý; các hiệp hội, liên hiệp (nếu có) giữa những người sản xuất sinh hoạt chưa đều đặn và chuyên nghiệp Sản xuất RAT tuy đã thực hiện hơn 10 năm nay nhưng vẫn mang tính hình thức chứ chưa mang tính thực tiễn sản xuất rau hàng hóa phục vụ rộng rãi cho nhân dân.
1.7 Cơ sở khoa học cho việc trồng RST
Trang 19Đặt RST trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố trong đó có quan hệ chặtchẽ và quy định lẫn nhau: Đất, nước, không khí, con người cũng như các thànhphần vi sinh, sự tương tác hay mâu thuẫn của chúng là thể hiện của sự tồn tại vàphát triển, trong toàn hệ thống môi trường nếu có một yếu tố rối loạn sẽ gây tácđộng mạnh tới các yếu tố còn lại, ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất Con ngườixuất thân từ tự nhiên và được quy định bởi tự nhiên, hoạt động của con người đượcxem như là một yếu tố của hệ thống tự nhiên Thông qua lao động, một mặt conngười bồi đắp cho sự phong phú vốn có của tự nhiên, mặt khác con người dần dần
có sự đối lập với tự nhiên, con người đã vay mượn của tự nhiên, lấy đi của cải củathế hệ tương lai nhằm sinh lợi Với nước ta, một đất nước nông nghiệp và Nôngnghiệp như nền móng cho sự phát triển, tuy nhiên hiện thực thể hiện sự phát triểnkhông bền vững và một trong nhiều lý do là lạc hậu Trong nông nghiệp còn tồn tạinếp nghĩ, nếp làm của một nền sản xuất nhỏ, việc tiếp khu các tiến bộ KHKT và ápdụng nó vào thực tiễn vẫn còn chưa đồng bộ và hoàn chỉnh Nông nghiệp sinh thái
đã được hình thành nhưng mới chỉ tồn tại ở dạng những mô hình và nếu có sự quản
lý, giám sát nghiêm túc thì mới thực hiện có hiệu quả, RST có thể được xem nhưmột khía cạnh nhỏ trong tổng thể hệ thống sinh thái, hướng tất cả các đối tượng vàđặc biệt là người sản xuất cần phải thay đổi nhận thức- xây dựng nên ý thức sinhthái Có nghĩa là làm cho người nông dân nhận thức một cách tự giác về mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên, người nông dân và hoạt động sản xuất nông nghiệpchịu sự chi phối, quy định bởi tự nhiên Tự thân họ phải nhận thức được vị trí vaitrò của mình trong hệ thống tự nhiên- con người- xã hội
1.7.1 Lợi ích kinh tế
◦ Qua tìm hiểu và phỏng vấn những gia đình trồng rau lâu năm tại Thọ Xuâncũng như một số vùng khác trên thành phố Hà Nội, tác giả ghi nhận được việcngười dân yên tâm về thu nhập bằng nghề trồng rau, tuy khá vất vả nhưng so vớitrồng lúa thì lợi nhuận cao hơn hẳn, so với trồng màu thì ổn định hơn cả về giá cả
và thị trường cũng như các yếu tố rủi ro tự nhiên
◦ Đối với một vùng nông nghiệp thuần túy như xã Thọ Xuân, trồng rau theohướng tự cung, tự cấp, tuy xã đã có truyền thống trồng rau lâu đời với những kinhnghiệm tích lũy được nhưng các hộ dân vẫn chưa tự tìm được đầu ra cho việc trồngrau Khi có dự án trồng RST sẽ mở ra một hướng mới giúp bà con có thể địnhhướng sản xuất sạch hơn, nguồn lợi thu được lớn hơn, theo đó dưới sự hỗ trợ của dự
án sẽ kết hợp cùng với nông dân tìm đầu ra cho sản xuất Ngoài ra, còn tạo mối liên
Trang 20kết giữa những người nông dân sản xuất quy mô nhỏ và họ nhận được giá trị tăngthêm từ những sản phẩm của họ thông qua sự đánh giá tốt từ thị trường bởi chấtlượng tốt lại thân thiện với môi trường, những nhà kinh doanh sẽ thu lợi nhuậnnhiều hơn từ những sản phẩm chất lượng và an toàn, góp phần xây dựng thươnghiệu cho một vùng rau rất có tiềm năng như xã Thọ Xuân Bởi người dân nơi đâyrất muốn có cơ hội được quảng bá sản phẩm rau của mình và cam kết hoàn toàntuân thủ các quy định về trồng RAT mang ý nghĩa sinh thái.
◦ Thọ Xuân là một xã có quỹ đất rộng, thích hợp cho trồng rau, các điều kiện
tự nhiên tạo điều kiện cho người sản xuất có thể tiết kiệm nhiều chi phí trong quátrình chọn giống cũng như trồng, chăm sóc, nhất là về phân bón do tận dụng phếphẩm sinh hoạt trong gia đình cũng như hạn chế chi tiêu cho thuốc BVTV Việc sửdụng phân bón và thuốc BVTV với chất lượng môi trường nước, đất có mối quan hệ
nhân- quả thông qua năng suất, chất lượng sản phẩm tính trong quãng thời gian
hàng chục năm Rau xanh bao đời nay vẫn được những người làm nông tận dụnglàm nguồn thức ăn, chất xanh hỗ trợ cho chăn nuôi
◦ Không chỉ đối với người sản xuất, RST còn hướng đến đảm bảo về lợi íchkinh tế cho cả nhà kinh doanh và người tiêu dùng
1.7.2 Lợi ích xã hội
◦ Rau xanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe, là nguồn cungcấp vitamin chủ yếu (đặc biệt là vitamin A, C,…), các khoáng chất ( canxi, photpho,sắt…) và chất xơ cho cơ thể, ngoài ra còn có những loại rau là những thảo dược quýgiúp ngăn ngừa và chữa trị nhiều bệnh nan y của người
◦ Lực lượng lao động địa phương dồi dào, có thể tận dụng sức lao động của
họ cũng như việc tạo điều kiện cho những thanh niên hiện có công việc không ổnđịnh có thể định hướng cho việc trồng rau của địa phương mình ra sản xuất hànghóa và tìm ra hướng đi mới cho vùng rau địa phương
◦ Lợi ích kinh tế sẽ kéo theo lợi ích xã hội, khi rau Thọ Xuân tìm được đường
ra thì lợi nhuận thu được sẽ được đầu tư vào phúc lợi trong gia đình và xã hội, đặcbiệt là nâng cao trình độ dân trí cho thanh thiếu niên Nếu được có thể kết hợp giữasản xuất RST và làm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tạo thêm nguồn thu cho địaphương
◦ Việc sản xuất, cung ứng rau chứa yếu tố độc hại đối với sức khỏe conngười liên quan đến phạm trù đạo đức, lòng trung thực và ý thức cố kết cộng đồng
Trang 21Có thể vì lợi nhuận, tính ích kỷ một số người sản xuất và cung ứng bất chấp giá trịđạo đức, gây hậu quả suy thoái xã hội, góp phần đáng kể vào cản trở phát triển bềnvững và xa hơn là công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Vì vậy khi triển khai dự
án trồng RST không chỉ gắn kết những người trồng rau trong cùng địa phương đểchia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau về nhân lực, vật lực mà còn nâng cao cho họ
ý thức, trách nhiệm đối với sức khỏe cộng đồng, giữ được cái tâm trong của ngườilàm nông vì một sự phát triển bền vững, toàn diện và sâu sắc
◦ Người trồng rau sẽ hiểu biết hơn mà không sử dụng các hóa chất, thuốcBVTV độc hại, không rõ nguồn gốc, giúp cải thiện sức khỏe cho chính mình và giađình, đặc biệt là phụ nữ
1.7.3 Lợi ích môi trường
◦ Dần dần hình thành thói quen đi kèm với ý thức bảo vệ môi trường nhưnâng cao ý thức của người dân về việc vứt bỏ bao bì, giấy gói đúng nơi quy địnhbằng cách tạm thời tạo thành các hố rác ngay tại ruộng sau rồi thu gom lên xe chởrác của hợp tác xã dịch vụ Thành Công Sử dụng ít hóa chất, thuốc BVTV, thuốcBVTV phải nằm trong danh mục cho phép, tận dụng sức lao động và tiếp thu nhữngkinh nghiệm canh tác hữu cơ vào trong quá trình chăm sóc cây chính là thân thiệnvới môi trường
◦ Bản thân tên “RST” đã mang ý nghĩa đặc biệt, thân thiện, gần gũi với môitrường, hướng cho bà con nông dân biết trân trọng và giữ gìn môi trường trong lànhvốn có của một vùng quê thuần chất Duy trì cần bằng sinh thái quần thể sinh vật,bảo vệ thiên địch giúp cho cây trồng phát triển thuận lợi
◦ Giúp cải thiện và duy trì cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp,tránh việc khai thác quá mức và gây ô nhiễm cho các nguồn lực tự nhiên, giảmthiểu việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực không thể tái sinh, sản xuất đủlương thực dinh dưỡng, nằm trong ngưỡng không gây hại Đảm bảo, duy trì và giatăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, nhất làchu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứuchữa, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
◦ Nếu trồng rau theo phương thức thông thường thì việc sử dụng phân bón vàthuốc BVTV ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và sức khỏe con người: Gây độchại cho đất, nguồn nước bởi thuốc trừ sâu, hàm lượng nitrat (NO-
3), tác động xấuđến sức khỏe con người, suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, cho lương thực, thực phẩm
Trang 22bởi dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng nitrat và các chất kích thích sinh trưởng Độchại cho bầu khí quyển bởi các khí NH3, NO2, CH4, làm suy giảm tầng OZON, làmTrái Đất nóng lên và gây ô nhiễm bầu khí quyển Suy thoái nguồn nước ngầm, mấtdần các loài động vật và các loại lương thực tự nhiên, làm mất khả năng hấp thụ phếthải của chúng, nếu nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến lụt lội và mặn hóa Trong quátrình sản xuất, các chất thải vào môi trường xung quanh có thể ở dạng lỏng, khí vàdạng rắn ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường Việc sử dụng phân bón và thuốcBVTV phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng,lượng mưa, tính chất đất đai), giống, cây trồng cũng như kỹ thuật canh tác Dùngphân bón và thuốc BVTV không đúng kỹ thuật không chỉ đất bị thoái hóa nhanh dođất bị lấy đi nhiều một hoặc vài loại chất dinh dưỡng.
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng của RAT ở nước ta
Cơ sở khoa học của RST
Đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án thử nghiệm RST
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thông qua đi thực tế tại địa bàn nơi thực hiện dự án tìm hiểu về hiện trạngsản xuất nhỏ lẻ, manh mún và sự rời rạc giữa những người sản xuất, không đi theophương thức sản xuất hàng hóa mà là thuần túy theo hướng tự cung, tự cấp
- Điều tra, phỏng vấn theo nội dung sẵn có trong phiếu điều tra về việc thựchiện dự án đối với những thành viên trong dự án
- Xây dựng cơ sở khoa học của việc trồng RST qua bước đầu thực hiện thửnghiệm dự án tại xã Thọ Xuân huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp phân tích SWOT
Trang 24bền vững thì phải thay đổi từ các hành vi tương tác ít bền vững sang trạng thái cótính bền vững cao hơn [17]
Tiếp cận hệ thống đối với tính khả thi có thể thực hiện trồng RST qua điều kiện
tự nhiên sẵn có của địa phương thực nghiệm Có thể được coi là một hệ thống tựnhiên và lao động quyết định đến sự phát triển của dự án và mở rộng ra đối vớinhững vùng khác phù hợp, trong đó có sự tương tác giữa các thành phần tự nhiêncủa hệ với môi trường và các hoạt động của con người Muốn giải quyết được cácvấn đề của hệ thống này, cần phải đánh giá được tình trạng của hệ thống để từ đóđưa ra các giải pháp điều chỉnh hành vi của từng thành phần trong hệ
SWOT là chữ viết tắt của các từ tiếng Anh: Strength (điểm mạnh), Weakness(điểm yếu), Opportunity (cơ hội) và Threat (đe doạ - thách thức)
● Điểm mạnh và điểm yếu đòi hỏi phải phân tích các nguồn lực bên trong hệthống bằng cách kiểm kê tài nguyên và vốn của hệ thống, cấu trúc và mạng phảnhồi của hệ thống Các nguồn lực rất đa dạng, nhưng tập trung vào các khía cạnh:nhân lực, tài lực (kinh phí), vật liệu (trang thiết bị, nguyên liệu ), tin lực (thôngtin), thời lực (quỹ thời gian), nguồn lực quản lý - lãnh đạo - điều hành
● Cơ hội và thách thức là những đánh giá về môi trường bên ngoài hệ thống Cơhội chính là những thuận lợi của đầu vào, là mối tương tác thuận lợi với các hệthống khác, là thời cơ thách thức bao gồm các sức ép, các cản trở, các khó khănbên ngoài tác động vào hệ thống Đó có thể là những đe dọa công khai hay tiềm ẩntrong môi trường của hệ thống
2.3.2 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường
Là một phương pháp điều tra tổng hợp, thu thập thông tin nhanh, định lượng,bán định lượng phục vụ cho phát hiện vấn đề, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan chovấn đề cần nghiên cứu Phương pháp này gồm một số kỹ thuật sau:
■ Phương pháp điều tra
- Điều tra, phỏng vấn hộ gia đình
Phỏng vấn những người thực hiện dự án về cơ cấu mùa vụ, chủng loại câytrồng, kỹ thuật canh tác, cách thức sử dụng phân bón, thuốc BVTV, chất lượng môitrường canh tác, nhận thức về kỹ thuật canh tác rau đạt tiêu chuẩn chất lượng antoàn cho người sử dụng cũng như chính người trồng, các vấn đề sức khỏe trong quá
Trang 25trình canh tác do tiếp xúc với phân bón, thuốc BVTV, nhận thức về các vấn đề môitrường liên quan.
Hình thức phỏng vấn: Các đối tượng được phỏng vấn đều nằm trong dự ántrồng RST, họ cũng chính là những thành viên tiêu biểu trong canh tác sản xuất raucủa địa bàn nghiên cứu câu hỏi được chuẩn bị trước, cuộc phỏng vấn diễn ra bằngcách đặt ra các câu hỏi thông qua các buổi trò chuyện với người dân
- Cơ sở của phương pháp:
Thu thập, nghiên cứu tất cả các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu,
hệ thống các văn bản, quy định Pháp luật của Nhà nước cũng như các cơ quan Nhànước, các tiêu chuẩn môi trường liên quan đến đề tài nghiên cứu, các khóa luận, báocáo nghiên cứu, tìm hiểu thông tin trên báo chí và báo điện tử
- Mục đích của phương pháp:
Thu thập tài liệu thứ cấp, hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan từ đó đánh giánhững yếu tố thuận lợi, khó khăn trong quá trình tiến hành dự án sao cho phù hợpvới điều kiện thực tế
Hệ thống tài liệu, số liệu sẵn có về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của địaphương, số liệu về hiện trạng sản xuất RAT và những tài liệu có liên quan
Phân tích, đánh giá các số liệu sẵn có, với những số liệu về chất lượng sảnphẩm cũng như nhu cầu thị trường đối với rau đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn.Việc phân tích, đánh giá đi kèm với việc đối chiếu, so sánh với tiêu chuẩn môitrường tương ứng, với các sản phẩm rau đại trà cùng loại từ đó đưa ra nhận xét vềtính phù hợp, tính khả thi của dự án trồng RST
■ Phương pháp kế thừa: Thu thập tài liệu, số liệu nghiên cứu đã có trước đây
liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
■ Phương pháp ngoài thực địa và quan sát thực tế: Xem xét các vấn đề môi
trường nảy sinh trong quá trình sản xuất, nhằm ghi nhớ và đặt ra những câu hỏi
Trang 26đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với đối tượng hướng đến trong phiếu điều tra sẽ có tácdụng cung cấp những thông tin thực tế, nhanh, hình ảnh trực quan sinh động đểphục vụ cho công tác nghiên cứu.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 RST và nhu cầu về RST
Nhu cầu về RST thể hiện qua việc tìm hiểu thực trạng của RAT và RHC, bêncạnh đó xem xét đến yếu tố khả thi có thể thực hiện được và nhu cầu được sốngtrong môi trường sống trong lành Điều kiện tự nhiên không chỉ quyết định đến hiệuquả sản xuất và tiêu dùng của hiện tại mà còn là tài sản quý báu của thế hệ tươnglai
RST như là một yếu tố nằm trong tổng thể một nền nông nghiệp sinh thái biểuthị tính bền vững trong nông nghiệp của địa phương, khu vực Trong đó người dân
sử dụng những yếu tố phục vụ sản xuất như thuốc BVTV, phân bón,…không hoặc
ít gây hại, tiết kiệm và có thể tái sử dụng, quay vòng, RST không chỉ góp phần bảo
vệ những hệ sinh thái mà còn tìm cách khôi phục hệ sinh thái sẵn có RST trong nềnnông nghiệp sinh thái sẽ thực hiện nghĩa vụ là làm cầu nối giữa con người với tựnhiên, tuân thủ theo sự quy định của tự nhiên, sự tuân thủ đó không có nghĩa làphục tùng mà là dựa vào quy luật của tự nhiên, hợp tác với tự nhiên để phát triển.Các yếu tố trong quá trình sản xuất RST quy định lẫn nhau, quan hệ hợp tác khôngphải là cạnh tranh, khép kín sản xuất bởi RST cũng được xem như là một bộ phâncủa mô hình VAC điển hình ở nông thôn hiện nay Tất cả các yếu tố trong đó đều
có khả năng sinh lợi nếu biết tận dụng chúng một cách tối đa, RST xuất phát điểm
từ yếu tố đạo đức và phương thức sản xuất khoa học, xem người nông dân như làhạt nhân mà tự họ có thể thay đổi diện mạo của quá trình sản xuất hiện hành, tự họ
sẽ làm thay đổi cách nghĩ của chính mình và của người tiêu dùng về việc thực hànhtiết kiệm, tránh lãng phí tài nguyên thiên nhiên, đất - nước là những yếu tố hữu hạn,
nó chỉ vô hạn khi chúng ta biết trân trọng và bảo vệ
RST hoàn toàn tuân thủ những quy định của Nhà nước Việt Nam về quy trình
sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP (VietGap được chính thức ban hành vào ngày 28 tháng 01 năm 2008 và hiện đang hợp tác với Dự án xây dựng và Kiểm soát
Trang 27Chất lượng Nông sản và thực phẩm của Canada để rà soát, biên tập và chỉnh sửa nếu cần.[1]
Để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, sản xuất sạch hơn nhằm bảođảm cho chế độ dinh dưỡng tốt nhất, an toàn cho sức khỏe và bảo vệ môi trườngđối với nước ta thì RAT, RHC sẽ là hướng giải pháp đã được đặt ra và đã đạt đượcnhững hiệu quả nhất định, tuy nhiên RHC rất khó để có thể nhân rộng ra trongtương lai gần, RAT tuy đã triển khai ở rộng khắp nhưng còn tồn tại nhiều bất cập thìRST sẽ mở ra một cái nhìn mới, toàn diện về sự gắn chặt giữa môi trường tự nhiên
và quá trình sản xuất RST không khác so với RAT về tiêu chuẩn chất lượng cũngnhư quy trình chăm sóc, thu hoạch, đóng gói tuy nhiên đề cao phương thức canh táchạn chế ô nhiễm môi trường Theo đó, tận dụng phế thải hữu cơ từ cỏ, rơm rạ, rauquả thối hỏng, xen canh, luân canh với các cây họ đậu…dùng làm phân ủ, không sửdụng thuốc diệt cỏ, nhiều công đoạn trong chăm sóc làm thủ công như làm cỏ, hạnchế sâu hại…
RST đảm bảo được mức độ dinh dưỡng, bảo quản được lâu hơn và có vị ngonhơn nên sẽ nhận được cái nhìn thiện cảm từ người tiêu dùng, từ đó tạo được lòng tincho họ
RAT ngoài những tính ưu việt không thể phủ nhận còn tồn tại những hạn chếnhất định, vì thế RST ra đời mang tính chất kế thừa và phát triển theo hướng hoànthiện hơn
Mục đích mà dự án đề ra là hình thức sản xuất- tiêu thụ- quản lý- tiêu dùngchuyên nghiệp khi có sự kết hợp giữa những nhà Khoa học có chuyên môn, có tráchnhiệm bước đầu liên kết với thị trường đầy tiềm năng (siêu thị, nhà hàng), người laođộng cần cù mong có sự hướng dẫn cho một hướng đi đúng đắn và bền vững
Hướng đến tính sinh thái bền vững trong nông nghiệp bởi từng bước đưa tiến
bộ KHKT vào sản xuất, nâng cao năng suất, phẩm chất cây trồng tạo ra nguồnnguyên liệu nông sản lớn, sản phẩm rau có chất lượng cao không chỉ đáp ứng nhucầu trong nước mà còn xuất khẩu Xem RST như yếu tố chính trong một hệ sinhthái ruộng mà con người là tác nhân trong việc liên kết các yếu tố thành một chỉnhthế thống nhất, toàn diện
Theo một báo cáo của Chính phủ Anh cho biết, các loại thực phẩm sạch chưa hẳn sẽ đem lại tác động tốt đến môi trường hơn những loại thực phẩm được sản