DANH MỤC BẢNG 1 Các yếu tố nguy cơ có trong thang FRAX 7 2 Phân loại mức độ loãng xương theo điểm T-score 8 3 Nhóm đối tượng cần được đo MĐX theo khuyến cáo của Mỹ 8 4 Các nhóm thuố
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
CÙ THỊ MINH TRANG
XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ PHÁC ĐỒ TẦM SOÁT VÀ ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐỘ TUỔI MÃN KINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2
BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
CÙ THỊ MINH TRANG
XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ PHÁC ĐỒ TẦM SOÁT VÀ ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐỘ TUỔI MÃN KINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1 Th.S Phạm Nữ Hạnh Vân
2 TS Lê Hồng Phúc Nơi thực hiện:
Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của
mình tới Th.S Phạm Nữ Hạnh Vân - Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược,
người đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi những
kiến thức quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Hồng Phúc đã có những góp ý quý báu
giúp tôi trong quá trình hoàn thiện khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế
Dược đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và thực hiện khóa luận
Tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội
đã truyền đạt cho tôi kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại trường
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè,
những người đã luôn ở bên khích lệ động viên tôi trong suốt thời gian học
tập cũng như những lúc gặp khó khăn
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Cù Thị Minh Trang
Trang 4MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Error! Bookmark not defined
1.1 Một số vấn đề về loãng xương và hậu quả loãng xươngError! Bookmark not defined.
1.1.1 Định nghĩa loãng xương Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Gãy xương do loãng xương và yếu tố nguy cơ gãy xươngError! Bookmark not defined.
1.1.3 Chẩn đoán loãng xương Error! Bookmark not defined.
1.1.4 Thuốc điều trị loãng xương Error! Bookmark not defined.
1.2 Phương pháp đánh giá chi phí - hiệu quả Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Khái niệm và chỉ số đánh giá chi phí - hiệu quả Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Mô hình trong đánh giá chi phí - hiệu quả Error! Bookmark not defined.
1.3 Những nghiên cứu liên quan Error! Bookmark not defined.
1.3.1 Phương pháp tìm kiếm Error! Bookmark not defined.
1.3.2 Kết quả về những nghiên cứu liên quan Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
2.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.2 Quan điểm nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.3 Khoảng thời gian nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4 Quy trình nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4.1 Hình thành câu hỏi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
2.4.3 Thử nghiệm mô hình Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
3.1 Kết quả xây dựng mô hình Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Mô hình mô tả tầm soát Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Mô hình mô tả diễn biến bệnh Error! Bookmark not defined.
3.2 Kết quả thử nghiệm mô hình Error! Bookmark not defined.
BÀN LUẬN Error! Bookmark not defined
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết
tắt
BMI Body mass index Chỉ số khối cơ thể
DALY Disability adjusted life year Năm sống thu được điều chỉnh theo
bệnh tật
DXA Dual-photon X-ray
absorptiometry Hấp thụ năng lượng kép X-quang
FRAX Fracture Risk Assessment
Tool
Thang ước tính nguy cơ gãy xương FRAX của WHO
GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm nội địa
ICER Incremental cost
effectiveness ratio Chỉ số chi phí - hiệu quả gia tăng
QALY Quality adjusted life year Năm sống thu được điều chỉnh theo
chất lượng RCTs Randomized Control Trials Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Các yếu tố nguy cơ có trong thang FRAX 7
2 Phân loại mức độ loãng xương theo điểm T-score 8
3 Nhóm đối tượng cần được đo MĐX theo khuyến cáo của Mỹ 8
4 Các nhóm thuốc điều trị loãng xương 9
5 Các phương pháp phân tích kinh tế Dược 10
6 Minh họa xác suất dịch chuyển trong mô hình Markov 15
7 Minh họa thuật toán tính xác suất ở mỗi trạng thái trong mô hình Markov 16
8 Số liệu được sử dụng để tính xác suất dịch chuyển trong mô hình cây
9 Liệt kê các xác suất dịch chuyển trong mô hình Markov 26
10 Minh họa thuật toán tính xác suất của từng trạng thái khi kết thúc một
11
Tỷ số chi phí - hiệu quả gia tăng “Phác đồ tầm soát loãng xương bằng
phương pháp DXA và điều trị bằng Alendronate nếu kết quả DXA thể
hiện loãng xương” So sánh với “Phác đồ không tầm soát loãng xương
bằng phương pháp DXA và không điều trị”
38
12
Tỷ số chi phí - hiệu quả gia tăng “Phác đồ tầm soát loãng xương bằng
phương pháp DXA cho phụ nữ có tiền sử gãy xương và điều trị bằng
Alendronate nếu kết quả DXA thể hiện loãng xương” So sánh với “Phác
đồ không tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA và không điều
trị”
39
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
2 Sơ đồ thể hiện chi phí và hiệu quả giữa hai phác đồ lựa chọn 10
6 Phác đồ tầm soát và phác đồ điều trị một nghiên cứu kinh tế Dược
7 Mô hình Markov được sử dụng thông dụng nhất trong mô tả diễn
9 Sơ đồ tính xác suất bệnh nhân đi vào mô hình Markov 25
10 Mô hình cây quyết định mô tả phác đồ tầm soát loãng xương tất
11 Mô hình cây quyết định mô tả phác đồ tầm soát loãng xương ở
những phụ nữ từ độ tuổi 50 trở lên và có tiền sử gãy xương 33
12 Mô hình Markov mô tả diễn biến của bệnh loãng xương 35
13 Hình ảnh minh họa phần giới thiệu Chương trình VN_Osteoporosis_DXA_Alendronate 40
14 Hình ảnh minh họa phần xác suất Chương trình VN_Osteoporosis_DXA_Alendronate 41
15 Hình ảnh minh họa phần phác đồ không điều trị Chương trình VN_Osteoporosis_DXA_Alendronate 41
16 Hình 1: Hình ảnh minh họa phần phác đồ điều trị Alendronate Chương trình VN_Osteoporosis_DXA_Alendronate 42
17 Hình ảnh minh họa phần kết quả
Chương trình VN_Osteoporosis_DXA_Alendronate 42
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương là một bệnh mạn tính với đặc điểm khối lượng xương suy giảm, tế bào xương bị mất chức năng, dẫn đến gãy xương hoặc tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt ở các vị trí xương hông, xương cột sống và xương cổ tay [35] Loãng xương xảy ra ở cả nam và nữ giới, trong đó phụ nữ mãn kinh là đối tượng chiếm tỷ lệ mắc loãng xương cao nhất Loãng xương là nguyên nhân chính gây thương tật và tử vong ở người cao tuổi [10] Vì vậy, khi tuổi thọ có xu hướng được cải thiện, kéo theo tỷ lệ người cao tuổi tăng lên [3], loãng xương và gãy xương đang đặt một gánh nặng về sức khỏe, tài chính lên
hệ thống Y tế và lên cộng đồng
Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tại các nước phát triển ước tính có 3% - 6% phụ nữ ở độ tuổi 50 bị mắc loãng xương [34] Tại Việt Nam, theo số liệu năm 2009 của Quỹ Loãng xương Quốc tế tỷ lệ mắc loãng xương của Việt Nam khoảng 4.7% dân số [23] Ở nữ giới, nguy cơ tử vong ở bệnh nhân gãy xương đùi tương đương hoặc cao hơn nguy cơ tử vong
ở bệnh nhân ung thư vú [29]
Năm 2005, chi phí cho hơn 2 triệu ca gãy xương tại Mỹ là xấp xỉ 17 tỷ đô
la [8] Tại Anh quốc dự đoán vào năm 2020 số tiền chính phủ chi trả là hơn 2.1 tỷ Euro [6] Tại Việt Nam, ước tính vào năm 2050, số ca gãy xương hông
là 47 652 ca và chi phí cho một ca phẫu thuật từ 1000 - 4000 đô la [23]
Trong chẩn đoán loãng xương, hấp thụ năng lượng kép X-quang (Dual - photon X-ray absorptiometry hay DXA) được xem là phương pháp chuẩn [19] Để điều trị loãng xương, bisphosphonates là nhóm thuốc được chứng minh hiệu quả với phụ nữ loãng xương ở độ tuổi mãn kinh [36]
Trên thế giới, để đưa ra một phác đồ tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA và điều trị bisphosphonates cho đối tượng nào để áp dụng đại trà
Trang 9trong cộng đồng, các nhà hoạch định chính sách cần dựa trên các đánh giá từ các nghiên cứu kinh tế Dược, đảm bảo cân bằng giữa yếu tố hiệu quả điều trị
và hiệu quả kinh tế Việc tham khảo phác đồ điều trị trên thế giới và áp dụng vào Việt Nam mới chỉ cân nhắc đến yếu tố hiệu quả điều trị, mà chưa xét đến yếu tố hiệu quả kinh tế Nguồn lực kinh tế và đặc điểm dịch tễ giữa các quốc gia là khác nhau, nên không thể áp dụng kết quả kinh tế Dược của nước ngoài vào Việt Nam Vì vậy xây dựng phương pháp đánh giá chi phí - hiệu quả của phác đồ tầm soát và điều trị loãng xương ở người Việt Nam là một vấn đề cấp bách hiện nay, trả lời cho câu hỏi đối tượng nào cần được tầm soát và điều trị loãng xương
Tiến hành đề tài nghiên cứu “Xây dựng phương pháp đánh giá chi phí - hiệu quả của một số phác đồ tầm soát và điều trị loãng xương ở phụ nữ Việt Nam độ tuổi mãn kinh” với mục tiêu:
Xây dựng và thử nghiệm mô hình đánh giá chi phí - hiệu quả của một số phác đồ:
- Phác đồ tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA trên tất cả phụ nữ từ
độ tuổi 50 trở lên và điều trị bằng Alendronate cho đối tượng có kết quả tầm soát thể hiện loãng xương, so sánh chi phí - hiệu quả với phác đồ không tầm soát và không điều trị
- Phác đồ tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA trên tất cả phụ nữ
có tiền sử gãy xương từ độ tuổi 50 trở lên và điều trị bằng Alendronate cho đối tượng có kết quả tầm soát thể hiện loãng xương, so sánh chi phí - hiệu quả với phác đồ không tầm soát và không điều trị
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Một số vấn đề về loãng xương và hậu quả loãng xương
1.1.1 Định nghĩa loãng xương
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về loãng xương như sau: “Loãng xương là một bệnh mạn tính với đặc điểm khối lượng xương suy giảm, tế bào xương bị mất chức năng, dẫn đến tình trạng gãy xương hoặc tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt ở các vị trí xương hông, xương cột sống và xương cổ tay” [35]
Trong định nghĩa trên đưa ra một trào lưu của y học hiện đại, thay vì phát biểu có hay không có bệnh, thì y học hiện đại phát biểu nguy cơ có bệnh Theo đó, loãng xương là một yếu tố nguy cơ của gãy xương (cũng như tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ của tim mạch) [2]
1.1.2 Gãy xương do loãng xương và yếu tố nguy cơ gãy xương
1.1.2.1 Gãy xương do loãng xương
Gãy xương là hệ quả của loãng xương Những vị trí gãy xương do loãng xương gây nên chủ yếu là gãy xương hông (bao gồm gãy cổ xương đùi, gãy liên mấu chuyển và dưới mấu chuyển), gãy xương cột sống, gãy xương cổ tay Ba dạng gãy xương hông, cột sống, cổ tay là các dạng gãy xương kinh điển và phổ biến nhất của gãy xương do loãng xương [2]
Gãy xương hông là hậu quả nghiêm trọng nhất của loãng xương Tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên sau gãy xương hông dao động từ 8.4 – 36%/năm, cao gấp hơn hai lần so với người không có gãy xương hông [4], nguy cơ gãy xương tiếp theo sau khi có gãy xương hông cao hơn gấp 2.5 lần so với bệnh nhân không có tiền sử gãy xương hông [9] và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân có gãy hông giảm đi nhiều nhất trong các dạng gãy xương [14]
Gãy xương cột sống là dạng gãy xương phổ biến nhất của loãng xương Tuy nhiên, gãy xương cột sống thường diễn biến âm thầm, bệnh nhân không
Trang 11phải nhập viện ngay như gãy xương hông (có thể đau lưng, giảm chiều cao hay biến dạng cột sống), chỉ phát hiện khi được chẩn đoán một cách tình cờ hoặc khi đã có biến dạng [2] Quỹ loãng xương quốc tế quy định thuật ngữ
“gãy xương cột sống” được dùng để chỉ chung cho tình trạng biến dạng xương cột sống dù có triệu chứng hoặc không có triệu chứng lâm sàng [22]
1.1.2.2 Các yếu tố nguy cơ gãy xương
Các chuyên gia về loãng xương đã phát hiện ra rằng, loãng xương chỉ là một trung gian trong quá trình phá hủy độ bền của xương để đi đến hậu quả cuối cùng là gãy xương Vì vậy, các nghiên cứu dịch tễ học trong những thập niên gần đây chú trọng nghiên các yếu tố nguy cơ về gãy xương [2]
Những yếu tố được trình bày sau đây là kết quả tổng hợp một cách hệ thống
từ các nghiên cứu dịch tễ: [2, 16]
- Tuổi cao: Tỷ lệ mắc gãy xương tăng theo tuổi và cao nhất ở độ tuổi 80 Những độ tuổi cao hơn độ tuổi 80, nguy cơ gãy xương “cạnh tranh” với nguy
cơ các bệnh lý khác và nguy cơ tử vong [18]
- Chỉ số BMI: Nhóm người có chiều cao cao hơn, cân nặng thấp hơn, chỉ số BMI thấp hơn thì có nguy cơ gãy xương hông cao hơn Một quan điểm giải thích được đưa ra đó là: những người có chiều cao cao hơn thì cổ xương đùi dài hơn, khả năng chịu lực kém hơn nên nguy cơ gãy xương hông cao hơn Với những người có trọng lượng mỡ và có chỉ số BMI cao, có mật độ phân bố
mỡ ở vùng hông giống như là chiếc gối đệm bảo vệ đầu trên xương đùi nên giảm nguy cơ gãy xương hông [2]
- Mật độ xương (MĐX): MĐX thể hiện khối lượng xương trên một đơn vị thể tích Loãng xương được chẩn đoán dựa trên kết quả đo MĐX Nếu MĐX càng giảm, nguy cơ loãng xương và gãy xương càng tăng lên [18]
- Các yếu tố nguy cơ khác [16]:
Trang 12 Tiền sử đã từng gãy xương do loãng xương (Đại đa số gãy xương ở người cao tuổi có thể coi là gãy xương do loãng xương [28])
Cha mẹ có tiền sử gãy xương hông
Đang hút thuốc lá
Sử dụng glucocorticoids trong thời gian dài (trên 3 tháng)
Nghiện rượu
Một số bệnh lý: Viêm khớp dạng thấp, giảm năng tuyến sinh dục nam
và nữ do cắt tinh hoàn hoặc cắt buồng trứng
1.1.2.3 Thang công cụ ước tính nguy cơ gãy xương
Trong các yếu tố nguy cơ gãy xương, yếu tố MĐX là yếu tố duy nhất trực tiếp thể hiện chất lượng của xương Vì vậy, kết quả đo MĐX là tiêu chuẩn để chẩn đoán và áp dụng điều trị loãng xương hiện nay Tuy nhiên, thực tế có những cộng đồng chỉ có 50% số người bị gãy xương có kết quả MĐX thể hiện loãng xương [2] Câu hỏi được đặt ra với những bệnh nhân có kết quả MĐX không thể hiện loãng xương đi liền với những yếu tố nguy cơ gãy xương khác yếu tố MĐX có nên được điều trị hay không? Để trả lời câu hỏi trên, các nhà nghiên cứu đã xây dựng các thang công cụ hỗ trợ trong việc đưa
ra quyết định Các thang công cụ ước tính xác suất gãy xương và làm căn cứ
để xác định đối tượng điều trị Quỹ loãng xương của Mỹ đưa ra khuyến cáo phụ nữ từ độ tuổi 50 trở lên có xác suất gãy xương hông trong 10 năm với ngưỡng trên 3% cần được điều trị bất kể kết quả đo MĐX là bao nhiêu [26]
Thang Garvan (Garvan Institute - Bone fracture risk caculator )
Học viện Garvan của Úc đã phát triển một thang công cụ ước tính xác suất gãy xương hông hoặc xác suất gãy xương bất kỳ do loãng xương trong 5 năm
và trong 10 năm Thuật toán để ước tính xác suất của bệnh nhân dựa trên đặc điểm tiền sử bệnh về 5 yếu tố nguy cơ bao gồm:
1 Tuổi
Trang 132 Giới tính
3 Tiền sử bị gãy xương
4 Bị té ngã trong vòng 12 tháng trở lại (Đây được coi là một yếu tố nguy
cơ gãy xương hông)
5 Chỉ số MĐX
Trong một hướng dẫn điều trị của Canada, một bệnh nhân nguy cơ cao và cần điều trị khi kết quả ước tính gãy một xương bất kỳ trên 10% trong 5 năm hoặc trên 20% trong 10 năm [31]
Thang FRAX (WHO - Fracture Risk Assessment Tool)
Thang FRAX được WHO xây dựng ước tính xác suất gãy xương trong 10
năm Đây là kết quả phân tích từ các nghiên cứu dịch tễ trên nhiều quần thể với chủng tộc khác nhau Lý do tiến hành trên nhiều quần thể khác nhau là do
sự khác biệt về xác suất gãy xương giữa quần thể người da trắng và người thuộc chủng tộc khác Tại khu vực Đông Nam Á, thang FRAX được sử dụng trên quần thể người Thái Lan, Philippines, Singapore và Indonesia Việc tính toán xác suất được thực hiện trên trang website
https://www.shef.ac.uk/FRAX/
Hình 2: Dữ liệu đầu vào và dữ liệu đầu ra của thang FRAX
Trang 14Bệnh nhân được ước tính xác suất gãy xương dựa trên việc “có” hoặc “không có” 12 yếu tố nguy cơ sau:
Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ có trong thang FRAX
1 Tuổi 7 Đang hút thuốc lá
2 Giới tính 8 Có sử dụng glucocorticoid
3 Cân nặng 9 Bệnh viêm khớp dạng thấp
4 Chiều cao 10 Bệnh lý mắc kèm
5 Tiền sử gãy xương 11 Nghiện rượu
6 Cha mẹ có tiền sử gãy xương 12 Giá trị đo MĐX
Khác với thang Garvan ước tính nguy cơ gãy xương trong 5 năm và trong 10 năm, thang FRAX chỉ ước tính nguy cơ gãy xương trong vòng 10 năm:
- Nguy cơ gãy xương chính: Xương chính bao gồm xương cột sống có biểu
hiện lâm sàng, gãy xương cổ tay, xương bả vai, xương hông
- Nguy cơ gãy xương hông
1.1.3 Tầm soát loãng xương
Các xét nghiệm cận lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất để tầm soát loãng xương như sau:
- Phương pháp đo MĐX
Hấp thụ năng lượng kép X-quang (Dual X-ray absorptiometry hay DXA)
Chụp cắt lớp
Hai phương pháp trên việc đo MĐX được thực hiện tại vị trí cổ xương đùi
- Phương pháp không đo MĐX
Định lượng marker chu chuyển xương trong máu hoặc trong nước tiểu
Trang 15Hiện nay,trong các phương pháp trên, đo MĐX bằng phương pháp dựa vào hấp thụ năng lượng kép X-quang (phương pháp DXA) là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương [19]
Kết quả đo MĐX được quy đổi sang điểm T-score: T-score = Đ Đ với iMĐX là mật độ xương của đối tượng i (đo bằng phương pháp đo DXA tại vị trí cổ xương đùi), tMĐX là mật độ xương trung bình của quần thể trong độ tuổi 20 -30 và SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương trung bình của quần thể trong độ tuổi 20-30 [2]
WHO đã phân loại mức độ loãng xương từ điểm T-score như sau:
Bảng 2:Phân loại mức độ loãng xương theo điểm T-score
Bình thường T> =-1.0
Thiếu xương -2.5< T< -1
Loãng xương T<=-2.5
Loãng xương nghiêm trọng T<=-2.5+tiền sử gãy xương gần đây
Nhược điểm của phương pháp đo DXA là giá thành thiết bị và giá thành cho một lần đo cao Việc tầm soát bằng DXA trên tất cả các đối tượng không phải luôn đạt hiệu quả chi phí Vì vậy, các nhà nghiên cứu cần xác định đối tượng nào cần được đo MĐX Quỹ loãng xương quốc gia của Mỹ đã tiến hành các phân tích chi phí - hiệu quả và đưa ra khuyến cáo một phụ nữ cần đo MĐX bằng phương pháp DXA khi có những đặc điểm sau [26]:
Bảng 3: Nhóm đối tượng cần được đo MĐX theo khuyến cáo của Mỹ
Phụ nữ trên 65 tuổi, không xét đến có yếu tố nguy cơ gãy xương hay không
Phụ nữ từ 50-69 tuổi có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ gãy xương
Phụ nữ 50 tuổi trở lên có tiền sử hoặc đang bị gãy xương
Phụ nữ có bệnh liên quan đến hệ miễn dịch như bệnh viêm khớp dạng thấp, đang điều trị bằng glucocorticoids ( >=5 mg Prednisolon/ngày trên 3 tháng)
Trang 16Tuy nhiên, chi phí - hiệu quả có thể đạt ở quốc gia này nhưng không đạt chi phí - hiệu quả ở quốc gia khác Vì vậy, để áp dụng những khuyến cáo đã ban hành trên người Việt Nam cần bằng chứng về chi phí - hiệu quả đánh giá trên đối tượng là người Việt Nam
1.1.4 Thuốc điều trị loãng xương
Mục tiêu của điều trị loãng xương là (a) giảm nguy cơ gãy xương, (b) giảm tình trạng suy giảm mật độ xương và lý tưởng hơn là (c) giảm nguy cơ tử vong [1] Một số nhóm thuốc điều trị loãng xương như sau:
Bảng 4: Các nhóm thuốc điều trị loãng xương Nhóm thuốc ức chế hủy xương Tên thuốc
Nhóm bisphosphonates Alendronate Sodium hoặc Alendronate Sodium plus
Vitamin D3 (Fosamax® hoặc Fosamax Plus D®) Zoledronic Acid (Reclast®, Aclasta®)
Risedronate Sodium (Actonel®) Ibandronate Sodium (Boniva® ) Liệu pháp thay thế hormon (HRT) Estrogen và Progestin
Tác nhân điều biến thụ thể estrogen chọn lọc
(SERM)
Raloxifene (Evista®) Bazedoxifene (Viviant®) Hormone tuyến cận giáp Teriparatid (Forteo®)
Nhóm khác Denosumab (Prolia®, XGEVA®)
Nhóm thuốc tăng tạo xương Tên thuốc
Strontium ranelate (Protelos®) Theo số liệu công bố của quỹ loãng xương quốc tế: Alendronate, Acid Zoledronic và Strontium ranelate là các thuốc đang được sử dụng để điều trị loãng xương tại Việt Nam hiện nay [23] Trong đó, Alendronate 10 mg/ngày được sử dụng cho bệnh nhân loãng xương và gãy xương, và được xem là chỉ định đầu tay trong điều trị loãng xương và gãy xương ở Việt Nam [23]
1.2 Phương pháp đánh giá chi phí - hiệu quả
1.2.1 Khái niệm và chỉ số đánh giá chi phí - hiệu quả
Đánh giá (hoặc phân tích) chi phí - hiệu quả là một trong bốn phương pháp được sử dụng trong đánh giá kinh tế Dược: (Bảng 5)
Trang 17Bảng 5: Các phương pháp phân tích kinh tế Dược
đầu vào
Giá trị đầu ra
1.Phân tích chi phí tối thiểu
(Cost - minimization alalysis)
Tiền Không xét đến vì hiệu quả điều trị
là tương đương nhau 2.Phân tích chi phí - hiệu quả
(Cost - effectiveness analysis)
Tiền Hiệu quả điều trị trên lâm sàng,
LYG1 3.Phân tích chi phí - thoả dụng (Cost
- utility analysis)
Tiền Chất lượng cuộc sống: QALY2,
DALY34.Phân tích chi phí - lợi ích
(Cost - benefit analysis)
Tiền Tiền
Thuật ngữ chi phí - hiệu quả (Cost - effectiveness) có thể được sử dụng để thay thế thuật ngữ chi phí - thỏa dụng (Cost - utility) Theo cách sử dụng này, phương pháp chi phí - hiệu quả bao gồm hai phương pháp 2 + 3 trong bảng 4 Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp số 3 và sử dụng thuật ngữ chi phí - hiệu quả
Nghiên cứu chi phí - hiệu quả là quá trình phân tích, so sánh chi phí và hiệu quả của hai hoặc nhiều phác đồ điều trị để từ đó lựa chọn phác đồ phù hợp [7]
Hình 3: Sơ đồ thể hiện chi phí và hiệu quả giữa hai phác đồ lựa chọn
Chi phí của
A - Ca
Hiệu quả của
A - Ua Chi phí của
B - Cb
Hiệu quả của B - Ub
Trang 18Kết quả đầu ra của một nghiên cứu chi phí - hiệu quả là tỷ số chi phí - hiệu quả gia tăng:
Hình 4: Công thức tính tỷ số chi phí - hiệu quả gia tăng
Giá trị ICER thể hiện mức chi phí bỏ ra cho một giá trị hiệu quả tăng lên (Số tiền tương ứng với “một năm sống điều chỉnh theo chất lượng” - QALY)
Ví dụ về một nghiên cứu so sánh hai phác đồ sau sẽ minh họa cụ thể hơn cách đánh giá trong nghiên cứu chi phí - hiệu quả:
- Phác đồ A: Một bệnh nhân gãy xương cột sống được điều trị bằng thuốc A tiêu tốn 4 triệu VNĐ Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi điều trị
Ua = 0.9 (Coi bệnh nhân với trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn có trọng số U =
1 thì bệnh nhân gãy xương cột sống có trọng số U = 0.9)
- Phác đồ B: Một bệnh nhân gãy xương cột sống được điều trị bằng thuốc B tiêu tốn 3 triệu VNĐ, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi điều trị Ub
= 0.8
Nếu trong cộng đồng có 1000 bệnh nhân bị gãy xương cột sống, khi so sánh phác đồ A và phác đồ B:
Tổng chi phí gia tăng = = Ca - Cb = (4 - 3)*1000 = 1000 triệu VNĐ
Tổng QALY gia tăng = Ua - Ub = (0.9 - 0.8)*1000 = 100 QALY
ICER = = = 10 triệu VNĐ / 1 QALY
Như vậy, để sử dụng phác đồ A cần phải chi trả thêm 10 triệu đồng cho một năm sống điều chỉnh theo chất lượng Chi phí tăng thêm của phác đồ A
có tương xứng với hiệu quả gia tăng hay không? Kết quả của câu trả lời phụ thuộc vào ngưỡng chi trả của từng quốc gia, tổ chức (như bệnh viện, bảo hiểm
ICER (Incremental Cost effectiveness Ratio) =
Trang 19
Y tế,…) Nếu “khả năng chi trả” mà nhà chính sách đề ra cao hơn giá trị ICER trên, có thể kết luận áp dụng phác đồ A đạt chi phí - hiệu quả
1.2.2 Mô hình trong đánh giá chi phí - hiệu quả
1.2.2.1 Vai trò của việc thiết lập mô hình
Để tiến hành một nghiên cứu đánh giá chi phí - hiệu quả của hai hoặc nhiều phác đồ điều trị, cần thu thập các dữ liệu về chi phí và hiệu quả Những
dữ liệu này có thể cùng được thu thập từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
có đối chứng (RCTs)
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp thu thập dữ liệu trên là chỉ có thể tiến hành đánh giá chi phí - hiệu quả đồng thời với nghiên cứu RCTs khi
có cùng phác đồ muốn so sánh, mà RCTs hiếm khi so sánh tất cả các phác đồ,
do đó việc đánh giá bị hạn chế Hơn nữa, thời gian một nghiên cứu RCTs không đủ dài để có thể bao quát các “trạng thái” có thể xảy ra của bệnh Vì vậy, sử dụng kỹ thuật mô hình hóa để khắc phục những nhược điểm trên
Sử dụng mô hình hay mô hình hóa trong nghiên cứu chi phí - hiệu quả là việc xây dựng các “trạng thái” của mô hình phù hợp với diễn biến của bệnh, thu thập các dữ liệu đầu vào (dữ liệu về chi phí, dữ liệu về hiệu quả) từ các nghiên cứu dịch tễ hoặc dữ liệu giả định tương ứng với các “trạng thái”, sau
đó tiến hành phân tích dữ liệu bằng việc sử dụng các thuật toán để đưa ra kết quả đầu ra mong muốn Qua tham khảo y văn cho thấy, trong hơn ba thập kỷ qua, kỹ thuật mô hình hóa đã được sử dụng rộng rãi trong các phân tích kinh
tế Dược về loãng xương [20]
1.2.2.2 Các loại mô hình
Mô hình cây quyết định và mô hình Markov là hai loại mô hình thông dụng nhất và mô phỏng được hầu hết các vấn đề đặt ra trong đánh giá chi phí
- hiệu quả [5]
Trang 20Mô hình cây quyết định
Mô hình cây quyết định với cấu trúc nhánh được minh họa trong hình 4
Hình 5: Ví dụ minh họa về mô hình cây quyết định ( C/Cost U/Utility)
Cây quyết định khởi đầu bằng việc phân chia thành các nhánh điều trị khác nhau bao gồm nhánh sử dụng thuốc A và nhánh sử dụng thuốc B (cũng có thể
là các can thiệp y tế, dùng thuốc chỉ là ví dụ) Bệnh nhân sau khi sử dụng các thuốc A, thuốc B sẽ cho kết quả lâm sàng khác nhau, phân chia thành các nhánh với các xác suất khác nhau Giá trị đầu vào thể hiện chi phí - C khi bệnh nhân sử dụng thuốc A hoặc thuốc B Giá trị đầu ra thể hiện giá trị hiệu quả - U tương ứng với kết quả lâm sàng
Trong mô hình cây quyết định được minh họa trên, so sánh chi phí - hiệu quả của thuốc A với thuốc B thì tỷ số chi phí - hiệu quả gia tăng:
ICER =
=
Mô hình Markov: Mô hình Markov được sử dụng trong nghiên cứu chi phí -
hiệu quả khi mô hình cây quyết định có quá nhiều nhánh
Trang 21Đặc biệt trong các sự kiện xảy ra trong khoảng thời gian dài, ví dụ như mô tả
diễn biến của một bệnh mạn tính Mô hình Markov có đặc điểm:
Dự đoán một loạt các “trạng thái” của bệnh ở các thời điểm khác nhau
Ở cây quyết định các dự đoán ở dạng nhánh cây
Yếu tố thời gian được xác định cụ thể trong mô hình Markov Bệnh nhân có thể di chuyển giữa các “trạng thái” với xác suất dịch chuyển nhất định trong mỗi khoảng thời gian Khoảng thời gian gián đoạn này gọi là một chu kỳ Ở mô hình cây quyết định, yếu tố thời gian không được xác định cụ thể
Mỗi “trạng thái” trong mô hình sẽ có chi phí và giá trị hiệu quả tương ứng Việc di chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác được quy định bới xác suất Phần này giống với mô hình cây quyết đinh
Ví dụ về mô hình Markov sau đây sẽ minh họa cụ thể hơn các lý thuyết vừa nêu trên Trong mô hình mô tả các trạng thái có thể xảy ra từ khi bệnh nhân bị loãng xương đến khi tử vong Trong khoảng thời gian đó, bệnh nhân
có thể dịch chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác hoặc giữ nguyên trạng thái Các trạng thái bao gồm: loãng xương (trạng thái A), gãy xương hông do loãng xương (trạng thái B), hồi phục sau gãy xương hông (trạng thái C) và tử vong
Hình 6: Ví dụ minh họa về mô hình Markov
Các mũi tên chỉ việc di chuyển của bệnh nhân trong mô hình sau mỗi chu
kỳ kéo dài 1 năm Ví dụ, nếu bệnh nhân bắt đầu ở trạng thái A trong chu kỳ đầu tiên, các chuyển đổi có thể có ở chu kỳ thứ hai bao gồm (1) giữ nguyên
Trang 22trạng thái A; (2) chuyển sang trạng thái B vì bị gãy xương hông; (3) chuyển sang trạng thái D là tử vong
Giả định rằng sức khỏe của bệnh nhân sau khi có gãy xương không thể hồi phục lại như giai đoạn chưa gãy Vì vậy, trạng thái B, trạng thái C, trạng thái
D không có mũi tên đến trạng thái A
Xác suất dịch chuyển (con số sử dụng trong bảng dưới đây sử dụng minh họa cho xác suất dịch chuyển, không phải số liệu thực tế)
Bảng 6: Minh họa xác suất dịch chuyển trong mô hình Markov
Xác suất dịch chuyển khác nhau giữa thuần tập này và thuần tập kia Ví dụ như, thuần tập bệnh nhân loãng xương nhưng không can thiệp điều trị, có xác suất gãy xương hông là 0.202 Với thuần tập bệnh nhân loãng xương nhưng được can thiệp điều trị thuốc, xác suất gãy xương hông không phải là 0.202
mà sẽ nhỏ hơn do tác dụng của thuốc Vì vậy, ở hai thuần tập có can thiệp và không có can thiệp, xác suất dịch chuyển khác nhau, dẫn đến sự khác nhau về chi phí và hiệu quả
Chi phí và hiệu quả trong mô hình Markov: Trong mô hình Markov, chi phí và hiệu quả tương ứng với trạng thái của bệnh nhân Giá trị kỳ vọng của
Trang 23chi phí và hiệu quả là tổng chi phí và tổng hiệu quả từ khi bệnh nhân bắt đầu
mô hình đến khi tử vong, được tính toán theo hai bước sau:
Bước thứ nhất: Tính xác suất bệnh nhân ở một trạng thái nhất định sau
mỗi chu kỳ Cách tính được minh họa trong bảng 6: Giả sử 1000 bệnh
nhân tại thời điểm ban đầu trong thuần tập Cho mỗi chu kỳ, tỷ lệ của
thuần tập ở mỗi trạng thái được tính toán dựa trên các trạng thái của
chu kỳ trước và xác suất dịch chuyển
Bảng 7: Minh họa thuật toán tính xác suất ở mỗi trạng thái trong
mô hình Markov Chu kỳ Trạng thái A Trạng thái B Trạng thái C Trạng thái D Tổng số
= 202
=1000*0.067 (AC) + 0*0.407 (BC) + 0* 0.750 (CC)
= 67
=1000*0.010 (AD) +0*0.012 (BD) +0*0.250 (CD) +0 (DD)
= 10 = 1000
Bước thứ hai: Sau khi xác định tỷ lệ bệnh nhân tại mỗi trạng thái trong
mỗi chu kỳ, bước thứ hai là tính toán giá trị chi phí và hiệu quả
Về khía cạnh chi phí, trước hết tính toán chi phí tại mỗi chu kỳ bằng tỷ lệ thuần tập tại trạng thái nhân với chi phí cho trạng thái đó
Sau đó, tính tổng chi phí là tổng tại tất cả các chi kỳ.Về khía cạnh hiệu
quả, cách tính tương tự như tính chi phí Sử dụng tổng chi phí và tổng
hiệu quả so sánh thuần tập này với thuần tập kia theo cách tính ICER
Tóm lại, vai trò của mô hình là để mô phỏng thực tế Hai loại mô hình hay
được sử dụng để mô phỏng là mô hình cây quyết định và mô hình Markov
Trang 24Mô hình cây quyết định mô tả diễn biến dưới dạng lựa chọn nhánh, trong khi Markov mô tả diễn biến dưới dạng dịch chuyển giữa các trạng thái Việc xác đinh cấu trúc mô hình là quan trọng, phụ thuộc bản chất của tiến triển bệnh và can thiệp
1.3 Những nghiên cứu liên quan
Để tìm hiểu những nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực chi phí -hiệu quả về tầm soát và điều trị loãng xương ở phụ nữ mãn kinh, tiến hành tìm kiếm các bài tổng quan hệ thống về lĩnh vực này
1.3.1 Phương pháp tìm kiếm
Các bài tổng quan hệ thống được tìm kiếm tại cơ sở dữ liệu MEDLINE:
- Từ khóa tìm kiếm (Được trình bày ở phần Phụ lục )
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Tổng hợp các nghiên cứu chi phí - hiệu quả hay rộng hơn là nghiên cứu kinh tế Dược về loãng xương (Thực tế, đa số các nghiên cứu kinh tế Dược về loãng xương sử dụng cách đánh giá chi phí - hiệu quả)
Đưa ra được tổng quan về mô hình tầm soát và điều trị loãng xương
1.3.2 Kết quả về những nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu chọn lọc được 3 bài tổng quan hệ thống về lĩnh vực chi phí - hiệu quả [25,30,37] Qua tham khảo các bài tổng quan hệ thống trên đồng thời tìm hiểu các nghiên cứu được tổng hợp từ các bài tổng quan, rút ra một số đặc điểm sau:
1.3.2.1 Phác đồ tầm soát và điều trị loãng xương trong các nghiên cứu
Những nghiên cứu chi phí - hiệu quả có phác đồ tầm soát toàn bộ bằng phép đo DXA và cho điều trị khi kết quả đo DXA thể hiện loãng xương hoặc không đạt chi phí hiệu quả hoặc chỉ đạt ở độ tuổi cao và ngưỡng chi trả nhất định [25] Vì vậy, nhà nghiên cứu đưa thêm một số yếu tố tiền soát trong phác
đồ tầm soát Ví dụ về một nghiên cứu tại Nhật Bản so sánh chi phí - hiệu quả
Trang 25của hai phác đồ: (1) tầm soát toàn bộ bằng phương pháp DXA và điều trị risedronate cho đối tượng có kết quả đo DXA thể hiện loãng xương, (2) tầm soát chọn lọc bằng phương pháp DXA cho đối tượng có tiền sử gãy xương côt sống và điều trị risedronate cho đối tượng có kết quả đo DXA thể hiện loãng xương Kết quả phác đồ (2) đạt ở độ tuổi 70 trở lên trong khi phác đồ (1) không đạt chi phí - hiệu quả [11]
Những nghiên cứu đánh giá phác đồ kết hợp tầm soát và điều trị, ba cách
xác định bệnh nhân cần được điều trị dựa trên: (1) kết quả đo MĐX bằng phương pháp DXA, (2) nguy cơ gãy xương trong 10 năm theo thang FRAX hoặc Garvan, (3) kết hợp kết quả đo MĐX và nguy cơ gãy xương Ví dụ, một nghiên cứu tại Đức kết hợp nguy cơ gãy xương và kết quả đo MĐX trong cùng một phác đồ như sau [24]:
Hình 7: Phác đồ tầm soát và phác đồ điều trị một nghiên cứu kinh tế
Dược tại Đức
Trang 26Kết quả nghiên cứu trên các thuốc Alendronate, Risedronate, Teriparatid
so sánh chi phí hiệu quả với việc không sử dụng thuốc, từng thuốc đều đạt chi phí hiệu quả với tất cả đối tượng từ 50 tuổi trở lên
1.3.2.2 Mô hình được sử dụng trong các nghiên cứu
Các nghiên cứu đánh giá chi phí hiệu về loãng xương đều sử dụng kỹ thuật
mô hình hóa Để mô phỏng việc áp dụng các phác đồ tầm soát và điều trị có thể sử dụng mô hình cây quyết định kết hợp với mô hình Markov Trong đó,
mô hình Markov được sử dụng để mô phỏng diễn biến của bệnh Một tổng quan hệ thống tại thời điểm 2013 cho thấy có 93/104 (89%) nghiên cứu kinh
tế Dược (trong đó có nghiên cứu chi phí - hiệu quả) sử dụng Markov trong mô
phỏng các trạng thái của bệnh [30]
Để so sánh chi phí - hiệu quả của hai hoặc nhiều phác đồ ở các nghiên cứu khác nhau thì các nghiên cứu đó cần sử dụng chung một mô hình đánh giá
Mô hình chung hay được sử dụng như sau [37]:
Hình 8: Mô hình Markov được sử dụng thông dụng nhất trong mô tả
diễn biến của bệnh loãng xương
**: Tất cả các trạng thái trong mô hình đều có xác suất dẫn đến trạng thái tử vong Để phần trình bày không phức tạp không đưa các mũi tên
Trang 27 Sau gãy xương cột sống: Bao gồm những bệnh nhân chu kỳ trước gãy xương cột sống, chu kỳ tiếp theo nếu không gãy xương nào khác hoặc không tử vong, sẽ chuyển đến trạng thái này
Sau gãy xương hông: Bao gồm những bệnh nhân chu kỳ trước gãy xương hông, chu kỳ tiếp theo nếu không gãy xương nào khác hoặc không tử vong, sẽ chuyển đến trạng thái này
Gãy xương khác bao gồm bệnh nhân gãy xương như xương bả vai, xương cẳng tay,…phụ thuộc quan điểm nhà nghiên cứu, không bao gồm ba vị trí gãy xương đã trình bày
1.3.2.3 Khoảng thời gian nghiên cứu
Những nghiên cứu công bố trong những năm 1980 - 1999 đa số sử dụng khoảng thời gian mô hình là 10 - 15 năm Loãng xương là một bệnh mạn tính,
có thể kéo dài suốt đời người Vì vậy, trong thời gian trở lại đây, các nghiên cứu đều sử dụng khoảng thời gian nghiên cứu trọn đời với khoảng thời gian nghiên cứu tối đa là 50 năm [30]
Tóm lại, sau khi tìm hiểu các nghiên cứu đánh giá chi phí - hiệu quả trên thế giới, nhận thấy việc sử dụng đánh giá chi phí - hiệu quả để xác định đối tượng ở độ tuổi nào, có đặc điểm bệnh lý đi kèm như thế nào cần được tầm soát loãng xương và cần được điều trị
Trong các nghiên cứu đánh giá chi phí - hiệu quả, kỹ thuật mô hình hóa được sử dụng phổ biến Trong các loại mô hình, mô hình Markov được sử dụng để mô tả diễn biến của bệnh loãng xương Khi muốn so sánh kết quả chi phí - hiệu quả của nghiên cứu này với nghiên cứu khác, các nghiên cứu sử dụng một mô hình Markov chung Mô hình này cũng là mô hình được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu
Mô hình là sự mô phỏng của thực tế Kết quả chi phí và hiệu quả để phản ánh đúng thực tế nhất thì thời gian nghiên cứu phải đủ dài Các nghiên cứu ngày nay, đều thống nhất sử dụng khoảng thời gian nghiên cứu trọn đời
Trang 28CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ từ độ tuổi 50 trở lên
- Phữ nữ từ độ tuổi 50 trở lên và có tiền sử gãy xương cột sống
2.2 Quan điểm nghiên cứu
Phân tích trên quan điểm xã hội, chi phí bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
2.3 Khoảng thời gian nghiên cứu
Mô hình bắt đầu nghiên cứu ở đối tượng phụ nữ từ 50 tuổi Kết thúc mô hình khi đối tượng đến 100 tuổi hoặc khi đối tượng tử vong
2.4 Quy trình nghiên cứu
2.4.1 Hình thành câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với hai mục tiêu đánh giá chi phí - hiệu quả của phác đồ tầm soát
và điều trị loãng xương, hình thành hai câu hỏi nghiên cứu sau:
- Câu hỏi 1: Phác đồ tầm soát loãng xương cho tất cả phụ nữ từ độ tuổi 50 trở
lên bằng phương pháp DXA, sau đó điều trị cho bệnh nhân có kết quả DXA thể hiện loãng xương bằng Alendronate, so với phác đồ không tầm soát và không điều trị có đạt chi phí phí - hiệu quả hay không?
- Câu hỏi 2: Phác đồ tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA trên đối
tượng phụ nữ từ độ tuổi 50 trở lên “có tiền sử gãy xương” sau đó điều trị cho bệnh nhân có kết quả DXA thể hiện loãng xương bằng Alendronate so với phác đồ không tầm soát và không điều trị có kết quả chi phí - hiệu quả như thế nào?
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, lần lượt đi qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Xây dựng mô hình
- Giai đoạn 2: Thử nghiệm mô hình
Trang 29Hình 9: Sơ đồ quá trình nghiên cứu
Hình thành câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Phác đồ tầm soát loãng xương cho tất cả phụ nữ từ độ tuổi 50 trở lên bằng phương pháp
DXA, sau đó điều trị cho bệnh nhân có kết quả DXA thể hiện loãng xương bằng Alendronate, so với phác
đồ không tầm soát và không điều trị có đạt chi phí phí - hiệu quả hay không?
- Câu hỏi 2: Phác đồ tầm soát loãng xương bằng phương pháp DXA trên đối tượng phụ nữ từ độ tuổi 50 trở
lên “có tiền sử gãy xương” sau đó điều trị cho bệnh nhân có kết quả DXA thể hiện loãng xương bằng Alendronate so với phác đồ không tầm soát và không điều trị có kết quả chi phí - hiệu quả như thế nào?
- Mô hình mô tả diễn biến sau khi có loãng xương?
Tham khảo các tài liệu:
- Các nghiên cứu chi phí -
hiệu quả đã tiến hành trên
thế giới
- Các sách kinh tế Y tế
- Tình hình dịch tễ loãng
xương tại Việt Nam
Mô hình mô tả tầm soát: Mô hình cây quyết
đinh:
- Cấu trúc các nhánh
- Kết quả xảy ra của mỗi nhánh
Mô hình mô tả diễn biến bệnh
Mô hình Markov
- Trạng thái Markov
- Chu kỳ Markov Bệnh nhân nếu có loãng xương được chẩn đoán bằng phương pháp DXA sẽ được điều trị khi trải qua các trạng thái mô hình Markov, khác với bệnh nhân không được chẩn đoán thì không được điều trị
Đối tượng phụ nữ từ 50 tuổi
trở lên
1 Thu thập dữ liệu đầu vào
- Xác suất dịch chuyển giữa các trường hợp có thể xảy ra
của đối tượng
- Chi phí (C) khi áp dụng tầm soát và có điều trị, chi phí
khi không tầm soát và không điều trị
- Giá trị hiệu quả (U) khi áp dụng tầm soát và có điều trị,
giá trị hiệu quả khi không tầm soát và không điều trị
Nguyên tắc chung
(1) Tham khảo theo bậc giá trị của tháp bằng chứng
(Phân tích meta và tổng quan hệ thống là bằng chứng
mạnh nhấtRCTsthuần tập…)
(2) Ưu tiên tìm kiếm dữ liệu tại Việt Nam hoặc các nước
có tình hình dịch tễ và kinh tế gần tương đương
Ví dụ: tỷ lệ mắc tham khảo các nghiên cứu thuần tập,
hiệu quả điều trị thuốc tham khảo RCTs,…
Đối tượng phụ nữ từ 50 tuổi trở lên có tiền sử gãy xương
1 Thu thập dữ liệu đầu vào
- Xác suất dịch chuyển giữa các trường hợp có thể xảy ra của đối tượng
- Chi phí (C) khi áp dụng tầm soát và có điều trị, chi phí khi không tầm soát và không điều trị
- Giá trị hiệu quả (U) khi áp dụng tầm soát và có điều trị, giá trị hiệu quả khi không tầm soát và không điều trị
Nguyên tắc chung
(1) Tham khảo theo bậc giá trị của tháp bằng chứng (Phân tích meta và tổng quan hệ thống là bằng chứng mạnh nhấtRCTsthuần tập…)
(2) Ưu tiên tìm kiếm dữ liệu tại Việt Nam hoặc các nước
có tình hình dịch tễ và kinh tế gần tương đương
Ví dụ: tỷ lệ mắc tham khảo các nghiên cứu thuần tập, hiệu quả điều trị thuốc tham khảo RCTs,…
Thử nghiệm mô hình
2 Phân tích và xử lý số liệu: Xây dựng chương trình
xử lý số liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính
được chi phí, hiệu quả cho từng phác đồ
2 Phân tích và xử lý số liệu: Xây dựng chương trình
xử lý số liệu sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính được chi phí, hiệu quả cho từng phác đồ: