Quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác luôn được pháp luật bảo vệ. Hệ thống pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, mỗi ngành luật có vai trò khác nhau trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ……… … 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……… …2
I.Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng……… …2
1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng……….… 2
2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng……… ….3
3 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng………
….5 II.Năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng………6
1 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự………6
2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi……….7
3 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự……….11
4 Một số trường hợp về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại……… 12
ngoài hợp đồng III Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân………12
1.Một số vướng mắc trên thực tế về vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân……… ….12
2.Về quy định của dự thảo luật dân sự về vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng……… 16
Trang 2Bàn về vấn đề này em xin trình bày đề tài: “ Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng- một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Quyền nhân thân và quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác luôn đượcpháp luật bảo vệ Hệ thống pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam bao gồm nhiềungành luật, mỗi ngành luật có vai trò khác nhau trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ thể Khi một chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới các quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật bảo vệ chủ thể gây thiệt hại có thể phảigánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi do hành vi của mình gây ra Dưới góc độ pháp luật dân
sự, hậu quả đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bịthiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập rất sớm trong hệ thống pháp luật củanước ta Tuy nhiên, chỉ đến khi BLDS 1995 ra đời thì các quy định về trách nhiệm bồi
Trang 3thường thiệt hại mới được quy định một cách chi tiết Tiếp đó, BLDS 2005 hoàn thiện hơnnữa các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Điều 604, BLDS 2005 quy định:
“ 1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2.Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”.
Như vậy theo quy định tại Điều 604, BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng phát sinh khi có người có hành vi trái pháp luật có lỗi gây thiệt hại cho cáclợi ích được pháp luật bảo vệ Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt nếu pháp luật quyđịnh người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại kể cả khi không có lỗi thì trách nhiệm bồithường thiệt hại cũng phát sinh kể cả khi không có lỗi của người gây thiệt hại Dưới góc độkhoa học pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được gọi là tráchnhiệm nâng cao
Từ đó có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngnhư sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lýđược phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gâythiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinhtrên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làmột loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luậtxâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Namquy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với hành vi xâmphạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổchức khác
2
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trang 4Trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có những đặc điểm sau đây: do cơ quan nhànước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luônmang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chếnhà nước…
- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự vàchịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì
họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do LuậtDân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các vănbản hướng dẫn thi hành BLDS
- Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi thoả mãn các điềukiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụtheo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hạivới thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc) Đây
là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thườngnhững thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệmbồi thường thiệt hại có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là cáctrường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
- Về hậu quả: trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tàisản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổnthất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượngvật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do đó, nhữngthiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theoquy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy,thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại
- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thìtrách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó làcha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đốivới người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người
Trang 5chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ
sở dạy nghề
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại gồm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợpđồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Từ những đặc điểm trên ta có thểrút ra một số đặc điểm riêng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
*Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
- Là một loại trách nhiệm pháp lý, bắt buộc phải thực hiện, các bên chỉ có thể thỏa thuận vềmức bồi thường và hình thức bồi thường
- Các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiệnnghĩa vụ theo hợp đồng
- Việc thực hiện nghĩa vụ trong bồi thường thiệt haij ngoài hợp đồng thông thường sẽ làmchấm dứt nghĩa vụ
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay khi phát sinh nghĩa vụbồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật mà không dựa trên cơ sở tự do thỏa thuậncủa các bên
3 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm khắc phục những hậu
quả về tài sản, phục hồi lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại Trong phạm vi củamình đảm bảo lợi ích của người bị thiệt hại Giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng là áp dụng một biện pháp trách nhiệm dân sự, được thể hiện theo một bản án dân sựhay một quyết định dân sự trong một bản án hình sự về nguyên tắc thì thiệt hại phải đượcbồi thường một cách toàn bộ và kịp thời( Điều 606)
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ nhằm bảo đảm
việc đền bù tổn thất gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệtài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hậu quả củaviệc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây thiệthại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho chủ thể khác, đặc biệt đối với hành viphạm tội với động cơ vụ lợi Vì vậy trong pháp luật dân sự không thể coi trách nhiệm bồi
Trang 6thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hình sự hay hình phạt phụ.Điều 34 Bộ luật hình sự quy định bồi thường thiệt hại là một trong các biện pháp tư phápchứ không quy định nó trong danh mục hình phạt chính hay phụ.
II.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật có quy định về năng
lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân Việc quy định này là cần thiết vì cánhân gây thiệt hại và việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai có ý nghĩarất quan trọng Nó để nhằm xác định rõ chủ thể nào có trách nhiệm phải bồi thường thiệthại để quy trách nhiệm cho người đó và nó còn bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại
Người gây thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhànước… Tuy nhiên, không phải chủ thể nào gây thiệt hại cũng có khả năng để thực hiệnviệc bồi thường BLDS 2005 quy định trách nhiệm bồi thường trong nhiều trường hợp, tìnhhuống cụ thể Có trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do tài sản gây ra,
có trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt phát sinh do hành vi của con người gây ra, cótrường hợp người của pháp nhân, người của cơ quan nhà nước gây thiệt hại…Theo quyđịnh việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và chính họ phảitham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không do chính họthực hiện BLDS quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân( Điều 606 BLDS) mà không quy định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác Bởivậy, các chủ thể khác được coi là có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Phápluật căn cứ vào các điều kiện về độ tuổi và sự phát triển của trí tuệ, nhận thức, khả năng tạolập tài sản của cá nhân để có cơ sở xác định trách nhiệm cá nhân khi gây thiệt hại chongười khác, thì trách nhiệm được thực hiện với những mức độ nào
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, BLDSquy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi,tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân
Trang 71 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ nưng lực hành
vi dân sự.
Theo quy định của pháp luật thì người từ đủ mười tám tuổi là người đã thành niên
Điều 606 BLDSquy định như sau: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường” Theo quy định này thì người từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra Điều này xuất phát từ “ khả năng” bằng hành vi của họ tự tạo ra quyền và thực hiện nghĩa vụ( Điều 19 BLDS) họ phải
chịu trách nhiệm do hành vi bất hợp pháp của họ bằng tài sản của chính họ Tuy nhiên,trong điều kiện này, nhiều người tuy có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng khả năng vềtài sản của họ trên thực tế không có ( người mười tám tuổi không có bất cứ khoản thu nhậpnào, họ không có tài sản riêng để bồi thường) Vì vây, khi quyết định bồi thường đối vớinhững người này có thể động viên cha, mẹ bồi thường thay cho con em họ, nếu cha, mẹ tựnguyện bồi thường, thì ghi nhận sự tự nguyện đó mà không buộc cha, mẹ phải bồi thường
2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi.
Đối với những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thìluật quy định họ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồithường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình Tức là áp dụngngược lại với trường hợp trên lấy tài sản của con để bồi thường, cha mẹ chịu trách nhiệm
bổ sung phần còn thiếu Sở dĩ có quy định như vậy là phù hợp với tinh thần của Điều 20BLDS 2005 Theo quy định này cá nhân có độ tuổi từ mười lăm tuổi đến dưới mười támtuổi đã có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ Ở đây khả năng nhận thức của họ
đã phát triển họ có thể tự mình thực hiện những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạthằng ngày của họ nên đương nhiên họ cũng sẽ có khả năng tự mình xác lập, thực hiệnquyền và nghĩa vụ dân sự nếu có tài sản Họ đã có khả năng lao động và tạo ra thu nhập Vìthế nên họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật Việc quy định cha,
mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản của người chưa thành niên từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được hiểu là nghĩa vụ bổ sung
Trang 8Người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi thì không bắt buộc phải có ngườigiám hộ Nếu như họ có người giám hộ thì theo khoản 3 Điều 606: khi người được giám hộgây thiệt hại thì người giám hộ được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường.Trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồithường thì người giám hộ có trách nhiệm phải bồi thường nếu họ có lỗi.
3.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự.
3.1 Cha mẹ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
a Đối với người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi
Điều 18 BLDS quy định :“ người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.
Người dưới mười tám tuổi là những người không có hoặc không đầy đủ năng lực hành vi
Vì vậy, cha mẹ là người phải bồi thường thiệt hại do con em họ gây ra Tuy nhiên, cáchthức dùng tài sản để bồi thường được quy định đối với người chưa thành niên là khác nhau.Theo trên phân tích thì ta thấy đối với người chưa thành niên nhưng ở độ tuổi từ đủ mườilăm tuổi đến dưới mười tám tuổi thì việc quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường sẽkhác với người chưa thành niên nhưng dưới mười lăm tuổi Cụ thể là do: Xuất phát từnăng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự Điều 606 BLDSquy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân phụ thuộc vào mức
độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân đó
Đối với trường hợp người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi thì luật quy định :
“Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này” Tức là cha, mẹ là người có nghĩa
vụ bồi thường chính khi con mình dưới mười lăm tuổi mà gây thiệt hại Theo quy định tạikhoản 2 Điều 606 BLDS 2005 thì cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường đối với những thiệthại trái pháp luật của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây ra Ở trường hợp nàyngười gây ra thiệt hại trực tiếp và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khác nhau
Trang 9Một cá nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi họ phải đủ mười tám tuổi
và có khả năng nhận thức được hành vi của mình, không thuộc các trường hợp bị mất hoặc
bị hạn chế năng lực hành vi( Điều 19, 20 BLDS) Từ đó suy ra những người dưới mườilăm tuổi là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm lý, chưa nhận thức đầy
đủ hậu quả mà hành vi của mình gây ra Chính vì thế cha, mẹ là người đại diện hợp phápcho con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi nên cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường toàn
bộ thiệt hại do hành vi gây thiệt hại của con Nhưng pháp luật cũng quy định là trongtrường hợp nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con dưới mười lăm tuổi cótài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường khoản còn thiếu
Xét về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân thì con dưới mườilăm tuổi không phải là chủ thể có trách nhiệm phải thực hiện mà trách nhiệm bồi thườngluôn trực tiếp thuộc về cha, mẹ Trường hợp này không xét đến dấu hiệu lỗi Việc lấy tàisản của người dưới mười lăm tuổi trực tiếp gây thiệt hại để bồi thường phần còn thiếu chỉnhằm mục đích bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Cũngkhông có nghĩa là khi lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu thì trách nhiệm bồithường được chuyển sang cho người con và không làm chấm dứt trách nhiệm bồi thườngthiệt hại của cha, mẹ
b Đối với người mất năng lực hành vi dân sự
Điều 18 BLDS quy định: người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâmthần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và có
có quyết định của Tòa tuyên bố họ bị mất năng lực hành vi dân sự Những giao dịch dân sựliên quan đến người này đều do người đại diện xác lập, thực hiện Vì thế cha, mẹ - ngườiđại diện đương nhiên của họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ gây thiệt hại.Nếu người mất năng lực hành vi dân sự có tài sản riêng thì cha, mẹ cũng có quyền lấy tàisản riêng để bồi thường phần còn thiếu
3.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người giám hộ.
a Trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên gây thiệt hại
Trang 10Khoản 3 Điều 606 quy định: “ Người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám
hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám
hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường” Người
giám hộ là người trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luậtnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ nên họ cũng phải gánhchịu những trách nhiệm pháp lý trong trường hợp người được giám hộ gây thiệt hại
Trách nhiệm này chỉ đặt ra khi cha, mẹ của người gây thiệt hại không còn hoặc tuycha, mẹ còn sống nhưng không đủ điều kiện làm người giám hộ cho con thì trách nhiệmbồi thường thiệt hại thuộc về anh cả hoặc chị cả đã thành niên có đủ điều kiện làm ngườigiám hộ cho em chưa thành niên Nếu anh cả và chị cả không có đủ điều kiện làm ngườigiám hộ thì anh, chị tiếp theo đã thành niên đủ điều kiện phải làm giám hộ T rong trườnghợp người đó không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làmngười giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại phải là người giám hộ, nếu không
có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú,cậu, cô, dì làm người giám hộ cho người chưa thành niên( Điều 62 BLDS)
Theo khoản 3 Điều 606 thì những kể trên nếu là người giám hộ thì có quyền đượcdùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại nếu người được giám hộ gâythiệt hại Trường hợp người được giám hộ không có tài sản thì người giám hộ phải dùng tàisản của mình để bồi thường Đây được coi là trách nhiệm bổ sung nếu người giám hộ cólỗi trong việc quản lí người được giám hộ để họ gây thiệt hại
b Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ làngười mất năng lực hành vi dân sự
Nếu người mất năng lực hành vi dân sự do cha, mẹ chăm sóc, quản lí thì khi họ gây thiệthại thì cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường
Nếu người mất năng lực hành vi dân sự có người giám hộ thì theo quy định tại Điều 62BLDS trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định như sau: