1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á

56 379 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Của Nh Tmcp Việt Á
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 812,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng thương mại là một tổchức tài chính có vai trò quan trọng trong việc khơi thông các nguồn vốn huy động

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT

ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại

1.1 Khái niệm và đặc trưng của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính có vai trò quan trọng trong

việc khơi thông các nguồn vốn huy động, đáp ứng các nhu cầu đầu tư sinh lợi, góp

phần đảm bảo cho nền kinh tế vận động nhịp nhàng, hữu hiệu Có nhiều định nghĩa

về ngân hàng thương mại nhưng chúng đều có điểm chung là dựa trên chức năng và

phương thức hoạt động của ngân hàng

Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là một xí nghiệp hay cơ sở mà nghiệp vụ

thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình

thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu,

tín dụng và tài chính

Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tài chính đa dạng nhất -

đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng

tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Ở Ấn Độ: ngân hàng thương mại được coi là cơ sở nhận các khoản ký thác để

cho vay hay tài trợ và đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ cũng có quan niệm tương tự khi xác định

ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn được thiết lập nhằm mục đích

nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu, chiết

khấu và những hình thức vay muợn hay tín dụng khác

Tại Việt Nam, theo khoản 2 điều 20 Luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng là

loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt

động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại

hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,

ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với

nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và

cung ứng các dịch vụ thanh toán (Khoản 7, điều 20 Luật các tổ chức tín dụng)

Như vậy: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh

doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, với chức năng chủ yếu là làm trung gian tín

dụng, trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế

1.1.2 Đặc trưng của ngân hàng thương mại

Chính vì kinh doanh trong một lĩnh vực mang tính chất đặc biệt nên hoạt động

của ngân hàng thương mại có những đặc trưng khác biệt so với các loại hình kinh

doanh khác:

Thứ nhất: Nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh không phải là nguồn

vốn tự có mà là nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế - tài chính

Trang 2

khác và sử dụng nguồn vốn này để cho vay, đầu tư…trên cơ sở đảm bảo lợi ích và

quyền lợi cho khách hàng trong đó có lợi ích của ngân hàng

Thứ hai: Sản phNm của ngân hàng mang tính vô hình Không giống như sản

phNm của doanh nghiệp được sản xuất từ nguyên vật liệu hữu hình, sản phNm của

ngân hàng mang tính phi vật chất và không có hàng tồn kho Quá trình sản xuất và

tiêu thụ sản phNm diễn ra cùng lúc, khi khách hàng có nhu cầu sử dụng Chính đặc

điểm này của sản phNm ngân hàng đòi hỏi người trực tiếp cung cấp sản phNm dịch

vụ - nhân viên ngân hàng phải có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao, hiểu rõ các

sản phNm ngân hàng để đảm bảo sản phNm cung cấp ra có chất lượng tốt nhất nhằm

thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Thứ ba: Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và sản phNm ngân hàng lại mang

tính vô hình nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro và

mang tính cạnh tranh cao Giá trị tiền tệ thường không ổn định và biến động theo

những thay đổi của nền kinh tế, do đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khó tránh

khỏi khi có những biến động đột ngột Tính vô hình của sản phNm ngân hàng khiến

cho sản phNm ngân hàng dễ bị sao chép Vì vậy hầu hết sản phNm của các ngân

hàng đều giống nhau về bản chất và tính hữu ích Khi một ngân hàng tạo ra được

một sản phNm ưa chuộng, lập tức có ngân hàng khác cung cấp sản phNm đó để cạnh

tranh

Thứ tư: Chính vì mức độ cạnh tranh khốc liệt và độ rủi ro cao nên ngân hàng

thương mại bị quản lý và giám sát chặt chẽ bởi luật pháp và các quy định của Nhà

nước Vì sự sụp đổ của một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ

thống ngân hàng từ đó gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế

Thứ năm: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là lĩnh vực chịu

sự tác động và đồng thời ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ Công nghệ

ngân hàng là nguồn lực nội tại của ngân hàng về tư duy kinh doanh, tạo ra các sản

phNm thích ứng với thị trường

1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Chức năng thủ quỹ

Thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của công

chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu

rút tiền và chi tiền của họ

Chức năng này có từ thời kỳ sơ khai của hoạt động ngân hàng, xuất phát từ

nhu cầu muốn đảm bảo an toàn tài sản và mong muốn tích luỹ giá trị của công

chúng và các doanh nghiệp trong xã hội Ban đầu ngân hàng là người giữ hộ tài sản

và khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản phí Về sau ngân hàng sử dụng

khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay, và thay cho việc khách hàng phải trả phí

cho ngân hàng, ngân hàng lại trả lại cho khách hàng lợi tức tiền gửi

Ngày nay, khi nền kinh tế phát triển, thu nhập ngày càng cao, tích luỹ của

doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầu bảo vệ tài sản và mong

muốn sinh lời từ khoản tiền có được của các chủ thể kinh tế làm cho chức năng này

càng được thể hiện rõ Nó đem lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng:

Trang 3

Đối với khách hàng, thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng, họ không những

đảm bảo an toàn về tài sản mà còn thu được một khoản lợi tức từ ngân hàng

Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng

trung gian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng thực hiện

chức năng tín dụng

1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán

Chức năng này là sự kế thừa và phát triển của chức năng thủ quỹ Trên cơ sở

khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, thay mặt cho khách

hàng, ngân hàng thương mại trích tiền trên tài khoản trả cho người được hưởng

hoặc nhận tiền vào tài khoản theo uỷ nhiệm của khách hàng

Việc thanh toán thông qua ngân hàng giúp cho khách hàng thanh toán nhanh

chóng, an toàn và hiệu quả do tiết kiệm được chi phí bảo quản, vận chuyển tiền…

Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã tạo ra những công cụ lưu thông

tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó như séc, giấy chuyển tiền, thẻ thanh

toán…Điều này góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và làm cho việc thanh

toán trở nên đơn giản bằng cách chuyển dịch tiền từ tài khoản người này sang tài

khoản người khác (hai khách hàng cùng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng),

hoặc thông qua thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (hai khách hàng mở tài khoản

tại hai ngân hàng khác nhau) dưới dạng tiền ghi sổ

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin đã đem đến khả năng

thanh toán mới đó là chuyển tiền điện tử - đây là hình thức thanh toán bằng cách nối

mạng máy tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm chuyển vốn từ tài

khoản người mua sang người bán rất nhanh chóng

Chức năng làm trung gian thanh toán của ngân hàng giúp cho những đối tác dù

ở cách xa nhau về địa lý cũng có thể thanh toán cho nhau một cách an toàn, nhanh

chóng từ đó tiết kiệm được chi phí lưu thông tiền mặt, đNy nhanh tốc độ luân

chuyển vốn, thúc đNy quá trình lưu thông hàng hoá cho nền kinh tế Do đó đây là

chức năng có vai trò quan trọng, đặc biệt khi thương mại ngày càng phát triển

1.2.3 Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng này được hình thành ngay từ khi ngân hàng thương mại xuất hiện

Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng thương mại, có ý nghĩa

quan trọng trong việc thúc đNy nền kinh tế phát triển

Ngân hàng thương mại chủ động huy động mọi khoản tiền tệ chưa sử dụng đến

của các chủ thể khác nhau trong xã hội để hình thành nên quỹ cho vay tập trung

Trên cơ sở nguồn vốn này, ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay đáp ứng nhu

cầu vốn bổ sung trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể

kinh tế Như vậy ngân hàng thương mại vừa là người đi vay, vừa là người cho vay

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần

tạo ra lợi ích cho người đi vay (doanh nghiệp), cho nền kinh tế và cho chính bản

thân ngân hàng

Trang 4

Đối với doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh, vốn là mối quan tâm

hàng đầu Doanh nghiệp không chỉ dựa vào vốn tự có mà còn phải dựa vào các

nguồn vốn khác trong xã hội Ngân hàng thương mại, nơi tập trung phần lớn nguồn

vốn nhàn rỗi sẽ đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tư phát triển của các doanh

nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí tìm kiếm nguồn vốn

tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp

Đối với ngân hàng, đây là chức năng đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân

hàng – là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời cũng làm tăng

khả năng tạo tiền của ngân hàng

Đối với nền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng thúc đNy tăng trưởng kinh

tế vì đã đáp ứng được nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình tái sản xuất xã hội

nhờ tận dụng nguồn vốn tạm thời thừa vào quá trình cho vay sinh lời

1.2.4 Các chức năng khác

Ngoài các chức năng nêu trên, ngân hàng thương mại còn có chức năng sau:

Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác

Không chỉ chú trọng vào dịch vụ truyền thống là cho vay, ngày nay các ngân

hàng đã phát triển nhiều dịch vụ khác để gia tăng thu nhập Đó là:

 Dịch vụ tư vấn về tài chính và đầu tư cho các doanh nghiệp

 Làm đại lý phát hành chứng khoán

 Cung cấp dịch vụ lưu trữ và quản lý chứng khoán

 Thu lãi chứng khoán và chuyển vào tài khoản khách hàng

 Thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng

 Dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá như dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản kí

thác và trực tiếp bảo quản an toàn vật có giá

 Dịch vụ tín thác hoặc uỷ thác ngân hàng

Dịch vụ tín thác đối với cá nhân bao gồm việc thực hiện các dịch vụ đại diện

như người giám hộ bảo vệ và bảo quản tài sản cho đối tượng là những người ở tuổi

vị thành niên, người thiếu năng lực pháp lý được thừa kế tài sản

Dịch vụ uỷ thác thanh lý tài sản: đối với dịch vụ này, ngân hàng quản lý và

thực hiện các yêu cầu xử lý tài sản (phân chia tài sản…) theo di chúc của người đã

mất

 Ngoài ra ngân hàng còn có thể thực hiện các dịch vụ khác như: quản lý tiền

hưu trí, phân chia lợi tức, chia tiền thưởng cổ phần, làm đại lý phát hành trái phiếu,

đại lý thanh toán, giữ sổ theo dõi việc phát hành chứng khoán cho các doanh

nghiệp

Chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ ngân hàng quốc tế

Ngày nay tự do hoá tài chính và tự do hoá thương mại ngày càng diễn ra mạnh

mẽ và rộng khắp đã khiến cho nhu cầu thanh toán giữa các quốc gia trở nên cần

Trang 5

thiết Các ngân hàng ngày càng mở rộng các hoạt động nghiệp vụ trong nước ra

phạm vi hoạt động ngân hàng quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ như chuyển tiền, nhờ

thu, thanh toán L/C…Điều này góp phần thúc đNy hoạt động xuất nhập khNu trong

nước phát triển nhờ loại bỏ được các trở ngại về sự khác nhau trong hệ thống tiền

tệ, luật pháp của từng quốc gia

Chức năng này cũng giúp cho các ngân hàng trong nước có thể tranh thủ

nguồn vốn trên thị trường quốc tế thông qua các ngân hàng nước ngoài để đầu tư

phát triển kinh tế đất nước, tiếp cận và học hỏi công nghệ ngân hàng tiên tiến, tìm

kiếm thị trường mới và các lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao

Như vậy, chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ ngân hàng quốc

tế không chỉ thúc đNy quá trình thanh toán giữa các quốc gia diễn ra trôi chảy mà

còn giúp các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động ra thế giới, góp phần vào sự

tăng trưởng thương mại quốc tế

1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại

Vai trò của ngân hàng thương mại được thể hiện trong việc vận dụng các chức

năng của nó và cụ thể hoá trong hoạt động của ngân hàng Vai trò của ngân hàng

thương mại bao gồm hai vai trò lớn sau:

1.3.1 Thúc đNy sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá

Nhờ có hệ thống ngân hàng mà tiền tiết kiệm của các cá nhân, tổ chức trong

nền kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế Nó giúp cho bộ

máy kinh tế hoạt động thông suốt nhờ việc di chuyển nguồn lực xã hội từ nơi tạm

thời thừa sang nơi đang có nhu cầu để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, nâng cao

mức sống xã hội

Với vai trò là trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại đã thực hiện các

dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế, từ đó thúc đNy nhanh quá trình luân chuyển

hàng hoá, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá

nhân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Đồng thời ngân

hàng giám sát được các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra một môi trường kinh

doanh lành mạnh, tạo sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội

Có thể nói, ngày nay, mọi quan hệ kinh tế đều thực hiện thông qua quan hệ

tiền tệ và chủ yếu là thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng bên cạnh các tổ

chức tài chính phi ngân hàng

1.3.2 Vai trò thực thi chính sách tiền tệ

Với các chức năng của mình, ngân hàng thương mại là một trong các chủ thể

tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán

rất lớn trong nền kinh tế

Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ương sử dụng các công cụ

để điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền

kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định giá trị tiền tệ Phần lớn các công cụ của

chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực của các ngân

Trang 6

hàng thương mại như: chấp hành quy định về dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán

không dùng tiền mặt và việc nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư

Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương phát hành

thêm tiền vào lưu thông, thực hiện các chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá, chính

sách lãi suất của Nhà nước để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế

Hệ thống ngân hàng thương mại trực tiếp cấp tín dụng cho nền kinh tế vì thế

nó là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sức mua của nền kinh tế, tạo ra phương

tiện thanh toán để lưu thông hàng hoá và các dịch vụ do nền kinh tế tạo ra

Vì vậy, hoạt động của ngân hàng thương mại ảnh hưởng trực tiếp đên sự tăng

trưởng của nền kinh tế, đến sự ổn định tiền tệ và ảnh hưởng đến những sự phát triển

kinh tế xã hội khác Ngược lại, các ngân hàng thương mại lại chịu sự quản lý của

Ngân hàng Trung ương bằng các quy định cụ thể Hoạt động của các ngân hàng

thương mại chịu sự ràng buộc bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

Nói cách khác, nó phải hoạt động theo những quy định mà chính sách tiền tệ đã

vạch ra và định hướng cho nó

2 Hoạt động huy động vốn

2.1 Vai trò và cơ cấu của nguồn vốn trong hoạt động ngân hàng

2.1.1 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động ngân hàng

Bản chất của ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên vốn đóng

vai trò quan trọng đối với hoạt động ngân hàng

• Vốn là điều kiện tiên quyết và bắt buộc để ngân hàng trang trải các chi phí về

xây dựng cơ sở vật chất ban đầu, đồng thời là điều kiện để Ngân hàng Nhà nước

xem xét cấp giấy phép hoạt động cho ngân hàng

• Vốn (vốn tự có) là một tấm đệm giúp ngân hàng vượt qua những giai đoạn khó

khăn trong kinh doanh hay nguy cơ phá sản, tạo điều kiện cho nhà quản trị ngân

hàng có thêm thời gian giải quyết, điều hành đưa hoạt động ngân hàng trở lại trạng

thái kinh doanh ổn định

• Vốn là điều kiện để ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay, đầu tư, tạo lợi

nhuận để ngân hàng duy trì hoạt động và phát triển

• Nhờ có vốn ngân hàng có thể nghiên cứu và phát triển các sản phNm ngân

hàng mới, có thể cạnh tranh trên thị trường

• Nguồn vốn thể hiện năng lực tài chính và sức cạnh tranh của ngân hàng Một

ngân hàng có năng lực tài chính mạnh chứng tỏ ngân hàng đó có khả năng đáp ứng

nhu cầu vay vốn và thanh toán cho khách hàng Vì vậy, vốn là cơ sở để khách hàng

có niềm tin gửi tiền vào ngân hàng

2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn

2.1.2.1 Vốn tự có

Vốn tự có là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được và thuộc sở hữu

của ngân hàng Đây là nguồn vốn mà khi sử dụng ngân hàng không phải cam kết

Trang 7

hoàn trả cho các chủ sở hữu, do vậy nguồn vốn này có tính ổn định cao nhất so với

các bộ phận nguồn vốn khác Vốn tự có chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn

vốn kinh doanh, thường không quá 10% trong tổng nguồn vốn nhưng nó có vai trò

quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong hiện tại và khả năng

phát triển trong tương lai Thể hiện qua các nội dung sau:

• Vốn tự có đóng vai trò là tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản vì nó dùng để

trang trải những khoản thua lỗ cho đến khi ngân hàng hoạt động kinh doanh có lời

• Là khoản vốn tối thiểu cần thiết mà ngân hàng phải có để được Nhà nước cấp

giấy phép hoạt động, nó được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện

phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

• Nguồn vốn tự có của ngân hàng tạo cơ sở xác lập niềm tin cho việc huy động

các nguồn vốn của khách hàng trên thị trường Ngân hàng cần phải có một năng lực

tài chính đủ mạnh để có thể đáp ứng các nhu cầu tín dụng cho những người đi vay

ngay cả trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn

• Nguồn vốn này đảm bảo cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và

phát triển các loại hình dịch vụ mới Khi ngân hàng phát triển, nó cần nguồn vốn bổ

sung lớn để thúc đNy tăng trưởng và chấp nhận những rủi ro gắn với sự ra đời của

những dịch vụ, trang thiết bị mới

Theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, vốn tự có là tổng nguồn vốn cấp 1 và

cấp 2 của mỗi ngân hàng

Vốn cấp 1: bao gồm

• Vốn điều lệ: là vốn riêng của ngân hàng thương mại do các chủ sở hữu đóng

góp và được ghi trong điều lệ hoạt động của ngân hàng thương mại

Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà nó được hình thành từ những nguồn khác

nhau

- Nếu là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước: do ngân sách Nhà nước

cấp

- Nếu là ngân hàng thương mại cổ phần: vốn điều lệ do sự đóng góp của cổ

đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu

- Nếu là ngân hàng thương mại liên doanh: vốn điều lệ là vốn đóng góp của các

ngân hàng tham gia liên doanh

Theo quy định, vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại phải có quy mô

không nhỏ hơn mức vốn tối thiểu do Nhà nước quy định (vốn pháp định) Một ngân

hàng được cấp phép và hoạt động nếu số vốn đã góp hoặc đã được cấp đạt tới 50%

vốn pháp định và phải góp đủ phần còn thiếu sau một khoảng thời gian ấn định (12

tháng đối với ngân hàng thương mại cổ phần; 5 năm đối với ngân hàng thương mại

nhà nước) kể từ ngày được cấp phép

Nguồn vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất động sản, động sản,

trang thiết bị…cho hoạt động ngân hàng Ngoài ra còn được dùng để góp vốn liên

doanh, cho vay, mua cổ phần doanh nghiệp khác

Trang 8

• Các quỹ dự trữ tài chính: được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm để bổ sung

vốn tự có như: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ dự phòng rủi ro… Việc

hình thành các quỹ này làm tăng vốn tự có của ngân hàng đồng thời đảm bảo an

toàn trong kinh doanh

Theo điều 87, Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều

lệ trích hàng năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế Mức tối đa của quỹ này do chính

phủ quy định

• Lợi nhuận chưa chia

• Các quỹ khác chưa sử dụng có thể coi như vốn tự có: quỹ phát triển nghiệp vụ

ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi

Vốn cấp 2: bao gồm một số loại nợ thứ cấp như:

• 50% giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại theo quy định của

Nguồn vốn huy động còn gọi là tài sản nợ ngân hàng Vốn huy động là nguồn

vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Huy

động vốn cũng là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các ngân hàng, xuất phát

từ đặc trưng trong hoạt động ngân hàng là “đi vay” để “cho vay” Nguồn vốn huy

động giúp ngân hàng tạo lợi nhuận để tồn tại và phát triển nên đây là mối quan tâm

chính của các ngân hàng

2.1.2.3 Nguồn vốn vay

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại đôi khi đối

mặt với sự thiếu hụt ngân quỹ tạm thời Nhằm tránh tình trạng từ chối nhu cầu vay

chính đáng của khách hàng, ngân hàng không thể chờ đợi nguồn vốn tiền gửi mà

phải chủ động tìm nguồn vốn khác thay thế Trong trường hợp này các ngân hàng

có thể vay vốn từ:

Các ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính khác:

Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngân hàng có thể vay từ các ngân hàng

khác đang có nguồn vốn nhàn rỗi chưa sử dụng đến Hoạt động vay mượn này góp

phần điều hoà nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn luân chuyển thông suốt

trong hệ thống ngân hàng

Vay Ngân hàng Trung ương

Trang 9

Theo điều 48, Luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng là ngân

hàng được vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước theo quy định tại điều 30 của

Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam”

Như vậy, các ngân hàng được cấp phép hoạt động đều có thể vay vốn từ Ngân

hàng Trung ương để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn khả dụng Nghiệp vụ vay vốn

này thường được Ngân hàng Trung ương thực hiện dưới hình thức phổ biến là tái

cấp vốn

Sau đây là một số hình thức tái cấp vốn mà Ngân hàng Trung ương thực hiện

(theo quy định của điều 17, Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

• Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng

• Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn

khác

• Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn

hạn khác

2.2 Các hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

2.2.1 Vai trò nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng

nhưng nó là hoạt động rất quan trọng Không có hoạt động này xem như không có

hoạt động của ngân hàng thương mại Một ngân hàng thương mại không thể chỉ dựa

vào vốn điều lệ để kinh doanh vì nguồn vốn này chỉ đủ để tài trợ cho tài sản cố định

như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị…cần thiết cho hoạt động chứ không đủ để

thực hiện các nghiệp vụ như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác Để có vốn

phục vụ cho các hoạt động này, ngân hàng phải huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong

nền kinh tế Vì vậy, hoạt động huy động vốn không chỉ có ý nghĩa với ngân hàng

thương mại mà còn có ý nghĩa đối với khách hàng và nền kinh tế

2.2.1.1 Đối với ngân hàng

Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng để hoạt

động kinh doanh Không có nguồn vốn này, ngân hàng sẽ không có đủ vốn tài trợ

cho hoạt động của mình Mặt khác, thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể đo

lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó

ngân hàng có các biện pháp hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở

rộng quan hệ với khách hàng

2.2.1.2 Đối với khách hàng

Hoạt động này không chỉ cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm

làm cho tiền của họ sinh lời mà còn tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng

trong tương lai Mặt khác, hoạt động huy động vốn cung cấp cho khách hàng một

nơi an toàn để cất trữ, tích luỹ vốn tạm thời nhàn rỗi; và cơ hội tiếp cận các dịch vụ

ngân hàng khác như dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ tín dụng khi

khách hàng có nhu cầu về vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng

2.2.1.3 Đối với nền kinh tế

Trang 10

Để tăng trưởng kinh tế thì cần có vốn để phát triển Có vốn mới có thể xây

dựng và phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ, từ đó tạo ra của cải cho xã hội

Những năm qua ở Việt Nam, vốn đầu tư ngân sách thì hạn hẹp, vốn tự có của doanh

nghiệp cũng hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển nên vốn cho tăng

trưởng chủ yếu là từ hệ thống ngân hàng Ngân hàng với tư cách là tổ chức trung

gian tài chính phải huy động vốn trong nền kinh tế để cho vay

Trong chu trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có giai đoạn doanh

nghiệp tạm thời thiếu vốn để phục vụ sản xuất hoặc mở rộng quy mô, cũng có

những doanh nghiệp tạm thời thừa vốn, chưa sử dụng đến Ngân hàng dựa vào đặc

điểm đó để huy động vốn từ nơi thừa bổ sung cho nơi thiếu, đảm bảo cho quá trình

sản xuất diễn ra liên tục, không chậm trễ, thúc đNy kinh tế phát triển

Tóm lại, trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại, vốn huy động

luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, nó không chỉ

giúp ngân hàng mở rộng quy mô và đối tượng tín dụng, phát triển các dịch vụ thanh

toán mà còn góp phần phát triển kinh tế và ổn định đời sống người dân Nhưng hiện

nay, nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội còn rất lớn do người dân chưa có thói quen

gửi tiền và thanh toán qua ngân hàng, trong khi đó nhu cầu vốn cho nền kinh tế

chưa được đáp ứng đầy đủ Vì vậy, ngân hàng Việt Nam cần có các biện pháp để

khuyến khích người dân và các tổ chức kinh tế gửi tiền vào ngân hàng, góp phần

thúc đNy kinh tế phát triển và thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ

2.2.2 Các hình thức huy động vốn

Nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh

của ngân hàng thương mại, vì thế hoạt động huy động vốn được các ngân hàng đặc

biệt quan tâm Nguồn vốn chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng thương mại là

huy động nguồn tiền nhàn rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức…dưới các

hình thức phổ biến sau:

2.2.2.1 Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi

Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi bao gồm các hình thức sau:

Tiền gửi không kỳ hạn

Là loại tiền mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào Khách hàng có thể yêu

cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, hoặc

chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này Mục đích chính của người gửi tiền là

đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy

nó còn được gọi là tiền gửi thanh toán Ở nhiều nước phần lớn các giao dịch thanh

toán thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán được thực hiện bằng séc, do vậy người

ta cũng có thể gọi đây là tài khoản tiền gửi có thể phát hành séc Tiền gửi không kỳ

hạn có chi phí thấp vì người gửi tiền sẵn lòng bỏ qua một số tiền lãi để có một tài

sản có tính lỏng cao sử dụng trong các hoạt động thanh toán

Tiền gửi không kỳ hạn thường không ổn định, chúng biến động thường xuyên

nhưng vì chi phí cho loại tiền gửi này thấp nên trong thực tế ngân hàng vẫn sử dụng

vào hoạt động cho vay Tuy nhiên khi sử dụng tiền gửi thanh toán làm nguồn vốn

Trang 11

kinh doanh, ngân hàng cần phải dự trữ với một tỷ lệ cao hơn so với các loại tiền gửi

khác, đảm bảo đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng thường xuyên và đầy đủ

Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng phải đa dạng hoá và thực hiện

tốt các dịch vụ trung gian, thu hút nhiều khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp

Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là những khoản tiền gửi có kỳ đáo hạn nhất định được thoả

thuận trước, khách hàng gửi tiền có kỳ hạn chỉ có thể rút toàn bộ số tiền đã gửi và

tiền lãi như đã thoả thuận khi đến kỳ hạn đó Mục đích chính của người gửi tiền là

lợi tức, không quan tâm đến những dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp

Tuy nhiên trong môi trường cạnh tranh thu hút vốn hiện nay, các ngân hàng có

thể giải quyết cho khách hàng rút trước hạn khi có yêu cầu, nhưng áp dụng mức lãi

suất thấp hơn mức lãi suất đã thoả thuận ban đầu

Các khoản tiền gửi có kỳ hạn được đặc trưng bằng các chứng chỉ tiền gửi ghi

rõ thời gian đáo hạn và số lượng Để tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn ngân hàng có thể

sử dụng công cụ lãi suất và các chương trình khuyến mãi, bốc thăm trúng

thưởng…tạo sự quan tâm của khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân

Vì tiền gửi có kỳ hạn có tính ổn định nên ngân hàng có thể chủ động trong việc

sử dụng nguồn tiền này để cho vay, đầu tư, thu lợi nhuận cao

Tiền gửi tiết kiệm:

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân gửi vào tài khoản tiền gửi tiết

kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức

nhận tiền gửi tiết

Tiền gửi tiết kiệm chỉ được mở cho các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình với

mục đích chủ yếu là tiết kiệm để chi tiêu trong tương lai và được hưởng lãi

Tiền gửi tiết kiệm bao gồm hai loại sau:



 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại sản phNm do ngân hàng cung ứng để

giúp khách hàng tích luỹ dần những khoản tiền nhỏ để đáp ứng một khoản chi tiêu

nào đó trong tương lai mà vẫn được hưởng lãi

Đặc điểm của loại tiền gửi này là:

 Khách hàng tuỳ ý gửi tiền hoặc rút tiền

 Chi phí của ngân hàng cho loại tiền gửi này thấp vì chủ yếu là giao dịch

gửi tiền và rút tiền, không có giao dịch thanh toán Vì vậy ngân hàng có thể trả

lãi cho khách hàng mà không làm tăng chi phí, nhưng do tính chất không ổn

định nên lãi suất tiền gửi thấp

Khi gửi tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng được cấp một sổ tiền gửi Trên sổ

phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, số dư hiện có, tiền lãi được hưởng

Hoặc khách hàng được cung cấp một báo cáo tài khoản sau mỗi lần giao dịch thay

cho sổ tiền gửi

Trang 12

 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền

sau một kỳ hạn gửi nhất định theo thoả thuận với tổ chức nhận tiền gửi Đặc điểm

của loại tiền gửi này:

 Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hay thấp phụ thuộc vào kỳ hạn

gửi của khách hàng, kỳ hạn gửi càng dài lãi càng cao

 Ngân hàng có thể dự tính được lượng và thời hạn khách hàng rút tiền

Thông thường khách hàng gửi tiền vào tài khoản này với những mục đích cụ

thể trong tương lai như mua nhà ở, hưởng lãi suất cho khoản tiền nhàn rỗi

2.2.2.2 Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá

Theo điều 46 - Luật các tổ chức tín dụng, ngân hàng được phát hành chứng chỉ

tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ

chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng chủ động phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn nhằm thực hiện

các dự án đầu tư đã định Giấy tờ có giá là chứng nhận của ngân hàng phát hành,

xác định nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả

lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và người mua

Tóm lại, cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn tự có, vốn huy động và

vốn vay Trong đó, vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng mang tính chất ổn định và

có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn huy động

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, nó là bộ phận chủ yếu

trong nguồn vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại nên các ngân hàng rất

quan tâm, tìm biện pháp thu hút nguồn vốn này để mở rộng phạm vi, quy mô kinh

doanh tín dụng và tăng cường lợi nhuận Nguồn vốn vay chỉ là nguồn vốn hỗ trợ

cuối cùng cho hoạt động ngân hàng

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của ngân hàng thương mại

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại chịu sự tác động của

nhiều nhân tố, bao gồm hai nhóm nhân tố chính sau:

2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về ngân hàng

2.3.1.1 Lãi suất

Lãi suất ngân hàng là một phạm trù kinh tế có tính hai mặt: nếu xác định lãi

suất hợp lý sẽ là đòn bNy quan trọng thúc đNy sự phát triển của ngân hàng cũng như

của xã hội vì thông qua đó thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, làm tăng

nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại và tạo điều kiện thuận lợi cho các

tổ chức kinh tế vay vốn sản xuất kinh doanh Ngược lại, việc xác định lãi suất

không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể dẫn đến

rủi ro

Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chính sách lãi suất hợp lý là yếu tố quyết

định trong việc duy trì và mở rộng tiền gửi khách hàng Khách hàng gửi tiền bên

cạnh mục đích đảm bảo an toàn, thanh toán còn có mục đích lợi nhuận và luôn

Trang 13

mong muốn một mức lãi suất huy động hợp lý Xây dựng mức lãi suất phải tuân thủ

nguyên tắc:

- Lãi suất tiền gửi thực dương (lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát)

- Tỷ lệ lạm phát < lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay

Ngoài ra, ngân hàng cũng phải chú ý đến phí giao dịch, nếu phí này quá cao có

thể ảnh hưởng đến việc huy động nguồn vốn tiền gửi thanh toán, được xem là

nguồn vốn tiềm năng vì chi phí huy động rẻ

Việc xác định mức lãi suất và phí phù hợp sẽ giúp ngân hàng tăng khả năng

cạnh tranh trong việc huy động vốn

2.3.1.2 Sự hoàn thiện của hoạt động dịch vụ ngân hàng

Ngày nay khách hàng đến với ngân hàng không chỉ bởi sự hấp dẫn của lãi suất

mà họ luôn mong muốn các thủ tục giải quyết nhanh, hồ sơ giấy tờ đơn giản, phí

rẻ…Để thu hút khách hàng, ngân hàng cần phải xây dựng phong cách kinh doanh

thông qua việc thực hiện tốt nhất các dịch vụ tiện ích cho khách hàng

Những sản phNm của ngân hàng thường tương tự như nhau và không có chênh

lệch quá lớn về giá cả Vì vậy để thu hút khách hàng đến với mình, ngân hàng phải

nâng cao những tiện ích phụ cho sản phNm, điều này phụ thuộc chiến lược cải tiến

sản phNm nhằm đa dạng hoá chất lượng phục vụ khách hàng

2.3.1.3 Uy tín ngân hàng và đội ngũ nhân sự

Việc xác lập niềm tin cho công chúng là tiền đề cho hoạt động kinh doanh của

ngân hàng, nhất là trong vấn đề huy động vốn Một ngân hàng kinh doanh lâu đời,

hoạt động có hiệu quả sẽ tạo được hình ảnh đẹp trong mắt khách hàng, tạo niềm tin

để khách hàng đến gửi tiền Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải có cơ sở vật chất bề

thế, khang trang với trang thiết bị hiện đại cũng sẽ tạo được ấn tượng tốt và sự an

tâm nơi khách hàng, cũng góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng

Nhưng nhân tố quan trọng có thể đem lại thành công cho hoạt động kinh

doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng chính là đội

ngũ nhân viên của ngân hàng Họ là những người trực tiếp tiếp xúc và cung cấp sản

phNm của ngân hàng cho khách hàng Nhân viên khéo léo, nhiệt tình và niềm nở

trong giao tiếp sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thoải mái, được phục vụ chu đáo,

họ sẽ đến với ngân hàng nhiều hơn Ngoài ra, một đội ngũ nhân viên giỏi về chuyên

môn nghiệp vụ cũng sẽ tạo cho khách hàng sự tin tưởng, đồng thời cũng giúp ngân

hàng giảm rủi ro trong kinh doanh

2.3.1.4 Mạng lưới ngân hàng

Ngân hàng cần phải xây dựng địa điểm giao dịch ở những nơi thuận tiện cho

việc giao dịch của khách hàng như dễ dàng cho việc đi lại, gần trung tâm mua sắm,

gần khu công nghiệp…Địa điểm giao dịch nằm trong khu vực kinh doanh trọng yếu

sẽ góp phần làm tăng doanh số hoạt động và thu hút thêm nhiều khách hàng cho

ngân hàng

2.3.2 Nhóm nhân tố bên ngoài

Trang 14

2.3.2.1 Cạnh tranh giữa các ngân hàng và các định chế tài chính khác

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất yếu Đây cũng là yếu tố ảnh

hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngày nay các ngân

hàng đưa ra nhiều cách thức tiếp thị tinh vi và quyết liệt nhằm thu hút khách hàng

đến gửi tiền tại ngân hàng mình

Hơn nữa, không chỉ có ngân hàng mới được huy động vốn mà còn có sự tham

gia của công ty bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm bưu điện, chứng khoán Tốc độ tăng

trưởng nhanh của các định chế trên đã tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với ngân hàng

trong việc thu hút nguồn tiền nhàn rỗi của cá nhân, doanh nghiệp

2.3.2.2 Thu nhập và thói quen sử dụng tiền mặt của dân chúng

Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của

ngân hàng Người dân chỉ gửi tiền vào ngân hàng khi họ có thu nhập dư thừa chưa

dùng đến Muốn có thu nhập thì người dân phải có công ăn việc làm ổn định Việc

tạo công ăn việc làm cho người dân là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc

gia vì điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự ổn định của

xã hội

Thói quen sử dụng tiền mặt của dân chúng cũng là thách thức lớn trong việc

huy động tiền gửi của ngân hàng Người dân ngày càng có nhiều sự chủ động và

linh hoạt lựa chọn các kênh khác nhau để đầu tư vốn của mình, không chỉ tập trung

vào ngân hàng thương mại Các kênh đầu tư đang được người dân lựa chọn bao

gồm:

 Mua bảo hiểm nhân thọ: số lượng người mua bảo hiểm ngày càng tăng nhanh

 Mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá: hiện nay Việt Nam có hàng

ngàn doanh nghiệp đã và sẽ cổ phần hóa, thu hút hàng nghìn tỷ đồng của người dân

mua cổ phần Thời gian tới, chính phủ đNy mạnh chương trình cổ phần hoá nên một

khối lượng vốn nhàn rỗi của người dân tiếp tục vào đây

 Đầu tư chứng khoán: hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam càng

ngày càng phát triển, thu hút không ít các nhà đầu tư tham gia Hiện nay còn có

nhiều người dân rút tiền tiết kiệm để đầu tư vào chứng khoán

 Đầu tư vốn cho người thân đi xuất khNu lao động

 Đầu tư vào bất động sản: mua nhà ở, đất đai

Như vậy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng chịu sự tác động của nhiều

nhân tố, đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực trong việc cải thiện sản phNm dịch vụ, phong

cách phục vụ khách hàng…mới có thể cạnh tranh với các ngân hàng và các định chế

tài chính khác trong việc thu hút khách hàng Đồng thời, đảm bảo cho ngân hàng có

một nguồn vốn ổn định để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh

Trang 15

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT Á (VAB)

2.1 Giới thiệu về ngân hàng Việt Á

2.1.1 Sơ lược về ngân hàng

2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Sau ngày thống nhất đất nước, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế

hoạch hóa, tập trung bao cấp, trong đó lĩnh vực tài chính - ngân hàng hoàn toàn do

Nhà nước nắm giữ Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, Đảng Cộng Sản Việt Nam

chủ trương đường lối nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế có

thể tham gia vào các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong đó bao gồm cả

lĩnh vực tài chính - ngân hàng

Trong bối cảnh đó, năm 1991 Công ty Vàng Bạc Đá Quý TPHCM-SJC là

sáng lập viên thành lập hai tổ chức tín dụng tại hai thành phố lớn là: Ngân Hàng

Thương Mại Cổ Phần Nông Thôn Đà Nẵng tại Thành phố Đà Nẵng và Công y Tài

Chính Cổ Phần Sài Gòn tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ ngày thành lập hai tổ chức

tài chính này đều hoạt động ổn định và có hiệu quả trong suốt 12 năm

Năm 2003, quy mô của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Nông Thôn Đà

Nẵng tại Thành phố Đà Nẵng và hình thức của Công ty Tài Chính Cổ Phần Sài Gòn

không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của mỗi đơn vị Mặt khác, để tăng

cường sức mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho mỗi đơn vị khi nền kinh tế

Việt Nam hội nhập với thị trường toàn cầu, được sự cho phép của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam, hai tổ chức trên đã hợp nhất thành Ngân Hàng Thương Mại Cổ

Phần Việt Á

Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Á có tên tiếng Anh là Vietnam Asia

Commercial Joint Stock Bank (viết tắt là VAB) được thành lập và hoạt động theo

giấy phép hoạt động số 12/NH-GP ngày 09/05/2003 do NHNN Việt Nam cấp và

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 4103001665 do sở Kế Hoạch và Đầu Tư

TPHCM cấp ngày 19/06/2003

Như vậy về mặt pháp lý VAB dù mới thành lập năm 2003 nhưng trên thực tế

đại đa số đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng đã có bề dày kinh nghiệm trong

lĩnh vực hoạt động tài chính- ngân hàng trên 12 năm

Nguồn vốn của ngân hàng tính đến ngày 31-12-2006

 Vốn điều lệ: 500.330.000.000 đồng ( Năm trăm tỷ ba trăm ba mươi triệu

Trang 16

2.1.1.2 Sơ đồ tổ chức của ngân hàng Việt Á

2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh

Tổng thu nhập VAB năm 2006 là 379 tỷ đồng, đạt 109% kế hoạch năm 2006

và tăng 79,4% so với năm 2005 Tổng chi phí là 308 tỷ đồng, đạt 113,5 % kế hoạch

2006 và tăng 82% so với năm 2005

 Tỷ lệ thu ngoài tín dụng trên tổng thu nhập là 27,5 % đạt 125 % kế hoạch

 Tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng thu nhập là 2,93 %, đạt 146 % kế hoạch

 Lợi nhuận trước thuế thực hiện là 71.403 triệu đồng, tăng 69,33 % so với

năm 2005

 Số vốn huy động không ngừng tăng lên qua các năm với tốc độ tăng trưởng

cao Cụ thể năm 2005 tăng 36,12 % so với năm 2004, năm 2006 tăng 68,23 % so

với năm 2005

2.1.3 Mục tiêu hoạt động của ngân hàng trong thời gian tới

 Duy trì hoạt động ổn định

 Phát triển vững chắc có hiệu quả trên nền tảng hoạt động đa dạng Tập trung

vào các nghiệp vụ chính của ngân hàng: huy động vốn, cho vay và đầu tư

 Tăng các dịch vụ tiện ích cho khách hàng

Trang 17

 Xác định đối tượng chính của ngân hàng Việt Á là các doanh nghiệp vừa và

nhỏ, các hộ gia đình trên địa bàn cả nước

2.1.4 Nội dung hoạt động:

Về hoạt động kinh doanh nội tệ:



 Huy động vốn:

Ngân hàng được phép huy động vốn dưới các hình thức sau:

 Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các

hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động

vốn của tố chức, cá nhân trong và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp

 Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu

thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình

thức khác theo quy định tại NHNN

 Cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức:

 Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ, đời sống

 Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ đời sống

 Có thể chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu

quả và có khả năng hoàn trả nợ để cho vay

 Được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo

lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả

năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh theo quy định của NHNN

 Thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân

hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài

 Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ

Trang 18

 Mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở giao dịch hoặc chi nhánh

Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố) nơi Ngân hàng đặt trụ sở chính và duy trì tại

đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định; mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng

khác trong nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

 Mở tài khoản cho khách hàng trong nước và ngoài nước

 Cung ứng các phương tiện thanh toán

 Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng

 Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

 Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN

 Thực hịên dịch vụ thanh toán quốc tế

 Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

 Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên

ngân hàng trong nước



 Các hoạt động khác:

 Dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp

và của các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Mức góp

vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại trong một doanh nghiệp, tổng mức

góp vốn, mua cổ phần tối của ngân hàng thương mại trong tất cả các doanh nghiệp

không được vượt quá mức tối đa theo quy định của NHNN

 Được góp vốn với các tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín

dụng liên doanh tại Việt Nam thực hiện theo quy định của Chính phủ về tổ chức và

hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam

 Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN

 Trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân,

hạch toán độc lập bằng vốn tự có để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường

trong nước và thị trường quốc tế

 Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan

đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân

trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý

 Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên

doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

 Cung ứng các dịch vụ: Tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình

thức trực tiếp tư vấn cho khách hàng hoặc thành lập công ty trực thuộc theo quy

định của pháp luật; bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và

các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật

 Trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để thực hiện kinh

doanh khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật

Về hoạt động kinh doanh ngoại hối:

Trang 19

Thực hiện mua, bán các loại ngoại tệ ở thị trường trong nước; Cho vay các tổ

chức trong nước và nước ngoài bằng ngoại tệ; Vay vốn bằng ngoại tệ của các tổ

chức trong nước và nước ngoài; Thực hiện việc thu hút và chi trả kiều hối; mở và sử

dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài

Kinh doanh vàng

Thu đổi và đặt các bàn thu đổi ngoại tệ: nhận tiền gửi và tiết kiệm bằng ngoại

tệ của khách hàng Thực hiện các dịch vụ thanh toán ngân quỹ bằng ngoại tệ như:

mở tài khoản trong nước bằng ngoại tệ, thanh toán trong nước bằng ngoại tệ, thực

hiện các dịch vụ thu phát ngoại tệ tiền mặt cho khách hàng Tiếp nhận vốn ủy thác

đầu tư bằng ngoại tệ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài Bảo lãnh cho các khoản

vay trong nước và nước ngoài bằng ngoại tệ Phát hành hoặc làm đại lý phát hành

các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và

các giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ Cung ứng các dịch vụ tư vấn cho khách hàng

về ngoại hối

Trong bối cảnh rất nhiều ngân hàng hoạt động và cạnh tranh gay gắt trên thị

trường như hiện nay mà VAB mới đi vào hoạt động gần 4 năm nên thương hiệu

VAB còn khá mới mẻ với khách hàng Tuy nhiên với phương châm hoạt động: “ Sự

thịnh vượng của khách hàng là thành đạt của Ngân hàng Việt Á”, VAB đã nổ

lực tối ưu hóa các dịch vụ ngân hàng và không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành trên cả nước Hiện nay VAB

có 9 chi nhánh, 15 phòng giao dịch ở tại các địa phương là các trung tâm kinh tế lớn

của đất nước (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Cần Thơ) Cùng

với việc hoàn thiện các dịch vụ như: E-banking, Phone-Bankinh, thẻ ATM,…

2.2 Thực trạng huy động vốn tại Việt Á

2.2.1 Huy động vốn thường xuyên

Đế có thể đánh giá hiệu quả huy động vốn của VAB giai đoạn từ 2004-2006,

khoá luận sẽ phân tích quy mô và cơ cấu tiền gửi

2.2.1.1 Quy mô tiền gửi

Quy mô nguồn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng cho thấy khả năng

hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy trong những năm qua, ngân hàng Việt

Á đã nỗ lực trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội để đáp ứng nhu cầu

đầu tư, phát triển kinh tế Trong đó, nguồn vốn tiền gửi chiếm vị trí quan trọng,

quyết định, tập trung sự quan tâm lớn nhất của ban lãnh đạo ngân hàng Việt Á

Dù mới thành lập từ năm 2003, nhưng kết quả huy động vốn của ngân hàng

Việt Á rất khả quan

Trang 20

KẾT QUẢ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TỪ TCKT VÀ DÂN CƯ CỦA VAB TỪ

Tổng nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư liên tục tăng trưởng

qua các năm với tỷ lệ năm sau cao hơn với năm trước Điều này chứng tỏ hoạt động

huy động vốn của ngân hàng ngày càng hiệu quả, thị phần và sức cạnh tranh của

ngân hàng trên thị trường ngày càng mở rộng

Bảng 2.1: HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG

Đơn vị tính: Tỷ đồng

So sánh năm 2005/2004 So sánh năm 2006/2005 Ngân hàng 2004 2005 2006 Số

tiền Tốc độ tăng trưởng (%) tiền Số Tốc độ tăng trưởng (%)

Trang 21

Từ bảng số liệu trên ta thấy, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại VAB

khá nhanh nhưng nếu so sánh về số dư tiền gửi huy động với các ngân hàng khác thì

vẫn còn thấp Nguyên nhân là do ngân hàng Việt Á chỉ mới thành lập, thương hiệu

của ngân hàng chưa được đông đảo người dân biết đến, mạng lưới chi nhánh, phòng

giao dịch còn ít; công tác marketing của ngân hàng cũng chưa mạnh nên chưa tạo

được tiếng tăm trên thị trường

2.2.1.2 Cơ cấu tiền gửi

Cơ cấu tiền gửi được phân theo ba tiêu chí là hình thái tiền tệ, thành phần

kinh tế và kỳ hạn gửi tiền

Cơ cấu tiền gửi theo hình thái tiền tệ

Bảng 2.2: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO HÌNH

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tăng trưởng (%)

Số tiền

Tăng trưởng (%)

Số dư tiền gửi huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư tăng nhanh qua các năm

Năm 2004, số dư là 1459 tỷ đồng Trong đó:

Trang 22

• Huy động bằng VND là 1007 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 69 % tổng vốn huy

• Huy động bằng VND là 1271 tỷ đồng, tăng 264 tỷ, tốc độ tăng là 26.3 % so

với năm 2004 Chiếm tỷ trọng 64 % trong tổng vốn huy động

• Huy động bằng ngoại tệ tương đương 68 tỷ đồng, giảm 26 tỷ so với năm

2004 Chiếm tỷ trọng 3,4 % trong tổng vốn huy động

• Huy động bằng vàng là một trong những thế mạnh của ngân hàng Việt Á

Huy động vàng năm 2005 là 647 tỷ đồng, tăng 289 tỷ và tốc độ tăng là 80.4 %

so với năm 2004 Chiếm tỷ trọng 32.6 % tổng vốn huy động

Năm 2006, số dư là 3341 tỷ đồng, tăng 1355 tỷ và tốc độ tăng là 68.2 % so

với năm 2005 Trong đó:

• Huy động bằng VND là 1938 tỷ đồng, tăng 667 tỷ và tốc độ tăng là 52.5 %

so với năm 2005 Chiếm tỷ trọng 58 % tổng vốn huy động

• Huy động bằng ngoại tệ tương đương 134 tỷ đồng, tăng 66 tỷ và tốc độ tăng

là 97.9 % so với năm 2005 Chiếm tỷ trọng 4 % trong tổng vốn huy động

• Huy động vàng năm 2006 là 1270 tỷ đồng, tăng 622 tỷ và tốc độ tăng là 96.1

% so với năm 2005 Chiếm tỷ trọng 38 % tổng vốn huy động

Nhìn chung hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng Việt Á qua

các năm tăng trưởng khá, trong đó chủ yếu là huy động bằng Việt Nam đồng và

vàng Đặc biệt, huy động vàng có tỷ lệ tăng trưởng rất nhanh, đây cũng là thế mạnh

của ngân hàng Việt Á

Tuy nhiên giá vàng trong năm 2007 có nhiều biến động, vì vậy ngân hàng

cần tăng thêm những tiện ích cho sản phNm tiết kiệm huy động vàng để thu hút

khách hàng như áp dụng mức lãi suất cao đối với khách hàng có số dư lớn và gửi

trong thời gian dài, khuyến mãi tặng quà, mở các chương trình dự thưởng…có như

vậy, huy động vốn bằng vàng mới tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới

Huy động bằng ngoại tệ có sự tăng trưởng mạnh trong năm 2006 là do lãi

suất huy động vốn bằng ngoại tệ tăng

Nguyên nhân chủ yếu khiến cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng

trong thời gian qua tăng trưởng nhanh là do nền kinh tế tăng trưởng cao, thu nhập

người dân được cải thiện, hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiệu quả và uy tín

của ngân hàng trong thời gian qua được nâng cao Hơn thế nữa, mạng lưới ngân

hàng phát triển, dịch vụ ngân hàng đa dạng và tiện ích, mức bảo hiểm tiền gửi tăng

nên đông đảo người dân tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng

Trang 23

Cơ cấu tiền gửi theo thành phần kinh tế

Bảng 2.3: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO THÀNH

Tiền gửi tiết kiệm

của dân cư 941 1350 2301 409 43.5 951 70.44

Tiền gửi của TCKT 208 211 228 3 1.4 17 8.06

Tiền gửi của các

TCTD khác 310 425 812 115 37.1 387 91.1

Nguồn: Ngân hàng Việt Á Qua bảng số liệu trên ta thấy:

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2004

là 941 tỷ, năm 2005 là 1350 tỷ, tăng 43,5 % so với năm 2004; năm 2006 là 2301 tỷ,

tăng 70,44 % so với năm 2005

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác có tốc độ tăng trưởng nhanh Số dư

tiền gửi năm 2004 là 310 tỷ Năm 2005 là 425 tỷ, tăng 37,1 % so với năm 2004

Năm 2006 là 812 tỷ, tăng 91,1 % so với năm 2005

Ngược lại với hai loại tiền gửi trên, tiền gửi của các tổ chức kinh tế có tốc độ

tăng chậm Năm 2005 tăng 1,4 %, tương đương 3 tỷ đồng so với năm 2004 Năm

2006 tăng 8,06 %, tương đương 17 tỷ đồng so với năm 2005 So với các loại tiền

gửi khác, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn

vốn huy động của ngân hàng Tiền gửi của các tổ chức kinh tế chủ yếu là tiền gửi

thanh toán Sự tăng trưởng của loại tiền gửi này trong thời gian qua chứng tỏ dịch

vụ thanh toán của ngân hàng đang ngày một tốt lên, đáp ứng được nhu cầu thanh

toán của khách hàng

Vì nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư, tiền gửi của các tổ chức

tín dụng khác tăng nhanh qua các năm nên tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng

Việt Á cũng tăng Tổng nguồn vốn huy động năm 2004 là 1459 tỷ; năm 2005 là

1986 tỷ, tăng 527 tỷ và tốc độ tăng là 36,1 % so với năm 2004; năm 2006 là 3341

tỷ, tăng 1355 tỷ và tốc độ tăng là 68,2 % so với năm 2005

Trang 24

Số dư tiền gửi huy động gia tăng đều đặn qua các năm, chứng tỏ thị phần

hoạt động của ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín của ngân hàng được nâng cao

nên ngân hàng không chỉ thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và dân

cư mà còn của các tổ chức tín dụng khác Điều này chứng tỏ khả năng huy động của

ngân hàng Việt Á còn có thể tiếp tục được mở rộng

Cơ cấu tiền gửi phân theo kỳ hạn:

Bảng 2.4: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO KỲ HẠN

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tăng trưởng (%)

Số tiền

Tăng trưởng (%)

Tiền gửi không kỳ hạn năm 2004 đạt 45 tỷ, chiếm 3,1% tổng tiền gửi Năm

2005 đạt 68 tỷ đồng, tăng 51.1% (23 tỷ) so với năm 2004, chiếm 3,4 % tổng tiền

gửi Năm 2006 đạt 150 tỷ đồng, tăng 120.6 % (82 tỷ) so với năm 2005, và chiếm

4,5 % tổng nguồn tiền gửi

Như vậy tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng đã có sự tăng trưởng rất tốt

Điều này đồng thời cũng cho thấy, ngân hàng Việt Á đã ngày càng hoàn thiện chất

lượng dịch vụ, ngày càng tạo được niềm tin để khách hàng sử dụng các dịch vụ

thanh toán qua ngân hàng

Tiền gửi ngắn hạn năm 2004 đạt 846 tỷ đồng, chiếm 58% tổng nguồn vốn

ngân hàng huy động được Năm 2005 là 1237 tỷ đồng, tăng 46,2% (tăng 391 tỷ

đồng) so với năm 2004, chiếm 62,3 % tổng tiền gửi Năm 2006 là 2272 tỷ đồng,

tăng 83,7% (1035 tỷ đồng) so với năm 2005, chiếm 68 % trong tổng tiền gửi

Trang 25

Tiền gửi trung và dài hạn năm 2004 là 568 tỷ đồng, chiếm 38,9 % tổng tiền

gửi ngân hàng huy động được Năm 2005 là 681 tỷ đồng, tăng 19,9 % (113 tỷ đồng)

so với năm 2004, chiếm 34,3% tổng tiền gửi Năm 2006, tiền gửi trung và dài hạn

tiếp tục tăng trưởng khá, chiếm 27,5 % tổng tiền gửi (919 tỷ đồng); so với năm

2004 thì tiền gửi trung và dài hạn tăng 34,9 % (238 tỷ đồng)

Như vậy, trong tổng tiền gửi ngân hàng huy động được, tiền gửi ngắn hạn là

chủ yếu; tiền gửi trung và dài hạn tăng trưởng qua các năm nhưng tỷ trọng trong

năm 2006 là 27,5 %, giảm gần 20 % so với năm 2005 Tiền gửi không kỳ hạn chiếm

tỷ trọng thấp nhưng có tốc độ tăng trưởng khá, năm 2006 tăng 122,2 % so với năm

2005 Sự thay đổi về cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi

trung dài hạn do một số nguyên nhân sau:

• Giá vàng và USD tăng nhanh nên khách hàng không muốn gửi tiền mà

chuyển hướng đầu tư sang vàng và USD

• Thị trường chứng khoán Việt Nam biến động nhanh chóng, mang lại nhiều

lợi nhuận nên đã thu hút một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng vào thị

trường này Theo khảo sát của các trung tâm nghiên cứu về tài chính của Thành phố

Hồ Chí Minh cho thấy việc sử dụng nguồn vốn của người dân thành phố đã có sự

thay đổi, cụ thể như chỉ có 5,3 % nguồn vốn nhàn rỗi được gửi vào các ngân hàng,

ngược lại có đến 46,6 % nguồn vốn nhàn rỗi được đầu tư vào thị trường chứng

khoán, kế đến là 21,9% nguồn vốn đầu tư vào thị trường bất động sản

Có được kết quả huy động vốn khả quan như vậy cũng do lãi suất huy động

của ngân hàng Việt Á cao hơn so với một số ngân hàng thương mại cổ phần khác

Vì như chúng ta đã biết, lãi suất là một phương tiện cạnh tranh quan trọng giữa các

ngân hàng với nhau trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới cũng như duy trì số

dư hiện có Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay các khách hàng có nhiều ngân hàng

để lựa chọn cho việc gửi tiền của mình Do vậy, chỉ cần một sự khác biệt nhỏ về lãi

suất giữa các ngân hàng cũng sẽ tác động lớn đến quyết định sẽ gửi tiền vào ngân

hàng nào của khách hàng

Sau đây là bảng so sánh lãi suất giữa ngân hàng Việt Á với một số ngân hàng

thương mại cổ phần khác

Trang 26

Bảng 2.5: LÃI SUẤT TIỀN GỬI BẰNG VND CỦA VAB VÀ MỘT SỐ NGÂN

HÀNG NĂM 2007

Đơn vị tính: %/ tháng Phương thức trả lãi: trả lãi cuối kỳ

Trong tổng chi phí huy động vốn thì chi phí trả lãi chiếm tỷ trọng lớn nhất và

ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Bảng 2.6: KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHI PHÍ LÃI TIỀN GỬI TỪ

Trang 27

Trong năm 2004 để huy động được 100 đồng tiền gửi ngân hàng phải mất

Như vậy, để huy động được 100 đồng, chi phí trả lãi tiền gửi tăng từ 4.6

đồng năm 2004 lên 6.1 đồng năm 2005 và giảm còn 5.6 đồng năm 2006

Chi phí huy động vốn tăng do trong thời gian qua ngân hàng đã có sự điều

chỉnh tăng lãi suất huy động vốn Ngoài ra do mới thành lập nên ngân hàng Việt Á

chưa được nhiều khách hàng biết đến; để thu hút khách hàng đến gửi tiền, ngân

hàng phải chịu các chi phí khác liên quan đến huy động vốn như quảng cáo, khuyến

mãi, mở các chương trình dự thưởng…

2.2.2 Huy động vốn không thường xuyên

Do từ năm 2004-2006 ngân hàng Việt Á không có hoạt động huy động vốn

không thường xuyên nên khoá luận sẽ không đề cập đến

2.2.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc huy động vốn tại VAB

2.2.3.1 Thành tựu

Tình hình kinh tế xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước trong thời

gian qua tăng trưởng tốt đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các ngân

hàng Chỉ số giá tiêu dùng năm 2006 tăng 6,6 % so với đầu năm Tốc độ tăng

trưởng GDP là 8,17 % so với năm trước Lãi suất ngân hàng cao hơn so với tỷ lệ

lạm phát đã dẫn đến nguồn huy động vốn của ngân hàng ngày càng tăng trưởng Lãi

suất huy động và cho vay tại các ngân hàng thương mại tăng nhẹ, tỷ giá USD tương

đối ổn định, giá vàng biến động phức tạp

Trong bối cảnh trên, ngân hàng Việt Á đã đạt được những thành tựu trong

việc huy động vốn

Tổng nguồn vốn hoạt động đến 31/12/2006 đạt 4181 tỷ đồng, tăng 74,5% so

với đầu năm, trong đó tăng chủ yếu ở nguồn vốn huy động tiền gửi từ các tổ chức

kinh tế, dân cư và vốn điều lệ Nguồn vốn tăng trưởng đã tạo thêm năng lực cho

hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống ngân hàng Việt Á

Những kết quả đạt được trong việc huy động vốn tính đến ngày 31/12/2006

như sau:

Trang 28

Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư:

Tổng doanh số huy động năm 2006 đạt 13278 tỷ đồng, tăng 86%, tổng doanh

số chi trả đạt 12315 tỷ đồng, tăng 83 % so với năm trước

Nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư đạt 2529 tỷ đồng, tăng 968

tỷ đồng, tốc độ tăng 62 % so với đầu năm, đạt 98 % kế hoạch năm 2006

Phân theo hình thái tiền tệ, số dư huy động bằng VND tăng 465 tỷ đồng,

bằng vàng tăng 454 tỷ đồng, bằng ngoại tệ tăng 44 tỷ đồng so với đầu năm

Về cơ cấu, số dư tiền gửi không kỳ hạn tăng 82,5 % so với đầu năm, chiếm

tỷ trọng 4,5 %, tiền gửi có kỳ hạn tăng 61 % so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 95,5 %

trong tổng vốn huy động, đã tạo sự ổn định trong nguồn vốn hoạt động của VAB

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác:

Số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác là 812 tỷ đồng, tăng 387 tỷ

đồng Đây là nguồn vốn bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Việt Á

Để đạt được những thành tựu về huy động vốn như trên, trong thời gian qua,

ngân hàng Việt Á đã có nhiều biện pháp để thu hút nguồn vốn tiền gửi như:

Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt

Vài năm trở lại đây, dưới tác động của những thay đổi trong nền kinh tế và

cuộc cạnh tranh huy động vốn giữa các định chế tài chính, lãi suất tiền gửi không

ngừng gia tăng Cũng như các ngân hàng thương mại khác, ngân hàng Việt Á luôn

bám sát diễn biến thị trường nhằm đưa ra mức lãi suất phù hợp, có thể cạnh tranh

với các ngân hàng khác để thu hút lượng tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế

Chú trọng đầu tư phát triển công nghệ

Trong cuộc đua thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, các ngân hàng

không chỉ dựa vào lãi suất mà còn cạnh tranh về chất lượng dịch vụ Để có thể phục

vụ khách hàng một cách tốt nhất, ngân hàng luôn chú trọng đầu tư phát triển công

nghệ hiện đại Đây cũng là mối quan tâm hàng đầu của ban lãnh đạo ngân hàng

Hiện nay, ngân hàng Việt Á đã chuyển từ chương trình Foxpro sang chương trình

Smartbank có nhiều tiện lợi và nhanh chóng hơn trong công tác xử lý nghiệp vụ,

trang bị hệ thống máy vi tính hiện đại cho các phòng ban…Việc đầu tư hiện đại hoá

công nghệ đã giúp cho giao dịch viên xử lý nghiệp vụ nhanh hơn, tốt hơn, khiến

khách hàng hài lòng hơn khi gửi tiền vào ngân hàng

Đa dạng hoá sản phNm tiền gửi, nâng cao chất lượng phục vụ

Thời gian qua ngân hàng đã đưa ra nhiều sản phNm tiền gửi tiết kiệm như tiết

kiệm tích góp, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng chào xuân Đinh Hợi…với

thời gian gửi đa dạng và lãi suất hấp dẫn, phục vụ cho nhiều đối tượng khách

hàng…Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút tiền gửi của ngân hàng

Đồng thời với việc đa dạng hoá sản phNm tiền gửi, ngân hàng Việt Á cũng

không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Ngân hàng cũng tổ chức các

lớp tập huấn cán bộ công nhân viên về kỹ năng phục vụ chăm sóc khách hàng; khen

Ngày đăng: 13/04/2013, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Hình 2.1 Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi (Trang 20)
Bảng 2.1: HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG  Đơn vị tính: Tỷ đồng - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.1 HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG Đơn vị tính: Tỷ đồng (Trang 20)
Bảng 2.2: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO HÌNH - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.2 CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO HÌNH (Trang 21)
Bảng 2.3: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO THÀNH - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.3 CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO THÀNH (Trang 23)
Bảng 2.4: CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO KỲ HẠN  Đơn vị tính: tỷ đồng. - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.4 CƠ CẤU SỐ DƯ NGUỒN VỐN TIỀN GỬI PHÂN THEO KỲ HẠN Đơn vị tính: tỷ đồng (Trang 24)
Bảng  2.6:  KẾT  QUẢ  HUY  ĐỘNG  VỐN  VÀ  CHI  PHÍ  LÃI  TIỀN  GỬI  TỪ  2004-2006 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
ng 2.6: KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHI PHÍ LÃI TIỀN GỬI TỪ 2004-2006 (Trang 26)
Bảng 2.7:  DƯ NỢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG VIỆT Á TỪ 2004-2006  Đơn vị tính: Tỷ đồng. - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.7 DƯ NỢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG VIỆT Á TỪ 2004-2006 Đơn vị tính: Tỷ đồng (Trang 31)
Bảng 2.8: CƠ CẤU DƯ NỢ PHÂN THEO HÌNH THÁI TIỀN TỆ  Đơn vị tính: tỷ đồng - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.8 CƠ CẤU DƯ NỢ PHÂN THEO HÌNH THÁI TIỀN TỆ Đơn vị tính: tỷ đồng (Trang 32)
Bảng 2.9: CƠ CẤU TIỀN GỬI HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY  Đơn vị tính: tỷ đồng - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.9 CƠ CẤU TIỀN GỬI HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY Đơn vị tính: tỷ đồng (Trang 33)
Bảng 2.10:  DOANH THU TỪ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TỪ NĂM 2004-2006  Đơn vị tính: tỷ đồng. - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
Bảng 2.10 DOANH THU TỪ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TỪ NĂM 2004-2006 Đơn vị tính: tỷ đồng (Trang 36)
Bảng  2.11:  KẾT  QUẢ  HUY  ĐỘNG  VỐN,  THU  NHẬP  CHO  VAY  VÀ  CHI  PHÍ LÃI TIỀN GỬI TỪ 2004-2006 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NH TMCP VIỆT Á
ng 2.11: KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VỐN, THU NHẬP CHO VAY VÀ CHI PHÍ LÃI TIỀN GỬI TỪ 2004-2006 (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w