giải pháp cho các doanh nghiệp việt nam trước nguy cơ bị thôn tính từ hoạt động mua lại và sát nhập (ma) có yếu tố nước ngoài
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP 4
1.1 KHÁI NIỆM VỀ M&A VÀ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN: 4
1.1.1 Khái niệm M&A: 4
1.1.1.1 Acquisition –Mua lại 7
1.1.1.2 Merger-hợp nhất, sáp nhập 7
1.1.2 Phân biệt giữa sáp nhập và mua lại 8
1.2 CÁC LOẠI HÌNH SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI: 10
1.3 LỢI ÍCH VÀ RỦI RO CỦA HOẠT ĐỘNG M&A ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ 12
1.3.1 Lợi ích và rủi ro của hoạt động M&A đối với sự phát triển của doanh nghiệp 12
1.3.1.1 Lợi ích của hoạt động M&A đối với doanh nghiệp 12
1.3.1.2 Rủi ro trong hoạt động M&A đối với doanh nghiệp 17
1.3.2 Lợi ích và rủi ro của hoạt động M&A đối với sự phát triển của nền kinh tế 18
1.3.2.1 Lợi ích của hoạt động M&A đối với nền kinh tế 18
1.3.2.2 Rủi ro của hoạt động M&A đối với nền kinh tế 19
1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG M&A CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 20
Cơ sở pháp lý: 20
1.5 CÁC CHIẾN LƯỢC THÂU TÓM THÙ ĐỊCH PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI 22
1.5.1 Dấu hiệu khi trở thành mục tiêu thâu tóm 22
1.5.2 Các chiến lược thâu tóm doanh nghiệp 23
1.5.2.1 Chiến lược “cổ phiếu bước đệm” (Toeholds): 23
1.5.2.2 Chiến lược “Cái ôm của gấu” (Bear hugs) 24
1.5.2.3 Chiến lược “lời đề nghị nhã nhặn” (The tender offer) 25
1.5.2.4 Chiến lược “xung đột nội bộ” (The proxy fight) 26
1.5.2.5 Nghiệp vụ LBOS (leveraged buyout) 26
1.5.2 CÁC CHIẾN LƯỢC PHÒNG THỦ TRƯỚC KHI BỊ THÂU TÓM 27
1.5.2.1 Chiến lược “ viên thuốc độc” ( Poison-pill) 27
1.5.2.1.1 “Flip-over” 28
2.3.1.2 “Flip-in” 29
1.5.2.1.2 Cổ phiếu ưu đãi. 29
1.5.2.1.3 Back end. 29
1.5.2.1.4 Poison-puts. 29
Trang 21.5.2.2 Thỏa thuận với cổ đông lớn. 31
1.5.2.3 Phát hành cổ phiếu cho bên điều hành và nhân viên 31
1.5.2.4 Ban quản trị so le (Staggered broad of director) 32
1.5.2.5 Chiến thuật “Chiếc dù vàng” (Golden Parachute): 32
1.5.3 CÁC CHIẾN LƯỢC CHỐNG LẠI ÂM MƯU THÂU TÓM THÙ ĐỊCH 34
1.5.3.1 Chiếc vương miện châu báu (Crown Jewel) 34
1.5.3.2 Hiệp sĩ áo trắng (White Knight) 34
1.5.3.3 Mua lại cổ phiếu quỹ (Treasury stock): 35
1.5.3.4 Nghiệp vụ MBO( Management Boyout) 36
1.5.3.5 Chiến lược phản công (Pac-man) 36
1.5.3.5 Khiếu kiện 37
1.5.3.6 Chiến lược hủy diệt toàn bộ -Jonestown Defense: 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 38
2.1 BỨC TRANH TOÀN CẦU VỀ HOẠT ĐỘNG M&A TRÊN THẾ GIỚI 38
2.2 BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ THỊ TRƯỜNG M&A TẠI VIỆT NAM 40
2.2.1 Đánh giá chung về thị trường M&A Việt Nam 40
2.2.2 Xu hướng thị trường 43
2.2.3 Bản chất các thương vụ sáp nhập và mua lại tại Việt Nam 47
2.3 PHÂN TÍCH CÁC TRƯỜNG HỢP THÂU TÓM THÙ ĐỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 48
2.3.1 Thâu tóm thành công 48
2.3.2 Thâu tóm thất bại 49
2.3.2 Thực trạng: Thương vụ Bibica- Lotte 53
2.4 NGUYÊN NHÂN KHIẾN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM DỄ DÀNG BỊ THÂU TÓM 59
2.4.1 Năng lực cạnh tranh yếu: 59
2.4.2 Mất kiếm soát cổ đông 62
2.4.3 Kế hoạch thâu tóm bài bản của doanh nghiệp nước ngoài: 62
2.4.5 Thiếu sự hỗ trợ từ cách chính sách bảo vệ các ngành sản xuất trong nước Luật chống độc quyền quy định lỏng lẻo 63
2.4.7 Thu hút vốn đầu tư quá đại trà, mất cân đối trong thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước 64
Trang 3CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CHỐNG LẠI NGUY
CƠ THÂU TÓM TỪ HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
66
3.1 BÀI HỌC TỪ MỘT SỐ THƯƠNG VỤ THÂU TÓM ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI 66
3.1.1 Volkswagen thâu tóm toàn bộ Hãng Porsche 66
3.1.2 Thương vụ Oracle và Peoplesoft 69
3.1.3 Mitital Steel thâu tóm Arcelor 73
3.1 GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CHỐNG LẠI NGUY CƠ THÂY TÓM TỪ HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
79
3.2.1 Giải pháp từ phía cơ quan Nhà nước 79
3.2.1.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý để tạo dựng môi trường hoạt động M&A lành mạnh từ phía nhà nước 79
3.2.1.2 Giám sát hoạt động thâu tóm thông qua thị trường chứng khoán 82
3.2.1.3 Giám sát chống nguy cơ lũng đoạn thị trường 83
3.2.1.4 Quốc tế hoá các chuẩn mực kế toán 84
3.2.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp Việt Nam 84
3.2.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 84
3.2.2.2 Xây dựng chiến lược “phòng ngừa” thâu tóm thù địch 88
3.2.2.3 Xây dựng chiến lược phản công thâu tóm thù địch 92
3.2.2.4 Giải pháp doanh nghiệp tự bảo vệ mình bằng vũ khí kinh tế 95
3.2.2.5 Biện pháp chống lại các chiêu trò trong liên doanh 96
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta từng chứng kiến, đã có những thời điểm mua bán và sáp nhập doanhnghiệp trở thành câu cửa miệng của giới kinh doanh quốc tế, khi mà những thương
vụ đình đám diễn ra liên tiếp như một trào lưu để mở rộng hoạt động kinh doanh,thậm chí tìm kiếm thế độc quyền nhóm (oligopoly) Sự cạnh tranh giữa các doanhnghiệp không dừng lại ở sản phẩm và thị trường mà còn là khả năng bành trướng,thâu tóm hoặc sáp nhập với doanh nghiệp khác M&A đã diễn ra ở hầu hết cácngành quan trọng như dầu lửa với các thương vụ Exxon và Mobil( 1999), Conoco
và Phillips (2002), hàng không với Delta Airlines và Northwest Airlines (2008),công nghệ thông tin với AT&t và BellSouth (2006)
Tuy nhiên M&A không phải chỉ toàn màu hồng Cũng như một cuộc hôn nhân,chặng đường M&A gập ghềnh, khúc khuỷu và không ít những mâu thuẫn, xung độtdiễn ra Ví như câu chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu trong lịch sử, bên đối tácthường nhân danh 'tình cảm' hay 'sứ mệnh tốt đẹp', thực chất lại ngấm ngầm tìmcách thôn tính doanh nghiệp mục tiêu
Tại Việt Nam, sau giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, hoạt động M&A đãthay đổi và ngày càng chuyển biến phức tạp hơn Giữa bức tranh kinh tế ảm đạm,
khó khăn kéo dài, M&A ở Việt Nam vẫn đạt mức tăng kỷ lục từ 1 tỷ USD cách đây
6 năm lên khoảng 6,3 tỷ USD năm 2011, 4,8 tỷ USD vào năm 2012 và 4,1 tỷ USD
năm 2013 Mặc dù được mùa M&A, nhưng ở một góc khuất nào đó, ta có thể thấy
rằng sức khỏe doanh nghiệp Việt đang yếu đi, cũng là lúc rung lên hồi chuông cảnh
tỉnh nguy cơ bị thâu tóm ngày càng tăng Trong giai đoạn 2012-2013, nếu bề nổi
của thị trường chứng khoán được các nhà đầu tư nhắc đến như một năm “buồnlặng” kể từ khi khai sinh, thì trong lòng nó lại dậy lên những “cơn sóng ngầm” vớinhững cuộc thâu tóm sáp nhập (M&A) doanh nghiệp của khối ngoại mà hệ quả là
Trang 5nhiều thương hiệu Việt được vun đắp cả chục năm bỗng biến mất, nhiều thươnghiệu khác tạm thoát nạn, nhưng nỗi lo thâu tóm vẫn canh cánh bên lòng
Sau hơn hai thập niên mở cửa, nhiều doanh nghiệp Việt đã xây dựng được nhữngthương hiệu nổi tiếng trong nước như: Thorakao, Biti’s, Phở 24, X men, Diana,Trung Nguyên, Tribeco, Mỹ Hảo, P/S, Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, rấtnhiều trong số các thương hiệu này, bằng nhiều hình thức, đã thuộc quyền sở hữucủa các công ty nước ngoài Các chuyên gia cho rằng dù thương hiệu Việt bán cho
ai thì thương hiệu đó cũng không hề mất đi Tuy nhiên, trong sân chơi toàn cầu,
quan trọng là thương hiệu đó đến từ quốc gia nào Quả thật, sự ra đi của các thương hiệu lớn khiến nhiều người đặt câu hỏi: Thương hiệu Việt có khả năng tồn tại?.
Không đơn giản chỉ riêng việc đánh mất thương hiệu, vấn đề nguy hiểm hơn làcác một số ngành sản xuất và và hệ thống phân phối tiềm năng sẽ bị rơi vào tay cácđối tác nước ngoài Điều lo ngại lớn nhất là ngay cả những lĩnh vực sản xuất hànglương thực, thực phẩm, tiêu dùng cũng sẽ bị thống trị bởi các thế lực nước ngoài Khi đó, ngay cả việc muốn phát triển những lĩnh vực thuộc về thế mạnh như trồngtrọt, chăn nuôi… cũng sẽ rất khó khăn
Với mong muốn đem lại một cái nhìn toàn diện, đúng đắn về thực trạng về sự tồntại và phát triển của các doanh nghiệp Việt trước làn sóng thâu tóm và sáp nhậpM&A từ các doanh nghiệp nước ngoài cũng như đưa ra các nhận định, xu hướng
phát triển của hoạt động này, em đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp như sau:
Giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ bị thôn tính từ hoạt động mua lại và sáp nhập ( M&A) có yếu tố nước ngoài
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài tập trung làm rõ một số vấn đề như sau
Trang 6Thứ nhất, làm rõ các khái niệm học thuật liên quan đến vấn đề mua bán và sáp
nhập doanh nghiệp, phân loại các hình thức, nêu lên những lợi ích và bất lợi cũngnhư động cơ, phương thức thực hiện M&A
Thứ hai, nhận định xu hướng phát triển của hoạt động mua bán –sáp nhập trên
thế giới, nghiên cứu những thương vụ thâu tóm thành công và thất bại điển hình đểrút ra bài học Từ đó, ta thấy thị trường M&A luôn sôi động như bất kỳ một thịtrường hàng hóa nào khác, vấn đề là qua những thương vụ thành công hay thất bạicủa thế giới, thì đâu là lý do chính? Việt Nam sẽ học được gì từ những thành công
và thất bại đó
Thứ ba, đi sâu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng thị trường M&A của Việt
Nam thời gian qua để thấy rằng, với đặc điểm là một thị trường non trẻ, vẫn cònnhững tồn tại, hạn chế cần khắc phục Những thất bại, là điều không thể tránh khỏitrong quá trình phát triển của thị trường M&A Việt Nam Cùng với dự báo xuhướng phát triển trong tương lai của thị trường này tại Việt Nam để đề xuất một hệthống giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển củadoanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ bị thôn tính từ các đối tác nước ngoài
3 Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu thực trạng thị trường M&A tại Việt Nam thời gian qua.Qua đó chỉ rõ bản chất, đặc điểm cũng như những khó khăn, rủi ro và nguy cơ tiềm
ẩn của thị trường non trẻ Đưa ra hướng giải pháp cấp thiết từ phía cơ quan nhànước và bản thân doanh nghiệp
4 Phạm vi nghiên cứu:
Nhận thấy từ thực tiễn, sự ra đi đáng tiếc của những thương hiệu Việt trong thờigian qua Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp trong nước hầu như chưa có bất kỳmột biện pháp hay kế hoạch nào để phòng chống trước nguy cơ bị thôn tính Em hyvọng đây sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm tới vấn đề mua
Trang 7bán và sáp nhập doanh nghiệp cũng như về vấn đề sự tồn tại của các doanh nghiệpViệt Trong bài viết, em có sử dụng các kiến thức cơ bản về tài chính doanh nghiệp
và phân tích tài chính trong giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại như là tàiliệu tham khảo chủ yếu Bên cạnh đó là các sách báo và tạp chí của Việt Nam, củanước ngoài, cũng như Internet để khai thác các thông tin liên quan đến vấn đề nàycủa thế giới, cũng như của Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích -thống kê,phương pháp so sánh, phương pháp mô hình hóa - đồ thị, để rút ra những luận cứlogic nhất, từ đó luận giải đối tượng được nghiên cứu Bên cạnh đó, thu thập thôngtin thực tế từ các doanh nghiệp điển hình và tổng hợp, phân tích các thương vụM&A điển hình trên Thế giới Dựa trên các nguồn thông tin được công bố trên cácphương tiện thông tin đại chúng do các công ty tư vấn thực hiện giao dịch M&Acông bố, cũng như những thông tin thống kê thị trường và kết quả giao dịch của cácthương vụ M&A đã thực hiện trong thời gian qua, cùng với kênh công bố thông tin
từ thị trường chứng khoán, để phân tích, đánh giá thực trạng nhằm xác định nhữnghạn chế, những nguy cơ tiềm ẩn của thị trường M&A Việt Nam
6.Cấu trúc khóa luận:
Khóa luận được trình bày thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng và nguy cơ các doanh nghiệp bị thôn tính từ hoạt động
mua lại và sáp nhập (M&A) có yếu tố nước ngoài trên thị trường Việt Nam
Chương 3: Giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ bị thôn tính
từ hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) có yếu tố nước ngoài
Trang 8Mặc dù đã hết sức cố gắng song do hạn chế về kiến thức cũng như những khókhăn trong việc thu thập tài liệu, nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót.
Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để khóa luậnđược hoàn thiện hơn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trường Đại học Ngoại Thương nóichung và các thầy cô giáo khoa Quản trị kinh doanh nói riêng đã cung cấp nhữngkiến thức bổ ích cho em suốt bốn năm qua Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn Th.S
Lê Thu Hằng đã tận tình hướng dẫn, giúp em hoàn thành khóa luận này
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ
SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI NIỆM VỀ M&A VÀ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN:
1.1.1 Khái niệm M&A:
Theo định nghĩa của từ điển Investopedia về khái niệm M&A (Definition of
Mergers And Acquisitions-M&A): M&A là thuật ngữ chung để chỉ sự hợp nhất các công ty Sáp nhập là sự kết hợp hai công ty để thành lập một công ty mới, trong khi
đó mua lại là hành động một công ty mua lại một công ty khác nhưng sau đó không
có công ty mới nào được thành lập.
Tại Việt Nam khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại
Luật Doanh Nghiệp 2005 như sau:
Sáp nhập doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị
sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, nghĩa vụ, quyền lợi và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”
Hợp nhất doanh nghiệp: “Hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị
hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”
Khái niệm hai công ty cùng loại trong hai điều Luật trên được hiểu theo nghĩa là
các công ty cùng loại hình DN theo quy định của pháp luật Như vậy, điều kiện tiênquyết để có một vụ sáp nhập hay hợp nhất là hai DN phải cùng loại hình và có sựchấm dứt hoạt động của một hoặc cả hai bên tham gia
Theo đó, Luật Doanh Nghiệp không đề cập đến việc mua lại DN Trong khi Luật
Cạnh Tranh 2004 có nhắc tới việc mua lại DN: “Mua lại doanh nghiệp là việc
doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”
Trang 10Cũng theo Luật cạnh tranh tại Chương II, Mục 3, Điều 17 các khái niệm về sáp
nhập, hợp nhất được Luật định nghĩa như sau:
“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ
tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”
“Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ
tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”
“Hợp nhất được xem là một trường hợp đặc biệt so với sáp nhập”
Việc đầu tư góp vốn vào quá trình M&A cũng được Luật Đầu tư 2005 qui định:“ Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong các hình thức đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lí hoạt động đầu tư, mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp” Theo điều 91 Luật cạnh tranh Canada (bản sửa đổi bổ sung năm 2007):” sáp nhập được hiểu là việc mua lại hoặc thiết lập, trực tiếp hay gián tiếp bởi một hay nhiều người bằng cách mua hay thuê mua cổ phần hoặc tài sản, sự kiểm soát đối với toàn bộ hay một phần của hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người nào khác bằng cách kết hợp hay liên kết hoặc hình thức khác.”
Xem xét sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam và trên thế giới chúng ta
có thể rút ra khái niệm Merger và Acquisition (M&A) như sau:
1.1.1.1 Acquisition – Thâu tóm, mua lại
Mua lại được hiểu như một hành động tiếp quản bằng cách mua lại một công ty(gọi là công ty mục tiêu) bởi một công ty khác Trước đây, để thực hiện một thương
vụ mua lại các công ty thường hợp tác thương lượng với nhau, nhưng về sau hìnhthức này đã khác, và thương vụ mua lại có thể diễn ra khi bên bị mua không sẵn
Trang 11lòng bán lại hoặc là bên bị mua không biết gì về bên mua Một thương vụ mua lạithường đề cập đến một công ty nhỏ bị mua lại bởi một công ty lớn hơn, tuy nhiênđôi khi một công ty nhỏ hơn sẽ giành được quyền quản lý một công ty lớn hơn hoặc
là lâu đời hơn, sau đó đổi tên công ty mới thành công ty đi mua -hình thức này gọi
là tiếp quản ngược – reverse takeover
1.1.1.2 Merger-hợp nhất, sáp nhập
Merger -hợp nhất, sáp nhập là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một công
ty lớn hơn Những giao dịch loại này thường là tự nguyện và hình thức thanh toánchủ yếu thông qua hoán đổi cổ phiếu stock –swap (hoán đổi số lượng cổ phần củacông ty cũ sang số lượng cổ phần của công ty mới tương ứng với tỷ lệ phần trămgóp vốn của công ty vào công ty mới –tỷ lệ này xác định dựa trên sự thỏa thuận lúc
ký kết) hoặc là chi trả bằng tiền mặt Một thỏa thuận hợp nhất có thể giống với mộtthương vụ thâu tóm, tuy nhiên, kết quả là tạo ra tên công ty mới (thường là tên kếthợp giữa tên ban đầu của hai công ty) và một thương hiệu mới
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp việc một thỏa thuận, giao dịch gọi là một vụhợp nhất, sáp nhập – Merger hơn là một thương vụ hay là một vụ mua lại –Acquisition chỉ đơn thuần nhằm mục đích chính trị hoặc chiến lược marketing,những thương vụ sáp nhập, hợp nhất kiểu này thường liên quan đến hình thức thanhtoán bằng tiền mặt, ngược lại những thỏa thuận sáp nhập, hợp nhất thuần túy lại ápdụng phương pháp hoán đổi cổ phiếu khi đó các cổ đông của công ty có thể chia sẻrủi ro, quyền lợi trong công ty mới
Những tình huống không được coi là M&A
• Một DN mua cổ phần của một DN khác nhưng không tham gia hoạt động quản trị/điều hành, chỉ thuần túy nhận cổ tức hoặc kỳ vọng nhận thặng dư khi bán lại cổ phần cho nhà đầu tư khác;
• Một quỹ đầu tư chứng khoán mua cổ phiếu (niêm yết hoặc OTC) của DN đại chúng trên thị trường chứng khoán và cũng không tham gia quản trị/điều hành tại
DN đó.
Trang 12• Một quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital) khi đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các DN và cử đại diện phần vốn góp tại Hội đồng quản trị nhưng vai trò của các thành viên này chủ yếu chỉ mang tính tư vấn, hỗ trợ cho các DN này với kỳ vọng khi DN phát triển sẽ có thể thoái vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO) Trường hợp DN do quỹ đầu tư vào không thành công thì khoản đầu tư trên có thể mất theo đúng tính chất “mạo hiểm” của quỹ.
1.1.2 Phân biệt giữa sáp nhập và mua lại
Mặc dù có nhiều điểm tương đồng nhưng hai thuật ngữ Merger và Acquisition cónhững điểm khác nhau có thể phân biệt được:
Ý nghĩa của
nghiệp vụ
- Là thuật ngữ được sử dụng khi hai hoặc nhiều DN (sau đây được gọi là hai) cùng thỏa thuận chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một DN hoàn toàn mới, với tên gọi mới (có thể gộp tên của hai doanh nghiệp cũ) và chấm dứt sự tồn tại của hai DN này.
- Song hành với tiến trình này, cổ phiếu cũ của hai DNsẽ không còn tồn tại mà DN mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu mới thay thế
- Là thuật ngữ được sử dụng khi một
DN (gọi là DN thâu tóm) tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với DN khác (gọi là DN mục tiêu) thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ cổ phần hoặc tài sản của DN mục tiêu đủ để khống chế toàn bộ các quyết định của DN.
- Sau khi kết thúc việc chuyển nhượng,
DN mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động hoặc trở thành DN con của DN thâu tóm Trên góc độ pháp lý, DN mục tiêu
sẽ ngừng hoạt động, DN thâu tóm nắm toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN mục tiêu, tuy nhiên cổ phiếu của DN thâu tóm vẫn được tiếp tục giao dịch bình thường
Sơ đồ minh
hoạ
DN A + DN B → DN C Trong đó:
-DN A, DN B: Hai DN có ý định hợp nhất
- DN C: DN mới được hình thành dự trên sự kết hợp giữa hai DN A và DN B
DN A + DN BDN B (Với quy mô lớn hơn) Trong đó:
- Doanh nghiệp mục tiêu: DN A
- Doanh nghiệp thâu tóm: DN B
Trang 13Kết quả của
hoạt động
M&A
- Pháp nhân của DN A và DN B chấm dứt, cổ phiếu của hai DN chấm dứt giao dịch trên thị trường
- Pháp nhân mới được hình thành với một tên gọi khác là DN C, DN C phát hành cổ phiếu mới.
- Cổ phiếu và pháp nhân của DN A chấm dứt
- Cổ phiếu và pháp nhân của DN B vẫn được giữ nguyên và vẫn được giao dịch bình thường
- Quy mô hoạt động của DN B sẽ được
mở rộng trên nhiều phương diện do được kế thừa thêm từ DN A.
- Quyền quyết định sẽ thuộc về DN có quy mô và tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn hơn trong Hội đồng quản trị Trong trường hợp, “thâu tóm mang tính thù địch” (hostile takeovers), cổ đông của DN mục tiêu được trả tiền để bán lại cổ phiếu của mình và hoàn toàn mất quyền kiểm soát DN.
Sự phổ biến
- Việc chia sẻ quyền sở hữu, quyền lực và lợi ích một cách đồng đều và lâu dài luôn khó khăn và khó thực hiện giữa các cổ đông với nhau Vì lâu dần, do tính chất độc chiếm sẽ hình thành xu hướng liên kết giữa các
cổ đông có cùng mục tiêu với nhau, điều này sẽ dẫn đến việc thay đổi về
tỷ lệ sở hữu cổ phần trong DN Do
đó, hình thức hợp nhất đòi hỏi mức
độ hợp tác rất cao giữa các DN khi tham gia.
Hình thức này chưa được phổ biến
- Hình thức này được phổ biến nhiều hơn, do tính chất đơn giản hơn khi chia
sẻ quyền lợi sau quá trình thâu tóm DN nào chiếm ưu thế hơn về quy mô hoạt động, tỷ lệ sở hữu cổ phần sẽ có quyền quyết định cao nhất trong việc quyết định bầu chọn hội đồng quản trị, ban điều hành và chiến lược hoạt động kinh doanh của DN sau này
Hình thức thâu tóm phổ biến hơn so với hợp nhất.
Trang 141.2 CÁC LOẠI HÌNH SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI:
Trên thế giới, hoạt động mua bán và sáp nhập DN có thể được phân thành 3 loại:chiều ngang, chiều dọc và kết hợp
Mua bán, sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal): mua bán, sáp nhập
giữa các DN trên cùng một lĩnh vực kinh doanh và trên cùng một thị trường Kếtquả từ việc mua bán, sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cơ hội mở rộng thịtrường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăngcường hiệu quả hệ thống phân phối Rõ ràng, khi hai đối thủ cạnh tranh trênthương trường kết hợp lại với nhau thì không những giảm bớt đối thủ mà còn tạonên một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại
Mua bán, sáp nhập theo chiều dọc (Vertical): Mua bán, sáp nhập giữa các
DN tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thịtrường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc tế hóacác giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối, đồng thời tạo ra lợi thế
về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chiphí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh
Mua bán, sáp nhập kết hợp (Conglomerate): Mua bán, sáp nhập giữa các
DN trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có liên quan, nhằm giảm cơbản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trongcác lĩnh vực tài chính, tài nguyên, bán lẻ Mua bán và sáp nhập dạng này lại đượcphân thành ba nhóm nhỏ:
Kết hợp thuần túy: Hai DN không có mối quan hệ nào với nhau, ví dụ khi
một công ty tài chính mua lại một công ty xây dựng nhằm đa dạng hóa hoạt độngđầu tư
Kết hợp nhằm bành trướng về địa lý: hai DN cùng sản xuất một loại sản
phẩm nhưng tiêu thụ trên hai thị trường hoàn toàn cách biệt về địa lý Ví dụ nhưthương vụ Lenovo mua lại bộ phận máy tính cá nhân của IBM năm 2003 trị giá 1,75
tỉ USD nhằm đẩy mạnh doanh số bán trên thị trường Mỹ
Trang 15 Kết hợp nhằm đa dạng hóa sản phẩm: hai DN sản xuất hai loại sản phẩm
khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc tiếp thị gần giốngnhau, ví dụ khi tập đoàn sản xuất bánh kẹo Kinh Đô mua lại thương hiệu kem Wallscủa tập đoàn Unilever năm 2003 nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất
Thâu tóm thân thiện ( Friendly)
Một thương vụ M&A thân thiện sẽ nhận được sự chấp thuận hoàn toàn từ phíaban quản trị bên DN mục tiêu Trước khi bên mua đưa ra đề nghị, đầu tiên họ sẽcông khai thông báo cho ban quản trị DN mục tiêu Trong trường hợp lý tưởng, nếuban lãnh đạo cảm thấy rằng chấp nhận lời đề nghị để tiến đến sáp nhập hoặc trởthành công ty con sẽ mang lại lợi ích cho các cổ đông, nhân viên hoặc đó là biệnpháp duy nhất trong hoàn cảnh DN đang gặp phải thì thương vụ M&A thân thiện sẽdiễn ra trên cơ sở ủng hộ từ cả hai phía M&A theo hình thức thân thiện mangnhững lợi ích tốt đẹp hơn vì giá trị DN sau thâu tóm sẽ được phát triển lên
Thâu tóm thù địch (hostile)
Hình thức M&A thù địch thường vấp phải rất nhiều sự phản đối từ bên DN mụctiêu Những thương vụ này có thể diễn ra công khai bằng cách bên mua liên tụcchào giá cao hơn giá thị trường, nếu DN sơ suất, mờ mắt bởi khối tài sản khổng lồthì sẽ nhanh chóng bị thâu tóm Nhưng đa phần âm mưu M&A thù địch thườngngấm ngầm xảy bằng cách bên mua lôi kéo cổ đông, hoặc lặng lẽ đầu cơ cổ phiếucủa DN mục tiêu nhằm mục đích loại bỏ đối thủ, chiếm đoạt thị trường Sau nhữngthương vụ thâu tóm thù địch, bên bán gặp phải rất nhiều khó khăn, giá trị công tysụt giảm mạnh và thường dẫn đến phá sản, giải thể
1.3 LỢI ÍCH VÀ RỦI RO CỦA HOẠT ĐỘNG M&A ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ.
1.3.1 Lợi ích và rủi ro của hoạt động M&A đối với sự phát triển của doanh nghiệp
1.3.1.1 Lợi ích của hoạt động M&A đối với doanh nghiệp
Trang 16Đối với một doanh nghiệp, lợi ích của hoạt động M&A có thể phân ra làm 4 nhóm chính sau:
Cải thiện tình hình tài chính Tăng vốn sử dụng
Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Chia sẻ rủi ro, tăng cường tính minh bạch
Củng cố vị thế thị trường Tăng thị phần
Tăng khách hàng
Tận dụng khả năng bán chéo dịch vụ
Nâng cao năng lực cạnh tranh
Giảm thiểu chi phí ngắn hạn Giảm thiểu trùng lặp trong mạng lưới phân phối
Tiết kiệm chi phí hoạt động
Tiết kiệm chi phí hành chính và quản lý
Tận dụng quy mô dài hạn
Tối ưu hóa kết quả đầu tư công nghệ
Tận dụng kinh nghiệm thành công của các bên
Giảm thiểu chi phí chung cho từng đơn vị sản phẩm
Giảm chi phí khi muaLợi ích của M&A đối với từng loại hình doanh nghiệp:
Đối với doanh nghiệp vừa
Chuyển giao và bổ sung công nghệ cho nhau.
Thuận lợi khi đàm phán, marketing, hệ thống phân phối
=> tăng vị thế trong mắt cộng đồng DN.
Đối với các nhà đầu tư Bước vào thị trường mới một cách nhanh chóng, mà
không mất thời gian tìm kiếm dự án hay thủ tuc hành chính
Giảm chi phí bằng cách cắt giảm nhân viên thừa, yếu kém => tăng năng suất lao động
Tiết kiệm chi phí "bôi trơn" khi thành lập DN mới
Đối với doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ
Tìm được bến đỗ mới
Tránh thu lỗ triền miên
Thiết lập mỗi quan hệ với người mua
Tăng thêm năng lực quản lý, nhân viên giỏi, hệ thống
Trang 17sẵn có của người mua
Đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Mở rộng quy mô, thị trường
Tăng cơ hội kinh doanh
Dành thị phần của đối thủ cạnh tranh
Thu hút thêm vốn từ thị trường chứng khoán.
1.3.1.2 Rủi ro trong hoạt động M&A đối với doanh nghiệp
Tiềm ẩn khả năng thâu tóm
Hoạt động M&A đang nở rộ và có xu hướng ngày càng mạnh với những thương
vụ ngày càng lớn hơn Tuy nhiên, các thương vụ thâu tóm thù địch cũng xuất hiệnnhiều hơn Nhất là khi thị trường chứng khoán mở rộng, các thương vụ chào muacông khai hoặc ngấm ngầm lôi kéo cổ đông xuất hiện nhiều thêm Doanh nghiệpViệt niêm yết trên sàn chứng khoán luôn trong trạng thái “ ngàn cân theo sợi tóc”trước âm mưu thâu tóm bủa vây khắp phía từ kẻ thù
Đánh mất thương hiệu sau các vụ M&A
Thực tế cho thấy rằng các giao dịch có sự tham gia của doanh nghiệp nước ngoàingày càng gia tăng Với kinh nghiệm quá non yếu trên thương trường M&A, mộtvấn đề mà các doanh nghiệp trong nước không quan tâm hoặc xem nhẹ đó là nhữngquy định để bảo vệ thương hiệu
Thương hiệu Việt là một tài sản quý giá, nó tạo lên một phần giá trị trong tổnggiá trị DN Tuy nhiên, do sự thiếu kinh nghiệm của các DN trong nước về yếu tốnày và hoạt động M&A nên họ thường xuyên xem nhẹ việc định giá thương hiệuhoặc dễ dàng chấp nhận mất đi thương hiệu vì những lợi ích khác không tươngxứng Chúng ta thừa nhận rằng sau các vụ mua lại và sáp nhập các doanh nghiệptrước nguy cơ phá sản có được cơ hội mới để tiếp tục phát triển Nhưng tên tuổi của
doanh nghiệp đó thường sẽ bị lu mờ và chẳng bao lâu sẽ hoàn toàn biến mất
M&A trong nhiều trường hợp sẽ làm giảm tính cạnh tranh, gây nên thể chếđộc quyền, khi những doanh nghiệp sau sáp nhập có vị trí thống lĩnh trên thị trường
Trang 18 Ngoài ra, rủi ro trong hoạt động M&A đối với DN còn đến từ các vấn đề xãhội liên quan đến việc người lao động bị dôi dư do cắt giảm lao động, cơ cấu lạihoạt động DN và sự khác biệt về văn hóa tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâuthuẫn dẫn đến giảm năng suất, hiệu quả kinh tế thấp.
1.3.2 Lợi ích và rủi ro của hoạt động M&A đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.3.2.1 Lợi ích của hoạt động M&A đối với nền kinh tế
Hoạt động M&A có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế:
Thứ nhất, hoạt động M&A không chỉ có vai trò tái cấu trúc lại doanh nghiệp
mà còn tái cấu trúc lại nền kinh tế, thông qua hoạt động M&A các doanh nghiệpyếu kém sẽ bị đào thải, hoặc được tổ chức lại một cách hiệu quả hơn Do đó đối với
cả nền kinh tế hoạt động M&A không những nâng cao năng lực sản suất mà còngiúp tiết kiệm được nhiều chi phí
Thứ hai, M&A xuyên quốc gia cũng là một hình thức của đầu tư trực tiếpFDI, tuy rằng đây không phải là hình thức đầu tư xây dựng mới nhưng nó cũng cónhững vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế như:
Gia tăng nguồn vốn cho nền kinh tế
Chuyển giao công nghệ, kỹ thuật
Nâng cao trình độ quản lý, văn hóa doanh nghiệp
Thông qua hình thức M&A với những ưu điểm trong việc tiết kiệm và chủđộng về mặt thời gian sẽ khuyến khích gia tăng vốn đầu tư FDI
Giúp các nước nhận đầu tư giải quyết công ăn việc làm, nâng cao chất lượngtay nghề, nâng cao đời sống cho người lao động Khi đầu tư vào quốc gia khác,nhiều trường hợp các DN mua lại hoặc sáp nhập với các công ty đang đứng trên bờvực phá sản Như vậy, M&A có thể xem là vị cứu tinh cho lực lượng lao động tạicông ty cũ Đồng thời cũng là cơ hội để DN sở tại phát triển nguồn nhân lực thôngqua quá trình bồi dưỡng, đào tạo lực lượng lao động cũng như phương thức sản xuấttiên tiến của nước ngoài
So với các hình thức đầu tư khác thì hoạt động M&A có lợi thế hơn do tậndụng được cơ sở vật chất cũng như lòng trung thành của người tiêu dùng nước sở
Trang 19tại Chính vì thế mà khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này rất lớn Xuhướng thị trường hiện nay là tự do thương mại hóa nên môi trường cạnh tranh là cầnthiết để các DN trong nước cọ sát, học hỏi và rút ra những bài học hữu ích
Xét trên bình diện chung M&A cũng góp phần mở rộng thị trường cho cácnước nhận đầu tư Cụ thể đối với trường hợp của các công ty đa quốc gia Các công
ty này không chỉ có hệ thống chi nhánh rộng khắp mà còn cả những đối tác làm ăntrên khắp thế giới Đây là mội điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp sở tại tiến hànhxúc tiến thương mại, tăng cường xuất khẩu
Các công ty đa quốc gia cũng đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sáchnhà nước Đa phần các doanh nghiệp này kinh doanh rất hiệu quả và thu được lợinhuận cao Đồng thời, nằm trong hệ thống đầu tư trực tiếp, M&A vẫn góp một vaitrò nhất định trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước nhận đâu tư
1.3.2.2 Rủi ro của hoạt động M&A đối với nền kinh tế
Rút ra từ thực tiễn, vấn đề nan giải đầu tiên đối với đầu tư nước ngòai nóichung và M&A nói riêng là các nước nhận đầu tư rất có khả năng bị phụ thuộc vềkinh tế, sau đó là chính trị vào nước chủ đầu tư Nếu không thận trọng trong các vấn
đề liên quan đến M&A thì các quốc gia lớn có thể thao túng toàn bộ nền kinh tế,đẩy các doanh nghiệp sở tại vào bước đường phá sản Và không ít trường hợp cácnước chủ đầu tư có thể sử dụng luồng vốn đầu tư của mình làm công cụ để đưa ranhững yêu sách nhằm ràng buộc nước nhận đầu tư về mặt chính trị, xã hội
Về mặt thực tiễn, không phải lúc nào M&A cũng là cạnh tranh lành mạnh,một số trường hợp cực đoan, các hình thức M&A còn được sử dụng một cách cóchủ đích để làm giảm hoặc thậm chí lọai bỏ cạnh tranh Hoạt động M&A đã tạo rasân chơi không công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua M&A các công tylớn, công ty đa quốc gia có thể thao túng dễ dàng một thị trường, làm gia tăng tínhđộc quyền Đặc biệt với hình thức thao túng cổ phần sẽ là nỗi lo âu của các doanhnghiệp vốn cổ phần còn thấp
Hoạt động M&A còn mang một nguy cơ tiềm tàng rất nguy hiểm, một nềnkinh tế có được động lực tăng trưởng, phát triển không chỉ nhờ vào sự đóng góp của
Trang 20những công ty, tổ chức lớn, mà đấy chính là nhờ vào sự năng động của nhữngdoanh nghiệp vừa và nhỏ với sự quản lý của những cá nhân ít tên tuổi muốn khẳngđịnh mình Chính hoạt động M&A sẽ giết đi những cá nhân và công ty đó, làm mất
đi động lực, lụi tàn lòng nhiệt huyết, sức sáng tạo của quá trình phát triển kinh tế.Đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, hoạt động M&A sẽ triệt tiêu nộilực phát triển của những quốc gia này và biến chúng trở thành cái bóng theo sựquản lý cho những quốc gia giàu có
Mặc dù M&A xuyên quốc gia cũng là một hình thức đầu tư FDI, nhưngM&A không phải là đầu tư xây dựng mới, do đó không những không tạo ra thêmcông việc, nghề nghiệp, trái lại còn tinh giản bộ máy hoạt động, đôi khi còn thay đổi
cơ cấu, đào thải những lao động không phù hợp, vì vậy làm tăng gánh nặng quản lýcủa Nhà nước
1.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG M&A CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Cơ sở pháp lý:
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có văn bản luật cụ thể nào quy định vềcác hoạt động mua lại và sáp nhập có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, nhằm kiểmsoát thị trường còn nhiều bất ổn này, Chính phủ đã đưa ra nhiều quy định nhằm hạnchế sự bành trướng của các tập đoàn đa quốc gia trong đầu tư, hợp tác liên doanh nhằm mục đích thâu tóm DN Việt
Trong Luật Chứng khoán những quy định về hạn chế tập trung kinh tế trên Thị
trường chứng khoán như các quy định về “cổ đông lớn”, các hành vi bị cấm như
giao dịch nội gián, thao túng thị trường của cá nhân, tổ chức để mua bán chứng khoán có lợi cho mình hoặc cho người khác, hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo thị trường giả, thao túng, làm giá thị trường…
Trong cam kết gia nhập WTO cũng có quy định về tỉ lệ vốn cổ phần của nhà đầu
tư nước ngoài trong các DN ở Việt Nam, cụ thể: Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép mua cổ phần trong các DN Việt Nam với tỉ lệ không vượt quá 30% tổng vốn điều lệ của DN nếu không có quy định khác Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ phần của các DN Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần
Trang 21trong các ngân hàng thương mại cổ phần và các ngành không cam kết trong biểu cam kết này
Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 về tỷ lệ tham gia của bên nướcngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam quy định:
Điều 1 Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam được nắm giữ:
a) Tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Đối với tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần theo Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 thì tổng số cổ phiếu niêm yết là số cổ phiếu phát hành ra công chúng theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b) Tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán.
c) Không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành.
Hầu hết các nước tìm mọi cách để thu hút FDI, đặc biệt là khi FDI tồn tại dướidạng đầu tư trực tiếp vào nhà xưởng máy móc, bởi vì những nguồn đầu tư như vậy
có thể đóng góp cho sự phát triển kinh tế Như là một phần hệ quả trong những nỗlực nhằm thu hút FDI, mua lại và sáp nhập (M&A) trở nên phổ biến hơn trước đâynhư là một cách thức thâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) vào cácnước đang phát triển cũng như các nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi Các định nghĩa thông dụng với FDI cũng được sử dụng tương tự với M&A Quốcgia có nguồn vốn đầu tư, muốn sáp nhập/mua lại được gọi là nước đầu tư, quốc giađược nhận vốn đầu tư được gọi là nước nhận đầu tư Trong trường hợp sáp nhập,văn phòng chính của công ty mới có thể được đặt tại cả 2 nước Mua lại có 3 hìnhthức:
- Thiểu số (tập đoàn nước ngoài giữ từ 10 đến 49% số cổ phiếu của công ty)
- Đa số (tập đoàn nước ngoài giữ từ 50 đến 99% số cổ phiếu của công ty)
- Chủ quyền hoàn toàn (tập đoàn nước ngoài chiếm 100% cố phiếu của công ty)
Trang 22Một phần trong hệ quả của cố gắng thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) là
sự gia tăng của M&A xuyên quốc gia vì đây là cửa mở cho các công ty xuyên quốcgia vào các nước đang phát triển cũng như góp phần vào sự phát triển kinh tế củacác nước nói trên Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu M&A có thể đóng góp vào quátrình phát triển như đầu tư mới (GI) hay không? M&A được nhìn dưới một góc độkhác so với đầu tư trực tiếp bởi tại thời điểm ban đầu, hoạt động này không làmtăng năng suất sản xuất quốc gia mà chỉ là sự chuyển giao quyền sỡ hữu trong nướccho nước ngoài Trong quá trình toàn cầu hóa nói chung, sự thật đã chứng minhrằng M&A là con dao hai lưỡi, có thể làm tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế nóichung và sự phát triển của doanh nghiệp trong nước nói riêng
1.5 CÁC CHIẾN LƯỢC THÂU TÓM THÙ ĐỊCH PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI
1.5.2 Các chiến lược thâu tóm doanh nghiệp.
1.5.2.1 Chiến lược “cổ phiếu bước đệm” (Toeholds):
Dấu hiệu nổi bật nhất của việc thâu tóm là bên mua tìm cách thu gom cổ phiếucủa công ty mục tiêu Theo điều khoản 9 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 khiđạt đến 5% tỷ lệ sở hữu thì bên mua gửi thông báo là cổ đông lớn đến UBCK,SGDCK và công ty mục tiêu Sau khi báo cáo, bên mua sẽ tiếp tục mua vào cổphiếu, trước mỗi mức tỷ lệ sở hữu 25%, 51%, 65% và 75% bên mua sẽ phải tiếnhành làm thủ tục chào mua công khai theo quy định tại Thông tư số 194/2009/TT-BTC Qua các lần nhận được bản chào mua công khai, HĐQT công ty mục tiêu sẽhọp và thông báo với UBCKNN và để cổ đông biết ý kiến của công ty với đề nghịchào mua công khai Nếu như HĐQT công ty đã đạt được thỏa thuận với bên chàomua và thấy rằng thương vụ này là với mục đích hợp tác và phát triển thì đây đượcxem là hình thức thâu tóm thân thiện
Tuy nhiên, việc công khai trở thành cổ đông lớn có thể là dấu hiện tiềm tàngthông báo về một cuộc thâu tóm thù địch và công ty mục tiêu sẽ có những biện phápphòng thủ Vì những lí do phức tạp như vậy nên các DN thâu tóm thường tạo ranhiều “cổ phiếu bước đệm” bằng cách nhận ủy quyền với cổ đông tại DN mục tiêu,
Trang 23hoặc thành lập các công ty ma (SPV) để thu gom cổ phiếu Chiến lược này trợ giúpđắc lực cho quá trình thâu tóm diễn ra nhanh chóng, đồng thời giúp giảm thiểu mộtphần chi phí của giao dịch vì việc mua “cổ phiếu bước đệm” được thực hiện âmthầm, tránh gây biến động giá cổ phiếu trên thị trường.
Hình thức doanh nghiệp SPV – “Special purpose vehicle” tạm dịch là công ty được tạo ra để thực hiện những mục đích đặc biệt Hoạt động của họ không phải là sản xuất kinh doanh nhưng lại hợp tác với các DN khác, dùng khoản tài chính khổng lồ để khống chế các cổ đông tại công ty mục tiêu và sau đó ép họ ủy quyền
sở hữu nhằm mục đích thâu tóm hoặc đơn giản SPV được tạo ra chỉ để làm sạch báo cáo tài chính của công ty mẹ
1.5.2.2 Chiến lược “lời đề nghị nhã nhặn” (The tender offer)
Công ty hoặc cá nhân hoặc nhà đầu tư có ý định thâu tóm toàn bộ công ty mụctiêu sẽ đề nghị các cổ đông hiện hữu của công ty này bán lại cổ phiếu với giá caohơn giá thị trường rất nhiều Lúc đó, giá đề nghị phải đủ hấp dẫn đa số cổ đông tánthành việc từ bỏ quyền kiểm soát tại công ty của mình
Chiến lược “lời đề nghị nhã nhặn” thường áp dụng trong các vụ thôn tính mangtính thù địch đối thủ cạnh tranh Trong trường hợp này, công ty bị thôn tính là công
ty yếu hơn Đôi khi, có trường hợp công ty nhỏ “nuốt ngược” công ty lớn hơn, khi
họ huy động nguồn tiền từ bên ngoài bằng cách:
1.5.2.3 Chiến lược “xung đột nội bộ” (The proxy fight)
Hình thức này sử dụng trong các thương vụ M&A mang tính chất thù địch Trongquá trình kinh doanh, nếu công ty lâm vào trình trạng thua lỗ, thiếu minh bạch trong
Trang 24báo cáo tài chính sẽ có một bộ phận cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị
và điều hành công ty Công ty có lợi thế cạnh tranh có thể tận dụng tình hình này đểlôi kéo cổ đông bất mãn, một khi nhận được sự ủng hộ, họ và những cổ đông bấtmãn sẽ triệu tập Đại hội đồng cổ đông đủ số cổ phần chi phối để loại ban quản trị
cũ và bầu đại diện công ty thâu tóm vào Hội đồng cổ đông mới
Một dấu hiệu khác của việc thâu tóm là bên mua có thể dựa vào sơ hở của banđiều hành hiện tại để tuyên truyền và tạo mâu thuẫn với ban điều hành hiện tại, lôikéo cổ đông không tham gia bỏ phiếu thông qua các tờ trình nêu ra tại ĐHĐCĐ vềphương hướng phát triển sản xuất kinh doanh hoặc thay đổi ban điều hành Nếumâu thuẫn ngày càng tăng cao, cổ đông sẽ không còn kỳ vọng vào sự phát triển củacông ty Lúc này, bên thâu tóm có thể thỏa thuận mua lại cổ phần, nhận ủy quyềncủa các cổ đông bất mãn này để tăng tỷ lệ sở hữu tại công ty mục tiêu
Như trường hợp của CTCP Thương mại & Dịch vụ Dầu khí Vũng Tàu (VMG), sau 3 lần họp ĐHĐCĐ cổ đông công ty vẫn chưa thông qua các vấn đề quan trọng được nêu ra Một số cổ đông VMG nhận được tờ rơi với tiêu đề “Cổ đông hãy cứu lấy Vimexco Gas” và kêu gọi thay đổi trong kỳ ĐHĐCĐ sắp tới Đây là một dấu hiệu của thâu tóm qua hình thức lôi kéo cổ đông bất mãn.
1.5.2.4 Nghiệp vụ LBOS (leveraged buyout)
Trong các hình thức M&A, LBOs là một trong những hình thức khá quan trọng,đặc biệt khi thị trường chứng khoán phát triển, cổ phiếu của các công ty được giao
dịch tự do hơn thì nghiệp vụ LBOs càng có điều kiện phát triển LBOs thường mang
tính chất không thân thiện (hostile takeover), là một phương thức để nắm quyềnkiểm soát một công ty khác bằng cách sử dụng tài sản của mình hoặc chính DN mụctiêu để thế chấp vay nợ nhằm mua lại công ty mục tiêu Phương pháp này dùng rất íttiền mặt của bản thân DN, nguồn vốn dùng để thâu tóm chủ yếu là dùng đòn cân nợ
để thu mua cổ phiếu của DN mục tiêu Bên thâu tóm khi đã xác định mục tiêu và có
Trang 25kế hoạch tiến hành cụ thể sẽ áp dụng kết hợp nhiều hình thức, dưới nhiều chiêu bàikhác nhau nhằm để đạt được tỷ lệ cổ phiếu chiếm quyền kiểm soát
1.5.2 CÁC CHIẾN LƯỢC PHÒNG THỦ TRƯỚC KHI BỊ THÂU TÓM
Có rất nhiều biện pháp dùng để phòng thủ ngăn chặn một âm mưu thâu tóm thùđịch được tạo ra để bảo vệ một công ty khỏi những giao dịch không mong muốn.Hầu hết các chiến lược này là biện pháp phòng vệ, chúng xuất hiện trong các điều lệcủa công ty hoặc các văn bản khác khi công ty đang hoạt động bình thường Chúngchỉ phát huy tác động khi công ty vướng phải nguy cơ bị thâu tóm hoặc phải đốimặt với một cuộc tấn công
1.5.2.1 Chiến lược “ viên thuốc độc” ( Poison-pill).
Viên thuốc độc còn được gọi là “ kế hoạch quyền lợi cổ đông- bên liên quan”,được xem là một trong những cách phòng phủ mạnh mẽ nhất chống lại những âmmưu thâu tóm thù địch Phương pháp này được phát minh vào năm 1980 bởi Martinlipton, Như một tấm lá chắn để bảo vệ EL Paso khỏi con mắt dòm ngó từ phíaBurlington
“ Viên thuốc độc” được sử dụng chủ yếu trong các vụ sáp nhập mang tính thùđịch cao, các vụ sáp nhập vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của công ty có nguy cơ
bị thâu tóm Thường thì các vụ sáp nhập kiểu này sẽ dẫn tới tâm lí thù địch và gâymâu thuẫn giữa DN mục tiêu với DN định tiến hành thâu tóm
DN mục tiêu sử dụng chiến lược viên thuốc độc để khiến cho cổ phiếu của mình
ít hấp dẫn hơn đối với công ty sáp nhập Sở dĩ biện pháp này được đặt tên như vậy
là do nếu bên mua tiếp quản bên bán, thì họ phải gánh chịu những hậu quả “ độchại” Tại Mỹ, “ viên thuốc độc” trên thực tế là thường được có trong điều lệ công ty,khi bình thường rất khó nhận biết và chỉ hữu hiệu trong trường hợp đứng trướcnguy cơ bị thâu tóm “Posion Pill” thường bao gồm các dạng sau:
1.5.2.1.1 “Flip-over”
Trang 26Doanh nghiệp sẽ phát hành loại cổ phiếu thường với cổ tức ở dạng một chứngquyền đặc biệt Người nắm giữ cổ phiếu này sẽ có quyền mua cổ phiếu thường củadoanh nghiệp với giá cao hơn giá thị trường trong điều kiện bình thường Trongtrường hợp doanh nghiệp phát hành bị mua lại, chứng quyền này cho phép người
sỡ hữu nó được mua cổ phiếu của DN hình thành sau sáp nhập với giá trị thấp hơngiá thị trường Điều này sẽ làm pha loãng lợi ích từ nắm giữ cổ phiếu của DN tiếnhành mua lại và làm giảm động lực thực hiện mua lại
1.5.2.1.2 “Flip-in”
“Flip-in" cho phép cổ đông hiện hữu được quyền mua thêm cổ phiếu với giá rất
ưu đãi khi một số cổ đông lớn có tỷ lệ sở hữu quá một tỷ lệ % nhất định Bằng cáchmua cổ phiếu với giá rẻ, các nhà đầu tư có được lợi nhuận ngay lập tức và, quantrọng hơn pha loãng cổ phiếu nắm giữ bởi các bên có ý định thâu tóm Kết quả là,
nỗ lực mua lại của công ty thâu tóm trở nên khó khăn và tốn kém
Trong lĩnh vực Internet, công ty Yahoo thông qua hình thức thuốc độc “Flip-in” vào năm 2000 cho phép các công ty được phát hành tối đa 10 triệu cổ phiếu mới trong trường hợp nhận được lời đề nghị mua lại không được chấp nhận (như của Microsoft) Điều này thực tế đã làm cho Microsoft tiến hành không có khả năng theo đuổi thương vụ thâu tóm Yahoo và cuối cùng rút lui
1.5.2.1.3 Cổ phiếu ưu đãi.
Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi trong đó có điều khoản cho phép chuyển đổi sang
cổ phiếu thường khi quá trình sáp nhập hoàn tất Điều đó dẫn đến tỷ lệ sỡ hữu củabên thâu tóm bị pha loãng và chi phí cuộc sáp nhập bị đội lên cao
Trang 27cho DN mục tiêu bị gỉam sức mạnh tài chính, khiến đối thủ cảm thấy không cònhứng thú thâu tóm.
Cực kỳ hiệu quả: Trong lịch sử, những viên thuốc độc có tỷ lệ thành công rất
cao Nó thực sự đã trở thành là một trong những chiến thuật hữu ích nhất khi chiếnđấu chống thâu tóm thù địch Điều này có thể là một điều tốt cho các nhà đầu tư,đặc biệt là nếu họ lo ngại rằng một thương vụ M&A sẽ không có lợi cho tổ chức
Có cấu trúc chính thức: Poision pill là một hệ thống linh hoạt có thể được
thiết kế cho riêng từng nhu cầu và lĩnh vực hoạt động của công ty Họ có thể tạo lậpcấu trúc tài sản, nguồn vốn chẳng hạn như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu, quyềnchọn , trái phiếu, và chứng chỉ tiền gửi (CDS1)
Bảo vệ doanh nghiệp trước âm mưu thôn tính thù địch: Mỗi công ty khởi đầu
một cuộc thâu tóm thù địch đều vì lợi ích riêng của họ DN có thể mù quáng trướccái lợi trước mắt mà từ bỏ mục tiêu lâu dài của mình, xâu xé doanh nghiệp, bánthành từng mảnh Hoặc có thể DN thiếu cái nhìn xuyên suốt toàn bộ nền côngnghiệp cũng như thiếu kinh nghiệm để điều hành hoạt động kinh doanh một cáchhiệu quả Vì vậy, biện pháp tốt nhất đó DN tự tạo lập ra một posion pill để bảo vệmình bởi những ánh mắt nhòm ngó từ thị trường
Ban quản trị có thời gian để tìm kiếm lời chào mời khác: Không chỉ ngăn
chặn việc thâu tóm, posion pill còn tạo điều kiện cho ban quản trị cơ hội để tìm mộtlời đề nghị tốt hơn hoặc tạo ra một cuộc đấu thầu giữa những người mua với nhau
Có được giá bán cao hơn: Nghiên cứu cho rằng các công ty có quy định điều
khoản viên thuốc độc nhận được giá chào mua, tỷ lệ thặng dư cổ phiếu cao hơn từ10% đến 20 % so với các DN không sử dụng posion pill trong điều lệ hoạt động
Làm loãng giá trị cổ phiếu: Khi các công ty phát hành một số cổ phiếu mới
với giá giảm, họ sẽ làm bão hòa nguồn cung cổ phiếu Điều này làm giảm giá trị cổphiếu hiện tại và buộc các nhà đầu tư phải mua cổ phiếu mới để duy trì tỷ lệ sở hữutrước đó của họ
1 CDS: Certificates of DeposiT: Chứng chỉ tiền gửi
Trang 28 Viên thuốc độc có xu hướng bảo vệ ban quản trị: Công ty mục tiêu thường
có ban quản trị kém hiệu quả Những viên thuốc độc được thiết lập bởi ban quản trị
để bảo vệ chức vụ, quyền lợi của mình hơn là quyền lợi của toàn doanh nghiệp
1.5.2.2 Thỏa thuận với cổ đông lớn
Cổ đông lớn của các công ty thường là các công ty đầu tư, các định chế tài chính,quỹ đầu tư nắm trong tay số lượng cổ phần lớn, vì thế đây được coi là một bộ phậnquan trọng nắm giữ sinh mệnh của công ty Trong các thương vụ thâu tóm thù địch,thông thường bên mua thường nhắm vào những cổ đông lớn này đầu tiên nhằm đưa
ra chiến lược tiếp cận và chào mua Bởi vì, bên mua muốn xác định xem những ai
sẽ ủng hộ đề xuất của họ đồng thời muốn nhanh chóng xây dựng một nhóm cổ đôngtheo phe mình Do đó, điều quan trọng là DN mục tiêu phải đảm bảo chỉ nhữngngười có trách nhiệm mới có quyền xem xét danh sách cổ đông lớn
Một bộ phận cũng cần phải quan tâm đó là các nhà đầu tư nhỏ lẻ Thông thường,mục đích của họ là kiếm được lợi nhuận cao nhất Đặc điểm nổi bật là họ không có
sự tổ chức tốt; họ thường là những nhà đầu tư “bị động”.Vì thế, họ dễ dàng bị daođộng trước những lợi nhuận cao hoặc bên mua khéo léo vận động để đạt mục đích
1.5.2.3 Phát hành cổ phiếu cho bên điều hành và nhân viên
Một trong những biện pháp để phòng tránh những thủ đoạn thâu tóm của cáccông ty thù địch là tăng cường tỷ lệ sở hữu của ban điều hành và các nhân viênthông qua chương trính cổ phiếu ưu đãi (ESOP)2 Ban điều hành và các nhân viênthường trung thành với công ty hơn các nhà đầu tư, ví vậy khi có một hoạt độngthâu tóm xảy ra, nếu ban điều hành và nhân viên nắm giữ một lượng lớn cổ phiếucủa công ty mục tiêu sẽ tạo thành đối trọng lớn ngăn chặn hoạt động thâu tóm Vìvậy trong cơ cấu lương thưởng hiện nay của các công ty lớn thường kết hợp hínhthức trả bằng tiền mặt và cổ phiếu
2 EPOS: Employee Stock Ownership Plan - Kế hoạch thực hiện quyền sở hữu cổ phần cho nhân viên công ty
Trang 291.5.2.4 Ban quản trị so le (Staggered broad of director)
Hay còn gọi là hội đồng quản trị xen kẽ ( các thành viên trong hội đồng được bầu
cử vào các thời điểm khác nhau, vì thế, thời gian bãi nhiệm của họ khác nhau) khiếncho bên thâu tóm không thể thay thế toàn bộ hội đồng quản trị chỉ trong một cuộcbầu cử Các thành viên HĐQT cũ sẽ tiếp tục đấu tranh trong một thời gian nhấtđịnh, ngăn chặn không để công ty thâu tóm đạt được mục đích của mình Vì vậyngay cả khi hoàn thành việc thâu tóm, công ty thâu tóm cũng không thể kiểm soátngay lập tức công ty mục tiêu Nhiều khả năng, ban quản trị của công ty mục tiêu sẽgây khó khăn cho quá trình hậu thâu tóm và tìm cách lật đổ nếu có cơ hội Phươngpháp này thường được kết hợp cùng “ postion pill” để tạo nên một hệ thống phòngthủ chống thâu tóm một cách hiệu quả
1.5.2.5 Chiến thuật “Chiếc dù vàng” (Golden Parachute):
Biện pháp này nhằm hạn chế những cuộc tấn công không mong đợi bằng việccam kết những điều khoản lợi ích khi thôi việc dành cho ban quản trị cấp – nhữngngười có nguy cơ sẽ bị sa thải nếu DN bị thâu tóm bởi DN khác Cách thức nàyngăn chặn hữu hiệu những cuộc thâu tóm – vì chi phí thâu tóm trở nên rất đắt đỏ và
do đó khiến bên thâu tóm phải cân nhắc kỹ quyết định của mình “ Dù vàng “ baogồm: Lương cơ bản, tiền thưởng, trợ cấp hưu trí, các phúc lợi và bảo hiểm y tế, bảo
hiểm nhân thọ, quyền chọn mua cổ phiếu (Theo Machlin, Judith “The Effects of
Golden Parachutes on Takeover Activity” trong "tạp chí luật và kinh tế" tháng
10-1993, số 02, trang 862)
Đối với một nhân viên, bị ép buộc rời khỏi vị trí làm việc là điều vô cùng tồi tệ.Ngoại trừ các CEOs, những người được bảo hộ bằng “ chiếc dù vàng” và có thể hạcánh an toàn khi M&A diễn ra Trong một số DN, những điều khoản này đã trởthành một phần quan trọng trong hợp đồng lao động với các nhân viên cấp cao
Dễ dàng thu hút nhân tài bổ nhiệm cho vị trí điều hành Những người quản
lý cấp cao, tại vị trí “đầu sóng ngọn gió”, họ thường muốn có những điều khoản bảo
Trang 30hiểm, đặc biệt là khi họ làm việc tại một DN đang có nguy cơ cao bị thâu tóm Đưa
ra điều khoản “ chiếc dù vàng” sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hút được một số lượnglớn các ứng viên, từ đó lựa chọn ra được người phù hợp nhất
“ Dù vàng” giúp xoa dịu những căng thẳng mà các CEO gặp phải trong
công việc: Có rất nhiều người cảm thấy lo sợ rằng họ sẽ đưa ra những quyết định sai
lầm có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Vì vậy họ không muốn chấp nhận rủi rohoặc đi ngược lại nguyên trạng Tuy nhiên, rủi ro càng cao, lợi nhuận càng lớn Sựmâu thuẫn lợi ích của Ban quản trị và giám đốc sẽ làm chệch hướng phát triển củadoanh nghiệp Vì thế, cần có những người lãnh đạo sẵn sàng chấp nhận rủi ro, và dùvàng chính là một công cụ để giúp họ có được ban giám đốc hiệu quả và có thể đưa
ra những quyết định táo bạo
Kết thúc hợp đồng lao động một cách thân thiện Khi nhân viên bị sa thải, họ
thường có tâm lý phản kháng và muốn trả đũa DN Nhất là những CEOs có tầm ảnhhưởng, họ có thể đe dọa khởi kiện, tiết lộ các tài liệu bí mật hoặc sẵn sàng làmnhững hành động quyết liệt hơn Tuy nhiên, khi được hưởng điều khoản “ dù vàng”,
họ sẽ cảm thấy thõa mãn hơn và không có bất kỳ bên nào cảm thấy căng thẳng
Giảm nguy cơ của thôn tính thù địch Nếu trong điều khoản của doanh
nghiệp bao gồm những quy định “ dù vàng”, sẽ khiến chi phí mua lại tăng cao, từ đólàm giảm sức hấp dẫn của DN mục tiêu
Chi phí tăng cao: Điều khoản này đòi hỏi công ty phải trả một khoản bồi
thường quá lớn, ngay cả khi sa thải một nhân viên vì lý do chính đáng Thật bấtcông khi một nhân viên không hoàn thành tốt công việc, lại được trả hàng triệu đôkhi vị trí của họ cần được thay thế
Tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nhân viên, các cổ đông thường.
Phơi bày một thực tế rằng các giám đốc điều hành có thể không khách quan trong trường hợp sảy ra mua bán hoặc sáp nhập.
Có thể không hiệu quả để ngăn chặc âm mưu thâu tóm thù địch: Trong nhiều
thương vụ, chi phí “ dù vàng” chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ của chi phí sáp nhập Và nókhông phải là nỗi bận tâm quá lớn của các doanh nghiệp thù địch
Trang 311.5.3 CÁC CHIẾN LƯỢC CHỐNG LẠI ÂM MƯU THÂU TÓM THÙ ĐỊCH
Ngay khi phát hiện khả năng doanh nghiệp đang trở thành mục tiêu của một cuộcthâu tóm thù địch, ban quản trị cần phải lên kế hoạch, thảo luận và có thể đưa ranhững biện pháp phòng thủ bằng các chiến lược sau:
1.5.3.1 Chiếc vương miện châu báu (Crown Jewel)
Vương miện châu báu là thuật ngữ ám chỉ một mảng kinh doanh hiệu quả hoặcmột mảng tài sản có giá trị của doanh nghiệp và cũng là lí do chính hấp dẫn các bênmua Việc công ty mục tiêu bán chiếc “vương miện châu báu” có tác dụng làm giảm
sự hấp dẫn của công ty, bên thâu tóm không còn thấy lợi ích từ việc mua lại này vàmất động lực để đeo đuổi thương vụ Tuy nhiên biện pháp này chỉ có tác dụng khiđược sử dụng kịp thời, đúng lúc Nó như một con dao hai lưỡi, nếu thất bại doanhnghiệp sẽ phải gánh chịu thiệt hại lớn vì máy móc, công nghệ đã bán sẽ ảnh hưởngđến sản xuất, sụt giảm giá trị cổ phiếu
1.5.3.2 Hiệp sĩ áo trắng (White Knight)
Hiệp sĩ áo trắng (White Knight): Hiệp sĩ áo trắng là một thuật ngữ ám chỉ mộtbên thứ ba với sự hậu thuẫn của ban điều hành tiến hành chào mua doanh nghiệpmục tiêu với giá cao hơn đối thủ cạnh tranh hiện tại Một đối tác mua thân thiện sẽđược chào đón hơn bên thâu tóm thù địch (Hiệp sĩ áo đen-Black Knight) Chiếnlược này vừa giúp bán DN được giá cao, đồng thời ban quản trị hiện tại cũng giữđược việc làm
Tuy nhiên, một vấn đề mà công ty mục tiêu rất cần phải cảnh giác đó chính làviệc gặp phải “hiệp sĩ dỏm” Họ xuất hiện và đứng ra ngỏ ý muốn giúp đỡ bên bánchống lại âm mưu thâu tóm của công ty thù địch Nhưng trong quá trình giúp đỡ,các “Hiệp sĩ ”này lại trở mặt bắt tay công ty thâu tóm đề cùng thâu tóm bên bán
Điển hình như vụ Microsorf muốn mua lại Yahoo Rupert Murdoch, CEO của News Corp, trong vai hiệp sỹ tốt bụng và ngỏ ý muốn giúp đỡ Yahoo chống lại sự
Trang 32xâm lược của Microsoft Thế nhưng, chưa hoàn thành xong vai trò “Hiệp sĩ”, Rupert Murdoch lại bất ngờ tiến hành thương lượng với Microsorf và ngỏ ý liên minh cùng công ty này mua lại Yahoo Liên minh của cả hai người khổng lồ Microsoft và News Corp khiến cho Yahoo khó lòng thoát khỏi bàn tay thôn tính của Microsorf Theo diễn biến thương vụ Microsoft và Yahoo cho thấy khó có thể tin cậy hoàn toàn vào vai “ Hiệp sĩ” Bởi lẽ trên thương trường, hiếm doanh nghiệp nào muốn từ bỏ cơ hội tối đa hóa lợi nhuận cho mình
1.5.3.3 Mua lại cổ phiếu quỹ (Treasury stock):
Đây là chiến lược được sử dụng phổ biến khi các công ty mục tiêu muốn thu hẹp
số cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường Qua đó công ty có thể hạn chế công tythâu tóm thu gom đủ số cổ phiếu lưu hành trên thị trường đủ để kiểm soát công ty.Việc mua lại cổ phiếu quỹ thường được ban quản trị công ty lí giải như một hànhđộng để nâng giá cổ phiếu, tăng EPS hay thưởng cho nhân viên, vì việc mua lại cổphiếu quỹ không được đánh giá là hoạt động đầu tư hiệu quả Điều kiện để thựchiện thành công chiến lược này là công ty phải có thặng dư tiền mặt lớn và sớmnhận thấy số cổ phiếu trên thị trường có những biến động lớn trên giao dịch
Ở Việt Nam mua lại cổ phiếu quỹ là hành động được diễn ra thường xuyên trên sàn chứng khoán khi công ty bị đe dọa Có thể kể đến thương vụ Sacombank, ban lãnh đạo của Sacombank cũng đăng kí mua lại 100 triệu cổ phiếu, tương đương 9,31% số cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường
1.5.3.5 Chiến lược phản công (Pac-man)
Chiến lược Pacman được sử dụng khi doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bịthâu tóm từ kẻ thù Doanh nghiệp mục tiêu sẽ thực hiện tấn công lại kẻ thù nhằmthôn tính ngược Tuy nhiên phương pháp này ít khi được ứng dụng vì tính khả thikhông cao
Một ví dụ tiêu biểu trong lịch sử mua bán và sáp nhập đó là thương vụ thâu tóm Martin Marietta của Tập đoàn Bendix năm 1982 Để đáp lại, Martin Marietta đã
Trang 33bắt đầu lên kế hoạch mua lại cổ phiếu của Bendix Họ bán tất cả các tài sản, bộ phận phụ của mình đi để gây vốn mua ngược Bendix Một kết thúc đầy bất ngờ, CEOs của Bendix đã phải nỗ lực thuyết phục tập đoàn Allied ra tay cứu giúp như một hiệp sĩ áo trắng Cuối cùng ông nhận được 9 triệu đô từ khoản tiền bồi thường
và chấp nhận rời khỏi vị trí.
1.5.3.5 Khiếu kiện
DN mục tiêu có thể tìm cách vận dụng tất cả các quy định pháp luật hoặc bất cứđiểm yếu đặc biệt của đối thủ nhằm ngăn chặn sự mở rộng cuộc tấn công Luậnđiểm thường được sử dụng nhất là nguy cơ độc quyền, lũng đoạn thị trường nếu vụthâu tóm diễn ra thành công hoặc sự phân biệt đối xử về giá trong việc chào mua cổphiếu giữa các nhóm cổ đông
Sự can thiệp pháp luật là một cơ hội kéo dài thời gian của cuộc thâu tóm, giảm
cơ hội thành công của thương vụ – bởi sẽ dẫn đến việc gia tăng mạnh về các khoảnchi phí phát sinh, đồng thời DN cũng sẽ có thời gian để hoàn tất các chiến thuậtphòng ngự
1.5.3.6 Chiến lược hủy diệt toàn bộ -Jonestown Defense:
Đây là một chiến thuật của “ Vương miện châu báu “ nhưng mang màu sắc cựcđoan hơn Phương thức phòng thủ này được đặt tên theo một thảm kịch xảy ra tạiJonestown (Guyna) khi một nhóm giáo phái tự tử để duy trì quyền tự trị của mình.Theo đó doanh nghiệp sẽ bán tài sản có giá trị của mình với giá rẻ cho tất cả mọingười, trừ công ty đang muốn thâu tóm hay vay những khoản nợ lớn, đắt một cách
vô lý và không cần thiết Tuy nhiên, ngay cả khi thành công, nó cũng sẽ đẩy doanhnghiệp tới bờ vực phá sản hoặc để lại di chứng xấu lâu dài, khó phục hồi
Ngoài những biện pháp kể trên, các công ty mục tiêu của thâu tóm thù nghịch có thể sử dụng các biện pháp khác như: phê phán chỉ trích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các điểm yếu trong công tác quản trị của bên thâu tóm; chỉ trích các xác định giá chào mua của bên thâu tóm là dưới giá trị thực của công ty; lôi kéo
Trang 34CBCNV cốt cán phản đối kế hoạch mua thâu tóm; phát hành cổ phiếu ưu đãi biểu quyết,, sử dụng nghiệp vụ MBO …
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUY CƠ CÁC DOANH NGHIỆP BỊ THÔN TÍNH TỪ HOẠT ĐỘNG M&A CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRÊN
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 2.1 BỨC TRANH TOÀN CẦU VỀ HOẠT ĐỘNG M&A TRÊN THẾ GIỚI
Thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp đã xuất hiện và phát triển quanhiều giai đoạn thăng trầm cùng nền kinh tế thế giới Sáp nhập và mua lại (M&A)
đã không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Trên thế giới hoạt động M&A xuấthiện lần đầu tiên từ những năm 1895 đến 1905 Mỹ là nơi diễn ra các cuộc đại sáp
Trang 35nhập đầu tiên Sau đó, Mỹ còn chứng kiến những chu kì phát triển đỉnh cao của hoạtđộng M&A như: 1925-1929, 1965-1970, 1980-1985, 1998-2000 Tại Anh chỉ tính
từ năm 1986 đến 1989 ở Anh, đã có khoảng 5.200 công ty công nghiệp, thương mạitham gia thâu tóm, sáp nhập lẫn nhau (trung bình mỗi năm có 1301 công ty)
Bước sang thế kỉ 21, làn sóng M&A đang ngày càng phát triển và mở rộng đặcbiệt tại khu vực châu Á, nơi có hàng loạt các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc,Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Đông Đặc biệt do áp lực cạnh tranh tăngcao nên trong giai đoạn này bùng nổ các hoạt động M&A giữa các doanh nghiệp tưnhân với nhau Tính từ năm 1996 đến năm 2006, tỷ trọng số lượng các thương vụM&A giữa các doanh nghiệp tư nhân so với tổng số tăng từ 6% lên 14%, trung bìnhmỗi năm số lượng các thương vụ tăng 12% Trong thời gian này, các giao dịchM&A cũng đã hai lần lập đỉnh, cả về số lượng và giá trị: một lần vào năm 1999 và
2000, lần thứ hai là vào năm 2007
Biểu đồ 2.1: Số lượng và giá trị các thương vụ M&A trên thế giới giai đoạn 2005-2013
Nguồn: The Bloomberg M&A Advisory League TablesSau nhiều năm phát triển, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trên toàn thếgiới giảm 3,2% trong năm 2013 do những bất ổn của nền kinh tế toàn cầu Cácchuyên gia ngân hàng dự báo hoạt động này sẽ không đạt được nhiều cải thiện trongnửa cuối năm Triển vọng thị trường mua bán và sáp nhập trong thời gian tới sẽ phụthuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh tế
Trang 36Sự suy giảm của hoạt động M&A là một tin xấu đối với các ngân hàng trong bốicảnh lĩnh vực này đang đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tại châu Âu, mối lolắng về đà tăng trưởng tại châu Á và kinh tế Mỹ đang trên đà suy yếu trong nhữngtháng gần đây Xét theo quốc gia và khu vực, M&A Tại châu Âu, giá trị M&Agiảm mạnh xuống 12% so cùng kỳ 2012 chỉ còn 631,3 tỷ USD
Xét về ngành, năng lượng và nguyên vật liệu là hai lĩnh vực đạt được kết quảtương đối khả quan hơn so với các lĩnh vực khác Giá trị M&A của lĩnh vực nănglượng đạt 188 tỷ USD, chiếm khoảng 19% Dù vậy, so với cùng kỳ năm ngoái, giátrị M&A của lĩnh vực này giảm 28% Tương tự, lĩnh vực nguyên vật liệu giảm 23%xuống 141 tỷ USD, trong khi lĩnh vực tài chính sụt giảm tới 41% xuống 118 tỷUSD
Trong xu hướng trì trệ chung, nhưng hoạt động mua bán và sáp nhập khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương vẫn tăng trưởng mạnh hơn so với thế giới Tổng giá trịcác giao dịch M&A có giá trị lên đến 403,4 tỷ đô, tăng 15% so với 2012 chỉ đạt350,9 tỷ Các thương vụ tiêu biểu có thể kể đến: Scentre Group mua lại WestfieldGroup với mức giá 10,8 tỷ USD, Taiking Assest và Quỹ đầu tư Bắc Kinh Goulianmua lại PetroChina với mức giá 9,8 tỷ USD Các DN Trung Quốc hứa hẹn sẽ tiếptục đóng vai trò quan trọng trong khu vực và trên thế giới Các DN Nhật Bản cũng
đã bắt đầu hiểu và sử dụng công cụ M&A nhiều hơn trên phạm vi toàn cầu so vớinhững năm trước đây
Thị trường M&A tại Đông Nam Á đang sôi động hơn bao giờ hết Gần đây xuấthiện một xu hướng mới khi những DN Đông Nam Á cũng đang không ngừng tìmkiếm những doanh nhiệp tốt để đầu tư, thậm chí mua lại quyền chi phối của những
DN trong khu vực Theo tờ The Economist với chủ đề “Thế giới 2013” phát hànhngày 12/01/2014 của Simon Cox, ông đã có nhận định về nền kinh tế trong khu vực
Đông Nam Á rất đáng suy ngẫm: “Khi Trung Quốc và Ấn Độ chùng lại, hai ngôi
sao mới nổi khác là Indonesia và Philippines đã sẵn sàng nắm bắt thời cơ”.
Với mục tiêu phát triển trong tương lai, cả hai quốc gia Đông Nam Á này đangđẩy mạnh việc đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường lẫn năng lực sản xuất
Và Việt Nam là một trong những đích đến của họ Minh chứng rõ nhất là những
Trang 37thương vụ lớn đã được diễn ra: Semen Gresik của Indonesia mua lại 70% cổ phầncủa Xi măng Thăng Long và Siam Cement Group (SCG) của Thái Lan thông báochi gần 5.000 tỷ đồng để mua lại 85% cổ phần của Prime Group, Jollibee mua 50%
cổ phần của Highland coffee và Phở 24 Bên mua đến từ các nước láng giềng với
số vốn lớn chưa từng có Đây sẽ là một thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam
2.2 BỨC TRANH TOÀN CẢNH VỀ THỊ TRƯỜNG M&A TẠI VIỆT NAM 2.2.1 Đánh giá chung về thị trường M&A Việt Nam
Trong khi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu giảm sút rõ rệttrong năm 2013 thì các thương vụ mua bán – sát nhập (M&A) có yếu tố nước ngoàilại đều đặn xảy ra cho thấy một xu thế mới ngày càng hình thành rõ ràng tại ViệtNam Thị trường M&A ở Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ được tốc độ pháttriển như một điểm đến đầu tư hấp dẫn trong ngắn hạn bất chấp những vấn đề vĩ mô
và sự cạnh tranh ngày càng cao trong việc thu hút vốn đầu tư trong khu vực
Theo một khảo sát của KPMG Việt Nam vẫn là thị trường thu hút vốn đầu tư hấpdẫn hơn hết trong thị trường mới nổi khác trong khu vực Sức hấp dẫn của thịtrường M&A tại Việt Nam trong tương lai nằm ở việc nhà đầu tư có thể thâm nhậpvào một thị trường với dân số gần 90 triệu người, có thu nhập khả dụng và mức độ
đo thi hóa ngày càng tăng cùng với việc thâm nhập các lĩnh vực có tỷ lệ tăng trưởngnhanh và sự mở rộng của thị trường nội địa
Hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay, đã lập kỷ lục mới, với mức tăng trưởng ấntượng 135% trong năm 2013, giá trị thương vụ đạt hơn 4 tỷ USD Các con số thống
kê từ các tổ chức nghiên cứu M&A như ThomsonReuter, IMAA và AVM Vietnamcho thấy những năm gần đây, thị trường M&A đã phát triển vượt bậc, đặc biệt hoạtđộng M&A có yếu tố nước ngoài Mặc dù giảm so với con số kỷ lục 5,1 tỷ USDnăm ngoái do thiếu vắng các thương vụ lớn, nhưng thị trường M&A vẫn được dựbáo tăng trưởng với tốc độ 25-30% thời gian tới Nếu so với các con số của năm
2010, chỉ có 345 thương vụ, giá trị 1,7 tỷ USD, thì số liệu về giá trị giao dịch của
Trang 38các năm 2011, 2012, 2013 đã lập một kỷ lục mới Nhìn vào sơ đồ tăng trưởng, cóthể thấy, kỷ lục này đạt một tầm vócmới.
Biểu đồ 2.2 : Số lượng và giá trị các thương vụ M&A tại Việt Nam giai đoạn 2003-2013
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Giá trị các thương vụ (Triệu USD)
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu toàn bộ thị trường M&A 2013:
Xét về số lượng Xét về giá trị
Inbound 70%
Outbound 6%
Domestic 24%
Inbound 66%
Outbound 0%
Domestic 34%
Inbound: M&A từ các tập đoàn nước ngoài vào DN hoạt động tại Việt Nam Outbound: M&A bởi các DN Việt Nam ra nước ngoài, Domestic: M&A giữa các DN trong nước
Nguồn: M&A Vietnam 2013 Review- Vietnam Forum - MAF@AVM.VNXét về số lượng thương vụ, các thương vụ liên quan đến doanh nghiệp nội chiếm
đa số, với 70% Con số này cho chúng ta thấy, hoạt động M&A và chuyển nhượngdiễn ra khá sôi động tại Việt Nam, dù giá trị các thương vụ này không lớn Các
Trang 39thống kê cho thấy, các thương vụ doanh nghiệp Việt Nam thực hiện thường ở quy
mô 2 - 5 triệu USD, một số ít ở mức 10 - 30 triệu USD Tuy nhiên, số thương vụnhiều cũng chứng tỏ, các doanh nghiệp đã chủ động hơn trong hoạt động M&A
Xét về giá trị thương vụ, các thương vụ lớn đều có yếu tố nước ngoài Nhà đầu tưnước ngoài chiếm tỷ lệ 66% giá trị các giao dịch M&A Năm 2012- 2013 là năm cónhiều thương vụ lớn được ghi nhận, và có thể kết luận về sự phát triển của xuhướng nhà đầu tư nước ngoài mua lại các doanh nghiệp của Việt Nam:
tại Việt Nam năm 2013
Nguồn: M&A Vietnam 2013 Review- Vietnam Forum - MAF@AVM.VN
Nhật Bản đứng đầu các quốc gia có DN thực hiện M&A vào Việt Nam, xét cả về
số lượng và giá trị Chỉ tính riêng trong hai năm 2012 - 2013, dòng tiền M&A từ cáctập đoàn từ Nhật Bản đổ cho thị trường Việt Nam đã lên đến 1,5 tỷ USD Cácthương vụ được nói đến nhiều nhất là Mizuho trở thành đối tác chiến lược củaVietcombank, hay thương vụ Unicharm mua 95% cổ phần của Diana, Sumitomo
Trang 40mua cổ phần của Tập đoàn Bảo Việt và UFJ Mitsubishi mua cổ phần củaVietinBank đều là những thương vụ rất lớn, thu hút sự quan tâm của dư luận Chỉtính riêng ngành hàng tiêu dùng, tổng giá trị thương vụ đã lên đến 1 tỷ USD, chiếm25% tổng giá trị M&A tại Việt Nam Có thể kể đến các thương vụ như Unicharmmua lại 95% cổ phần của Diana với giá trị ước khoảng 129 triệu USD; KirinHolding mua lại cổ phần chi phối tại Công ty cổ phần Thực phẩm quốc tế -Interfood (IFS); Daio Paper mua cổ phần của Giấy Sài Gòn, Glico mua 10,5% vốnđiều lệ của Kinh Đô, Marico - ICP, Carlsberg - Bia Huế
Bảng 2.5 Các lĩnh vực thu hút đầu tư trên thị trường M&A Việt Nam trong 5 năm tới
0.00% 10.00% 20.00% 30.00% 40.00% 50.00% 60.00% Thực phẩm, đồ uống
Hàng tiêu dùng Dược phẩm, công nghệ sinh học
Nông nghiệp Bán lẻ Công nghệ, viễn thông
Công nghiệp
Nguồn: khảo sát thực tế của KPMG về triển vọng của hoạt động mua bán và sáp nhập tại Việt Nam 2013
2.2.2 Xu hướng thị trường mua lại và sáp nhập tại Việt Nam.
Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế và tài chính dẫn đến thiếu vốnđầu tư và lãi suất lên cao dẫn đến có nhiều tài sản giá rẻ ( hay còn gọi là distressesassets) ở Việt Nam Đây là cơ hội cho các tập đoàn nước ngoài và nhà đầu tư chiếnlược thực hiện thâm nhập thị trường Việt Nam qua M&A Tháng 02/2014, trongmột cuộc trả lời phỏng ông Avinash Satwalekar, Giám đốc điều hành (CEO) củaCông ty Quản lý quỹ Vietcombank Fund Management - không ngần ngại cho rằng,đây là thời điểm để các nhà đầu tư mua lại các công ty Việt Nam, trước khi nền kinh