Trong những năm qua, diện tích trồng chè, lạc của Nghệ An bị ảnh hưởng của nhiều sâu bệnh gây hại. Đối phó với tình hình này, người dân cũng sử dụng các biện pháp như bón phân, xịt thuốc,… Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) cũng như các chất kích thích sinh trưởng vẫn chưa đến mức báo động. Song bên cạnh đó vẫn tồn tại một số vấn đề về cách thức sử dụng phân bón, TBVTV như thời gian bón phân, xịt thuốc, vệ sinh dụng cụ chứa, nơi chứa các loại hóa chất độc hại và nước sử dụng trong tưới tiêu vẫn chưa đúng với quy định.Tuy hiện nay địa phương đã thực hiện một số biện pháp để quản lý các mặt hàng nông sản như kiểm tra, giám sát hoạt động buôn bán, sử dụng TBVTV, hướng dẫn người dân thực hiện các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM),… nhưng vẫn còn những hạn chế trong công tác quản lý do việc sản xuất của người dân vẫn còn tự phát, manh mún, việc kiểm tra giám sát TBVTV vẫn chưa thường xuyên, chưa kiểm soát được hết chất lượng của các mặt hàng nông sản.Song song với bảo vệ môi trường trong nông nghiệp việc bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản là vấn đề cực kỳ quan trọng cần được giải quyết từ vấn đề quy hoạch sản xuất, phương thức canh tác gắn liền với tiêu thụ. Trong đó cần nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản như đảm bảo cung ứng 100% nhu cầu giống chất lượng cao, sạch bệnh, phù hợp với các vùng sinh thái và vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. Xu hướng nhập khẩu hàng thủy sản ngày càng lớn với yêu cầu cao về kiểm tra chất lượng. Vì vậy, cần phải xử lý an toàn thực phẩm nông thủy sản từ gốc và việc quy hoạch nông thủy sản phải gắn với quy hoạch môi trường trong các hệ canh tác. Tập trung giải quyết vấn đề chất lượng đất, chất lượng nước tưới tiêu chất lượng nước nuôi trồng, xử lý chất thải và quản lý dịch vụ tổng hợp từ thức ăn, con giống, nhà sản xuất thuốc và mua bán kinh doanh thuốc trị bệnh là vấn đề cần quan tâm.
Trang 11 Các từ viết tắt tiếng Anh 8
2 Các từ viết tắt tiếng Việt 8
1.1.1 Tên đề tài 9
1.1.2 Đơn vị chủ trì Error! Bookmark not defined 1.1.3 Đơn vị phối hợp Error! Bookmark not defined 1.1.4 Chủ nhiệm đề tài Error! Bookmark not defined 1.1.5 Danh sách cá nhân phối hợp thực hiện đề tàiError! Bookmark not defined
1.1.6 Thời gian thực hiện đề tài 9
1.1.7 Kinh phí Error! Bookmark not defined 1.1.8 Tổ chức chủ trì đề tài Error! Bookmark not defined
1.3 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN
1.3.1 Trong nước 10 1.3.2 Ngoài nước 12 1.4 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 13 1.4.1 Mục tiêu đề tài 13 1.4.2 Nội dung thực hiện đề tài 13 1.4.3 Phương pháp nghiên cứu 14
1.6 PHẠM VI VÀ ĐỊA CHỈ ỨNG DỤNG KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 15
CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÀI NGUYÊN MÔI
Trang 22.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 16
2.1.1 Vị trí địa lí 16
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 16
2.1.3 Đặc điểm khí hậu 19
2.1.4 Đặc điểm thủy văn 22
2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 22 2.2.1 Tăng trưởng kinh tế 22
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 23
2.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 25
2.2.3.1 Nông – lâm – ngư nghiệp 25
2.2.3.2 Công nghiệp – xây dựng 26
2.2.5 Giáo dục và đào tạo 26
2.2.6 Văn hóa – thể dục thể thao 26
2.3 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 27 2.3.1 Tài nguyên đất 27
2.3.2 Tài nguyên nước 29
2.3.2.1 Huyện Thanh Chương 29
2.3.2.2 Huyện Anh Sơn 29
2.3.2.3 Huyện Nghi Lộc 30
2.3.2.4 Huyện Diễn Châu 30
2.3.2.5 Huyện Quỳnh Lưu 30
2.3.3 Tài nguyên thủy, hải sản 31
2.3.4 Tài nguyên rừng 31
2.3.5 Tài nguyên khoáng sản 32
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU 33 3.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT 33 3.1.1 Hiện trạng môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp 33
3.1.2 Ô nhiễm môi trường đất do rác thải từ sinh hoạt 35 3.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ, TIẾNG ỒN 36
Trang 3Các nguồn gây ô nhiễm, suy thoái chất lượng môi trường nước 41
3.3.2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng quản lý nguồn nước thải 44
Hiện trạng môi trường nước thành phần 45
3.4 CHẤT THẢI RẮN 51 3.4.1 Rác thải sinh hoạt 51
3.4.2 Chất thải rắn nông nghiệp 52
3.4.3 Chất thải rắn công nghiệp 52
3.4.4 Chất thải rắn bệnh viện 53
CHƯƠNG IV: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG – THỦY SẢN CHỦ YẾU CỦA TỈNH NGHỆ AN 55 4.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÁC MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN 55 4.1.1 Tình hình sản xuất chè 55
4.1.2 Tình hình sản xuất lạc 60
4.1.3 Tình hình sản xuất tôm 65
4.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN 66 CHƯƠNG V: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT HÀNG NÔNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU TỈNH NGHỆ AN 68 5.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT NÔNG – THỦY SẢN XUẤT KHẨU 68 5.1.1 Quá trình sản xuất chè 68
5.1.2 Quá trình sản xuất lạc 70
5.1.3 Quá trình sản xuất tôm 72
5.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT NÔNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU 74 5.2.1 Môi trường nước tại vùng nuôi tôm 74
5.2.2 Môi trường đất tại vùng trồng chè, lạc 76
5.2.3 Chất lượng sản phẩm chè, lạc, tôm 80
5.3 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐƯỢC ĐỊA PHƯƠNG ÁP DỤNG ĐỂ KIỂM SOÁT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM DO SỬ DỤNG HÓA CHẤT TRONG SẢN XUẤT LẠC, CHÈ, TÔM 82 5.3.1 Ưu điểm trong công tác kiểm soát vấn đề ô nhiễm do sử dụng hóa chất tại địa phương 82
Trang 45.3.2 Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý vấn đề ô nhiễm do sử
dụng hóa chất tại địa phương 83
CHƯƠNG VI: ĐỀ XUẤT NHÓM GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHẰM PHÕNG NGỪA Ô NHIỄM CÁC SẢN PHẨM NÔNG THỦY SẢN 85 6.1 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM PHÕNG NGỪA Ô NHIỄM CÁC SẢN PHẨM NÔNG THỦY SẢN 85 6.1.1 Giải pháp về quản lý 85
6.1.2 Giải pháp kỹ thuật 92
6.1.2.1 Sản phẩm chè 92
6.1.2.2 Sản phẩm lạc 101
6.1.2.3 Sản phẩm tôm 106
6.1.3 Giải pháp về chính sách 114
6.1.4 Giải pháp tuyên truyền 121
6.2 MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN 122 6.2.1 Mặt mạnh và hạn chế trong công tác sản xuất chè tại địa phương 122
6.2.2 Cơ sở để đề xuất mô hình sản xuất 123
6.2.3 Mô hình sản xuất chè an toàn đề xuất 123
6.3 MÔ HÌNH SẢN XUẤT LẠC AN TOÀN 129 6.3.1 Mặt mạnh và hạn chế trong công tác sản xuất lạc tại địa phương 129
6.3.2 Cơ sở để đề xuất mô hình sản xuất 131
6.3.3 Mô hình sản xuất lạc xen sắn theo phương pháp bảo đảm an toàn đề xuất 131
6.4 MÔ HÌNH SẢN XUẤT TÔM AN TOÀN 136 6.4.1 Cơ sở đề xuất mô hình sản xuất 136
6.4.2 Mô hình nuôi tôm chân trắng (Penaeus vannamei) kết hợp với cá Rô phi 136
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Danh sách cán bộ tham gia thực hiện đề tàiError! Bookmark not defined
Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu hóa, lý đất vùng núi Nghệ An 33 Bảng 3 2 Lượng phân bón hóa học sử dụng ở tỉnh Nghệ An 34 Bảng 3 4 Chất lượng không khí tại một số điểm trên địa bàn tỉnh Nghệ An 37 Bảng 3 4 Kết quả phân tích nước thải sau xử lý của một số CSSX trong KCN 42
Bảng 5 1 Tỷ lệ hộ dân sử dụng TBVTV tại 2 huyê ̣n Thanh Chương và Anh Sơn 69 Bảng 5 2 Chất lượng môi trường nước ao nuôi tôm tại Diễn Châu và Nghi Lộc 75 Bảng 5 3 Chất lượng môi trường đất tại vùng trồng chè huyện Thanh Chương và
Bảng 5 4 Chất lượng môi trường đất vùng trồng lạc huyện Nghi Lộc và Diễn Châu78 Bảng 5 5 Chất lượng mẫu sản phẩm chè tại xã Thanh Thi ̣nh, huyê ̣n Thanh Chương80 Bảng 5 6 Chất lượng mẫu sản phẩm lạc tại xã Diễn Trung, huyê ̣n Diễn Châu 81 Bảng 5 7 Chất lượng mẫu sản phẩm tốm tại xã Quỳnh Xuân, huyê ̣n Quỳnh Lưu 81
Bảng 6 1 Lượng bón và phương pháp bón phân 92
Bảng 6 2 Lượng phân bón và phương pháp bón đối với luống trồng sắn 132
Bảng 6 3 Lượng phân bón và phương pháp bón đối với luống trồng lạc 133
Bảng 6 4 Các TBVTV phòng trừ sâu bệnh 134
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Sơ đồ phương pháp luận nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined Hình 1 2 Mô hình DPSIR Error! Bookmark not defined
Hình 2 3 Diễn biến lượng mưa các tháng trong năm 2008 tại Nghệ An 20 Hình 2 4 Số giờ nắng các tháng trong năm 2008 tại Nghệ An 21 Hình 2 5 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2008 tại Nghệ An 22 Hình 2 6 Tổng giá trị sản xuất của các huyện thuộc phạm vi nghiên cứu so với cả
Hình 2 7 Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành tỉnh Nghệ An năm 2008 24 Hình 2 8 Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành huyện Thanh Chương năm 2007 và
Hình 2 9 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Nghệ An năm 2008 27 Hình 2 10 Diện tích rừng của các huyện thuộc khu vực nghiên cứu 32
Hình 5 1 Tỷ lệ phân bón sử dụng trong sản xuất lạc tại Diễn Châu và Nghi Lộc 71
Hình 5 2 Tỷ lệ các chất kích thích sử dụng trong sản xuất lạc tại Diễn Châu và Nghi Lộc 71
Hình 5 3 Tình hình xử lý nước thải từ hoạt động vệ sinh dụng cụ chứa TBVTV 72
Hình 5 4 Sản lượng tôm tại Nghệ An theo Niên giám Thống kê tỉnh Nghệ An năm 2007 73
Hình 5 5 Tình hình sử dụng chất xử lý môi trường nước ao nuôi tôm tại Thanh Chương và Anh Sơn 74
Hình 6 1 Bố tri ́ không gian mô hình sản xuất chè an toàn 124
Hình 6 2 Mă ̣t cắt ngang của mô hình 131
Hình 6 3 Mă ̣t cắt đứng của mô hình 132
Hình 6 4 Hệ thống ao nuôi có ao lắng Error! Bookmark not defined Hình 6 5 Hệ thống ao nuôi có ao lắng và ao xử lý Error! Bookmark not defined
Trang 7Hình 6 6 Mặt cắt ngang của mô hình nuôi tôm – lúa (mô hình 3)Error! Bookmark not defined Hình 6 7 Mặt cắt đứng của môi hình nuôi tôm – lúa Error! Bookmark not defined
Hình 6 8 Sơ đồ mô tả mô hình nuôi tôm theo mô hình 4Error! Bookmark not defined
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 Các từ viết tắt tiếng Anh
DPSIR : Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng (Driving Forces-Pressures-State-Impacts-Responses)
EC : Ủy ban Châu Âu (European Committee)
ICM : Quản lý cây trồng tổng hợp
IPM : Quản lý dịch hại tổng hợp
2 Các từ viết tắt tiếng Việt
BVMT : Bảo vệ Môi trường
BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiê ̣n đa ̣i hóa
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
KHXH&NV : Khoa học xã hô ̣i và Nhân văn
KPH : Không phát hiê ̣n
KTXH : Kinh tế xã hô ̣i
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QLMT : Quản lý môi trường
TBVTV : Thuốc bảo vê ̣ thực vâ ̣t
TTS : Thuốc trừ sâu
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Trang 10Tuy hiện nay địa phương đã thực hiện một số biện pháp để quản lý các mặt hàng nông sản như kiểm tra, giám sát hoạt động buôn bán, sử dụng TBVTV, hướng dẫn người dân thực hiện các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM),… nhưng vẫn còn những hạn chế trong công tác quản lý do việc sản xuất của người dân vẫn còn tự phát, manh mún, việc kiểm tra giám sát TBVTV vẫn chưa thường xuyên, chưa kiểm soát được hết chất lượng của các mặt hàng nông sản
Đề tài “Điều tra, đánh giá ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong sản xuất hàng nông – thủy sản xuất khẩu và đề xuất giải pháp phòng ngừa” được thực hiện cũng nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu trên của địa phương
1.3 TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.3.1 Trong nước
Ở nước ta trong những năm gần đây trên nhiều vùng trồng nông sản đã xuất hiện nhiều loại sâu hại nguy hiểm, chúng đã gây tổn thất lớn đến năng suất và sản lượng cây trồng Ðể bảo vệ mùa màng, người nông dân đã phải sử dụng thuốc hoá học có độ độc cao để phun phòng trừ ngay trong khi dịch sâu hại xảy ra mới có thể đạt kết quả Song thuốc hoá học là con dao hai lưỡi, nó đã phá huỷ môi trường sống
ở ngay những vùng trồng rau, bông, đay và trực tiếp làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân, làm mất đi một số nguồn sinh vật có lợi cho con người
Vào năm 2000, Cục Môi Trường (cũ) phối hợp với Tổ chức Hỗ trợ Nghiên cứu Công nghiệp và Khoa học thuộc trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Na Uy (SINTEF) tổ chức các lớp Hội thảo – tập huấn thống kê các lọai thuốc BVTV quá hạn sử dụng, cấm sử dụng và cần tiêu hủy ở Việt Nam Hội thảo diễn ra tại Huế, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh nhằm trang bị cho cán bộ cấp cơ sở ở địa phương trên tòan quốc các phương thức cơ bản về điều tra, kiểm kê, cách xác định một số lọai thuốc BVTV độc hại, các biện pháp bảo hộ, phòng tránh và những kiến thức cơ bản về các công nghệ tiêu hủy các lọai thuốc
Tại hội thảo quốc tế “Những vấn đề về độc học môi trường do sử dụng hóa
chất ở Việt Nam – Đánh giá nhu cầu đào tạo”, Ông Jordan Ryan – đại diện
thường trú UNDP đánh giá cao những kết quả thu được của Dự án VIE/97/031 do UNDP tài trợ, coi đây là bước đầu tiên nhằm giải quyết thách thức về hóa chất nông nghiệp
Việt Nam cũng đã tranh thủ sự hỗ trợ của các cơ quan chính phủ trong nước
và mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nhằm tạo cơ hội tìm kiếm nguồn tài trợ cho các dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý độc học
môi trường như dự án “Nâng cao năng lực quản lý môi trường – VIE/97/1031” do
Trang 11Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ Dự án bắt đầu từ năm 1998
và kết thúc năm 2002 Chính Phủ Thái Lan tài trợ cho Sở Khoa học, Công nghệ và
Môi trường thành phố Hà Nội (cũ) dự án: “Các khóa đào tạo ngắn hạn nâng cao
năng lực quản lý dự án và độc học môi trường nhằm bảo vệ môi trường” thực
hiện từ năm 2002 đến năm 2004
Cũng trong năm 2002, Việt Nam đã phê chuẩn danh sách hóa chất độc hại trong đó có DDT, Furan, và PCB thuộc nhóm các hóa chất gây ô nhiễm hữu cơ khó
phân hủy đã được ký kết qua công ước Stockholm Việt Nam cũng vừa được UNDP
hỗ trợ kỹ thuật và tài chính trị giá 500.000 US$ để giúp thực hiện Công ước
Stockholm này nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của các hóa chất độc hại đối với môi
trường và sức khỏe con người Việt Nam cũng là thành viên trong Hiệp ước
Rottedam về sản xuất và trao đổi các hóa chất độc hại trên quốc tế
Đề tài: “Đánh giá ô nhiễm và suy thoái môi trường nuôi Tôm công nghiệp
và bán công nghiệp hai huyện Duyên Hải và Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh” do
GS-TSKH Lê Huy Bá và cộng sự thực hiện vào năm 2004, cho thấy rằng: Hàm lượng
As trong đất ở 2 huyện dao động trong khỏang 7,74-38,72 ppm (trung bình 20 ppm), vẫn nằm trong khỏang dao động trong đất, chứng tỏ chưa có dấu hiệu ô nhiễm Hàm lượng Cu: 23-42 ppm gần đạt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép của Hà Lan (36 ppm) nhưng vẫn còn xa so với tiêu chuẩn của Việt Nam (100 ppm) Ngòai ra còn một số chỉ tiêu khác như: Ec, Na, Cd…
Nhóm nghiên cứu do GS-TSKH Lê Huy Bá cũng đã tiến hành thực hiện đề
tài: “Điều tra ô nhiễm đất, nước và ảnh hưởng sức khỏe nông dân do sử dụng
thuốc trừ sâu và phân bón hóa học trên một số cây trồng chính ở Tây Ninh”,
2002 Đề tài đã tiến hành đánh giá được hiện trạng ô nhiễm môi trường do thuốc
BVTV, phân bón gây ra và ảnh hưởng của chúng đối với sức khỏe của người dân tại các khu vực trồng cây nông sản
Ngoài ra các nghiên cứu khác về ảnh hưởng của độc chất, độc tố trong các sản phẩm nông –thủy sản đã được thể hiện qua các đề tài sau:
Võ Mai, luận án phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp "Nghiên cứu đề xuất cải tiến một số biện pháp trong "qui trình tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại luá ở các tỉnh phiá nam" do Bộ Nông Nghiệp ban hành ngày 5 tháng 8 năm 1978
Phùng Thị Thanh Tú: Nghiên cứu phân tích, đánh giá tồn lượng hoá chất baỏ
vệ thực vật và tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số tỉnh miền Trung Luận án phó tiến sĩ khoa học hoá học: Hà Nội - 1995
PGS-PTS Hoàng Anh Cung, Đề Tài: Hiện trạng quản lý và sử dụng thuốc hoá học bảo vệ thực vật trên luá tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long (1992 - 1995)
Trang 121.3.2 Ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới đặc biệt ở các nước đang phát triển, số lượng các loại hóa chất và Thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) tăng hằng năm, vì việc sử dụng hóa chất, TBVTV là rất cần thiết trong nông nghiệp để bảo vệ mùa màng, trong y tế để diệt vec tơ truyền bệnh
Ở các nước Châu Âu, nông thủy sản hữu cơ có tốc độ tăng trưởng hàng năm 10% - 40% Kim ngạch bán lẻ thực phẩm hữu cơ ở Mỹ trên 4 tỷ USD/năm Hiện nay có 1/3 dân Mỹ mua sản phẩm hữu cơ, 83% dân Mỹ có nhu cầu mua thực phẩm hữu cơ Năm 2006, khối lượng tiêu thụ sản phẩm hữu cơ ở Mỹ là 47,0 tỷ USD Thực phẩm hữu cơ ở Đan Mạch chiếm 10% thị phần, với 400 chủng loại sản phẩm, chiếm tỷ lệ 20% số sản phẩm vào năm 2001 Ở Đức, thực phẩm hữu cơ chiếm 5% thị phần Ở Nhật, quy mô thị trường sản phẩm hữu cơ đạt mức 1-2 tỷ USD/năm 11 nước phát triển, trong đó có Mỹ, Anh, Pháp có tổng mức tiêu thụ đạt 13,5 tỷ USD vào năm 1998, chiếm 1% thị phần thực phẩm Trong đó 5 năm qua, EU, Mỹ, Nhật, tốc độ tăng trưởng về mức tiêu thụ sản phẩm hữu cơ trên thị trường tăng bình quân 25-30%/năm Năm 2006, kim ngạch tiêu thụ thực phẩm hữu cơ trên thị trường EU đạt 100 tỷ USD
Dưới những tác động xấu của hóa chất nông nghiệp đến môi trường, thế giới
đã bắt nhận thức được những mối nguy hại khi sử dụng hóa chất nông-ngư nghiệp không an tòan và hiệu quả Từ đó, nhiều chương trình bảo vệ môi trường nông nghiệp trên thế giới đã được thực hiện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các lọai hóa chất nông –ngư nghiệp gây nên Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp gọi tắt là IPM (Intergrated Pest Management) đã được phát triển trong vài thập kỷ gần đây là một hướng mới áp dụng các biện pháp luân phiên khác để làm giảm sự lệ thuộc vào hóa chất nông nghiệp Các tổ chức quốc tế như UNEP, FAO và WHO đã giúp các nước trên thế giới chuyển giao biện pháp chiến lược này nhằm quản lý dịch hại một cách bền vững
Tại Hàn Quốc, Chính phủ nước này đã thực hiện chương trình cắt giảm số lượng hóa chất dùng trong nông – ngư nghiệp bằng cách sử dụng một cách hiệu quả
và thận trọng chương trình IPM Trong một thời gian ngắn từ năm 1992, đã có hơn 9.000 người được đào tạo thành những chỉ dẫn viên và các chủ trang trại để tham gia vào chương trình IPM
Tại Thụy Điển, từ những năm 60, quốc gia này đã nhận thức được vấn đề môi trường của một nền nông nghiệp hiện đại Nhưng mãi đến đầu những năm 80, Thụy Điển mới bắt đầu thực hiện một cách nghiêm ngặt việc kiểm sóat ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp gây ra Năm 1986, một chương trình nhằm giảm nguy cơ đối với sức khỏe con người và môi trường đã được thực hiện, đạt mục tiêu giảm 50%
Trang 13lượng hóa chất sử dụng trong nông ngư -nghiệp Đến năm 1990, Quốc hội nước này
đã thông qua một dự luật mới với chính sách nghiêm ngặt hơn, qua đó lượng hóa chất sử dụng giảm còn 25% mức sử dụng từ năm 1981 đến năm 1985
1.4 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.4.2 Nội dung thực hiện đề tài
Đánh giá công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm hàng nông-thủy sản xuất khẩu (chè, lạc nhân và tôm) tại Nghệ An Bao gồm:
- Lấy mẫu và phân tích mẫu Xác định những hóa chất gây ô nhiễm chính Xác định tiêu chuẩn, chỉ tiêu cần phân tích cho từng loại mặt hàng
- Đánh giá ưu, nhựơc điểm trong công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm đối với từng loại mặt hàng
- Tìm nguyên nhân tác động đến ưu, nhựơc điểm trong công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm đối với từng loại mặt hàng
Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm hàng nông-thủy sản xuất khẩu Nội dung này gồm:
- Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm (Tuyên truyền, phổ biến cho tổ chức, cá nhân sản xuất nắm rõ tác hại của thực phẩm bị ô nhiễm; chỉ rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đảm nhận trách nhiệm trong việc nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh thực phẩm; tăng cường công tác kiểm soát và quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm);
- Nhóm giải pháp về kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (Đề xuất những tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất, sử dụng hoá chất nhằm ngăn ngừa, hạn chế tối đa sự tồn tại của hoá chất, kim loại nặng và vi sinh vật có hại trong khâu sản xuất, chế biến, bảo quản mặt hàng nông-thủy sản xuất khẩu);
- Nhóm giải pháp về quản lý nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát và quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; chỉ rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm);
- Nhóm giải pháp về chính sách khuyến khích hỗ trợ sản xuất mặt hàng thủy sản xuất khẩu (Đánh giá tác động của các cơ chế, chính sách đã ban hành đến sự
Trang 14nông-phát triển hay vướng mắc trong việc thực hiện công tác an toàn vệ sinh thực phẩm xuất khẩu; Đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong sản xuất mặt hàng nông-thủy sản xuất khẩu đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm).
Đề xuất một số mô hình dự kiến áp dụng các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm hàng nông-thủy sản xuất khẩu để thực hiện trong giai đoạn 2
Tổ chức Hội thảo khoa học
Nội dung hội thảo: Các giải pháp được đề xuất và các mô hình đề xuất dự kiến áp dụng nhằm tăng cường công tác kiểm soát và quản lý ô nhiễm hàng nông-thủy sản xuất khẩu
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thu thập và xử lý thống kê số liệu
Thu thập số liệu, tài liệu từ địa phương thông qua niên giám thống kê các năm từ 2006 đến 2008, các quyết định của UBND các huyện về điều kiện tự nhiên, tình hình sản xuất, hiện trạng môi trường các năm,… Các tài liệu thu thập được bao gồm:
- Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2009
- Báo cáo về tình hình sử dụng TBVTV các năm 2007, 2008 của Chi cục BVTV tỉnh Nghệ An
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội các huyện thuộc vùng nghiên cứu
- Quy hoạch sử dụng đất huyện Nghi Lộc
- Quy hoạch kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020
- Tình hình nuôi trồng và thủy sản huyện Thanh Chương và Anh Sơn các năm 2007, 2008
- Tình hình sản xuất lạc huyện Nghi Lộc và Diễn Châu các năm 2007,
- Cán bộ quản lý tại địa phương
- Những nhà sản xuất nông thủy sản xuất khẩu
Trang 15- Các hộ dân cư trồng chè, lạc và nuôi tôm ở các huyện thuộc khu vực nghiên cứu
2 Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo các chuyên gia về các hóa chất sử dụng trong nông – ngư nghiệp, các chuyên gia môi trường, sinh thái học nhằm xác định phương
án tối ưu cho việc đề xuất các mô hình sản xuất an toàn hợp lý tại địa phương
1.5 SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
- Báo cáo chuyên đề khoa học về tổng quan đánh giá thực trạng ô nhiễm do
sử dụng hoá chất trong sản xuất hàng nông-thủy sản xuất khẩu
- Báo cáo chuyên đề khoa học về đề xuất nhóm giải pháp và xây dựng mô hình nhằm phòng ngừa ô nhiễm sản phẩm chè
- Báo cáo chuyên đề khoa học về đề xuất nhóm giải pháp và xây dựng mô hình nhằm phòng ngừa ô nhiễm sản phẩm lạc nhân
- Báo cáo chuyên đề khoa học về đề xuất nhóm giải pháp và xây dựng mô hình nhằm phòng ngừa ô nhiễm sản phẩm tôm
- Báo cáo khoa học kết quả thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá ô nhiễm do
sử dụng hoá chất trong sản xuất hàng nông-thủy sản xuất khẩu và đề xuất giải pháp phòng ngừa”
- Một số bài báo đăng tại Tạp chí Thông tin KH&CN Nghệ An hoặc tại Chuyên san KHXH&NV Nghệ An
- Các cơ sở dữ liệu về điều tra, khảo sát, phân tích ụ nhiễm do sử dụng hoỏ chất trong sản xuất hàng nụng-thủy sản xuất khẩu
1.6 PHẠM VI VÀ ĐỊA CHỈ ỨNG DỤNG KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Các kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho các cơ quan quản lý địa phương phục vụ cho việc đưa các mô hình sản xuất vào thực nghiệm nhằm tìm ra
mô hình thích hợp có thể ứng dụng tại địa phương, cụ thể là:
- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An
- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An
- Phòng TNMT và các phòng nông nghiệp tại các huyện thuộc địa bàn nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
VÀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lí
Nghệ An thuộc phía Bắc Trung Bộ của Việt Nam Theo Niên giám thống kê
2008, Nghệ An có diện tích đất tự nhiên là 1.649.853,22 ha Trong đó diện tích nông nghiệp chiếm 70,96%, đất phi nông nghiệp chiếm 6,92% và còn lại 22,12% đất chưa sử dụng Đến năm 2008 dân số tỉnh Nghệ An là 3.123.084 người với mật
độ dân số trung bình là 189 người/km2
Với đường biên giới giáp với các tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc (196,13 km),
Hà Tĩnh ở phía Nam (92,6 km), phía Tây giáp với Lào (419 km) và phía Đông là đường bờ biển dài 82 km tạo cho Nghê An một vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế - hội, xây dựng và phát triển kinh tế đường biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế
Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2 (thành phố Vinh), 02 thị xã (thị xã Cửa
Lò và thị xã Thái Hòa) và 17 huyện gồm:
- 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn;
- 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành
Vùng nghiên cứu thuộc đề tài gồm 5 huyện: Thanh Chương, Anh Sơn, Nghi Lộc, Diễn Châu và Quỳnh Lưu
Với đặc thù vị trí địa lý, huyện Anh Sơn và Thanh Chương có điều kiện để phát triển cây chè Trong khi đó, huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu và Nghi Lộc là những huyện ven biển nên có điều kiện để phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc của dãy Trường Sơn có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (cao 2.177m) ở huyện
Kỳ Sơn, vùng đồng bằng thấp nhất là huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chi cao 0,2m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu)
Trang 17Với ba vùng sinh thái được phân chia khá rõ rệt: miền núi – trung du, đồng bằng và ven biển, trong đó miền núi chiếm tới 83% diện tích lãnh thổ Cùng với bờ biển 82km với nhiều bến cảng, bãi cát, đảo, cửa sông, bãi phù sa là dải đồng bằng hẹp xen giữa núi và biển, có dãy núi đâm ngang Vùng đồng bằng này có khả năng chuyên canh và thâm canh cây lúa và cùng các loại rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, là nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho hơn 3 triệu dân trong tỉnh, và là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản Tuy nhiên với địa hình đó làm cho đất bị rửa trôi, bào mòn, đồng thời gây trở ngại lớn cho sự phát triển giao thông, ngăn trở
sự lưu thông giữa các khu vực, góp phần gia tăng khoảng cách chênh lệch giữa các vùng
Đối với các huyện nằm trong vùng nghiên cứu, huyện Thanh Chương có địa hình dạng thung lũng, lòng máng đáy là sông Lam nghiêng về tả ngạn, xung quanh vừa có núi cao xen kẽ đồng bằng, đồi núi bị chia cắt bởi nhiều khe, suối quanh co cho nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, giao thông đi lại khó khăn Trong khi đó, huyện Anh Sơn có địa hình dốc dần từ Tây sang Đông, điểm cao nhất là đỉnh Kim Nhan (Phúc Sơn) với độ cao 1.340 m Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 100 – 200 m, thấp nhất là vùng ven bãi sông Lam (10 – 15 m)
Tương tự như Thanh Chương, địa hình Diễn Châu phần lớn là đồng bằng Đồng bằng Diễn Châu có dốc lớn, mặt cắt dày, ở đây từng diễn ra cả quá trình bào mòn, rửa trôi và bồi tụ Đồng bằng tại đây hẹp ngang, lũ rút rất nhanh mang theo ra biển những phần đất mầu mỡ chưa kịp lắng đọng lại Vì vậy đất nhẹ, giữ nước và phù sa kém
Trong khi đó, Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và và Quỳnh Lưu là huyện có địa hình phức tạp, với 43 xã, thị trấn, được phân bổ trên các vùng địa lý: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển
Trang 18Hình 2 1 Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An
Trang 192.1.3 Đặc điểm khí hậu
Các huyện thuộc vùng nghiên cứu có chung đặc điểm của tỉnh Nghệ An, vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Trung
Nhiệt độ
Chế độ khí hậu có sự phân hoá theo chiều từ Bắc vào Nam, từ biển vào đất liền mang tính chất chuyển tiếp giữa miền khí hậu phía Bắc và phía Đông Trường Sơn Bức xạ tổng cộng trung bình năm đạt 106 Kcal/cm2
Nhiệt độ trung bình trong năm 2008 là 23,36oC (Theo Niên giám Thống kê 2008) Nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao Biên độ nhiệt năm dao động trong khoảng 10,3-12oC
22,6 22,8 23 23,2 23,4 23,6 23,8 24 24,2 24,4 24,6 24,8
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
năm
Hình 2 2 Diễn biến thay đổi nhiệt độ tỉnh Nghệ An
Có thể thấy nhiết độ tại Nghệ An có sự thay đổi qua từng năm Nhiệt độ trung bình cao nhất vào năm 2003 và thấp nhất vào năm 2008
Hiện tượng thời tiết đặc biệt đáng chú ý ở Nghệ An là hiện tượng gió Tây khô nóng Đây là luồng gió mùa Tây Nam trong mùa hè bị thay đổi tính chất khi thổi qua dãy núi thượng Lào mà hệ quả đã mang lại cho những vùng thấp với độ cao khoảng dưới 700m của Nghệ An những ngày khô nóng với nhiệt độ tối đa có thể vượt qua 35o
C
Trang 20Những diễn biến bất lợi do thời tiết khắc nghiệt gây ra những hệ quả nghiêm trọng Đó là các trận cuồng phong, bão, lũ tàn phá nhà cửa, mùa màng, các công trình cơ sở hạ tầng và đe doạ cả tính mạng con người; sự khô hạn kéo dài làm ruộng đồng nứt nẻ, gây bất lợi cho cây trồng, vật nuôi gây thiệt hại lớn về kinh tế -
xã hội…
Mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm 2008 khá lớn dao động trong khoảng hơn
1300 đến dưới 2500mm Thấp nhất là ở huyện Tương Dương khoảng 1.385,2mm
và cao nhất là huyện Đô Lương với 2408,1 mm Tổng số ngày mưa trong năm từ
123 đến 152 ngày
0 100 200 300 400 500 600 700 800
Hình 2 3 Diễn biến lượng mưa các tháng trong năm 2008 tại Nghệ An
Như vậy, mùa mưa tại Nghệ An đạt mức cao nhất vào tháng 10 với lượng mưa đạt 694 mm Ngược lại, tháng 2 là tháng khô hạn nhất trong năm với lượng mưa chỉ đạt 23 mm
Số giờ nắng
Số ngày khô nóng trung bình hàng năm tại Nghệ An là 20 – 70 ngày Bên cạnh tác động của gió Tây khô nóng trong mùa hè, giông, lốc xoáy và mưa đá cũng là những hiện tượng thời tiết đặc biệt hay xuất hiện trong khu vực miền núi
Trang 21Số giờ nắng các tháng trong năm 2008 đƣợc thể hiện trong nhƣ trong biểu
đồ sau:
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
Hình 2 4 Số giờ nắng các tháng trong năm 2008 tại Nghệ An
Tổng số giờ nắng trong năm 2008 là 1312 giờ, thấp hơn so với năm 2003 (1755 giờ); 2004 (1697 giờ); 2006 (1580 giờ) và lớn hơn năm 2002 (1511 giờ);
2005 (1520 giờ)
Độ ẩm không khí
Độ ẩm trung bình năm 2008 là: 84,3% Độ ẩm thấp nhất là 80% vào tháng
7, vào tháng 10 độ ẩm cao nhất đạt 90% Độ ẩm các tháng trong năm 2008 nhƣ trong hình sau:
Trang 2274 76 78 80 82 84 86 88 90 92
là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 17.730 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó 14,4.109 là nước mặt
Nhìn chung, nguồn nước ngọt tại Nghệ An khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân
Tại các huyện thuộc vùng nghiên cứu, nguồn nước ngầm là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất và nhu cầu sinh hoạt Tuy nhiên, do mực nước ngầm thấp nên vào mùa khô tình trạng thiếu nước vẫn thường xuyên xảy ra
2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh đạt 10,31% cả thời
kỳ 2001-2008, trong đó giai đoạn 2001-2005 là 10,23% và giai đoạn 2006-2008 tăng 10,4% Tốc độ tăng GDP của tỉnh trong giai đoạn 2001-2005 cao hơn mức
Trang 23tăng chung của cả nước (7,51%), vùng Bắc Trung Bộ (9,51%) và một số tỉnh lân cận
Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2008 đạt 30.794,248 triệu đồng, tăng 32,9% so với năm 2007
Đối với các huyện thuộc vùng nghiên cứu thì tốc độ tăng trưởng cũng tương đối cao Tổng giá trị sản xuất của các huyện năm 2008 được đưa ra trong hình sau:
0 500 1000
Anh Sơn Diễn
Châu
Nghi Lộc Quỳnh
Lưu
Trung bình cả tỉnh
độ tăng trưởng thấp nhất là huyện miền núi Anh Sơn và tổng giá trị sản xuất cũng tương đối thấp ở mức trên 1.000 tỷ đồng
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và chưa vững chắc, trong 4 năm từ năm
2001 - 2004, tỷ trọng GTGT công nghiệp và dịch vụ tăng 6,28% (tỷ trọng công nghiệp tăng 7,38%, dịch vụ không tăng)
Hoạt động thương mại dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Kế hoạch xuất khẩu thực hiện chưa vững chắc
Trang 24Trong giai đoạn 2005 – 2008 chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có những biến đổi tích cực, nhưng chưa rõ nét, phát triển kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, thủy sản Tỷ trọng năm 2008: tổng sản phẩm của sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 37,16 % tăng 0,18% so với năm 2007, công nghiệp – xây dựng chiếm 32,07 % tăng 0,07% và thương mại – dịch vụ chiếm 30,77 % giảm 0,25%
Cơ cấu các ngành kinh tế năm 2008
37,16%
32,07%
30,77%
Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp - xây dựng Thương mại - dịch vụ
Hình 2 7 Cơ cấu tổng sản phẩm các ngành tỉnh Nghệ An năm 2008
Ở Thanh Chương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm Trên địa bàn huyện có nhiều nhà máy lớn hoạt động sản xuất, kinh doanh
đã làm cho các vùng nguyên liệu được hình thành, tạo việc làm và thu nhập cho hộ gia đình Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong 2 năm 2007 và 2008 tại Thanh Chương có thể thấy trong hình sau:
Trang 2527,3
33,2 45,1
Công nghiệp, xây dựng
2.2.3.1 Nông – lâm – ngư nghiệp
Nông - lâm - ngư nghiệp đã đạt những bước tiến đáng khích lệ trong những năm qua: đảm bảo lương thực, cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nguồn nông sản xuất khẩu; hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá; nội bộ cơ cấu ngành có sự chuyển dịch tích cực
Tổng giá trị sản xuất năm 2006 ước đạt 5.654 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994) tăng 6,72% so với năm 2005, trong đó ngành Nông nghiệp đóng góp tới 78,9%, tăng 7,2%; ngành Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 11%, tăng 1,51% và ngành Thuỷ sản đóng góp 1,10%, tăng 8,4%
Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ lẻ và phân tán, vẫn còn những hạn chế nhất định trong khâu cung ứng về giống, kỹ thuật sản xuất và cho vay vốn sản xuất Các đầu mối tiêu thụ chưa bám sát thị trường, chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa khâu sản xuất và tiêu thụ…
Trang 262.2.3.2 Công nghiệp – xây dựng
Công nghiệp Nghệ An trong những năm qua đã có bước phát triển nhất định, hình thành cơ cấu đa ngành: cơ khí, luyện kim (luyện thiếc), hóa chất, dệt may, thuộc da, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản… đã góp phần vào khai thác các lợi thế phục vụ cho một số nhu cầu sản xuất và đời sống Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001 đạt 1.568,276 tỷ đồng, năm 2005 đạt 4161,0 tỷ đồng Tốc
độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân 4 năm đạt 30,02% so với mục tiêu
kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là 21 - 22%
Đã hình thành cơ cấu công nghiệp nhiều thành phần, công nghiệp quốc doanh trong một số lĩnh vực đã phát huy tác dụng tốt Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá góp phần cùng các nghành kinh tế khác giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội Tuy vậy, đến nay, công nghiệp Nghệ An cũng chỉ xếp vào loại trung bình của cả nước, chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của tỉnh
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tiềm năng rất lớn nhưng chưa khai thác được thế mạnh Lực lượng kinh tế ngoài quốc doanh từ lâu đã có thế mạnh, tay nghề được nâng cao, nhanh nhạy tiếp thu công nghệ mới, lại được các chính sách khuyến khích của tỉnh nên phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức tổ chức Góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế về nguyên liệu, vốn và thị trường Song quản lý nhà nước ở lĩnh vực này còn nhiều khó khăn, lúng túng
2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Số trường học mẫu giáo từ năm 2003 đến 2006 giảm nhẹ, từ 2-3 trường/năm, đến năm 2007 tăng lại 1 trường so với năm 2006 thành 502 trường
Số lớp học cũng giảm nhưng số giáo viên, số học sinh có xu hướng tăng lên
Số trường học phổ thông cũng giảm từ năm 2003 – 2007, đến năm 2007 chỉ còn 1119 trường, trong đó số trường tiểu học chiếm đa số với 565 trường năm
2007, trung học cơ sở 438 trường, trung học phổ thông 89 trường Số lượng lớp học trong giai đoạn từ 2003 -2007 cũng giảm nhưng số phòng học lại tăng
2.2.6 Văn hóa – thể dục thể thao
Năm 2007, tỉnh có khoảng 73 vận động viên thể thao chuyên nghiệp Trong đó: điền kinh có 10 người, võ thuật 30 người, bơi lội 10 người, bắn súng 6 người, cầu mây 1 người, boxing 14 người và bi sắt 2 người
Số huy chương thể thao thi đấu trong nước đạt được trong năm 2007 là 178 cái, thi đấu quốc tế là 5 cái
Trang 272.3 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
2.3.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.649.853,21 ha, trong đó đất nông nghiệp là 1.170.716,32 ha, đất phi nông nghiệp là 114.220,81 ha và 364.916,08 ha đất chưa sử dụng Hiện trạng sử dụng đất tại Nghệ An năm 2008 như trong hình sau:
Lâmnghiệp
Nuôitrồngthủysản
Nôngnghiệpkhác
Đất ở Chuyên
dùng
Phinôngnghiệpkhác
Huyện Thanh Chương có đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét, phấn sa, philit, quắcdit với diện tích khoảng 30.445 ha; bằng 27,0% diện tích các
Trang 28loại thổ nhưỡng; chủ yếu phát triển trên đá biến chất và đá thạch sét, có ở hầu hết các xã trong huyện, phân bố chủ yếu ở dạng đồi hoặc núi thấp; tập trung nhiều nhất ở vùng hữu ngạn sông Lam Tầng đất dày có lý tính và hóa tính tương đối tốt Tùy độ dốc, mức độ khai thác trước đây của con người mà có nơi đất đã bị bạc màu, tầng đất mỏng trơ sỏi đá và nhất là vùng tả ngạn Nơi độ dốc ít, tầng đất tương đối dày, tập trung thành những vùng lớn được sử dụng để trồng cây công nghiệp dài ngày như: Chè, cây ăn quả và đất khu dân cư Đây là loại đất khá quan trọng trong ngành sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện; tiềm năng còn nhiều, có thể khai thác khoảng từ 3.000 - 5.000 ha để trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc cây ăn quả, làm đồng cỏ chăn nuôi Những vùng đất có tầng đất mỏng, độ dốc lớn dùng trồng cây lâm nghiệp
Vùng đất có thể trồng chè tại Anh Sơn là đất Feralit nâu đỏ phát triển trên
đá vôi và đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét Đất Feralit nâu đỏ
có diện tích khoảng 392 ha, nằm ở dưới chân núi đá vôi tại Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn, Thọ Sơn Đây là loại đất khá tốt, có thể trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cây ăn quả và các loại rau màu khác Hiện nay hầu hết diện tích loại đất này đã được sử dụng Đất Feralit đỏ vàng chiếm diện tích 22.015 ha (chiếm 36,33% diện tích), phân bổ ở hầu hết các vùng đồi của huyện Nhiều nhất là ở các xã Cao Sơn, Khai Sơn, Long Sơn, Phúc Sơn Đây là loại đất quan trọng, nhiều tiềm năng và là thế mạnh của huyện, là loại đất tương đối tốt về lý tính cũng như hóa tính Thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, thích hợp cho trồng nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả, rau màu, trồng rừng và làm đồng cỏ,… Một số nơi lâu nay
sử dụng không hợp lý nên đã thoái hóa nghiêm trọng, bị xói mòn tầng đất mỏng
Trong khi đó, huyện Nghi Lộc có tiềm năng để phát triển diện tích trồng lạc
do có các loại đất tích hợp như đất cồn cát, đụn cát, đất cát cũ ven biển và đất dốc
tụ Đất cồn cát, đụn cát có ở tất cả các xã ven biển như Nghi Thịnh, Nghi Xá, Nghi Thạch, Nghi Ân, Nghi Trường, Nghi Xuân, Nghi Phong, Nghi Thái, Phúc Thọ diện tích khoảng 2.279 ha, chiếm 5,88%, phân bổ thành từng bãi hoặc dải cồn cao, đây là loại đất xấu, khả năng trao đổi Cation và giữ nước rất thấp, hàm lượng mùn, đạm, lân tổng số và dễ tiêu đều rất nghèo Đất cát ven biển phân bố hầu hết ở các xã vùng màu, diện tích khoảng 8.161 ha, chiếm 21,56% diện tích các loại đất Đây là loại đất có diện tích lớn nhất của huyện, đất có thành phần cơ giới
là cát pha, hàm lượng sét thấp, đất này bị phủ một lớp cát biển nên hạt thô và rời rạc, mùn ít, đạm tổng số và đạm dễ tiêu đều nghèo, lân, kali tổng số và dễ tiêu nghèo hoặc trung bình; mực nước ngầm cách mặt đất khoảng từ 30- 50 cm Đất
Trang 29dốc tụ có diện tích khoảng 235 ha, chỉ chiếm 0,6% diện tích các loại đất, nằm rải rác ở các xã Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Kiều Các loại đất này ngoài thích hợp để trồng lạc còn có thể trồng các loại hoa màu khác như đậu, vừng, sắn, khoai lang,…
2.3.2 Tài nguyên nước
2.3.2.1 Huyện Thanh Chương
Nguồn nước mặt
Ngoài nước mưa thì sông Lam là con sông lớn chảy qua huyện dài 48 km; cùng với các sông nhánh như sông Giăng, sông Gang, sông Hoa Quân, sông Rộ và nhiều khe suối nên nguồn nước mặt của huyện tương đối dồi dào Nhiều sông suối
có độ dốc lớn, lòng sông hẹp, uốn khúc, lượng mưa tập trung theo mùa nên lũ lụt,
lũ quét, xói mòn đất thường xuyên xảy ra nghiêm trọng, lòng sông bị cạn dần Đất trồng màu do địa hình cao, xa nguồn nước ngọt nên việc giải quyết nước tưới cho vùng này còn khó khăn Trong những năm gần đây khi các công trình và hệ thống thủy lợi được xây dựng thì nguồn nước tưới đã được tăng lên đáng kể
Nguồn nước ngầm
Đây là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sản xuất và nhu cầu sinh hoạt; tuy nhiên do mực nước ngầm thấp nên vào mùa khô tình trạng thiếu nước vẫn thường xuyên xảy ra
2.3.2.2 Huyện Anh Sơn
Nguồn nước mặt
Huyện có nguồn nước mặt thuận lợi được cung cấp từ 72 hồ chứa nước cùng với hệ thống sông suối có tổng diện tích mặt nước gần 3.000 ha, cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt Song nguồn nước phân bố không đều giữa các vùng, các mùa, mực nước lại thấp so với độ cao đồng ruộng, địa hình không bằng phẳng lại bị chia cắt lớn Vì vậy hiện tượng khô hạn vào mùa nắng nóng, lũ lụt về mùa mưa hàng năm vẫn xảy ra trên diện rộng
Nguồn nước ngầm
Qua thực tế khai thác của nhân dân tại vùng cho thấy nước ngầm trong khu vực phân bố khá rộng, chất lượng đảm bảo và có khả năng phục vụ khai thác theo kiểu công nghiệp
Trang 302.3.2.3 Huyện Nghi Lộc
Nguồn nước mặt
Ngoài nước mưa thì nguồn nước tưới chính cho đồng ruộng chủ yếu lấy từ kênh Nhà Lê, sông Tân Giai, sông Cấm, kênh Kẻ Gai và một số hồ đập lớn ở vùng bán sơn địa nhưng cũng chỉ đáp ứng cho khoảng 67% diện tích đất trồng lúa Riêng đối với đất trồng màu do địa hình cao, nguồn nước ngọt xa nên việc giải quyết nước tưới cho vùng này còn khó khăn Nguồn nước sông Cấm khá dồi dào nhưng chịu ảnh hưởng của nước mặn nên việc sử dụng nguồn nước này bị hạn chế, ở đây về mùa mưa lại hay bị úng lụt Trong những năm gần đây khi các công trình và hệ thống thủy lợi được xây dựng đã dần ngọt hóa được nước sông Cấm, thì nguồn nước tưới tăng lên đáng kể
Nguồn nước ngầm
Trong vùng này đối tượng chứa nước chính là tầng q và C-P bs Trữ lượng nước xác định được ở cấp C2 cho tầng C-P bs (phạm vi 290 km2) đạt 247.576 m3/ngày và tầng q trên diện tích 150 km2 đạt 224.911 m3/ngày
2.3.2.5 Huyện Quỳnh Lưu
Nguồn nước mặt
Nguồn nước mặt ở huyện được lấy từ hệ thống thủy nông Bắc và hệ thống
80 hồ đập trữ nước Nhìn chung, huyện Quỳnh Lưu có nguồn nước mặt khá dồi dào để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân, song do sự phân
bố không đồng đều nên vùng bán sơn địa phía Tây Nam và vùng ven biển vẫn xảy
ra hiện tượng hạn hán nhiều tháng trong năm
Nguồn nước ngầm
Trang 31Nguồn nước ngầm của huyện khá phong phú Tuy nhiên, hiện nay nguồn nước ngầm mới chỉ khai thác phục vụ sinh hoạt, chưa được khai thác để phục vụ sản xuất Ở một số vùng nước bị nhiễm mặn gây ra những khó khăn trong sinh hoạt và cho hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân
2.3.3 Tài nguyên thủy, hải sản
Nghi Lộc có 14km bờ biển, diện tích khoảng 12.000 km2 mặt biển tạo nên vùng bãi triều tương đối rộng tập trung ở 7 xã: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thái, Nghi Xuân, Nghi Quang, Nghi Thiết, Phúc Thọ Tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng, khai thác phục vụ chế biến thuỷ sản, phát triển du lịch biển
Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong, Cửa Hiền, Núi Rồng, nước và cát sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp
và có vị trí thuận lợi về giao thông
Với bờ biển dài 34 km (chiếm 41% chiều dài bờ biển của tỉnh), 3 cửa sông lớn đổ ra biển (Cửa Thời, Cửa Quèn và Cửa Cờn), Quỳnh Lưu có những điều kiện thuận lợi lớn để phát triển kinh tế biển Quỳnh Lưu đứng hàng đầu trong các huyện ven biển về thủy sản Vùng biển Quỳnh Lưu có nhiều loài thực vật và động vật phù du sinh sống và phát triển, là nguồn thức ăn dồi dào cho hải sản, trong đó
có nhiều loài có giá trị kinh tế cao
2.3.4 Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của vùng nghiên cứu khá phong phú Diện tích đất lâm nghiệp xcủa từng huyện như trong hình sau:
Trang 32Hình 2 10 Diện tích rừng của các huyện thuộc khu vực nghiên cứu
Có thể thấy tiềm năng đất đai để phát triển lâm nghiệp của huyện Thanh Chương là rất lớn và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của huyện Diện tích rừng và đất rừng nhiều, rừng tự nhiên có trữ lượng khá, rừng trồng phát triển nhanh Đất rừng chủ yếu phát triển trên đá phiến thạch và biến chất là loại đất tốt, cây rừng phát triển nhanh; điều kiện khai thác và vận chuyển tương đối thuận lợi Tuy khoanh nuôi bảo vệ là chủ yếu nhưng một số diện tích rừng trồng hiện nay đã
có khả năng khai thác và cho một nguồn lợi đáng kể từ rừng
2.3.5 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của vùng nghiên cứu chủ yếu là các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng Ngoài ra còn có một số mỏ kim loại tại Thanh Chương và Nghi Lộc
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng
Trang 33CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÙNG
NGHIÊN CỨU
3.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT
3.1.1 Hiện trạng môi trường đất trong sản xuất nông nghiệp
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh, có một diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn nằm xen kẽ với các lâm phần, tập trung ở các huyện: Quế Phong, Quỳ Hợp, Tương Dương và Kỳ Sơn Phần lớn diện tích đất này là do các
hộ du canh, du cư khai phá và sản xuất, sau một thời gian thì bỏ hoang Do đó chất lượng đất không ổn định và bị thoái hóa dần
Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu hóa, lý đất vùng núi Nghệ An
Loại đất
Tầng canh tác (cm )
Thành phần
cơ giới
Chỉ tiêu dinh dưỡng
Mù
n ( %)
Đạm tổng
số (%)
Đạm dễ tiêu mg/100
g đất
Lân
TS ( % )
Lân dễ tiêu mg/100
g đất
Độ chua thủy phân
Tổng Catio
n trao đổi
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An, 2001
Đất vùng núi Nghệ An nghèo mùn (trên 900m hàm lượng mùn cao) Hàm lượng lân dễ tiêu thấp, lân tổng số ở mức trung bình và giàu Vùng đồi núi trọc và phù sa nghèo lân dễ tiêu
Trang 34Do đặc điểm của nền sản xuất du canh, nên khu vực đất trống đồi núi trọc lớn nên quá trình rửa trôi, xói mòn và thoái hóa đất diễn ra nhanh; đất có phản ứng chua hơn (pH KCl: 4,25 - 4,70) Cation kiềm trao đổi và dung tính hấp thụ thấp (tương ứng là < 5mep/100g đất và < 16 meq/100g đất) Hàm lượng hữu cơ tầng mặt đạt từ (1,89 – 3,2%)
Đạm tổng số trong đất ở tầng mặt đạt từ trung bình đến khá (0,134 – 0,205%) xuống các tầng dưới giảm nhanh Lân tổng số và dễ tiêu nghèo (0,04 – 0,06%) và ( 3,2-5,7 mg/100g đất) Kali tổng số dễ tiêu đều nghèo (tương ứng 0,33-0,7% và 3,5-6,3mg/100g đất )
Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An, lượng phân bón
sử dụng trong sản xuất nông nghiệp những năm gần đây không có sự biến động lớn, năm 2002 khoảng 45.000 tấn, năm 2003 khoảng 45.000 tấn, năm 2004 tăng lên khoảng 55.000 tấn
Bảng 3 2 Lượng phân bón hóa học sử dụng ở tỉnh Nghệ An
Năm Diện tích đất trồng
cây hàng năm (ha)
Lượng phân bón sử dụng ( tấn)
60% Lượng phân bón tồn dư ( tấn)
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An
Có thể nhận thấy lượng phân bón tồn dư ở tỉnh Nghệ An là rất lớn vào khoảng 33.000 tấn/năm tương đương với 170kg/ha đất trồng cây hằng năm Đây
là một trong những nguyên nhân làm cho đất ô nhiễm
Ô nhiễm do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Trang 35Ở tỉnh Nghệ An, với diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 249.046,7 ha năm 2005 và như vậy lượng hóa chất BVTV được sử dụng vào khoảng 150 tấn, trong đó lượng tồn dư vào khoảng 75 tấn trong đất, tương đương với khoảng 0,03kg/ha Ngoài ra lượng tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong đất khi sử dụng, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người Phần lớn do bảo quản sử dụng thuốc BVTV không đúng quy trình đã gây ra ô nhiêm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân
Tính cho đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh đã phát hiện được 50 điểm tồn dư thuốc BVTV tại các huyện Nghĩa Đàn (07 điểm), Nam Đàn (03 điểm), Yên Thành (05 điểm), Đô Lương (05 điểm), Tân Kỳ (23 điểm), Hưng Nguyên (02 điểm), Diễn Châu (01 điểm), Thanh Chương (01 điểm), Anh Sơn (01 điểm), Nghi Lộc (01điểm), Hưng Đông - Vinh (01 điểm) Trong đó có 33 điểm đang được khảo sát
và lập đề án xử lý Nguyên nhân tồn tại các điểm tồn dư này là do tồn đọng từ sau chiến tranh hoặc quá trình xây các kho chứa và bảo quản thuốc trừ sâu chưa đúng quy định
Việc kinh doanh hóa chất BVTV còn tuỳ tiện Thuốc quá hạn sử dụng, thuốc thiếu liều lượng, thuốc giả vẫn còn được lưu hành Việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh vẫn còn bừa bãi Hiện tượng bao bì đựng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ không được thu gom và xử lý mà vứt bừa bãi trên ruộng gây ảnh hưởng đến môi trường đất, nước vùng nông nghiệp
3.1.2 Ô nhiễm môi trường đất do rác thải từ sinh hoạt
Tại khu vực Quỳ Châu, bãi rác nằm dưới chân núi đá vôi, rộng vài trăm m2 Hiện trạng có mùi hôi, nhiều ruồi nhặng Được xử lý bằng cách đốt thành tro Khu vực bãi thải đã bị ô nhiễm đất do kim loại nặng, tuy chưa đến mức nghiêm trọng nhưng đã có ảnh hưởng nhất định đến môi trường đất và sức khoẻ cộng đồng
Nhìn chung môi trường đất của Nghệ An chưa bị ô nhiễm trừ những khu công nghiệp, khu khai thác khoáng sản và Thành phố Vinh
Trang 36Đất để canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp chưa có dấu hiệu
bị ô nhiễm chất thải mà mới chỉ thấy dấu hiệu của sự canh tác không khoa học (bón phân không đúng tiêu chuẩn, phun thuốc trừ sâu, bệnh không đúng quy cách
3.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ, TIẾNG ỒN
Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu của thành phố là do hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp, khu công nghiệp, khu tiểu thủ công nghiệp, phương tiện giao thông phát sinh khí thải (SO2, NOx, CO2, CO, CxHy), bụi
và tiếng ồn
Quá trình sản xuất gạch ngói sử dụng nhiên liệu là than đá nên cũng phát sinh ra bụi, khí SO2, NOx… Làng nghề Nghĩa Hoàn, sử dụng 5 tấn than cám/vạn viên ngói và 6 xe củi/lò Như vậy, số lượng than, củi sử dụng hàng năm là rất lớn, khoảng 15.000 tấn than và 5000 xe củi Các lò than thủ công không có biện pháp
xử lý khói lò nên phát thải ra bụi, khí CO2, SO2 là rất lớn
Môi trường không khí nhìn chung còn trong lành, ngoại trừ tại các khu vực gần cơ sở sản xuất độc lập, khu công nghiệp (nhà máy xi măng 12/9 và 19/5, khu công nghiệp Thung Khuộc, nhà máy xi măng Cầu Đước), các điểm nút giao thông (ngã tư chợ Vinh, ngã ba Quán Bánh) bị ô nhiễm về bụi, tiếng ồn nhưng mang tính cục bộ
Trang 37Bảng 3 3 Chất lượng không khí tại một số điểm trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 38Nguồn: Báo cáo Kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Nghệ An đợt 1-năm 2009
Vị trí lấy mẫu tại các huyện quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, Anh Sơn, Nam Đàn, Quỳ Hợp
- K1: Tại cổng văn phòng công ty xi măng Hoàng Mai
- K2: Ngoại vi KCN Nam Cấn (cách 100m theo hướng Đông Bắc)
- K3: Ngoại vi KCN Nam Cấn (cách 100m theo hướng Tây Nam)
- K4: Trung tâm thị xã Cửa Lò
Trang 39- K5: Ngoại vi KCN Diễn Hồng – Diễn Châu (cách KCN 50m theo hướng Đông Bắc)
- K6: Ngoại vi KCN Diễn Hồng – Diễn Châu (cách KCN 50m theo hướng Tây Nam)
- K7: Trước cổng nhà máy xi măng 12/9 và 19/5
- K8: Khu du lịch Kim Liên
- K9: Ngoại vi KCN nhỏ Thung Khuộc, thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp (cách KCN 50m theo hướng Đông Bắc)
- K10: Ngoại vi KCN nhỏ Thung Khuộc, thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp (cách KCN 50m theo hướng Tây Nam)
Vị trí lấy mẫu tại thành phố Vinh
- K11: Ngoại vi KCN Bắc Vinh (cách KCN 100m theo hướng Đông Bắc)
- K12: Ngoại vi KCN Bắc Vinh (cách KCN 100m theo hướng Tây Nam)
- K13: Tại ngã tư chợ Vinh
- K14: Ngã tư Bến Thủy
- K15: Ngã ba quán Bánh
- K16: Khu vực Quảng trường Hồ Chí Minh và Tượng đài Bác Hồ
- K17: Tại phường Cửa Nam gần nhà máy xi măng Cầu Đước
- K18: KCN nhỏ Nghi Phú (cách 50m về phía Đông Bắc)
Trang 40- K19: KCN nhỏ Nghi Phú (cách 50m về phía Tây Nam)
- K20: Ngoại vi KCN Đông Vĩnh, phường Đông Vĩnh (cách 50m theo hướng Đông Bắc)
- K21: Ngoại vi KCN Đông Vĩnh, phường Đông Vĩnh (cách 50m theo hướng Tây Nam)
- K22: Ngoại vi KCN nhỏ Hưng Lộc (cách KCN 50m theo hướng Đông Bắc)
- K23: Ngoại vi KCN nhỏ Hưng Lộc (cách KCN 50m theo hướng Tây Nam)