1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điếm đối tượng vào nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết tại hà nội

96 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 143,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xa xưa ông cha ta có câu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã coi vai trò hàng đầu của giao tiếp ứng xử trong cuộc sống xã hội…Vì vậy, để làm tốt vai trò của người phóng viên, nhà báo trong

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ LAN ANH

ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG

GIAO TIẾP CỦA PHÓNG VIÊN BÁO

VIẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Trang 2

HÀ NỘI, năm 2015

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ LAN ANH

ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG

GIAO TIẾP CỦA PHÓNG VIÊN BÁO

VIẾT

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGUYỄN THỊ MAI LAN

Trang 4

HÀ NỘI, năm 2015

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Thống kê thông tin cá nhân tham gia điều tra 43

Bảng 3.2: Nội dung giao tiếp của phóng viên theo giới tính 44

Bảng 3.3: Nội dung giao tiếp của phóng viên theo độ tuổi 51

Bảng 3.4: Nội dung giao tiếp của phóng viên theo trình độ học vấn 59

Bảng 3.5: Các đối tượng giao tiếp của phóng viên 65

Bảng 3.6: Nội dung giao tiếp với đối tác mới và cũ 69

Bảng 3.7: Các yếu tố ảnh hưởng tới giao tiếp 71

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 6

Biểu đồ 3.1: Các đối tượng giao tiếp của phóng viên 68

Biểu đồ 3.2: Nội dung giao tiếp với đối tác mới và cũ 70

Biểu đồ 3.3: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới giao tiếp 72

Biểu đồ 3.4: Các yếu tố khách quan quan ảnh hưởng tới giao tiếp 72

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang 8

Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch

sử xã hội, cũng như quá trình hình thành và phát triển của từng nhân cách Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu được của con người, cùng với hoạt động, giao tiếp đã trở thành một phương thức tồn tại xã hội của con người K.Marx đã chỉ

ra rằng: “Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất

cả các cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp và gián tiếp với họ”[17;

Tr 183]

Phóng viên hay nhà báo là người làm việc trong một tòa soạn báo, một hãng thông tấn, một đài truyền hình hoặc đài phát thanh Đôi khi, có những phóng viên tự do không trực thuộc một cơ quan nào nhưng cũng hoạt động trong lĩnh vực báo chí Công việc của phóng viên báo viết là thực hiện các bài viết, bản tin, phỏng vấn, hình ảnh hoặc phóng sự về một hay nhiều vấn đề của xã hội đương đại

Trong lĩnh vực hoạt động báo chí, giao tiếp thể hiện thông qua các hoạt động tác nghiệp từ việc tiếp xúc cơ sở lấy tư liệu, phỏng vấn đến hình thành ý tưởng đề tài, hoàn thành tác phẩm báo chí để xuất bản; thông qua đó thể hiện khả năng nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, cách sử dụng ngôn ngữ báo chí của từng thể loại báo chí để diễn đạt ý tưởng, giúp cho người tiếp nhận thông tin hiểu rõ, nắm bắt được nhiều thông tin thông qua tác phẩm báo chí

Trang 9

Đi, quan sát, gặp gỡ, hỏi chuyện, viết bài là công việc thường nhật của phóng viên chuyên nghiệp Từ xa xưa ông cha ta có câu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã coi vai trò hàng đầu của giao tiếp ứng xử trong cuộc sống xã hội…Vì vậy, để làm tốt vai trò của người phóng viên, nhà báo trong hoạt động tác nghiệp sáng tạo ra tác phẩm báo chí nói chung và báo chí truyền hình nói riêng cần có những kỹ năng trong hoạt động giao tiếp xã hội, kỹ năng tổng hợp thông tin thông qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày như nắm thông tin qua các đối tác trong xã hội, qua các tư liệu, qua dư luận xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo các kỹ năng nghề nghiệp như phỏng vấn, chụp ảnh, chọn lọc thông tin để viết hoàn thành bài viết Ngoài ra, kỹ năng giao tiếp của người phóng viên cũng cần ứng dụng tốt tri thức khoa học vào quá trình giao tiếp có hiệu quả nhất, như vận dụng trong quá trình phỏng vấn, trong sản xuất chương trình, cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, trung thực, hiệu quả thông qua các thiết bị kỹ thuật và internet như máy ảnh, máy tính xách tay…

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đặc điếm đối tượng vào nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết tại Hà Nội”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tổng quan nghiên cứu đặc điểm giao tiếp

2.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài

GT có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình xã hội hóa ca nhân và đối với sự phát triển và tiến bô của xã hội nói chung Vì thế, GT được nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau quan tâm nghiên cứu (Triết học, Xã hội học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học…)

Trang 10

Giao tiếp là vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu khoa học nói chung và tâm lý học nói riêng quan tâm Vào thời cổ đại, các nhà triết học có tên tuổi như Platon (428-347 TCN), Socrate (460-339 TCN) đã coi đối thoại là sự giao lưu trí tuệ của những người biết suy nghĩ Nhà triết học duy vật cổ điển Đức Phơ bach (1804-1872) cho rằng: Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người với con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn C.Mac và Ph.ăngghen hiểu giao tiếp như là: Một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người và người.

Đối với tâm lý học, giao tiếp được xem là một hiện tượng tâm lý phức tạp

và được nhiều học giả, nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau dựa trên những quan điểm riêng với những hạt nhân hợp lý của nó Tuy nhiên, khi bàn về giao tiếp hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh mặt kỹ năng giao tiếp như một thành phần tập trung và sống động nhất của giao tiếp Trong những năm gần đây, những chuyên khảo trong lĩnh vực này đi sâu vào nghiên cứu giao tiếp dưới mọi góc độ chuyên ngành và ứng dụng, đã có rất nhiều hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên quan điểm của A.N.Leonchev, A.A Leonchev xem GT như là một dạng của hoạt động Ông cho rằng, cũng như những dạng hoạt động khác, GT nhằm đạt được những mục đích xác định, đồng thời do những động cơ nhất định thúc đẩy, GT được diễn ra nhờ các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ Ông đưa ra định nghĩa về GT: “GT là một

hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ XH và nhân cách, các hoạt động tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngôn ngữ” [7; Tr 345]

Trang 11

A.A Leonchev cũng cho rằng: “Đối tượng của GT không phải là một con người hay một số người cụ thể, mà hoặc là một tương tác (trong GT định hướng

XH, đối tượng trực tiếp cũng có thể là những quan hệ XH) hoặc là những quan

hệ qua lại tâm lý giữa người này với người khác Chủ thể là tính cộng đồng (trong tất cả các kiểu GT định hướng XH) [7; Tr 361] A.A.Leonchev đã đưa ra định nghĩa riêng cho chủ thể và đối tượng cho từng GT nói trên [7; Tr 360 – 361]

Thập kỷ 70 của thế kỷ XX, B.Ph.Lomov khởi xướng quan điểm coi GT là một phạm trù tương đối độc lập với hoạt động Theo Lomov, GT là một quá trình đa chiều đồng chủ thể Hoạt động và GT khác nhau về ý nghĩa XH của chúng Bất kỳ một hoạt động nào cũng hướng đến cải tạo khách thể Còn GT bảo đảm tổ chức mọi người cho hoạt động chung, bảo đảm sự liên hệ qua lại của mọi người “Kết quả của GT không phải là đối tượng được cải tạo (vật chất hoặc

lý tưởng) mà là quan hệ với một người khác, với những người khác” [7; Tr 377] Như vậy, kết quả của GT còn bao gồm cả việc cải tạo quan hệ giữa các bên tham gia GT Kết quả này ở những cá nhân khác nhau rất khác nhau về số lượng cũng như chất lượng [13; Tr 378]

B.Ph.Lomov không đối lập hoạt động và GT Theo Lomov, những yếu tố quy định GT là: Môi trường, phương thức và động thái của GT được xác định bởi những chức năng XH mà con người đang ở trong đó, bởi vị trí của họ trong

hệ thống các quan hệ XH (mà trước hết là quan hệ sản xuất), bởi những chuẩn mực đạo đức và pháp lý, bởi các thiết chế XH…[13; Tr 370]

Lomov cũng cho rằng, kết quả GT “liên quan đến tất cả các cá nhân tham gia GT nhưng ở những cá nhân khác nhau chúng có thể khác nhau về số lượng

và chất lượng” [13; Tr 378] “Đôi khi thậm chí chỉ một thời gian GT ngắn ngủi với người này hoặc người khác (hoặc nhóm người) có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cá nhân (chẳng hạn ảnh hưởng đến động cơ) nhiều hơn rất nhiều so với sự thực hiên lâu dài một hoạt động có đối tượng nào đó của người đó [13;

Tr 382]

Trang 12

Như vậy, khi coi GT là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động, B.Ph.Lomov đã xác định vai trò, đối tượng, động cơ, chiều hướng tác động và kết quả của GT như một loại hình hoạt động Đồng thời, ông cũng mở ra lĩnh vực nghiên cứu mới cho GT Đó là tương tác liên nhân cách (tương tác đồng chủ thể) thông qua GT

Trong luận văn này chúng tôi chọn quan điểm của A A Leonchev coi GT

là một dạng của hoạt động làm tư tưởng chỉ đạo và có kế thừa quan điểm của B.Ph.Lomov về tính đa chiều, đồng chủ thể của GT Chúng tôi nhất trí rằng: Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý học người GT là một dạng hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể Hai khái niệm này ngang bằng nhau và có quan

hệ gắn bó khăng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý

2.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Nghiên cứu lý luận về GT ở Việt Nam được quan tâm nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ XX Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam về GT như Đỗ Long với “Các Mác và phạm trù giao tiếp”; Bùi Văn Huệ (1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp”; Trần Trọng Thủy (2006),

“Nhập môn khoa học giao tiếp”; các tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc viết: Hoạt động – giao tiếp – nhân cách” (2007)

Các vấn đề lý luận về GT được quan tâm nghiên cứu như khái niệm, bản chất, chức năng, phân loại, vai trò của GT đối với sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách Hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng: quá trình GT có những đặc trưng như: GT là quá trình trao đổi thông tin;

GT là quá trình tiếp xúc tâm lý, hiểu biết lẫn nhau; GT xảy ra trong một thời gian, không gian nhất định và GT được cá nhân cụ thể tiến hành

Trang 13

Ngoài ra tác giả Hoàng Anh còn phân biệt sự khác nhau giữa hai thuật ngữ

GT và giao lưu đang tồn tại trong một số sách Tâm lý học của nước ta Theo tác giả, GT là nhu cầu con người muốn tiếp xúc với người khác Đó là đặc thù của tâm lý người Trong khi đó, giao lưu giữa hai nhánh song, giao lưu giữa hai con vật…Tác giả cũng đã phân biệt rất rõ về quá trình GT và quá trình thông tin Quá trình thông tin có thể diễn ra giữa con người với con vật, con vật với con vật, máy với máy…nhưng GT chỉ diễn ra giữa con người với con người

Ở Việt Nam, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm GT như: Nguyễn Liên Châu: “Một số đặc điểm giao tiếp của hiệu trưởng trường Tiểu học” Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả khẳng định: Đặc điểm GT thể hiện trong nhu cầu, nhận thức, hình thức, kỹ năng, nội dung GT Trong đó, nội dung

GT là cơ bản nhất

Tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc (2002) với đề tài “Đặc điểm giao tiếp của phạm nhân bị kết án phạt tù về các tội phạm ít nghiêm trọng” Tác giả khẳng định: GT của phạm nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như trình độ văn hóa, nghề nghiệp trước khi vào tù, thời gian ở tù, tính chất phạm tội Ở họ, nhu cầu GT thấp, nội dung GT đơn điệu, đối tượng GT hạn chế [14, tr 151]

Tác giả Phùng Thị Hằng (2007) với đề tài Luận án Tiến sĩ “ Một số đặc điểm GT của học sinh Trung học phổ thông dân tộc Tày, Nùng” Tác giả đã khẳng định điều kiện sinh sống và GT của học sinh dân tộc miền núi phía Bắc còn hạn hẹp nên khả năng GT của các em có những đặc điểm riêng và còn hạn chế Sự phát triển về nhận thức – xã hội có ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ nhu cầu

GT của học sinh dân tộc Tày, Nùng [8, Tr 182]

Kết quả nghiên cứu đề tài “Đặc điểm giao tiếp của học sinh Trung học cơ

sở dân tộc Mường” của tác giả Phạm Song Hà (2011) cho biết một số đậc điểm đặc trưng trong GT của học sinh THCS dân tộc Mường như nhu cầu GT về mặt hành vi ở mức độ thấp, phạm vi GT hẹp, kỹ năng GT kém…[11, Tr 167]

Trang 14

Tác giả Bùi Thị Vân Anh (2013) với đề tài luận án Tiến sĩ “Đặc điểm giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội” Tác giả cho biết: Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm GT của người nghỉ hưu ở Hà Nội gồm các yếu tố cá nhân (Tính cách (hướng nội, hướng ngoại), cảm nhận của người nghỉ hưu về vai trò, vị thế của họ trong gia đình và xã hội), các yếu tố xã hội (Mối quan hệ trong gia đình người nghỉ hưu, cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội dành cho người nghỉ hưu ở cụm dân cư hiện nay) [2, Tr 162].

Tác giả Trần Thị Xuyên (2014) với đề tài luận án Tiến sĩ “Đặc điểm giao tiếp củ học sinh Trung học cơ sở người dân tộc Chăm” Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả khẳng định: Học sinh THCS người Chăm có phạm vi giao tiếp ở mức độ rộng Nội dung giao tiếp của học sinh THCS người chăm khá phong phú bao gồm những vấn đề liên quan đến các hoạt động hàng ngày của các em Mức

độ thực hiện các nội dung dung giao tiếp ở mức vừa phải Nội dung các em trao đổi thường xuyên nhất là vấn đề ngọc tập Ngược lại, nội dung các em ít trao đổi nhất là vấn đề liên quan tới bản thân Có sự khác biệt về nội dung giao tiếp theo khối lớp và học lực [4, tr 146]

Như vậy, ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp Kết quả của các nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng nhu cầu, động cơ, kỹ năng GT…và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó như: Trình

độ nhận thức, điều kiện xã hôi…Tuy nhiên, việc nghiên cứu về đặc điểm GT của phóng viên vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết ở Hà Nội, đề xuất một số biện pháp tâm lý tăng cường giao tiếp cho phóng viên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu GT của phóng viên như khái niệm GT, đặc điểm GT của phóng viên, các cấu thành của giao tiếp, biểu hiện, tiêu chí xem xét và các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm GT của PVBV ở Hà Nội

Trang 15

3.2.2 Làm rõ thực trạng đặc điểm GT và những yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm GT của PVBV ở Hà Nội.

3.2.3 Đề xuất một số biện pháp tâm lý tăng cường giao tiếp cho các PVBV

ở Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết với nhóm phụ trách mảng kinh tế, tài chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu gồm: 150 PVBV hiện đang sống ở Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Phương pháp tiếp cận liên ngành tâm lý học XH và tâm lý học cá nhân: Giao tiếp được các ngành tâm lý học xã hội, công tác xã hội và tâm lý học cá nhân nghiên cứu, do đó đặc điểm giao tiếp của PV cần được xem xét theo tiếp cận liên ngành các khoa học này

- Phương pháp tiếp cận hoạt động và GT: Với tính chất là một cá nhân, chủ thể nào cũng có NCGT, nhu cầu XH đầu tiên có ở con người GT có mặt trong mọi hoạt động của con người GT và hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ XH giữa chủ thể này với chủ thể khác

Do đó, muốn tìm hiểu đặc điểm GT của PV phải nghiên cứu thông qua các hoạt động thực tiễn của họ trong các mối quan hệ của họ với những người khác

- Phương pháp tiếp cận phát triển và hệ thống: Con người là một thực thể

XH, GT của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có các yếu tố tâm lý cá nhân và yếu tố tâm lý XH Do đó, GT của phóng viên phải được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố và giá trị nhân cách của từng người Luận văn nghiên cứu đặc điểm GT của phóng viên dựa trên mối quan hệ của một số yếu tố như yếu tố cá nhân và yếu tố XH

5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

5.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 16

5.2.1.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

5.2.1.2 Phương pháp chuyên gia

5.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

5.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

5.2.2.3 Phương pháp quan sát

5.2.2.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

5.2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Làm rõ lý luận về GT, đặc điểm GT, đặc điểm GT của PVBV và các cấu thành như: Đối tượng GT, nội dung GT của PVBV Những kết quả này góp phần bổ sung thêm lý luận về GT nói chung và GT của PVBV nói riêng

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Đã xác định được rõ đặc điểm GT của PVBV ở Hà Nội là có NCGT cao Những đặc điểm của nhà báo và nghề báo luôn gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm cơ bản nhất của báo chí, trong đó chức năng thông tin kịp thời về những

“cái mới” đóng vai trò như một đặc điểm quan trọng nhất Cái mới là đối tượng, đồng thời là nội dung phản ánh, thông tin của nhà báo Chính đặc điểm này đã tạo ra sự khác biệt giữa báo chí với các hình thức thông tin khác Cái mới - được hiểu với nghĩa là những sự việc, sự kiện, tình huống, hoàn cảnh mới nảy sinh, mới xuất hiện, tiêu biểu cho sự vận động phát triển không ngừng của cuộc sống Như vậy, đối tượng giao tiếp của PVBV là con người liên quan đến những sự việc, sự kiện, tình huống, hoàn cảnh mới nảy sinh, mới xuất hiện, tiêu biểu cho

sự vận động phát triển không ngừng của cuộc sống Nội dung giao tiếp của PVBV là “cái mới”

Những kết quả lý luận và thực tiễn của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người liên quan đến lĩnh vực báo chí

7 Cơ cấu của luận văn

Trang 17

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị, Danh mục Tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt và Phụ lục về tài liệu nghiên cứu, gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết ở Hà Nội

Chương 2: Tổ chức thực hiện và phương pháp nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết ở Hà Nội

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết ở Hà Nội

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP

CỦA PHÓNG VIÊN BÁO VIẾT

Trang 18

1.1 Lí luận về giao tiếp

1.1.1 Khái niệm giao tiếp

Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau các tác giả đã có những định nghĩa khác nhau về GT Nhìn chung những định nghĩa ấy xuất phát từ những hướng quan điểm sau:

1.1.1.1 Quan điểm nghiên cứu coi giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin

K.K.Platônov và cộng sự cho rằng, “GT là sự trao đổi thông tin giữa những con người với nhau và GT đó là sự tác động lẫn nhau trên cơ sở phản ánh tâm lý lẫn nhau” [ 16; Tr 13] Như vậy, theo các tác giả, GT không chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin mà nhờ trao đổi thông tin đó, con người tác động lẫn nhau thông qua các quy luật, xúc cảm, tình cảm tâm lý trong đời sống con người.J.P.Gruere (1982) lại cho rằng, “GT là một quá trình chuẩn trong đó một thông điệp được chuyển tải từ một bộ phát tới một bộ thu thông qua một chuỗi các yếu tố được gọi là: nguồn, kênh, địa chỉ” [ 12; Tr 7] Quan niệm trên cho thấy J.P.Gruere chỉ chú ý đến việc chuyển tải thông điệp từ “một bộ phát” đến

“một bộ thu” thể hiện GT diễn ra một chiều Ông nhấn mạnh đến khâu truyền thông tin mà không để ý đến thái độ, cảm xúc, tâm lý của người “thu” dẫu biết rằng quá trình GT diễn ra thông qua một số yếu tố như tác giả gọi đó là “nguồn, kênh, địa chỉ”

Tóm lại, các tác giả chú ý đến sự trao đổi thông tin trong GT mà chưa quan tâm đến người nhận thông tin và thái độ cảm xúc của họ khi nhận được những thông tin đó Trong GT, trao đổi thông tin là một trong những chức năng tạo nên

và duy trì quá trình GT Tuy nhiên, chủ thế và đối tượng GT còn bày tỏ quan điểm, thái độ, hành vi khi tiếp nhận được thông tin đó thông qua hoạt động cùng nhau chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận nó Với quan điểm trên, cần nghiên cứu GT trong mối quan hệ mang tính chỉnh thể của nó, bởi lẽ ngoài việc tiếp nhận và trao đổi thông tin thì GT còn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, xúc cảm, tình cảm của con người GT không phải là thông tin mà thông tin là chức năng của GT

Trang 19

1.1.1.2 Quan điểm coi giao tiếp là hoạt động thực hiện các quan hệ xã hội

và quan hệ liên nhân cách

A.A Leonchev định nghĩa: “GT là một hệ thống những quá trình có mục đích và có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người kia trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ XH và nhân cách, các quan hệ tâm lý

sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ” [ 7; Tr 345] Ông cho rằng: GT là một dạng của hoạt động Một dạng đặc biệt của hoạt động

có đối tượng, có thể là phương thức và điều kiện của hoạt động có đối tượng vì

có cấu trúc và đầy đủ các đặc điểm cơ bản của hoạt động như tính chủ thể, tính đối tượng, tính mục đích và vận hành theo nguyên tắc gián tiếp

B Ph Lomov, cho rằng: “GT là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể” [ 13; Tr 390] B Ph Lomov cho rằng: Hoạt động và GT – đó

là hai mặt của sự tồn tại XH của con người hai mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau trong một lối sống thống nhất Hơn nữa giữa chúng luôn có sự chuyển hóa

từ mặt này sang mặt kia

Khi đánh giá quan điểm của hai ông, nhiều nhà tâm lý học như Đ.B.Encônhin A.A.Bôđaliôv, K.K.Platônôv, cho rằng, ý kiến của hai nhà tâm

lý học trên đều có mặt hợp lý và chưa hợp lý, chưa thỏa đáng A.A.Leochev khi bảo vệ quan điểm cho rằng GT là dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng đã lý giải chưa xác đáng về đối tượng, động cơ, chủ thể của hoạt động này; trong khi B.Ph.Lomov lại quá nhấn mạnh đến phạm trù GT cũng đi đến chỗ khó giải thích một số trường hợp GT tham gia vào hoạt động có đối tượng như là điều kiện thiết yếu của hoạt động [8] Các nhà tâm lý học cho rằng: Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý học người GT là một dạng hoạt động phản ánh mối quan

hệ chủ thể - chủ thể Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể Hai khái niệm này ngang bằng nhau và có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý

Trang 20

Ở Việt Nam, trong một số bài viết, giáo trình tâm lý học trước đây thường dùng thuật ngữ “giao lưu” hoặc “GT” để chỉ sự tiếp xúc tâm lý và tác động qua lại giữa con người với con người, trong mối quan hệ nào đó để thực hiện những mục đích nào đó Việc dùng thuật ngữ tuy có khác nhau, song xét về nội hàm của khái niệm thì các tác giả đều thống nhất: GT là quá trình hiện thực hóa các mối quan hệ XH giữa người với người, trong đó bao gồm nhiều quá trình diễn ra như trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.

Các nhà tâm lý học khi nghiên cứu định nghĩa GT đều đứng ở một góc độ nhất định, chính vì vậy họ đều có quan điểm riêng của mình

Từ góc độ tâm lý học đại cương tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao lưu là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người để hiện thực hóa các quan hệ XH giữa người với nhau” [ 5; Tr 39] “Giao lưu” tác giả dùng ở đây đồng nghĩa với GT.Ở đây tác giả nhấn mạnh vào khía cạnh thiết lập quan hệ liên nhân cách của GT

Từ góc độ GT sư phạm Ngô Công Hoàn định nghĩa: “GT là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp” [ 10; Tr 11 – 12] Theo tác giả, quá trình GT diễn ra chính là sự tiếp xúc lẫn nhau giữa con người với những mục đích rõ ràng

Tác giả Vũ Dũng (2003) cho rằng “ GT là sự tiếp xúc, quan hệ tương tác giữa người và người nhằm trao đổi, chia sẻ thông tin, tư tưởng, tình cảm bằng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ” [ 3; Tr 15] Tác giả đã khẳng định trong GT có sự trao đổi thông tin, tác động qua lại và công cụ để con người chia

sẻ thông tin chính là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Trang 21

Trong tâm lý học đại cương, Nguyễn Quang Uẩn – Trần Hữu Luyến – Trần Quốc Thành định nghĩa: “GT là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, GT xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ XH giữa chủ thể này với chủ thể khác” [ 17; Tr 45] Các tác giả đã khẳng định GT là sự tiếp xúc tâm lý chỉ có ở con người GT là NC không thể thiếu được của con người, thông qua

GT con người trao đổi thông tin, xúc cảm, tình cảm với nhau, có sự tác động, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau và GT là một dạng hoạt động có đối tượng

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GT, mỗi tác giả tùy theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa GT theo cách riêng

và làm nổi bật khía cạnh nào đó Các tác giả bên cạnh việc quan tâm đến trao đổi và tiếp nhận thông tin trong GT đã chú ý đến mặt thái độ, hành vi, xúc cảm, tình cảm của con người, để từ đó thực hiện các mục đích khác nhau và hiện thực hóa các quan hệ XH Trong GT các cá nhân sử dụng cả phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm đạt mục đích đề ra

Từ những phân tích trên, chúng tôi đề xuất khái niệm GT như sau:

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người nhằm vận hành các quan hệ xã hội, được các chủ thể thực hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức, phương tiện, điều kiện xác định

1.1.2 Các cấu thành của giao tiếp

Từ khái niệm GT thấy rằng GT có rất nhiều thành phần cấu thành như: Chủ thể, đối tượng, nhu cầu, nội dung, hình thức, phương tiện… Dưới đây sẽ làm rõ các cấu thành này

1.1.2.1 Chủ thể và đối tượng giao tiếp

Trang 22

Quá trình GT được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể, một người hoặc nhiều người Sự khác biệt của hoạt động có đối tượng và GT ở chỗ trong GT các

cá nhân vừa là chủ thể vừa là khách thể Họ là đồng chủ thể trong quá trình GT Các cá nhân tham gia vào quá trình GT luôn đổi chỗ vai trò chủ thể cho nhau và chi phối tác động lẫn nhau, họ cùng là đồng chủ thể và đối tác của nhau Theo B.Ph.Lomov, đặc thù của GT khác với các loại hoạt động có đối tượng khác, vì

nó là hoạt động diễn ra sự tác động giữa chủ thể với chủ thể Tính chất đồng chủ thể của GT được thể hiện ở ba phương diện:

- Phương diện thứ nhất là chiều hướng tác động: Mỗi cá nhân vừa có khả năng tác động lên người đối thoại vừa chịu tác động của họ Có thể nói tác động trong GT là tác động nhiều chiều

- Phương diện thứ hai là động cơ và mục đích GT: Mỗi cá nhân khi tham gia GT đều có động cơ và mục đích GT của riêng mình Đôi khi mục đích và động cơ GT của hai cá nhân là đối kháng nhau Hiếm khi các động cơ và mục đích GT ở hai cá nhân lại trùng nhau

- Phương diện thứ ba là kết quả GT: Dưới tác động của đối tác GT, mọi chủ thể GT đều thu nhận và biến đổi vốn thông tin có sẵn của mình Trên cơ sở vốn thông tin thay đổi, các chủ thể GT điều chỉnh hành vi, kế hoạch hành động, nhận thức, tình cảm… Có thể thấy kết quả của GT là đặc điểm tâm lý của mọi cá nhân tham gia GT đều biến đổi Bên cạnh đó, kết quả của GT ở những chủ thể khác nhau là rất khác nhau về số lượng, chất lượng và chiều hướng biến đổi [dẫn theo 36; 374- 378]

Trang 23

Thông qua đối tượng GT ta có thể xác định được đặc điểm tâm lý, xu hướng phát triển nhân cách của mỗi cá nhân (các chủ thể GT), bởi lẽ, các đối tượng mà chủ thể GT thường xuyên sẽ có ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển nhân cách của họ Đối tượng GT của cá nhân có liên quan đến xu hướng quan hệ của cá nhân trong XH Xu hướng quan hệ này bắt nguồn từ NC, mong muốn, niềm tin của cá nhân trong việc thiết lập các mối quan hệ XH, cụ thể là: cá nhân chờ đợi gì từ các mối quan hệ, bản thân họ muốn xây dựng chúng như thế nào, mức độ tin cậy của họ trong các mối quan hệ ấy ra sao… những điều này có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn đối tượng GT của cá nhân trong các mối quan hệ XH.

Việc lựa chọn ai để GT phụ thuộc một phần vào NC, nguyện vọng, tình cảm, niềm tin của cá nhân Đối tượng GT của cá nhân còn liên quan đến môi trường GT và hoạt động của họ trong XH Trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, với những hình thức tổ chức hoạt động cụ thể, cá nhân sẽ có những mối quan hệ nhất định tương ứng Tính chất của những mối quan hệ này

1.1.2.2 Nhu cầu giao tiếp

Trong tâm lý học, có nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu

Hiểu một cách chung nhất, nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển

Ngoài NC vật chất, con người có NC tinh thần NCGT là một loại NC tinh thần của con người, là cội nguồn khơi dậy tính tích cực GT của cá nhân Nó giúp cho con người thực hiện mong muốn trao đổi thông tin, hiểu biết, xúc cảm, tình cảm, thiết lập quan hệ với với người khác

Các nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng, NCGT là một trong những NC đặc trưng, xuất hiện sớm nhất ở con người.K.Marx đã khẳng định: “NC vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là NC tiếp xúc với người khác NC này không ngang hàng với các NC khác, sự phát triển của nó trong một con người chính là một điều kiện làm cho con người trở thành con người” [ 1; Tr 177]

Có nhiều quan niệm về NCGT

Trang 24

V.N.Cunhisưna đã nêu ra nhận xét: “NCGT là NC đặc biệt của con người được xây dựng trên cơ sở nền tảng của sự khát khao của con người đối với những người cùng hội, cùng công tác Những động cơ phục vụ cho NC này có thể loại trừ và bổ sung lẫn nhau – từ những thủ đoạn ích kỷ đến những hành động vị tha hào hiệp Khi kết giao quan hệ với người khác, con người khát khao được làm chủ, chi phối và gây ấn tượng, ủng hộ những người thân thiện và tốt bụng”[ 8; Tr 39].

Theo Lêbêdev: “NCGT là NC thông tin Con người sống không chỉ bằng bánh mỳ, một cá nhân không có thông tin thì khó tồn tại NC này có nghĩa là chúng ta phải trao đổi với nhau Chúng ta còn có NC về sự đồng tình, ủng hộ, thông cảm của người khác” [ 8; Tr 39]

Quan điểm này theo chúng tôi chưa được đầy đủ NCGT không chỉ là NC thông tin mà còn bao hàm cả NC được giãi bày, tâm sự, trao đổi tình cảm với người khác, thiết lập mối quan hệ với người khác Trên cơ sở đó con người ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau

Theo chúng tôi, NCGT là sự đòi hỏi tất yếu của con người về việc được tiếp xúc, chia sẻ thông tin, tình cảm, thiết lập quan hệ với người khác để tồn tại

và phát triển với tư cách là một nhân cách, một chủ thể, một thành viên của nhóm, của XH

1.1.2.3 Mục đích giao tiếp

Mục đích GT nhằm thỏa mãn NC nào đó của con người Mục đích GT có thể là giải trí, thu nhận thông tin, thoả mãn các NC vật chất hoặc tinh thần như tác động lên người khác, tạo dựng quan hệ…Mỗi cá nhân khi tham gia GT đều

có động cơ và mục đích GT của riêng mình Đôi khi mục đích và động cơ GT của hai cá nhân là đối kháng nhau “Về bản chất của nó, GT có nhiều mục đích Chẳng hạn, trong phần lớn công trình nghiên cứu, người ta thường nhấn mạnh ý nghĩa của GT đối với việc củng cố tập thể, nâng cao trình độ hiểu biết lẫn nhau, xây dựng những mục tiêu và phương tiện chung của hoạt động tập thể… Nhưng

có một nghịch lý là GT có thể chia rẽ con người – những thủ thuật “chiến tranh tâm lý” – nói riêng, việc phao tin đồn có dụng ý – là một ví dụ” [ 7; Tr 350]

Trang 25

GT dù mang mục đích gì chăng nữa cũng đều diễn ra dưới dạng sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan và nhân sinh quan, NC của những người tham gia vào quá trình GT.

1.1.2.4 Nội dung giao tiếp

Nội dung GT là những chủ đề, vấn đề chủ thể GT nói đến, bàn luận đến khi

lý, hóa và cơ học của khách thể (đối tượng), còn trong GT, đối tượng của nó là con người có ý thức và cũng là chủ thể Kết quả của quá trình GT là các chủ thể đều cảm nhận được một sự thay đổi nhất định trong tâm lý của mình, nói cách khác, quá trình GT đã đọng lại ở các chủ thể một sản phẩm tinh thần – sản phẩm tâm lý Đây là một mặt biểu hiện của nội dung tâm lý trong GT Nội dung tâm lý trong GT bao gồm các thành phần cơ bản là nhận thức và thái độ cảm xúc

- Nội dung công việc trong GT: Nội dung công việc phản ánh tính chất của mối quan hệ XH giữa các chủ thể GT, nó chỉ những sự việc xảy ra trong quan hệ giữa con người với con người, đồng thời mang tính chất hoàn cảnh, tình huống

Sự phân chia về nội dung GT như trên chỉ có tính chất tương đối vì trong nội dung công việc bao giờ cũng có biểu hiện của nội dung tâm lý Nội dung công việc là cái biểu hiện ra bên ngoài còn nội dung tâm lý là nguồn kích thích,

là động lực bên trong thúc đẩy hoặc kìm hãm sự biểu hiện của nội dung công việc

Nội dung GT thường gắn liền với nội dung hoạt động có sự tham gia của chủ thể GT Mối liên hệ này thể hiện ở chỗ nội dung cũng như tính tích cực GT của cá nhân phụ thuộc vào nội dung, tính chất và tính tích cực của cá nhân trong hoạt động

Trang 26

Nội dung GT là một mặt quan trọng của quá trình GT giữa con người với con người Ở bất kỳ quá trình GT nào chúng ta đều có thể tìm thấy những nội dung GT nhất định Đây chính là những đặc trưng riêng của GT.

Nội dung GT thường phong phú, đa dạng, nó chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính của các chủ thể GT Ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện GT cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể và đối tượng GT

1.1.2.5 Hoàn cảnh, thời gian giao tiếp

Với nghĩa rộng, hoàn cảnh GT bao gồm toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên, XH, lịch sử, văn hóa của cộng đồng dân tộc và quốc gia mà các nhân vật GT đang có mặt.Với nghĩa hẹp, hoàn cảnh GT chỉ nơi chốn cụ thể, với những đặc trưng riêng, nơi sẽ diễn ra GT Hoàn cảnh GT thường được lựa chọn sao cho phù hợp với các đồng chủ thể GT

Tùy thuộc vào mục đích, tính chất hoạt động, cá tính và NC của mỗi cá nhân mà khoảng không gian và thời gian tiêu phí cho GT có thể rộng hẹp, dài ngắn khác nhau

1.1.2.6 Hình thức giao tiếp

Trong GT, tùy theo điều kiện và tình huống, mục đích GT, chủ thể GT có thể sử dụng các hình thức GT khác nhau Có thể chia ra các hình thức GT sau:

- Căn cứ vào phương thức giao tiếp: GT trực tiếp và GT gián tiếp

-Căn cứ theo mục đích của giao tiếp: Người ta chia thành GT chính thức và

1.1.2.7 Phương tiện giao tiếp

Trang 27

Nói đến phương tiện GT là nói đến công cụ được sử dụng để GT Trong

GT con người thường sử dụng các công cụ GT xen kẽ nhau Những phương tiện

GT đó là: Phương tiện ngôn ngữ (ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) và phương tiện phi ngôn ngữ (GT bằng sự vận động cơ thể, cử chỉ, tư thế, nét mặt, âm giọng và các vật dụng được sử dụng trong GT)

Tuy nhiên, trong Luận văn này chúng tôi chỉ sẽ tập trung làm rõ đối tượng

GT và nội dung GT của phóng viên báo viết tại Hà Nội

1.2 Lí luận về GT của phóng viên báo viết

1.2.1 Khái niệm phóng viên báo viết

Theo Luật Báo chí, Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội ; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân Báo chí, phóng viên, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một

tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân

Báo chí nói trong Luật Báo chí là báo chí Việt Nam, gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chương trình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài

Theo đó, chúng tôi định nghĩa, Phóng viên, nhà báo là người làm việc cho một cơ quan báo in, báo nói hay báo hình, thông tấn, báo ảnh hay báo điện tử…với với vai trò, nhiệm vụ chính là viết tin, bài và ký tên cho bài báo bằng chính tên người viết hay bằng bút danh

1.2.2 Đặc điểm nghề phóng viên báo viết

Trang 28

Phóng viên, nhà báo là người làm nghề đưa tin chuyên nghiệp Nhiệm vụ đặc thù của phóng viên, nhà báo là tìm kiếm, xác minh, đánh giá và cung cấp thông tin về tất cả những sự kiện mới mà công chúng cần được biết mỗi ngày mỗi giờ, thậm chí mỗi phút mỗi giây Báo chí có những cách thức riêng với mục đích nhằm tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau Công chúng báo chí đa dạng và phức tạp Không phải thông tin nào cũng được số đông tiếp nhận dễ dàng.

Thông tin báo chí đề cập đến mọi mặt của đời sống một cách xác thực, cụ thể, tỷ mỷ Nó đặc biệt chú ý đến những cái mới (tính thời sự) và việc phản ánh những cái mới đó dưới một góc nhìn thể hiện lập trường của tác giả Nói cách khác, đặc trưng cơ bản của thông tin báo chí được thể hiện ở ba điểm cơ bản nhất: Tính xác thực, tiêu biểu - Tính thời sự - Tính định hướng trực tiếp Nói về những chức năng của báo chí, người ta thường nhấn mạnh một số chức năng quan trọng như: thông tin, tuyên truyền, giáo dục, dự báo, giải trí, giao tiếp Trong đó, thông tin là chức năng cơ bản có tầm quan trọng hàng đầu

Giao tiếp báo chí quyết định trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của một tác phẩm báo chí Trong mối quan hệ giữa phóng viên – nguồn tin – công chúng thì cái cốt yêu chính là tâm lý con người

Nghề báo đòi hỏi tri thức tổng hợp cao và khả năng phân tích sâu các vấn

đề xã hội Ngay cả khi đề cập một vấn đề chuyên môn, nó phải được đặt dưới góc nhìn xã hội, mang tính xã hội, mới được công chúng đón nhận

Nghề báo cần những gì để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng hiện nay? Thực ra, đã có nhiều kiến giải của nhiều nhà báo, nhà giáo giàu kinh nghiệm về câu hỏi này, dưới nhiều góc độ khác nhau

Trang 29

Tác giả Nguyễn Đức An, trong một bài viết đăng trên Vietnamnet.vn đã gợi

mở nhiều vấn đề đáng suy nghĩ: “Mỗi nghề nghiệp đều cần phải dựa trên một hệ thống kiến thức chuyên biệt mà ai muốn vào nghề phải nắm vững qua quy trình giáo dục bài bản, thường là đại học chuyên ngành Hệ thống tri thức đó vừa trừu tượng, vừa cụ thể, bao gồm kỹ thuật nghiệp vụ lẫn tư duy và sự am hiểu nghề (kể cả luật pháp về nghề) Vì nếu hành nghề không đúng sẽ gây nhiều hệ lụy cho

xã hội Nhưng ở ta, để vào được nghề báo, hình như người ta chỉ cần một thứ năng lực cơ bản: viết lách (hay chụp ảnh) tốt Cho nên, nghề báo vô tình bị hạ thấp vì được xem là năng khiếu bẩm sinh hơn là kết quả từ một quá trình giáo dục Ta vẫn đang trong một nền báo chí không hoàn toàn tách rời khỏi địa hạt văn chương Với chất văn chi phối, không ít nhà báo cầm bút viết và đi “quá đà”

vì không ghìm cảm xúc, tự do áp đặt chủ quan trên dữ kiện Hiện thực, vô tình hay cố ý, đã bị bóp méo”

1.2.3 Khái niệm giao tiếp của phóng viên báo viết

Xuất phát từ các khái niệm đã trình bày ở trên như: khái niệm giao tiếp; khái niệm phong viên báo viết Căn cứ vào nhiệm vụ của phóng viên báo viết chúng tôi xác định khái niệm giao tiếp của phóng viên báo viết như sau: Giao tiếp của phóng viên, nhà báo là quá trình truyền đạt và tiếp nhận thông tin, tư tưởng, cảm xúc giữa phóng viên với các cá nhân hoặc nhóm người Đây là một trong những công cụ quan trọng để tạo nên một bài báo có hiệu quả Giao tiếp là biện pháp, thông hiểu nhau là mục đích

Hoạt động của phóng viên, nhà báo phải phù hợp với những yêu cầu khách quan của nghề nghiệp - phải thể hiện mình là người chiến sỹ trên mặt trận văn hóa - tư tưởng: tích cực tham gia và sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp xây dựng đất nước, sẵn sàng bênh vực và bảo vệ những cái mới, cái đúng, cái tiến bộ; là người tuyên truyền, cổ động và tổ chức cho cái mới thắng lợi; là người thông thạo trong việc vận dụng những quy luật của hoạt động báo chí vào thực tiễn hoạt động hàng ngày để thực thi một cách hiệu quả những nhiệm vụ đặt ra trước báo chí Để đáp ứng những yêu cầu khách quan ấy, nhà báo chuyên nghiệp phải hội đủ những phẩm chất, những yêu cầu nghề nghiệp

Trang 30

1.2.4 Đặc điểm tâm lý của phóng viên báo viết

-Mang tính nhận thức

Cá nhân của phóng viên ý thức mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung cần thiết để phỏng vấn, điều tra và thu thập tư liệu để có thể hoàn thành một bài báo tốt nhất Trong hoạt động báo chí, việc kết hợp nhuần nhuyễn kỹ năng giao tiếp với nghiệp vụ báo chí là điều kiện để nhà báo đạt được hiệu quả trong công việc

và thành công trong sự nghiệp Khả năng giao tiếp của nhà báo càng tốt thì thông tin thu nạp được càng nhiều, truyền tải đến công chúng càng hiệu quả Sự năng động, nhiệt tình và trách nhiệm của nhà báo trong việc giao tiếp với các thành phần trong xã hội, nghiên cứu tìm tòi để sáng tạo ra tác phẩm báo chí mang dấu ấn riêng, có tác động sâu sắc tới công chúng, xã hội có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả công việc

Kỹ năng giao tiếp của nhà báo thể hiện xuyên suốt trong các hoạt động tác nghiệp từ việc tiếp xúc cơ sở lấy tư liệu, phỏng vấn đến hình thành ý tưởng đề tài, hoàn thành tác phẩm báo chí để xuất bản hoặc phát sóng; thông qua đó thể hiện khả năng nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, cách sử dụng ngôn ngữ báo chí của từng thể loại để diễn đạt ý tưởng, giúp cho người tiếp nhận thông tin hiểu rõ, nắm bắt được nhiều thông tin

- Trao đổi thông tin: Dù bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan.Theo nghiên cứu của Đinh Thị Thu Hằng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nhà báo cần thiết lập một mạng lưới các mối quan hệ xã hội rộng Nhà báo nên có mối quan hệ với chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau để khi cần hỏi

ý kiến, cần tư vấn, giúp đỡ, nhà báo có thể liên hệ và làm việc nhanh chóng và hiệu quả Mạng lưới mối quan hệ chỉ có được khi nhà báo biết sử dụng kĩ năng giao tiếp để thiết lập, phát triển chiều rộng và chiều sâu các mối quan hệ, duy trì chúng trong sự tin cậy và tương tác lẫn nhau

Trang 31

Trong một cuộc tiếp xúc cụ thể, kĩ năng giao tiếp tốt giúp nhà báo đưa ra lời nói, biểu thị thái độ, thể hiện cử chỉ hợp lý Hơn thế, cử chỉ của nhà báo có thể xác lập sự tin cậy, sự đồng cảm và khuyến khích câu trả lời Đôi khi, chỉ một ánh mắt của nhà báo, một cái nắm tay thấu hiểu, một lời nói đúng lúc mà nhân vật “cởi tấm lòng” Phong cách giao tiếp thể hiện tầm vóc văn hóa của nhà báo Những hành vi ứng xử thể hiện sự tôn trọng, sự tin cậy, ý thức hợp tác lẫn nhau, tôn trọng nghề nghiệp và hình ảnh của bản thân mình luôn hàm chứa những giá trị văn hóa không nhỏ và góp phần tạo dựng chân dung nhà báo như một nhà văn hóa Trong đó, cần phải nhắc tới vai trò của vốn sống và sự mẫn cảm của nhà báo trong việc nhận biết và quyết định phải làm gì, ứng xử như thế nào, vào lúc nào.

Như vậy, nhà báo phải xây dựng phong cách giao tiếp chuyên nghiệp, thể hiện trong các kĩ năng từ chọn trang phục, cách đi đứng, nói năng, cách bắt đầu cuộc nói chuyện đến cách ứng xử với nguồn tin trong các điều kiện và tình huống khác nhau Hoạt động giao tiếp của nhà báo với nguồn tin luôn đi theo chủ đích là khai thác thông tin nên đòi hỏi nhà báo phải chủ động và mềm dẻo, linh hoạt

- Giao tiếp là một mối quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội

Trang 32

Quan hệ xã hội chỉ thực hiện thông qua giao tiếp người – người, ở đây là giao tiếp giữa phóng viên – công chúng Khi giao tiếp với công chúng, phong cách giao tiếp của nhà báo thể hiện sự tôn trọng công chúng trước hết bằng việc thông tin chân thực, khách quan Sự phát triển của đất nước cùng sự đi lên của đời sống đã giúp công chúng báo chí ngày càng có điều kiện để nâng cao trình

độ nhận thức và các điều kiện tiếp nhận thông tin Trong một thế giới ngập tràn thông tin, công chúng tìm đến báo chí như một kênh thông tin chính thống và chân thực Do vậy, trong quá trình giao tiếp, nhà báo phải mang đến cho công chúng thông tin đảm bảo tính khách quan, chân thực Bên cạnh đó, nhà báo hiểu thông tin mình cung cấp có tác động đến nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng, bởi vậy cần thông tin trung thực, công bằng, khách quan để tạo giúp công chúng lập nhận thức đúng đắn, thái độ và hành vi phù hợp Những sự việc nhà báo thông tin thiếu khách quan, trung thực bị phát hiện đều bị công chúng phê phán, tẩy chay Và như vậy, quá trình giao tiếp của nhà báo đã thu lại hiệu quả ngược

Bên cạnh đó, sự chính xác, mạch lạc trong thông điệp giao tiếp của nhà báo

là điều kiện để công chúng đón nhận thông tin báo chí có hiệu quả Giao tiếp báo chí không chấp nhận cách trình bày thông điệp dài dòng, gây nhầm lẫn hoặc tối nghĩa Thông tin báo chí cần đơn nghĩa và được hiểu chính xác, tạo sự tác động trực tiếp vào nhận thức của người tiếp nhận Nhà báo phải diễn đạt sao cho công chúng đọc, nghe, xem thông tin của mình với chỉ một cách hiểu và hiểu chính xác về sự kiện, vấn đề thời sự Một trong những điều kiện để hoạt động nghề báo là phải có năng lực diễn đạt chính xác điều cần truyền tải đi Nhà báo cần quan tâm đến cách thức tổ chức thông điệp giao tiếp sao cho sáng rõ và dễ tiếp nhận Sự thận trọng, cân nhắc trong diễn đạt là điều cần thiết để nhà báo đạt được mục đích giao tiếp với công chúng

- Giao tiếp giữa phóng viên – công chúng mang tính chất lịch sử phát triển

xã hội

Trang 33

Thông tin báo chí đề cập đến mọi mặt của đời sống một cách xác thực, cụ thể, tỷ mỷ Nó đặc biệt chú ý đến những cái mới (tính thời sự) và việc phản ánh những cái mới đó dưới một góc nhìn thể hiện lập trường của tác giả Nói cách khác, đặc trưng cơ bản của thông tin báo chí được thể hiện ở ba điểm cơ bản nhất: Tính xác thực, tiêu biểu - Tính thời sự - Tính định hướng trực tiếp.

1.3 Lí luận về đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết

1.3.1 Khái niệm đặc điểm giao tiếp

Theo từ điển tiếng Việt (2002) của Nguyễn Như Ý, đặc điểm là những nét nổi bật (dễ thấy), đặc trưng của một sự vật hiện tượng Trong nhiều trường hợp những nét nổi bật đặc trưng ấy trở thành một tiêu chí để phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác

Theo chúng tôi, đặc điểm của một sự vật, hiện tượng là những nét nổi bật hơn ở sự vật và hiện tượng đó so với các sự vật và hiện tượng khác và có tính tương đối ổn định Trong khi đó, đặc điểm của một loại/ một nhóm sự vật vật, hiện tượng là những nét nổi bật và tương đối ổn định ở đa số các cá thể của loại/ của nhóm đó so ới các loại các nhóm khác

Qua phân tích ở trên, đề tài xin đưa ra khái niệm về đặc điểm giao tiếp như sau:

Đặc điểm GT của một người là những nét nổi bật và tương đối ổn định của

họ trong qus trình tiếp xúc tâm lý với người khác, nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết lẫn nhau và tác động lẫn nhau

Đặc điểm GT của một nhóm là những nét nổi bật và tương đối ổn định ở đa

số các thành viên của nhóm trong quá trình tiếp xúc tâm lý với những người khác, hoặc với nhóm khác, nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết và tác động lẫn nhau

1.3.2 Khái niệm đặc điểm GT của phóng viên báo viết

Trang 34

Giao tiếp của phóng viên mang tính bản chất xã hội Bản chất xã hội thể hiện ở chỗ bất cứ một giao tiếp nào cũng là một quan hệ xã hội, thông qua sự trao đổi, tiếp xúc giữa phóng viên và công chúng Qúa trình tiếp xúc này hình thành nên các chuẩn mực, các giá trị, các nhu cầu, lợi ích…của xã hội cũng như nhóm xã hội và cá nhân tham gia Mặt khác mục đích, động cơ, phương tiện giao tiếp…của mỗi cá nhân cũng đều do xã hội quy định, chế ước.

Thông qua giao tiếp xã hội, người ta trao đổi các kiến thức sự hiểu biết cho nhau, truyền đạt các kinh nghiệm riêng của cá nhân cũng như kinh nghiệm của loài người, như vậy thông qua giao tiếp con người nhận thức về nhau đồng thời nhận thức về xã hội, nâng cao hiểu biết, phát triển thêm nhân cách của mình.Trong giao tiếp xã hội diễn ra các cơ chế của ảnh hưởng xã hội như bắt chước, lây lan, ám thị, thoả hiệp đồng nhất hoá, đặc biệt là sự lây lan, lan truyền cảm xúc tâm trạng Thông qua các cơ chế đó các chủ thể giao tiếp tác động qua lại lẫn nhau chi phối ảnh hưởng lẫn nhau

Những đặc điểm của nhà báo và nghề báo luôn gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm cơ bản nhất của báo chí, trong đó chức năng thông tin kịp thời về những “cái mới” đóng vai trò như một đặc điểm quan trọng nhất “Cái mới” là đối tượng, đồng thời là mục đích phản ánh, thông tin của nhà báo Chính đặc điểm này đã tạo ra sự khác biệt giữa báo chí với các hình thức thông tin khác.Qua đó, chúng tôi định nghĩa, đặc điểm của giao tiếp của phóng viên là quá trình giao tiếp được thực hiện bởi phóng viên và các cá nhân hoặc nhóm người

để thông tin kịp thời về những “cái mới” Cặp chủ thể tạo ra cái mới luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau, chính vì thế người ta nói giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, nó là một hoạt động mang cấu trúc kép

1.3.3 Đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết

Trang 35

Nói đến đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết, chúng tôi thấy có rất nhiều đặc điểm giao tiếp như: hình thức giao tiếp; nhu cầu giao tiếp; đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp,… Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu 2 đặc điểm cơ bản trong giao tiếp của phóng viên báo viết đó là: Đặc điểm về đối tượng giao tiếp của phóng viên báo viết và nội dung GT của phóng viên báo viết.

1.3.3.1 Đặc điểm đối tượng giao tiếp của phóng viên báo viết

Đối tượng giao tiếp của phóng viên báo viết phụ thuộc vào nhiệm vụ của

họ Do vậy, đối tượng giao tiếp của phóng viên báo viết rất đa dạng có thể là trẻ

em hay người lớn, là nông dân hay trí thức, là người nghèo hay người giàu, là người nóng tính hay bình thản, là người lao động hay là lãnh đạo, là sinh viên hay là trẻ em…Ở luận văn này, chúng tôi nghiên cứu tập trung vào đối tượng giao tiếp của phóng viên báo viết phụ trách chuyên mục kinh tế Theo đó, các phóng viên báo viết phụ trách chuyên mục kinh tế, đối tượng giao tiếp mà họ hướng tới gồm: Chuyên gia kinh tế; nhà hoạch định chính sách về kinh tế; người làm về lĩnh vực kinh tế, tài chính; doanh nhân…

- Chuyên gia kinh tế

Một chuyên gia kinh tế hay nhà kinh tế học là một người hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội về kinh tế Các cá nhân cũng có thể nghiên cứu, phát triển, và áp dụng lý thuyết và khái niệm từ viết về kinh tế và chính sách kinh tế

Là một phóng viên chuyên viết về mảng kinh tế nhiều năm, theo tôi, chuyên gia kinh tế là người được đào tạo chuyên sâu về kinh tế, có kinh nghiệm thực hành, đầy đủ năng lực và kỹ năng, luôn sẵn sàng thực hiện công việc liên quan tới kinh tế Chuyên gia là người tham gia gián tiếp hay trực tiếp các hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể; có kỹ năng, bí quyết hoặc hiểu biết vượt trội đã được chứng minh bằng kết quả thực tế Người được công nhận chuyên gia kinh

tế thường có nhiều năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực kinh tế của mình hoặc được trải qua các khóa huấn luyện, đào tạo chuyên biệt về kinh tế

Trang 36

Vì vậy, khi giao tiếp với các chuyên gia kinh tế, các phóng viên cần phải nghiên cứu, tìm hiểu trước và phải một kiến thức nhất định về vấn đề mà phóng viên cần đề cập, trao đổi, phỏng vấn các chuyên gia

- Người làm về lĩnh vực kinh tế - tài chính

Khi giao tiếp với người làm về lĩnh vực kinh tế, tài chính các phóng viên nên cẩn thận trong từng câu chữ, lời nói; những người này thường có xu hướng thực dụng, xem trọng vật chất hơn giá trị tinh thần Vì vậy, khi giao tiếp với những người làm về lĩnh vực kinh tế, tài chính, theo chúng tôi, cần xây dựng niềm tin và sự tôn trọng lẫn nhau với đối phương Bất cứ ai, nếu giao tiếp với tinh thần tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau đều thấy rõ ràng hiệu quả giao tiếp sẽ tốt hơn Với niềm tin và sự tôn trọng, phóng viên trao đổi cởi mở hơn và thẳng thắn hơn những đối tượng này Như vậy, cuộc hội thoại sẽ mang tính tương tác nhiều hơn và tất nhiên sẽ hiệu quả hơn

- Doanh nhân

“Doanh nhân" là một từ được các phương tiện truyền thông của Việt Nam

sử dụng để xác định một thành phần kinh tế tư nhân mới xuất hiện từ sau những năm 90 Các doanh nhân xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đều là những con người đã thành đạt trong sự nghiệp của mình, điều này tạo ra một hiệu ứng tâm lý rằng: cứ "được gọi" là doanh nhân có nghĩa là người đó là người

có nhiều tiền Thực tế, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có người thành kẻ bại Doanh nhân được hiểu là những người chủ chốt trong việc quản trị, điều hành một doanh nghiệp

Khi giao tiếp với doanh nhân, là những người có vị trí trong một doanh nghiệp, là người có tiếng nói Phóng viên cần nghe nhiều hơn nói Hay nghe xem quan điểm của họ như thế nào khi phát ngôn hoặc đánh giá những vấn đề

mà phóng viên đưa ra như thế nào, theo chiều hướng gì rồi hãy đưa ra quan điểm của mình sau Phóng viên có thể chờ đến khi họ chốt một vấn đề nào đó rồi mới đưa ra đánh giá, nhận định Đừng vội đánh giá, quyết định hay đưa ra kết luận khi chúng ta chưa chắc chắn về những điều đã nghe

Trang 37

1.3.3.2 Đặc điểm nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết

Khi giao tiếp với các đối tượng nông dân thì nội dung giao tiếp của phóng viên sẽ liên quan tới đồng ruộng, hoa màu, tới đề tài tình làng nghĩa xóm…; khi giao tiếp với phụ nữ, nội dung giao tiếp của phóng viên thường sẽ là thời trang,

là kiểu tóc hợp xu hướng, là mầu son của năm, là ẩm thực, là góc của con gái…; hay khi giao tiếp với những người có công việc thiên về kinh tế thì nội dung giao tiếp của phóng viên có thể là thị trường bất động sản năm nay sẽ biến động

ra sao? Nền kinh tế có sự phục hồi và đi lên trong năm tới…hay có nên tích trữ Vàng và Đô la trong thời điểm nền kinh tế hiện tại…Qua đó, ta có thể thấy, khi giao tiếp với các đối tượng khác nhau thì nội dung giao tiếp của phóng viên cũng sẽ khác nhau Ở luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu đặc điểm nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết phụ trách chuyên mục Kinh tế.Khi viết về kinh tế, các phóng viên có rất nhiều nội dung có thể tiếp cận và

có bài viết hay, được nhiều người quan tâm như nội dung liên quan tới bất động sản, tới tài chính, tới các điển hình doanh nhân tiêu biểu, tới kinh doanh, tới chính sách kinh tế…Cụ thể:

- Nội dung viết liên quan tới bất động sản:

Bộ luật Dân sự 2005 đã quy định “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định” (Điều 174)

Bất động sản được phân chia thành nhiều loại, với đặc điểm và yêu cầu sử dụng rất khác nhau Trong quá trình quản lý cần phân loại Bất động sản theo đặc điểm hình thành và khả năng tham gia thị trường của từng loại để bảo đảm cho việc xây dựng chính sách phát triển và quản lý thị trường bất động sản phù hợp với tình hình thực tế Từ kinh nghiệm của nhiều nước và kết quả nghiên cứu ở nước ta, bất động sản có thể phân thành ba nhóm: Bất động sản có đầu tư xây dựng, Bất động sản không đầu tư xây dựng và Bất động sản đặc biệt

Trang 38

Nhóm 1: Khi phóng viên viết về bất động sản có đầu tư xây dựng bao gồm

đề tài liên quan tới Bất động sản nhà ở, Bất động sản nhà xưởng và công trình thương mại-dịch vụ, Bất động sản hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), bất động sản là trụ sở làm việc v.v Trong nhóm bất động sản có đầu tư xây dựng thì nhóm bất động sản nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai)

là nhóm bất động sản cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp rất cao

và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như phát triển đô thị bền vững Nhưng quan trọng hơn là nhóm bất động sản này chiếm tuyệt đại đa số các giao dịch trên thị trường bất động sản ở nước ta cũng như trên thế giới

Nhóm 2: Liên quan tới bất động sản không đầu tư xây dựng, các nội dung

mà phóng viên có thể khai thác viết bài chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng

tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v

Nhóm 3: Bất động sản đặc biệt là những bất động sản như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v…Đặc điểm của nhóm này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.Việc phân chia bất động sản theo ba nhóm trên đây là rất cần thiết để cho Phóng viên tiếp cận dễ hơn với bất động sản Bên cạnh đó, bảo đảm cho việc xây dựng cơ chế chính sách phù hợp và xác định mô hình quản lý đối với thị trường bất động sản

- Nội dung viết liên quan tới tài chính gồm các bài viết liên quan tới ngân sách Nhà nước, thuế, nợ, chiến lược nợ quốc gia Qua các bài viết, các phóng viên sẽ có những phải hiểu biết chuyên sâu để phục vụ cho những bài viết trong lĩnh vực tài chính cho đúng, phục vụ cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thông tin dễ hiểu để tạo sự đồng thuận cho người dân

Trang 39

+ Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân

Cụ thể, các phóng viên viết về Ngân sách Nhà nước sẽ có một số chủ đề liên quan tới dự toán thu, chi ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo cac năm; các khoản thu, chi quản lý qua Ngân sách Nhà nước; Cân đối nguồn thu, chi dự toán Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương hay những quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc công bố công khai số liệu

dự toán Ngân sách Nhà nước

+ Thuế: Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng

là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Ðây là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá,

từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước Thuế gía trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ…

Trang 40

Thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô, thuế nhà đất, các chính sách liên quan tới thuế, nợ thuế, trốn thuế, thuế doanh nghiệp…là những đề tài mà phóng viên có thể khai thác khi viết về các đề tài liên quan tới Thuế.

- Nội dung liên quan tới các điển hình doanh nhân tiêu biểu

Các doanh nhân tiêu biểu có những đóng góp tích cực, cụ thể góp phần hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương; tiếp tục sáng tạo, đoàn kết, thi đua lao động sản xuất đạt được nhiều kết quả cao nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Các doanh nghiệp, doanh nhân đã tích cực đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; tham gia hiệu quả các chính sách an sinh xã hội; tích cực cùng các cấp, các ngành xây dựng nông thôn mới, góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập cho người lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn

- Kinh doanh: Bài viết liên quan tới “kinh doanh” là liên quan tới thị trường, tới các Doanh nghiệp; tới bảo vệ người tiêu dùng, tới kinh doanh nhà đất, tới môi trường kinh doanh, tới giá cả…

- Chính sách kinh tế

Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng vào lĩnh vực kinh tế Chính sách kinh tế thường bị chi phối từ các chính đảng, nhóm lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới hay tổ chức thương mại thế giới

Khi viết về chính sách kinh tế, phóng viên sẽ có những chủ đề liên quan chủ yếu tới chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế

1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới đặc điểm giao tiếp của phóng viên báo viết

Ngày đăng: 29/07/2015, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (chủ biên, 2007), Hoạt động- Giao tiếp – Nhân cách. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động- Giao tiếp – Nhân cách
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
2. Bùi Vân Anh (2013), Đặc điểm giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội. Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội
Tác giả: Bùi Vân Anh
Năm: 2013
3. Vũ Dũng (2003). Tâm lý học giao tiếp, Trường Cao đẳng Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Vũ Dũng
Năm: 2003
4. Trần Thị Minh Đức (1995), Giáo trình Tâm lý học xã hội. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học xã hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 1995
5. Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Phạm Huy Châu (1989), Hoạt động, Ý Thức, Nhân cách. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, Ý Thức, Nhân cách
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Phạm Huy Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1989
6. Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập Tâm lý học. Nhà Xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà Xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
7. Phạm Minh Hạc, Đặng Xuân Hòa, Trần Trọng Thủy (đồng chủ biên 2002), Hoạt động, giao tiếp và chất lượng giáo dục. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, giao tiếp và chất lượng giáo dục
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8. Phùng Thị Hằng (2007), Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh Trung học Phổ thông dân tộc Tày, Nùng. Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh Trung học Phổ thông dân tộc Tày, Nùng
Tác giả: Phùng Thị Hằng
Năm: 2007
9. Ngô Công Hoàn (1992), Một số vấn đề giao tiếp Sư phạm.Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giao tiếp Sư phạm
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1992
10.Ngô Công Hoàn (1997), Tâm lý học xã hội trong quản lý. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội trong quản lý
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
11. Lê Văn Hồng (1999), Người cao tuổi với thế hệ trẻ, Tạp chí Tâm lý học, số 4 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi với thế hệ trẻ
Tác giả: Lê Văn Hồng
Năm: 1999
12.Nguyễn Văn Lê (2006), Giao tiếp sư phạm. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp sư phạm
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2006
14.Hoàng Thị Bích Ngọc (2002), Đặc điểm giao tiếp của phạm nhân bị kết án phạt tù về các tội ít nghiêm trọng, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của phạm nhân bị kết án phạt tù về các tội ít nghiêm trọng
Tác giả: Hoàng Thị Bích Ngọc
Năm: 2002
18. Trần Thị Xuyên (2014), Đặc điểm giao tiếp của học sinh trung học cơ sở người dân tộc Chăm. Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giao tiếp của học sinh trung học cơ sở người dân tộc Chăm
Tác giả: Trần Thị Xuyên
Năm: 2014
19. Nguyễn Khắc Viện, Từ điển Tâm lý họcTài liệu Online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
13. B.Ph.Lomov, Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học Khác
15. Hoàng Thị Bích Ngọc (2004), Giao tiếp và giao tiếp của phạm nhân. Nhà xuất bản Công an nhân dân Khác
16.Nguyễn Quang (2008), Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Khác
17. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên, 2003), Tâm lý học Đại cương. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3: Nội dung giao tiếp của phóng viên theo độ tuổi - Đặc điếm đối tượng vào nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết tại hà nội
Bảng 3.3 Nội dung giao tiếp của phóng viên theo độ tuổi (Trang 60)
Bảng 3.4: Nội dung giao tiếp của phóng viên theo trình độ học vấn - Đặc điếm đối tượng vào nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết tại hà nội
Bảng 3.4 Nội dung giao tiếp của phóng viên theo trình độ học vấn (Trang 67)
Bảng 3.6: Nội dung giao tiếp với đối tác mới và cũ - Đặc điếm đối tượng vào nội dung giao tiếp của phóng viên báo viết tại hà nội
Bảng 3.6 Nội dung giao tiếp với đối tác mới và cũ (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w