BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TỰ ĐỘNG CHO HÌNH THỨC THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Trang 1Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TỰ ĐỘNG CHO HÌNH THỨC THI
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Mã số: V2014-41
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đinh Tuấn Long
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đinh Tuấn Long
Các thành viên: ThS Trần Thị Lan Thu
Trang 4MMỤC LỤCỤC LỤCỤC LỤC DANH M
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTỤC TỪ VIẾT TẮTỤC TỪ VIẾT TẮT DANH M
1.3 Đánh giá kết quả hình thức trắc nghiệm khách quan 9 1.4 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác đánh giá kết quả 9 Chương 2: Th
Chương 2: Thực trạng công tác công tác tực trạng công tác công tác tực trạng công tác công tác tổ chức thi hết môn học/học phầnổ chức thi hết môn học/học phầnổ chức thi hết môn học/học phầntheo theo hình th
hình thức trắc nghiệm khách quan tại Trung tâm Đức trắc nghiệm khách quan tại Trung tâm Đức trắc nghiệm khách quan tại Trung tâm Đào tào tào tạo ạo ạo EEE Learning, ViLearning, ViLearning, Viện Đại ện Đại h
học Mở Học Mở Học Mở Hà Nà Nà Nộiộiội 11 11
Trang 53.1 Đề xuất giải pháp 17
3.2.1 Phân tích thiết kế phần mềm chấm thi trắc nghiệm tự động 17
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Quy trình tổ chức thi trắc nghiệm tại Trung tâm Đào tạo E-Learning 14
Hình 2: Ma trận yêu cầu của đề thi 15
Hình 3: Mô hình hoạt động của phần mềm chấm thi tự động 19
Hình 4: Mô hình Use-Case của phần mềm chấm thi tự động 21
Hình 5: Biểu đồ hoạt động tạo Project mới 33
Hình 6: Biểu đồ hoạt động nhập bài thi 34
Hình 7: Biểu đồ hoạt động thêm bài thi 35
Hình 8: Biểu đồ hoạt động xóa bài thi 36
Hình 9: Biểu đồ hoạt động nhập đáp án 37
Hình 10: Biểu đồ hoạt động nhập danh sách sinh viên 38
Hình 11: Biểu đồ hoạt động sửa lỗi 39
Hình 12: Biểu đồ hoạt động tạo báo cáo 40
Hình 13: Biểu đồ hoạt động xuất báo cáo 40
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trung tâm Đào tạo E-Learning, Viện Đại học Mở Hà Nội được Viện giao cho nhiệm vụ phát triển và triển khai đào tạo theo phương thức eLearning Hiện nay, Trung tâm đang có gần 8000 sinh viên theo học, với 5 ngành đào tạo: Luật kinh tế, Công nghệ thông tin, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng và
Kế toán Với số lượng sinh viên đông, phương thức đào tạo mới, địa điểm đào tạo phân tán, Trung tâm đã lựa chọn hình thức thi trắc nghiệm khách quan làm hình thức thi chính cho các kỳ thi kết thúc học phần/môn học Điều này đã giúp đảm bảo kết quả các kỳ thi là trung thực, khách quan, thời gian có kết quả nhanh, được sinh viên đánh giá cao
Tuy nhiên, hình thức tổ chức thi này cũng còn những vấn đề cần được hoàn thiện hơn để góp phần nâng cao chất lượng cho hình thức tổ chức thi này, đặc biệt là khâu đánh giá kết quả bài làm của thí sinh
Trong thời gian qua, Trung tâm đang sử dụng phần mềm chấm điểm thi trắc nghiệm do đối tác là công ty Edutop64 cung cấp, tuy nhiên, đây là một phần mềm đã được xây dựng từ năm 2009, bản thân nhóm phát triển phần mềm này đã rời khỏi công ty Edutop64, nên phần mềm không có khả năng nâng cấp, đổi mới theo những yêu cầu mới phát sinh trong thời gian này Chính vì vậy, việc cần có một sự nghiên cứu các vấn đề phát sinh từ thực tế triển khai, để đưa
ra một giải pháp hoàn toàn của Viện Đại học Mở Hà Nội trong việc đánh giá tự động bài thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan là rất cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hình thức thi trắc nghiệm khách quan càng ngày càng được quan tâm nhiều hơn, từ việc sử dụng máy tính hỗ trợ khâu sản xuất đề thi đến cao hơn nữa là tổ chức kỳ thi, hỗ trợ công tác chấm thi Việc áp dụng công nghệ thông tin đã gia tăng độ chính xác và giảm thời gian cho công tác chấm, tăng cường tối đa tính khách quan của hình thức thi này Hiện nay, có rất nhiều đơn vị trong và ngoài đã ứng dụng công
Trang 9nghệ thông tin trong các giai đoạn của quá trình tổ chức thi trắc nghiệm như trong các kỳ thi lấy chứng chỉ quốc tế Toelf, IELTS,… hay sát hạch lý thuyết
để lấy bằng lái xe Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã sử dụng các hệ thống chấm thi tự động cho kỳ thi đại học theo tiêu chuẩn 3 chung từ năm 2004 đến nay
Trên thị trường hiện nay cũng có rất nhiều các sản phẩm được xây dựng để phục vụ cho công tác chấm thi trắc nghiệm như MrTest của Đại học Quốc gia Hà Nội, eTest của Đại học Lạc Hồng, AutoMark của công ty MTV LIINK,… với nhiều chức năng đa dạng Tuy nhiên, các sản phẩm thương mại đều có nhiều tính năng không cần thiết và khó để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của nhà trường, thêm vào đó, đa phần các phần mềm đã có chủ yếu chỉ tập trung vào việc chấm điểm mà còn thiếu tính năng phân tích tự động, để từ đó
có cơ sở cải tiến, nâng cấp chất lượng ngân hàng đề thi và nâng cao hiệu quả đào tạo Nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu đưa ra giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong việc đánh giá tự động kết quả bài thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan và từ đó, làm cơ sở để có thể xây dựng một phần mềm thực hiện công việc này
3 Mục tiêu
Nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan tại Trung tâm Đào tạo E-Learning, từ đó đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong việc đánh giá kết quả bài thi trắc nghiệm khách quan cho hệ đào tạo theo phương thức eLearning tại Trung tâm Đào tạo eLearning – Viện Đại học Mở Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đi theo hướng khảo sát thực tế các yêu cầu của Trung tâm, từ đó tiến hành đề xuất giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ các yêu cầu
đó Phương pháp nghiên cứu sử dụng là phương pháp thống kê số liệu phục vụ việc khảo sát và phương pháp thực nghiệm để đưa ra các đánh giá kết quả giải pháp đề xuất
Trang 105 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tình hình tổ chức chấm thi trắc nghiệm tại Trung tâm Đào tạo eLearning
- Phân tích và thiết kế phần mềm chấm thi trắc nghiệm tự động
- Xây dựng phần mềm chấm thi trắc nghiệm tự động thử nghiệm
- Triển khai, đánh giá hiệu quả
- Xây dựng các tài liệu hướng dẫn sử dụng liên quan
Trang 11PHẦN II NỘI DUNG
số các môn trong kỳ thi đầu vào đại học từ năm 2008 Chính vì sự phổ biến của mình, khi người ta nói đến thi trắc nghiệm, được ngầm hiểu là trắc nghiệm khách quan Các câu hỏi được sử dụng trong các bài thi trắc nghiệm được gọi
là câu hỏi trắc nghiệm, những câu hỏi này được thiết kế và xây dựng theo những tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo được các đặc điểm của phương pháp đánh giá này
Cấu trúc của câu hỏi trắc nghiệm thông thường bao gồm những thành phần sau:
Phần chính: luôn luôn có với bất kỳ câu hỏi trắc nghiệm nào
- Phần hỏi: là phần đặt vấn đề của câu hỏi trắc nghiệm
- Phần trả lời: là phần đưa ra các phương án để người trả lời lựa chọn
- Phần đáp án: là đáp án đúng của câu hỏi, phần này chỉ sử dụng khi tiến hành chấm một bài thi trắc nghiệm
Trang 12Phần thông tin bổ sung: tùy thuộc vào yêu cầu, các phần này có thể có hoặc không
- Phần phân loại theo mức độ khó dễ: đánh giá mức độ khó dễ của câu hỏi
- Phần phạm vi kiến thức: xác định phạm vi kiến thức của câu hỏi trắc nghiệm
1.1.2 Lợi ích của trắc nghiệm khách quan
- Tính khách quan: sử dụng TNKQ thì sẽ giải phóng được ảnh hưởng chủ quan của người chấm Tính chủ quan của người chấm thể hiện rõ trong việc chấm bài tự luận hiện nay Chúng ta từng thấy các giám khảo khác nhau đánh giá khác nhau cùng một bài làm Ngay cả khi cùng một giám khảo thì điểm số của một bài làm cũng có thể thay đổi tuỳ theo từng lúc Ngược lại, khi sử dụng TNKQ thì khả năng tác động của ảnh hưởng xa lạ đối với việc đánh giá thu lại đến mức tối thiểu do mỗi câu hỏi đều có câu trả lời cho sẵn, nên việc chấm được tiến hành một cách máy móc, không đòi hỏi chuyên môn của giám khảo và có thể chấm bài TNKQ bằng bảng đục lỗ hoặc bằng máy
- Quá trình tiến hành nhanh chóng, mất ít thời gian: Việc soạn thảo một bài TNKQ là rất lâu và công phu, nhưng việc chấm bài lại rất nhanh chóng và thuận lợi Nếu chấm bài tự luận, nhất là ở những lớp đông SV, thì có khi phải mất hàng tuần, hoặc hơn thế nữa thì mới trả được bài Nhưng nếu chấm bài TNKQ thì một giờ có thể chấm hàng trăm bài, nhất là nếu sử dụng các máy chấm điểm thì có thể chấm được hàng ngàn bài trong một giờ (ví dụ máy IBM 1230 Otical Mart Scoring Reader có thể chấm 1200 bài trong một giờ) Ưu điểm này dẫn đến tính kinh tế và phổ biến của TNKQ Người ta có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên phạm vi lớn, số lượng lớn SV
- Tính bao quát về nội dung: Do ưu điểm nổi bật của TNKQ là nhanh chóng, mất ít thời gian nên một bài TNKQ thường bao gồm nhiều
Trang 13câu hỏi Trong một bài TNKQ người ta có thể đưa vào đó nhiều nội dung kiểm tra khác nhau cho mỗi môn học Đây là ưu điểm lớn của TNKQ so với dạng kiểm tra tự luận Hạn chế của dạng tự luận là ở chỗ, ở mỗi bài kiểm tra thường chỉ bao gồm vài câu hỏi nên chỉ có thể đề cập đến một phạm vi hẹp của kiến thức của SV về môn học
đó Do đó việc đánh giá có thể thiếu chính xác vì có em nắm được vấn đề này lại không nắm được vấn đề khác Trong thực tế với thời gian 120 phút một bài TNKQ thường trên 60 câu hỏi, trên 200 phương án trả lời trong khi một bài tự luận thường chỉ gồm 5 hoặc 6 câu hỏi
- Gây hứng thú và tính tích cực HT cho SV: Với hình thức câu hỏi ngắn gọn, việc trả lời đơn giản và kết quả bài làm thường được biết trong thời gian ngắn và cũng là một hình thức kiểm tra mới, nên các bài TNKQ thường gây cho người học hào hứng làm bài, do đó thúc đẩy được việc HT Nếu sau khi làm bài, SV được đối chiếu với đáp
án thì SV có thể tự lý giải được các lỗi mà SV gặp phải ở những câu trả lời sai, những ý niệm sai lầm được sửa chữa một cách nhanh chóng và khắc sâu trong đầu Như vậy sẽ có hiệu quả hơn là phải chờ đợi hàng tuần, hàng tháng mới biết được những sai lầm ấy Đến lúc
ấy thì SV chỉ chú ý, quan tâm đến điểm số chứ ít khi chú ý đến sai lầm và sửa chữa sai lầm Dựa trên nguyên tắc này, người ta đã chế ra những máy TNKQ dùng cho loại câu hỏi nhiều lựa chọn, với những nút có sẵn câu trả lời Với máy này SV có thể biết ngay câu trả lời
mà mình lựa chọn là đúng hay sai, và biết được số điểm toàn bài sau khi hoàn tất Giáo sư Mỹ Skinner và các cộng sự của ông đã chế tạo
ra máy DH, giúp SV có thể tự học bằng cách theo dõi và trả lời từng đơn vị nhỏ của bài giảng hiện ra trên máy, ở Việt Nam, cũng có một vài tác giả chế tạo ra các mẫu máy TNKQ khác nhau để kiểm tra SV,
và đã dùng thử có kết quả tốt gây hứng thú cho SV (tham khảo theo Nguyễn Hữu Long, 1978) Ngày nay, với sự có mặt của công nghệ thông tin, có rất nhiều phần mềm học tập, cũng như các trang web
Trang 14học tập sử dụng phương pháp trắc nghiệm, cho kết quả ngay, giúp người học tự kiểm tra được kiến thức của mình và cập nhật được những lỗ hổng kiến thức mà mình mắc phải
1.1.3 Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
Ngoài những ưu điểm nổi bật nêu trên, TN giáo dục cũng còn có những nhược điểm nhất định của nó, đó là:
- Việc soạn thảo đề thi thường khó và tương đối tốn kém Bởi vì dễ xây dựng các câu hỏi liên quan đến kiến thức hơn là liên quan đến các mục tiêu ở mức cao hơn Vì vậy cũng khó kiểm tra, đánh giá được bề sâu kiến thức Về điều này, nhiều nhà giáo dục cho biết là nếu người biên soạn TNKQ có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm sư phạm phong phú, thì các bài TNKQ sẽ đồi hỏi các thao tác trí tuệ như phân tích tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá… kích thích suy nghĩ sáng tạo chứ không phải chỉ đòi hỏi sự nhận dạng, tái hiện kiến thức đã được học ở trên lớp
- Các yếu tố may rủi, ngẫu nhiên do HS có thể đoán mò các câu trả lời, nhất là với loại câu TN đúng – sai, yếu tố may rủi lên đến 50% Tuy nhiên về nhược điểm này có những công trình nghiên cứu khoa học cho biết là việc đối chiếu những kiến thức đúng – sai, trái ngược nhau sẽ giúp SV lật lại vấn đề, cảnh giác với những sai lầm Dẫu sao
về TN kiểu câu đúng – sai vẫn có ý kiến cho rằng nên hạn chê sử dụng
- Khó đánh giá quy trình suy nghĩ dẫn đến kết quả TNKQ do việc trả lời các câu hỏi TNKQ rất đơn giản Ví dụ như chỉ là bôi đen ở đáp án
A, B, C hoặc D để thể hiện là SV lựa chọn đáp án tương ứng, điều này làm cho GV khó có thể kiểm tra được năng lực trình bày, diễn đạt, sắp xếp các ý kiến riêng của SV
1.2 Các hình thức trắc nghiệm khách quan
Có nhiều hình thức để đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm, khi tổ chức các
kỳ thi, người ra đề sẽ dựa trên đặc điểm, công dụng của từng loại câu hỏi để
Trang 15quyết định lựa chọn sử dụng câu hỏi nào phù hợp nhất Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, các câu hỏi trắc nghiệm thường được tập trung vào trong 5 dạng sau:
- Câu hỏi đúng / sai
- Câu hỏi có nhiều lựa chọn
- Câu ghép đôi
- Câu điền khuyết
- Câu trả lời ngắn
- Câu hỏi đúng / sai
a Câu hỏi đúng / sai là các câu hỏi trắc nghiệm trong đó đáp án chỉ
đưa ra 2 phương án lựa chọn là Đúng hoặc Sai Loại câu hỏi này thường đơn giản, ít tốn công sức trong việc soạn thảo và thường được tập hợp nhiều câu hỏi trong một bài tập trắc nghiệm
b Câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm dạng này thường gồm 2 phần, phần câu hỏi và phần các phương án Phần câu hỏi là một câu hỏi hay câu chưa được hoàn tất, phần các phương án gồm một số câu trả lời hay câu bổ sung để người trả lời lựa chọn ra một hay nhiều đáp án đúng cho câu hỏi Hình thức câu hỏi này hiện nay đang là hình thức câu hỏi trắc nghiệm phổ biến nhất
c Câu ghép đôi
Câu hỏi trắc nghiệm dạng ghép đôi là câu hỏi gồm có 2 trường thông tin, trong đó trường thông tin thứ nhất chứa một dãy các câu hỏi hoặc câu dẫn, trường thông tin thứ hai chứa một dãy các câu trả lời hoặc lựa chọn Nhiệm vụ của người trả lời là phải tìm ra được từng cặp câu hỏi và câu trả lời tương ứng với nhau Thông thường thì số lượng câu hỏi và câu trả lời sẽ giống nhau, tuy nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt sẽ để số lượng câu hỏi và câu trả lời khác nhau, trong đó có chứa một số câu dư thừa dùng để làm nhiễu hoặc có một số câu hỏi hoặc đáp án được phép sử dụng nhiều lần
d Câu điền khuyết
Câu hỏi trắc nghiệm dạng điền khuyết là câu hỏi trong đó có chứa một hoặc nhiều chỗ trống, đi kèm câu hỏi là một tập hợp các từ, cụm từ, hướng
Trang 16dẫn,… để người trả lời lựa chọn bổ sung vào các chỗ trống sao cho tạo thành một đáp án hoàn chỉnh Dạng câu này hiện nay chủ yếu được sử dụng trong môn ngoại ngữ, ít khi xuất hiện trong các kỳ thi trắc nghiệm khác
e Câu trả lời ngắn
Câu hỏi trắc nghiệm loại này là dạng câu hỏi ít xuất hiện nhất, vì đây là các câu hỏi cần người trả lời phải tư duy và tự đưa ra đáp án riêng của mình chứ không có gợi ý như các dạng câu hỏi trên, việc chấm các dạng câu hỏi này cũng cần đến sự tham gia của con người, nên làm giảm tính khách quan của hình thức đánh giá này, việc xây dựng các câu hỏi dạng này cũng rất mất công trong việc liệt kê ra những đáp án phù hợp cho cùng một câu hỏi, khó tránh khỏi những thiếu sót
1.3 Đánh giá kết quả hình thức trắc nghiệm khách quan
Việc đánh giá kết quả hình thức trắc nghiệm khách quan thường được thực hiện một cách khách quan, thông qua việc so sánh đơn giản giữa bài làm của thí sinh và bảng kết quả Vì bảng kết quả của hình thức trắc nghiệm khách quan là hoàn toàn xác định, không mập mờ nên việc so sánh hoàn toàn không cần các kiến thức chuyên môn liên quan tới đề thi Trước kia, để thực hiện được nhanh chóng công tác này, người ta sử dụng các tấm mica được đánh dấu các vị trí trùng với kết quả và đặt lên trên bài làm của thí sinh để xác định vị trí các ô làm sai (hoặc làm đúng) để xác định điểm số của bài kiểm tra Ngày nay, với sự có mặt của công nghệ thông tin, những thao tác này có thể thực hiện được một cách tự động với sự hỗ trợ của máy tính, máy scanner và phần mềm
hỗ trợ chấm bài thi trắc nghiệm
Chất lượng của đề thi trắc nghiệm sẽ được đánh giá thông qua kết quả làm bài của thí sinh, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, không đi sâu vào việc phân tích và đánh giá chất lượng của đề thi trắc nghiệm khách quan
1.4 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác đánh giá kết quả
Với những ưu thế của mình, trắc nghiệm khách quan càng ngày càng được sử dụng nhiểu trong các kỳ kiểm tra, đánh giá Điều này cũng nảy sinh các vấn đề cần được giải quyết như sau:
Trang 17- Đảm bảo tính khách quan của đề thi
- Đảm bảo tính đa dạng của đề thi
- Đảm bảo chất lượng của đề thi
- Đảm bảo tính khách quan của việc đánh giá kết quả bài thi
- Đảm bảo tính chính xác trong công tác đánh giá kết quả bài thi Nếu chỉ đơn thuần sử dụng các phương pháp thủ công, những vấn đề trên sẽ càng ngày càng trở nên khó giải quyết, nhất là khi số lượng câu hỏi trong ngân hàng đề được tăng lên Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức đánh giá kết quả trắc nghiệm khách quan là điều rất cần thiết và thực sự giải quyết được những vấn đề trên Việc ứng dụng công nghệ thông tin thường được đưa ra dưới các hình thức sau:
- Quản lý ngân hàng câu hỏi: các phần mềm giúp cho việc cập nhật, nâng cấp, sửa chữa, đảm bảo tính bảo mật cho các câu hỏi được lưu trữ trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm Việc quản lý này giúp giảm rất nhiều thời gian trong việc tìm kiếm các câu hỏi phù hợp các mục đích cần thiết để đưa vào một đề thi trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng các bộ đề thi từ ngân hàng câu hỏi: các phần mềm thực hiện công việc lựa chọn ngẫu nhiên các câu hỏi trong ngân hàng đề thi, nhằm thỏa mãn ma trận yêu cầu của đề thi (thường bao gồm các yếu tố về độ khó dễ, số lượng câu hỏi, phạm vi kiến thức của đề thi,…), sau đó tạo ra các đề thi giống nhau về nội dung, nhưng khác nhau về cách hiển thị: xáo trộn thứ tự câu hỏi, xáo trộn đáp án Những bộ đề thi này thường được sử dụng tại một lần tổ chức thi, đảm bảo giảm thiểu tình trạng quay cóp, hỏi bài, nhưng vẫn đảm bảo là lượng kiến thức là giống nhau trong tất cả các đề thi
- Đánh giá kết quả tự động: các phần mềm dạng này sẽ hỗ trợ việc scan các bài làm của thí sinh, sau đó so sánh với đáp án của đề thi và đưa ra kết quả Tuy nhiên, các phần mềm cũng cần có các
Trang 18tính năng cho phép dò kiểm, xem lại và can thiệp thủ công để tránh tình trạng nhận dạng lỗi
- Phân tích kết quả và đánh giá chất lượng đề thi: thông qua các lý thuyết về trắc nghiệm khách quan, các phần mềm có thể thống
kê được kết quả bài làm của hàng loạt thí sinh, từ đó đưa ra các đánh giá về chất lượng của từng câu hỏi trắc nghiệm, cũng như đánh giá chất lượng của đề thi trắc nghiệm Việc này giúp cho
cơ sở tổ chức trắc nghiệm khách quan có thể hoàn thiện hơn ngân hàng câu hỏi để nâng cao chất lượng của công tác đánh giá thông qua việc tổ chức thi trắc nghiệm khách quan
2 Chương 2: Thực trạng công tác công tác tổ chức thi hết môn
học/học phần theo hình thức trắc nghiệm khách quan tại Trung tâm Đào tạo E-Learning, Viện Đại học Mở Hà Nội
2.1 Giới thiệu về trung tâm
Trung tâm Đào tạo E-Learning được thành lập năm 2009, được Viện Đại học Mở Hà Nội giao cho trách nhiệm tổ chức đào tạo theo phương thức đào tạo trực tuyến (E-Learning) Trong giai đoạn 2009-2013, Trung tâm sử dụng công nghệ đào tạo được cung cấp bởi công ty Edutop64, với 4 ngành đào tạo là Công nghệ Thông tin, Kế toán, Quản trị kinh doanh và Tài chính Ngân hàng Từ tháng 12/2013, Trung tâm đã hoàn thiện hệ thống công nghệ của riêng Viện Đại học Mở Hà Nội, đưa vào sử dụng chính thức với tên gọi là chương trình EHOU Đến nay, đã có hơn 400 sinh viên theo học chương trình EHOU và gần 7500 sinh viên theo học chương trình Cử nhân trực tuyến với sự
hỗ trợ công nghệ của Edutop64
2.1.1 Phương thức đào tạo eLearning
Phương thức đào tạo E-Learning (Electronic Learning) là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 19Trong xã hội toàn cầu hóa ngày nay, học tập là việc cần được tiến hành trong suốt cuộc đời của mỗi con người, việc học giúp cho con người có thể tiếp cận được những tri thức mới, nắm bắt được những kỹ năng mới, bồi dưỡng nâng cao những kỹ năng sẵn có, để có thể đáp ứng được các nhu cầu về công việc cũng như cuộc sống của mỗi người Tuy nhiên, không phải dễ dàng để có thể dành ra một khoảng thời gian để có thể đăng ký, theo học các lớp học truyền thống, vì điều này làm gián đoạn công việc của họ Phương thức đào tạo E-Learning được ra đời chính là nhằm mục đích giải quyết những vấn đề này, phương thức này hướng tới việc tự học và người học có thể tự bố trí giờ học của mình tại bất kỳ đâu, bất kể thời gian nào trong ngày Phương pháp đào tạo này sử dụng những tiến bộ của phương tiện điện tử, của công nghệ viễn thông như máy tính, điện thoại, ti vi, internet, … nhằm gia tăng khả năng truyền tải kiến thức của mình Với các công cụ này, việc truyền đạt những kiến thức cần thiết trở nên dễ dàng hơn thông qua hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim ngắn,…
có khả năng biểu hiện nội dung cần truyền đạt một cách trực quan, sinh động Các công nghệ này cũng giúp cho việc giao tiếp từ xa giữa người dạy và người học, nâng cao khả năng tự theo dõi, giám sát quá trình học tập của mỗi người,
từ đó đưa được ra lộ trình học tập một cách hiệu quả hơn Không những giúp
đỡ được người học học theo những giáo trình sẵn có, E-Learning còn là công
cụ giúp những người thành công có thể dễ dàng chia sẻ kinh nghiệm của mình cho người khác, giúp xã hội ngày càng phát triển và tiến bộ Có thể nói phương thức đào tạo E-Learning là một phương thức đầy tính nhân văn và vì sự tiến bộ của nhân loại trên toàn thế giới Có thể tổng hợp một số đặc tính của phương thức này như sau:
- E-Learning là một loại hình đào tạo năng động: nội dung thông tin mang tính thời đại và thực tế, có tính cập nhật thường xuyên;
- E-Learning là hoạt động thực tế: người học có thể chọn lựa đúng những
gì mình cần;
- E-Learning là loại hình học tập hướng người học: người học tham gia phương thức này hoàn toàn chủ động về thời gian, về nội dung học tập,
Trang 20về khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhập, và về cách thức tiếp nhận kiến thức sao cho phù hợp với bản thân mỗi người;
- E-Learning là lại hình đào tạo có tính toàn cầu: với sự phát triển của Internet, không có ranh giới cụ thể giữa các quốc gia trên hệ thống mạng, người học và người dạy có thể đến từ bất kỳ quốc gia nào trên thế giới;
- E-Learning là loại hình đào tạo hiệu quả: do sự phát triển của công nghệ, nội dung đào tạo của phương thức này luôn mang tính trực quan, dễ học,
dễ hiểu, người học khi tham gia phương thức này bản thân đã có ý thức
tự học, nên tính hiệu quả của việc học rất cao;
- E-Learning là loại hình đào tạo tiết kiệm thời gian: người học có thể chủ động trong việc bố trí thời gian học như học tại nhà, học trên đường đi, học lúc nghỉ ngơi ở cơ quan,… người học cũng có thể tự tăng tốc độ học tập để rút ngắn thời gian học của mình;
2.1.2 Quy trình tổ chức thi hết môn học/học phần
Với số lượng sinh viên đông, số ngành học nhiều hơn so với một khoa chuyên ngành thông thường, vì vậy việc tổ chức thi cũng diễn ra với mật độ dày hơn, trong khi lượng giảng viên cơ hữu lại rất ít, đa phần là cán bộ tham gia các khâu tổ chức và quản lý đào tạo Chính vì vậy, Trung tâm Đào tạo E-Learning lựa chọn giải pháp thi trắc nghiệm để đảm bảo chất lượng cũng như tiến độ chấm thi, báo kết quả cho sinh viên
Quy trình tổ chức thi tại Trung tâm diễn ra như sau:
Trang 21- Xây dựng đề thi từ ngân h
yêu cầu của môn học,
•Xây dựng ma trận yêu cầu với
đề thi của từng môn học/học
phần
•Xây dựng ngân hàng câu hỏi
trắc nghiệm (hiện nay Trung
ổ chức thi trắc nghiệm tại Trung tâm Đào tạo E-Learning
ả một cách đơn giản các công việc cần tiến h
ọc phần theo phương thức trắc nghiệm khách quan t
o eLearning Trong đó, có 2 bước phức tạp và tốn nhiề
ừ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, thỏa mãn ma tr
a môn học, đây là một ví dụ của ma trận yêu cầu:
Xây dựng ma trận yêu cầu với
đề thi của từng môn học/học
Multiple Choice cho hình thức
•Lên kế hoạch thi và thông báo cho sinh viên
•Tiếp nhận đề thi được lựa chọn ngẫu nhiên từ Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng
•Tổ chức thi với hình thức trắc nghiệm khách quan
Tổ chức kỳ thi
•Tiếp nhận bài làm của thí sinh
•Tiếp nhận đáp án của đề thi từ Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng
•Quét bài thi vào máy tính
•Chấm điểm thông qua phần mềm chấm điểm tự động
•Dò kiểm các trường hợp lỗi, không nhận dạng được
•Chuyển kết quả chấm thi cho Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Phòng Đào tạo và lưu trữ
Dò kiểm các trường hợp lỗi, không nhận dạng được Chuyển kết quả chấm thi cho Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Phòng Đào tạo và lưu trữ
Chấm thi