Tuy nhiên để tạo cơ sở khoa học nhằm phát triển, sử dụng rộng rãi các dược liệu và bài thuốc YHCT này cần tiến hành các nghiên cứu dược lý và lâm sàng đánh giá tác dụng, hiệu quả điều tr
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
TS Nguyễn Hoàng Anh, người thầy đáng kính đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ cho
em giúp em tiến hành nghiên cứu khoa học cũng như hoàn thiện khóa luận này
Đồng thời cho phép em gửi lời cảm ơn tới DS Phạm Đức Vịnh cùng các thầy
cô của bộ môn Dƣợc lực đã chỉ bảo cho em trong suốt quá trình hoàn thành khóa
luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, các Bộ môn trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình dạy dỗ, giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập của em tại trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị kĩ thuật viên của bộ môn Dược lực
đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tiến hành thực nghiệm
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình
và bạn bè đã luôn ủng hộ và tạo động viên lớn cho em trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Mất ngủ 3
1.1.1 Khái niệm mất ngủ 3
1.1.2 Dịch tễ học mất ngủ 3
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ 3
1.1.4 Ảnh hưởng của mất ngủ đến cuộc sống và sức khỏe 4
1.2 Điều trị mất ngủ theo y học hiện đại 5
1.2.1 Phương pháp điều trị hành vi nhận thức 5
1.2.2 Các thuốc dùng trong điều trị mất ngủ 6
1.3 Dược liệu trong điều trị mất ngủ 7
1.4 Điều trị mất ngủ theo Y học cổ truyền 9
1.4.1 Khái niệm mất ngủ theo Y học cổ truyền 9
1.4.2 Nguyên nhân 10
1.4.3 Phương pháp điều trị theo Y học cổ truyền 10
1.5 Bài thuốc An thần hoàn 11
1.5.1 Xuất xứ của bài thuốc 11
1.5.2 Thành phần của bài thuốc 11
1.5.3 Công dụng chủ trị của bài thuốc An thần hoàn 15
1.5.4 Ý nghĩa phối ngũ trong bài thuốc An thần hoàn 16
1.6 Các mô hình thực nghiệm trên động vật đánh giá tác dụng an thần 16
Chương 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
Trang 52.1 Nguyên liệu, thiết bị 19
2.1.1 Nguyên liệu 19
2.1.2 Hóa chất, dung môi 19
2.1.3 Thiết bị - dụng cụ 19
2.1.4 Động vật dùng trong thử nghiệm 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Chiết xuất dược liệu và chuẩn bị thuốc thử 20
2.3.1.1 Các mức liều sử dụng trong nghiên cứu 20
2.3.1.2 Chiết xuất dược liệu 21
2.3.1.3 Chuẩn bị hỗn dịch diazepam 22
2.3.2 Qui trình tiến hành thí nghiệm 22
2.3.2.1 Thăm dò độc tính cấp của bài thuốc An thần hoàn 22
2.3.2.2 Đánh giá tác dụng an thần của bài thuốc An thần hoàn và các thành phần trong bài thuốc 23
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Kết quả 27
3.1.1 Thăm dò độc tính cấp của bài thuốc An thần hoàn 27
3.1.2 Đánh giá tác dụng an thần của bài thuốc An thần hoàn 29
3.1.2.1 Tác dụng giãn cơ 29
3.1.2.2 Tác dụng đối kháng co giật gây ra bởi strychnin 30
3.1.2.3 Tác dụng giải lo âu 31
3.1.2.4 Tác dụng an thần 33
Trang 63.1.3 Đánh giá tác dụng an thần của các thành phần trong bài thuốc An
thần hoàn…… 34
3.1.3.1 Tác dụng giãn cơ 34
3.1.3.2 Tác dụng giải lo âu 35
3.1.3.3 Tác dụng an thần 37
3.2 Bàn luận 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2X bình vôi Bình vôi liều 2X
2X còn lại Phần dược liệu còn lại liều 2X
4X bình vôi Bình vôi liều 4X
4X còn lại Phần dược liệu còn lại liều 4X
ATH X (2X, 4X, 8X) An thần hoàn liều X (2X, 4X, 8X)
CBT Cognitive behavioral therapy (Phương pháp điều trị
hành vi nhận thức)
DSM-5 Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm
thần, ấn bản lần thứ 5 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa kỳ
Trang 83.2 Kết quả đánh giá độc tính cấp của bài thuốc ATH 29
3.3 Tác dụng của ATH trong thí nghiệm leo dây 30
3.4 Tác dụng của ATH lên co giật gây ra bởi strychnin 31
3.5
Tác dụng của diazepam, bình vôi, phần dược liệu còn lại liều
2X, 4X lên khả năng bám giữ của chuột trong thí nghiệm leo
dây
35
3.6 Tác dụng của diazepam, bình vôi, phần dược liệu còn lại lên
thời gian lưu lại trong tay hở và trong tay kín của chuột 36
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.2 Dụng cụ thí nghiệm mô hình chữ thập nâng cao 25
3.1
Tác dụng của diazepam và ATH lên thời gian lưu lại tay
hở, thời gian lưu lại tay kín của chuột trên mô hình chữ
thập nâng cao
32
3.2
Tác dụng của diazepam và ATH lên số lần vào tay hở, số
lần vào tay kín, và tổng số lần di chuyển vào hai cánh tay
của chuột trên mô hình chữ thập nâng cao
33
3.3 Tác dụng của diazepam và ATH trên thời gian ngủ gây ra
3.4
Tác dụng của diazepam, bình vôi, phần dược liệu còn lại
lên số lần di chuyển vào tay hở, vào tay kín và tổng số lần
di chuyển vào hai cánh tay của chuột trên mô hình chữ
thập nâng cao
37
3.5 Tác dụng của bình vôi và phần dược liệu còn lại lên thời
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất ngủ là rối loạn giấc ngủ thường gặp nhất trong một vùng dân cư, được định nghĩa là rối loạn về số lượng và chất lượng giấc ngủ Khi xã hội ngày càng phát triển, số người mắc bệnh mất ngủ ngày càng tăng Ước tính trong một năm có tới 30 – 45% số người lớn bị mất ngủ, gây hậu quả không nhỏ về sức khỏe, kinh tế và các vấn đề xã hội khác [14] [39] Nhu cầu điều trị mất ngủ vì vậy đã tăng lên nhanh chóng Hai phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều trị mất ngủ bao gồm phương pháp trị liệu không dùng thuốc và phương pháp điều trị có dùng thuốc Các thuốc được sử dụng nhiều nhất là những thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược như các thuốc nhóm benzodiazepin và barbiturat Hạn chế lớn nhất của các nhóm thuốc trên là có nhiều tác dụng không mong muốn, khi dùng kéo dài sẽ gây ra tình trạng quen thuốc, lệ thuộc vào thuốc, và khi ngừng thuốc đột ngột có thể gây ra hội chứng cai thuốc [6] [47]
Hiện nay, y học đang có xu hướng quay trở lại sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên do chúng có ít tác dụng phụ, và có hiệu quả nhất định trong điều trị mất ngủ Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới có nguồn dược liệu phong phú, cùng với nhiều kinh nghiệm YHCT với các bài thuốc điều trị mất ngủ [5] [50] [75] Tuy nhiên để tạo cơ sở khoa học nhằm phát triển, sử dụng rộng rãi các dược liệu và bài thuốc YHCT này cần tiến hành các nghiên cứu dược lý và lâm sàng đánh giá tác dụng, hiệu quả điều trị và độ an toàn của chúng
Tại tỉnh Hải Dương, bài thuốc “an thần hoàn” (ATH) đã được lương y Nguyễn Tiến Khẩn phát triển để điều trị mất ngủ thể tâm tỳ hư từ năm 1980 Bài thuốc phối hợp 5 dược liệu có tác dụng dưỡng tâm an thần kết hợp kiện tỳ ích khí bao gồm bình vôi, bạch truật, đảng sâm, hoài sơn và liên nhục Hiện tại, mỗi năm có gần
2000 bệnh nhân được điều trị tại viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương bằng bài thuốc này [16] Tuy nhiên, việc sử dụng bài thuốc ATH mới chỉ dựa trên kinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm điều trị, chưa từng có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá độc tính trên động vật thực nghiệm cũng như tác dụng dược lý hướng thần kinh của bài thuốc ATH [16] Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “thăm
Trang 11dò độc tính cấp và đánh giá tác dụng an thần thực nghiệm của bài thuốc An thần hoàn sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương” với hai mục tiêu:
vật thực nghiệm
2 Đánh giá tác dụng dược lý an thần của bài thuốc ATH và của các thành phần trong bài thuốc trên các mô hình thực nghiệm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Mất ngủ
1.1.2 Dịch tễ học mất ngủ
Rối loạn mất ngủ là bệnh thường gặp nhất của tất cả các rối loạn liên quan đến giấc ngủ Khoảng một phần ba số người lớn phản ánh họ có các triệu chứng mất ngủ, trong số đó 10% -15% trải qua tình trạng suy giảm hoạt động vào ban ngày, và 6% - 10% có các triệu chứng đáp ứng tiêu chí cho rối loạn mất ngủ Mất ngủ phổ biến ở phụ nữ hơn ở nam giới, với tỷ lệ theo giới tính khoảng 1,44:1 Mất ngủ thường được ghi nhận trong mối quan hệ với các bệnh khác hay với các rối loạn tâm thần Ví dụ, 40% - 50% người bị mất ngủ có một rối loạn tâm thần đi kèm [25] Ở Canada một phần năm số người từ 15 đến 24 tuổi, và hơn một phần ba số người từ
75 tuổi trở lên đã từng bị mất ngủ [39]
Ở Việt Nam, nghiên cứu về dịch tễ học bệnh mất ngủ còn rất hạn chế Theo một khảo sát của bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh tiến hành trên 753 người
độ tuổi từ 18 đến 65, từ tháng 11/2004 đến tháng 9/2005, tỷ lệ người mắc chứng mất ngủ trên địa bàn thành phố là 18,32% [20]
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ
Theo DSM-5 tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ bao gồm các triệu chứng sau [14] [25] [68]:
Trang 13A Người bệnh phàn nàn về chất lượng và số lượng giấc ngủ cùng với một trong các triệu chứng sau:
(1) Mất ngủ đầu giấc (ở trẻ em thường có biểu hiện khó đi vào giấc ngủ dù không có sự làm phiền của người chăm sóc)
(2) Mất ngủ giữa giấc, trong giấc ngủ thường hay bị thức giấc, sau đó họ khó ngủ tiếp được (ở trẻ em thường có biểu hiện khó quay lại giấc ngủ dù không có
sự làm phiền của người chăm sóc)
(3) Mất ngủ cuối giấc, giấc ngủ không kéo dài, sau đó họ tỉnh giấc vào sáng sớm và không sao ngủ lại được
B Rối loạn giấc ngủ gây ra lo ngại đáng kể về mặt lâm sàng; hoặc ảnh hưởng xấu đến các hoạt động xã hội, công việc, học tập, giảng dạy, cách cư xử hoặc các hoạt động quan trọng khác
C Việc khó ngủ xảy ra ít nhất 3 đêm mỗi tuần
D Việc khó ngủ kéo dài ít nhất 3 tháng
E Khó ngủ xảy ra mặc dù đã có tất cả các điều kiện thuận lợi cho việc ngủ
F Mất ngủ không xuất hiện trong phạm vi của một rối loạn ngủ-thức khác (bệnh ngủ ngáy, mất ngủ do hô hấp, rối loạn nhịp thức ngủ hàng ngày hoặc rối loạn cận giấc ngủ)
G Mất ngủ không phải do một chất (ma túy, thuốc)
H Mất ngủ không phải là một triệu chứng của các bệnh tâm thần khác (trầm cảm,
lo âu lan tỏa, sảng)
Chẩn đoán mất ngủ được đưa ra cùng với các rối loạn tâm thần, rối loạn giấc ngủ hay các bệnh khác nếu có Nếu mất ngủ nặng thì phải chẩn đoán mất ngủ như là một bệnh riêng
1.1.4 Ảnh hưởng của mất ngủ đến cuộc sống và sức khỏe
Mất ngủ gây ra các khó khăn trong giao tiếp xã hội, giữa các cá nhân và trong công việc Đó có thể là do mất ngủ hoặc do người bệnh lo lắng quá mức tới giấc ngủ gây ra trạng thái dễ bị kích thích vào ban ngày và giảm sự tập trung Sự giảm tập trung và chú ý do mất ngủ làm tăng tỉ lệ các vụ tai nạn Mất ngủ liên tục cũng
Trang 14gây ra các hậu quả lâu dài, bao gồm việc tăng nguy cơ rối loạn trầm cảm, tăng huyết
áp [70], và nhồi máu cơ tim; giảm chất lượng cuộc sống; giảm năng suất và thời gian lao động; và tăng gánh nặng kinh tế [25] Mối liên quan giữa mất ngủ và các bệnh tim mạch đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu [67] Một nghiên cứu được tiến hành trên 1741 người đã chỉ ra rằng nam giới mắc chứng mất ngủ có tỷ lệ tử vong cao hơn bình thường [71]
Mất ngủ là một bệnh mắc kèm chung của nhiều bệnh, trong đó có bệnh đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm khớp, hội chứng đau
cơ xơ hóa, và các bệnh đau mạn tính khác Mất ngủ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh trên, và các bệnh trên làm tăng nguy cơ mất ngủ Mối liên quan này không phải lúc nào cũng rõ ràng và có thể thay đổi Người mắc rối loạn mất ngủ thường có rối loạn tâm thần kèm theo (rối loạn lưỡng cực, trầm cảm và rối loạn lo âu) Mất ngủ liên tục
là một yếu tố nguy cơ hoặc một triệu chứng sớm của rối loạn lưỡng cực, trầm cảm,
lo âu và rối loạn sử dụng thuốc Người bị mất ngủ có thể lạm dụng thuốc hoặc uống rượu để có thể ngủ vào ban đêm, thuốc giải lo âu để chống lại sự căng thẳng hoặc lo
âu, và cafein hoặc các chất kích thích khác để chống lại sự mệt mỏi quá mức Ngoài việc làm xấu đi tình trạng mất ngủ, việc sử dụng thuốc như vậy trong một số trường hợp có thể tiến triển thành một rối loạn lạm dụng thuốc [25]
1.2 Điều trị mất ngủ theo y học hiện đại
Mất ngủ hiện vẫn là một rối loạn không thể chữa khỏi và phương pháp điều trị hành vi nhận thức có thể giúp giảm nhẹ các gánh nặng do mất ngủ gây ra cả về sức khỏe và kinh tế [57] Các thuốc điều trị mất ngủ chỉ nên dùng khi phương pháp điều trị không dùng thuốc không có hiệu quả hoặc trong trường hợp thực sự cần thiết do các tác dụng không mong muốn [47]
1.2.1 Phương pháp điều trị hành vi nhận thức
Có nhiều bằng chứng đã được đưa ra để chứng minh hiệu quả điều trị của
phương pháp điều trị hành vi nhận thức (Cognitive behavioral therapy, CBT) trong
điều trị mất ngủ kéo dài [41] CBT tập trung vào điều chỉnh những hành vi và suy nghĩ không phù hợp làm tăng tình trạng mất ngủ CBT gồm 5 phần chính: điều trị
Trang 15kích thích, các nguyên tắc khi ngủ, các phương pháp thư giãn, trị liệu nhận thức và giáo dục vệ sinh giấc ngủ CBT được coi là phương pháp rất quan trọng trong điều trị mất ngủ với tác dụng tương tự các thuốc gây ngủ được dùng trong một thời gian ngắn để điều trị mất ngủ mạn tính Tuy nhiên, CBT duy trì tác dụng ngay cả sau nhiều tháng hoặc nhiều năm điều trị [41] [63] Các tác dụng này có cả ở trên bệnh nhân mất ngủ đơn thuần hoặc mất ngủ có liên quan đến các rối loạn tâm thần khác [36] [41]
Phương pháp vệ sinh giấc ngủ được đề cập đến trong nhiều tài liệu nhưng hiệp hội rối loạn giấc ngủ của Hoa kỳ khẳng định rằng không có đủ bằng chứng để cho rằng vệ sinh giấc ngủ là một liệu pháp riêng Liệu liệu pháp này có hiệu quả khi nằm trong các phương pháp khác hay không cũng chưa được xác định rõ từ các dữ liệu hiện có [41]
1.2.2 Các thuốc dùng trong điều trị mất ngủ
Các chất dẫn truyền thần kinh (histamin, acetylcholin, noradrenalin, serotonin, orexin, và dopamin) có tác dụng kích thích thần kinh trung ương làm cơ thể tỉnh táo Khi chất đối kháng với các chất dẫn truyền thần kinh này được đưa vào cơ thể
sẽ gây cảm giác buồn ngủ và gây ngủ Các nhà khoa học miêu tả hoạt động thức ngủ của não bộ như là một công tắc „sự chuyển đổi ngủ-thức‟ Khi một mặt của chuyển đổi này được kích hoạt, bệnh nhân sẽ thức dậy và tỉnh táo; khi mặt còn lại được kích hoạt, bệnh nhân sẽ đi vào giấc ngủ Những thuốc gây ngủ được sử dụng nhiều là các thuốc tác động trên receptor GABAA Các thuốc làm tăng khả năng gắn của GABA vào receptor GABAA (dẫn chất barbituric, benzodiazepin, zolpidem) sẽ gây ngủ và ức chế vùng thức của não Các thuốc đối kháng histamin được dùng nhiều dưới dạng thuốc OTC Các thuốc này ngăn cản sự gắn histamin vào receptor
H1 do đó làm ức chế vùng thức của vỏ não và gây ngủ Một số thuốc chống trầm cảm, an thần như trazodon, mirtazapin, hay amitriptylin cũng được sử dụng ngoài chỉ định (off-label) để gây ngủ tương tự như các thuốc kháng histamin H1 Ramelteon là thuốc chủ vận receptor melatonin nhóm 1 (MT1) và melatonin nhóm
2 (MT2) và hoạt động tương tự như melatonin Melatonin là hormon được tiết ra ở
Trang 16tuyến tùng có nhiệm vụ báo hiệu cho cơ thể biết trời tối và sau đó chuyển đổi ngủ được đẩy về phía ngủ Tương tự như vậy, nếu ramelteon được sử dụng, receptor melatonin cũng được kích thích trực tiếp và chuyển đổi được chuyển giống như melatonin nội sinh đang có mặt [30] [50] [68] [69]
thức- Tác dụng không mong muốn:
Các thuốc ngủ nhóm benzodiazepin và barbiturat làm tăng khả năng gắn của GABA bằng cách liên kết dị lập thể với vị trí liên kết của GABA trên receptor GABAA Do mỗi thuốc khác nhau có các liên kết khác nhau với receptor GABAAnên tác dụng và độ an toàn của chúng cũng khác nhau Benzodiazepin và barbiturat liên kết ở các vị trí khác nhau trên các nhóm dưới của receptor GABAA Khi dùng quá liều barbiturat sẽ nguy hiểm hơn so với dùng benzodiazepin, barbiturat thường gây ra lệ thuộc thuốc, sự lạm dụng thuốc và hội chứng cai thuốc nặng nề hơn so với benzodiazepin Phenobarbital là chất gây cảm ứng mạnh các enzym chuyển hóa thuốc ở cytocrom P450 nên làm giảm hoặc mất tác dụng của nhiều thuốc phối hợp, bản thân phenobarbital còn gây tự cảm ứng nên khi dùng lâu dài tác dụng của chính
nó cũng bị giảm Do benzodiazepin là nhóm thuốc thay thế phù hợp cho barbiturat nên có thể giảm sự lạm dụng barbiturat bằng cách chỉ kê đơn khi thật cần thiết [30] [50] [68] [69] Dùng thuốc ngủ barbiturat đôi khi có tác dụng nghịch thường như mất ngủ, có một giai đoạn hưng phấn nhẹ hoặc gặp ác mộng vào ban đêm Thuốc ngủ barbiturat thường gây tác dụng không mong muốn sau khi thức dậy như mệt mỏi, chóng mặt, giảm phản xạ có điều kiện và có thể bị lú lẫn [3]
Thuốc kháng histamin H1 gồm cả thuốc OTC (diphenhydramin và doxylamin)
và thuốc kê đơn doxepin, có các tác dụng không mong muốn liên quan đến tác dụng kháng cholinergic (nhìn mờ, táo bón, suy giảm trí nhớ và khô miệng) Các thuốc có thể gây ra buồn ngủ vào buổi sáng trong trường hợp dùng thuốc vào tối hôm trước; quen thuốc và tăng cân [3] [69]
1.3 Dược liệu trong điều trị mất ngủ
Việc sử dụng thuốc có nguồn gốc tổng hợp hóa dược để điều trị mất ngủ gây ra nhiều tác dụng không mong muốn đồng thời giá thành của các thuốc này cũng là
Trang 17một vấn đề cần quan tâm Do đó xu hướng hiện tại là tìm kiếm các loại thuốc an thần, gây ngủ có nguồn gốc tự nhiên Trên thực tế cách đây hơn 100 năm, nhiều loại thuốc có hiệu quả cao đều có nguồn gốc từ thực vật như digoxin (dương địa hoàng), paclitaxel (thông đỏ), cafein (cà phê, chè, etc.), reserpin (ba gạc), galantamin (thủy tiên hoa vàng) và morphin (cây thuốc phiện) [37] [75] Mặt khác, các dược liệu thường được sử dụng từ rất lâu đời theo YHCT nên việc tìm kiếm các thuốc ngủ mới có nguồn gốc dược liệu là hoàn toàn có cơ sở hợp lý Tuy nhiên độ an toàn, hiệu quả và cơ chế tác dụng của các dược liệu này vẫn chưa được khẳng định chắc chắn
Nghiên cứu một số dược liệu thường được sử dụng trong điều trị mất ngủ:
- Cây nữ lang (Valeriana officinalis): cây nữ lang đã được nghiên cứu trong
nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên, có sử dụng giả dược, trong đó có một vài nghiên cứu được thực hiện trên người cao tuổi Kết quả chủ quan từ người dùng cho thấy tác dụng tốt của cây nữ lang lên giấc ngủ đặc biệt khi sử dụng từ hai tuần trở lên Tuy nhiên các thử nghiệm quan sát khách quan không cho thấy hoặc không rõ các kết quả này Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng cây nữ lang làm tăng giấc ngủ sóng chậm, nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu khác để có được kết luận cuối cùng Nguyên nhân của sự khác biệt giữa các kết quả là do phương pháp nghiên cứu chưa thống nhất, sự khác biệt về công thức bào chế dược liệu và cỡ mẫu nhỏ trong các tài liệu hiện có [42] [50]
- Các dược liệu như cây cỏ ban (Hypericum perforatum), cây hồ tiêu rễ (Piper
methysticum), chanh leo (Passiflora incarnata Linn.) đã có các thử nghiệm ngẫu
nhiên có kiểm soát trên người bệnh được công bố và tổng kết bao gồm thử nghiệm tiến hành với dược liệu đơn độc hoặc trong công thức phối hợp Trong phần lớn các thử nghiệm, các dược liệu đem thử đều thể hiện tác dụng giải lo âu Tuy nhiên với
Passiflora incarnata Linn do các thử nghiệm được tiến hành trên các đối tượng
bệnh nhân khác nhau nên cần thêm các nghiên cứu khác để chứng minh tác dụng
của Passiflora incarnata Linn tùy theo mỗi chỉ định Với Hypericum perforatum
việc sử dụng riêng dược liệu này để điều trị các rối loạn lo âu và các rối loạn bệnh
Trang 18lý khác có liên quan tới lo âu cần được cân nhắc do dược liệu này chỉ thể hiện tác
dụng khi được phối hợp với Valeriana officinalis [51]
Ở các nước phương Tây, dược liệu thường được sử dụng đơn độc trong khi đó các nước phương Đông lại có xu hướng kết hợp các dược liệu với nhau Do vậy khó
có thể kết luận chính xác về dược liệu có tác dụng chính trong công thức và sự tương tác giữa các dược liệu [75] Hơn nữa các thuốc từ dược liệu thường có thành phần hóa học phức tạp nên khó xác định thành phần có tác dụng chính nhưng điều này cũng cho phép có nhiều chỉ định khác nhau với cùng một loại dược liệu Tác dụng của các dược liệu đôi khi có thể do tác dụng tâm lý (placebo) trên các bệnh nhân Vì vậy, trong thực hành hiện đại dựa trên quan điểm của y học dựa trên bằng chứng, hiệu quả của các phương pháp chữa bệnh theo y học truyền thống hay các dược liệu cần được khẳng định thông qua các nghiên cứu dược lý và các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát [74]
Tại Việt Nam, một số loài trong chi Stephania Lour [2] [15], bột alcaloid lá sen [10], hoạt chất Majonosid-R2 trong sâm Việt Nam [13], dược liệu xấu hổ (Mimosa
pudica L., Mimosaceae) [12], tinh dầu từ vỏ quả chi Citrus họ Rutaceae [1], và
nhiều dược liệu khác đã được đánh giá tác dụng giải lo âu, an thần trên động vật thực nghiệm
1.4 Điều trị mất ngủ theo Y học cổ truyền
1.4.1 Khái niệm mất ngủ theo Y học cổ truyền
Mất ngủ theo YHCT là một chứng bệnh mà giấc ngủ không được bình thường Mất ngủ nhẹ thì khó ngủ, dễ thức tỉnh hoặc sau tỉnh khó ngủ trở lại, có khi lúc ngủ lúc tỉnh; mất ngủ nặng thì suốt đêm không ngủ được [8]
Chứng không ngủ có khi xuất hiện đơn độc, cũng có khi xuất hiện với các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, hay quên [8]
Mất ngủ có nhiều thể bệnh khác nhau trong đó có thể tâm tỳ lưỡng hư Hư lao thể tâm tỳ hư thực chất là phối hợp giữa tâm huyết hư và tỳ khí hư Thể tâm tỳ hư thường gặp ở những người suy nhược cơ thể (ăn kém, ngủ ít, sút cân) sau khi mắc bệnh cấp tính, dinh dưỡng kém [18]
Trang 191.4.2 Nguyên nhân
Theo YHCT Trung Quốc, mất ngủ là một biểu hiện của mất cân bằng dương, cũng như sự tương tác của năm thành phần cơ bản và các bộ phận quan trọng trong cơ thể Nói cách khác, mất ngủ là một triệu chứng có thể liên quan tới những mất cân bằng khác nhau của nhiều bộ phận khác nhau ví dụ như âm hư hỏa vượng [74]
âm-Theo YHCT Việt Nam bệnh mất ngủ có nhiều nguyên nhân gây ra như: lo nghĩ, mệt nhọc, tổn hại tâm tỳ, dương không giao với âm, tâm thận bất giao, âm hư hỏa vượng, can dương nhiễu động, tâm dương khí hư và trong vị không hòa, đều có thể ảnh hưởng đến tâm thần sinh mất ngủ [8]
Cơ chế mất ngủ thể tâm tỳ hư:
- Tâm làm chủ huyết, tỳ là nguồn sinh ra huyết, tâm tỳ suy hư, huyết không dưỡng tâm, thần không yên vị gây ngủ hay chiêm bao, hay quên, tim hồi hộp, hay tỉnh giấc [8]
- Khí huyết suy hư, không lên nuôi dưỡng cho não, thanh dương không thăng gây choáng, chóng mặt [8]
- Huyết hư không vinh nhuận lên trên gây sắc mặt không tươi sáng, sắc lưỡi nhợt [8]
- Tỳ không kiện vận thì ăn uống không ngon, huyết ít khí hư thì tinh thần không phấn chấn, tay chân rã rời, mạch tế nhược [8]
1.4.3 Phương pháp điều trị theo Y học cổ truyền
Các phương pháp điều trị không dùng thuốc: châm cứu, thiền, thái cực quyền,
bấm huyệt và bấm huyệt tai Thái cực quyền được chứng minh trong một nghiên cứu rằng nó làm tăng chất lượng cuộc sống vào ban ngày trên đối tượng là những người lớn tuổi Thiền có tác dụng tốt trong điều trị mất ngủ do làm giảm stress, thiền có thể được áp dụng cho bệnh nhân ung thư Châm cứu được dùng để trị mất ngủ do nhiều nguyên nhân khác nhau Phương pháp bấm huyệt và bấm huyệt ở tai làm cải thiện chất lượng giấc ngủ và thời lượng ngủ cũng như hiệu quả giấc ngủ [42]
Trang 20 Dùng thuốc theo YHCT:
Nguyên tắc: trị mất ngủ trước hết phải biết rõ nguyên nhân gây mất ngủ, sau
đó biện luận là hư chứng hay thực chứng rồi tìm cách chữa bệnh theo nguyên tắc hư thì bổ, thực thì tả, điều chỉnh lại cho cân bằng âm dương [8]
Bệnh mất ngủ do hư lao thể tâm tỳ hư thuộc hư chứng, nghĩa là bệnh biểu hiện sự suy yếu của toàn cơ thể hoặc từng tạng phủ, từng bộ phận của cơ thể Bệnh kéo dài, diễn biến từ từ, không dữ dội Loại bệnh tạng phủ hư thì trị bằng các thuốc
bổ trực tiếp vào tạng đó nên dùng bài Quy tỳ thang [5]
Thuốc an thần: là những thuốc có tác dụng trấn tĩnh, gây ngủ, dùng thích hợp với những bệnh tim loạn nhịp, mất ngủ, cuồng phiền; thường xuất hiện bệnh do chức năng tạng tâm mất thăng bằng hoặc có hiện tượng bệnh lý Trong khi dùng tùy theo tình hình cụ thể mà phối hợp với các thuốc khác cho thích hợp [5]
Thuốc an thần có thể chia làm hai loại: loại trọng trấn an thần với tác dụng an thần mạnh hơn như chu sa, thần sa, long cốt… loại dưỡng tâm an thần có tác dụng
an thần gây ngủ, đưa lại giấc ngủ một cách sinh lý hơn như toan táo nhân, bá tử nhân, ngải tượng (bình vôi),…[5]
1.5 Bài thuốc An thần hoàn
1.5.1 Xuất xứ của bài thuốc
Bài thuốc ATH được lương y Nguyễn Tiến Khẩn phát triển từ năm 1980 tại Hải Dương Bài thuốc ATH là sự kết hợp của 5 dược liệu bình vôi, bạch truật, đảng sâm, hoài sơn và liên nhục Bài thuốc được dùng để điều trị cho hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán mất ngủ do hư lao thể tâm tỳ hư nhập viện và điều trị tại bệnh viện
Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương từ hơn 30 năm nay [16]
Bài thuốc được bào chế dạng viên hoàn theo qui trình: các dược liệu được tán thành bột thô, trộn đều thu được bột kép đồng nhất, thêm mật ong, mạch nha đã đun chảy vào nhào thành khối dẻo; cho vào bàn lăn lăn thành sợi, cắt và hoàn viên (80g/viên); sấy viên ở 800C [16]
1.5.2 Thành phần của bài thuốc
Bình vôi:
Trang 21- Là củ đã phơi hay sấy khô của một số loài chi bình vôi (Stephania sp., họ Tiết
dê, Menispermaceae) Thành phần hóa học: L-tetrahydropalmatin (rotundin), tinh bột, đường, axit malic, men oxydase [7] [17] [24]
- Tác dụng dược lý: rotundin rất ít độc, tác dụng trấn kinh rõ rệt trên nhu động vị tràng, điều hòa tim và bổ tim nhẹ, điều hòa hô hấp, có tác dụng an thần, gây ngủ và chống co quắp, hạ huyết áp [7] [17] [24]
- Công năng, công dụng: an thần (suy nhược thần kinh dẫn đến mất ngủ, động kinh co giật, phối hợp với câu đằng, thiên ma) Bình vôi được xếp vào nhóm thuốc dưỡng tâm an thần, giúp đem lại giấc ngủ sinh lý, dùng để điều trị mất ngủ do tâm
âm hư, tâm huyết hư gây khó ngủ, ngủ ít, ngủ không sâu, hồi hộp, tim nhanh Kiện
vị giảm đau trong loét dạ dày, tá tràng, đau răng, đau dây thần kinh, đau do chấn thương Giải độc tiêu viêm trừ phong thũng phối hợp với thổ phục linh, kim ngân Thanh phế chỉ ho trong các trường hợp viêm đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản), ho lao L-tetrahydropalmatin được dùng trong y học hiện đại với nhiều biệt dược (Rotunda, Stilux) làm thuốc an thần gây ngủ, giảm đau, điều trị một số rối loạn tâm thần chức năng, trạng thái căng thẳng thần kinh, mất ngủ dai dẳng nguyên nhân tâm thần [7] [17] [24]
- Ở Việt Nam củ của của loài S.rotunda đã được dùng trong dân gian để chữa
mất ngủ (WHO, 1990) Trong các alkaloid được chiết ra từ loài này, l-stepholidin, palmatin, roemerin, và sinomenin có tác dụng gây ngủ [28] [40]
+ l-stepholidin có hiệu quả trong điều trị đau nửa đầu do tác dụng chẹn kênh calcium và ức chế receptor 5-HT của serotonin Hơn nữa, chất này có tác dụng chữa mất ngủ do làm khởi phát và duy trì giấc ngủ không có vận động nhãn cầu nhanh (non-rapid eye movement sleep) và làm hoạt hóa trung tâm ngủ ở não chuột (Qiu et al., 2009) [64]
+ Palmatin làm giảm serotonin ở thân não nhưng làm tăng nồng độ của chất này và làm giảm nồng độ dopamin ở vỏ não từ đó có tác dụng gây êm dịu (Hsieh et al., 1993) [48]. Với hệ số Ki = 62 nM, roemerin có ái lực mạnh với receptor 5HT2A của
Trang 22serotonin và do vậy có thể được áp dụng trong điều trị tâm thần phân liệt và mất ngủ (Munusamy et al., 2013) [60]
+ Sinomenin có tác dụng giải lo âu ở nhiều mô hình động vật gặm nhấm Các nghiên cứu hành vi chỉ ra sinomenin làm tăng khả năng khám phá và quan hệ bầy đàn (social relationship) Tuy nhiên, tương tự các thuốc giải lo âu khác, sinomenin
có tác dụng gây êm dịu và làm giảm khả năng di chuyển (Chen et al., 2005a) [34]
+ l-THP có tác dụng giải lo âu ở chuột cống ở mức liều 25 mg/kg tiêm màng bụng
(Henkes et al., 2011) [44] Chất này cũng có tác dụng gây ngủ (Leung et al., 2003) [53], thông qua cơ chế có liên quan đến receptor GABA (Halbsguth et al.,) [43]
[58]
Dịch chiết nước từ các loài Stephania sinica Diels., loài Stephania dielsiana Y.C Wu [2], loài Stephania venosa [58] cũng đã được chứng minh có tác dụng an
thần, giải lo âu trên các mô hình thực nghiệm trên động vật Theo Nguyễn Quốc
Huy, độc tính cấp của củ loài S.dielsiana ở Việt Nam trên chuột nhắt khi được dùng
qua đường uống là LD50 = 22,2 g/kg thể trọng chuột/ngày [15]
Bạch truật:
- Là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật (Atractylis macrocephala
(Koids.) Hand-Mazz, họ Cúc, Asteraceae) Thành phần hóa học: tinh dầu (atractylon), các sesquiterpen (eudesmol), các dẫn chất lacton (atractynolid I, II, III) [7] [17] [24]
- Tác dụng dược lý: chống loét dạ dày, tăng tiết mật, tăng cường chức năng giải độc của gan và chống viêm Bạch truật tỏ ra không độc trong các thí nghiệm về độc tính cấp và bán trường diễn, không gây các tác dụng phụ trên động vật thực nghiệm khi dùng thuốc dài ngày [7] [17] [24]
- Công năng, công dụng: kiện tỳ, lợi thủy, ráo thấp, kiện vị tiêu thực, cố biểu liễm hãn, an thần, chỉ huyết Bạch truật được coi là vị thuốc bổ dưỡng dùng trong điều trị các chứng bệnh đau dạ dày, đái đường, bụng trướng đầy, nôn mửa, chậm tiêu, thấp nhiệt, tiêu chảy, phân sống, viêm ruột mạn tính, an thai khi có thai đau bụng, ốm nghén nôn ọe [7] [17] [24]
Trang 23- Các loài trong chi Atractylodes đã được sử dụng từ lâu đời ở khu vực Đông Á
Thân rễ khô của chúng là thành phần chính trong các bài thuốc ở Trung Quốc để
chữa các bệnh đường tiêu hóa [33] Thân rễ của Atractylodes macrocephala đã
được sử dụng từ lâu trong y học truyền thống phương đông như một thuốc lợi tiểu với giả thuyết làm giảm sự tái hấp thu nước tại ống thận [52]
Đảng sâm:
- Là rễ đã phơi hay sấy khô của cây Đảng sâm (Codonopsis sp họ Hoa chuông,
Campanulaceae) Thành phần hóa học: ít được nghiên cứu về thành phần hóa học,
sơ bộ thấy trong rễ có đường, chất béo, không có saponin [7] [17] [24]
- Tác dụng dược lý: gây tăng phát triển nội mạc tử cung kiểu progesteron mức độ nhẹ (trên thỏ nhỏ), gây tăng trương lực cổ tử cung, tiết sữa ở động vật mẹ cho con
bú, và đồng thời có tác dụng chống viêm, tăng chức năng của tủy xương sản xuất các tế bào có hoạt tính miễn dịch và các dưỡng bào, do đó điều hòa và làm giảm hội chứng suy giảm miễn dịch ở chuột với mức độ nhất định; tác dụng bổ toàn thân [7] [17] [24]
- Công năng, công dụng: bổ tỳ vị, sinh tân dịch, ích khí bổ phế, lợi niệu Dùng trong các trường hợp tỳ vị hư hàn, phế khí suy nhược gây kém ăn, mất ngủ, đại tiện lỏng, mệt mỏi, háo khát lâu ngày, ốm lâu cơ thể suy nhược, băng huyết, rong huyết, thiếu máu, vàng da, viêm thận, nước tiểu có albumin kèm theo phù Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong các bài Tứ quan, Bát vị, Thập toàn đại
bổ, Bổ trung ích khí, Nhân sâm dưỡng vinh [7] [17] [24]
- Xu và cộng sự, đã báo cáo sáu triterpenoid saponin mới trong rễ của
Codonopsis lanceolata (Campanulaceae) có tác dụng chống viêm rõ rệt khi thử
nghiệm trên chuột gây phù trên tai bởi xylen [55]
Hoài sơn:
- Là thân rễ đã phơi hay sấy khô của cây Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et
Burkill, họ Củ nâu, Dioscoreaceae) Thành phần hóa học: chủ yếu là tinh bột, ngoài
ra còn có chất nhày (mucin), allantoin, các acid amin, cholin, vitamin C, các nguyên
tố vi lượng [7] [17] [24]
Trang 24- Tác dụng dược lý: tăng trọng lượng cơ thể, tăng đồng hóa, tác dụng nội tiết hướng sinh dục (tăng trọng lượng tử cung, trọng lượng tinh hoàn, tuyến tiền liệt, túi tinh và cơ nâng hậu môn) trên động vật thực nghiệm [7] [17] [24]
- Công năng, công dụng: kiện tỳ, chỉ tả, bổ phế, ích thận, cố tinh, giải độc, tiêu viêm Hoài sơn được coi là một vị thuốc bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu, viêm ruột kinh niên, tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phế hư ho hen, bệnh đái tháo đường, di tinh, di niệu, bạch đới [7] [17] [24]
- Một nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng làm giảm đường huyết và làm giảm nồng
độ lipid trong máu của thân rễ các loài trong chi Dioscoreae (D.opposita, D.fordii,
D.persimilis, D.alata) [54]
Liên nhục:
- Là hạt còn màng đỏ bên ngoài đã phơi hay sấy khô của cây Sen (Nelumbo
nucifera Gaertn, họ Sen súng, Nelumbonaceae) Thành phần hóa học: tinh bột
(thành phần chính), acid amin, chất béo [7] [17] [24]
- Tác dụng dược lý: mặc dù nhiều nghiên cứu với dịch chiết từ lá sen [10] (liên diệp) và tâm sen (liên tâm) cũng như alkaloid nuciferin chiết từ hai bộ phận dùng này nhưng chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào được công bố về tác dụng của hạt sen [7] [17] [24]
- Công năng, công dụng: dưỡng tâm, an thần, bồi bổ cơ thể dùng trong các trường hợp tâm phiền táo, hồi hộp mất ngủ, chóng mặt Phối hợp với toan táo nhân, hạt sen, viễn chí, phục thần, phục linh, hoàng kỳ, đảng sâm, cam thảo, trần bì trong bài Táo nhân thang [7] [17] [24]
- Tác dụng chống oxy hóa từ dịch chiết cồn của hạt sen đã được nghiên cứu in
vitro và in vivo Độc tính cấp của dịch chiết từ hạt sen không được phát hiện khi đã
dùng đến liều 1000 mg/kg ở chuột [65] Dịch chiết từ thân rễ và hạt của Nelumbo
nucifera được cho là có tác dụng kích thích miễn dịch bằng cách điều chỉnh một số
thông số miễn dịch [59]
1.5.3 Công dụng chủ trị của bài thuốc An thần hoàn
- An thần, kiện tỳ, dưỡng âm sinh tân dịch [16]
Trang 25- Các trường hợp tâm tỳ khí hư, mệt mỏi vô lực, ăn uống kém ngon, tinh thần bất
ổn, hay quên, mất ngủ, ngủ không ngon giấc [16]
1.5.4 Ý nghĩa phối ngũ trong bài thuốc An thần hoàn
- Bình vôi là thuốc dưỡng tâm an thần làm quân dược; liên nhục trợ bình vôi để dưỡng tâm, an thần, ngoài ra còn có tác dụng kiện tỳ bổ khí là thần dược; đảng sâm, bạch truật, hoài sơn đều thuộc nhóm thuốc bổ khí, điều trị khí hư, khí kém, cơ thể suy nhược yếu mệt đều là tá dược [16]
- Bài thuốc có 2 đặc điểm kết hợp ích khí bổ huyết với dưỡng tâm an thần làm cho phương thuốc có tác dụng dưỡng tâm vượng thần [16]
1.6 Các mô hình thực nghiệm trên động vật đánh giá tác dụng an thần
Hiện nay phần lớn các thuốc mới được tìm ra nhờ phương pháp tiếp cận cổ điển trong các mô hình thí nghiệm trên động vật Phương pháp tiếp cận này có ưu điểm
là khả năng dự đoán khá cao, nhưng cũng có nhược điểm là có ít thông tin được cung cấp về cơ chế phân tử liên quan đến các tác dụng của thuốc quan sát được, và luôn cần có các mô hình mới để phát hiện các thuốc với các cơ chế tác dụng mới [72] Trong các nghiên cứu tâm thần kinh các mô hình thực nghiệm được sử dụng rộng rãi và trở thành một công cụ thiết yếu cho việc xác định các cơ chế hoạt động
và sinh học thần kinh dựa trên tác dụng của thuốc Dựa trên mục đích đánh giá các tác dụng khác nhau của cùng một thuốc hoặc đánh giá cùng một tác dụng của các thuốc khác nhau có nhiều mô hình để lựa chọn, các tiêu chí cần xem xét là độ tin cậy và tính hợp lý của mô hình [32]
Thuốc ngủ đối với người là thuốc được sử dụng với mục đích tạo ra giấc ngủ sinh lý vào ban đêm mà sau đó bệnh nhân có thể tỉnh lại mà không cảm thấy có bất
kì khó chịu nào Trong các mô hình thí nghiệm trên động vật, thuật ngữ thuốc ngủ
có thể được dùng cho pha sâu hơn nhiều của sự trầm cảm trung ương của thuốc gây
ra mất nhận thức cùng với mất khả năng trương lực cơ và phản xạ thăng bằng Vì vậy phần lớn các mô hình dược lý cần phải được xem xét về khả năng phỏng đoán của chúng để tìm ra một thuốc ngủ lý tưởng cho điều trị trên người Nhiều mô hình
Trang 26dược lý được xây dựng dựa trên sự tăng cường tác dụng gây ngủ của các barbiturat hay của các thuốc ngủ khác [72]
Các thuốc có tác dụng an thần gây ngủ tùy vào liều lượng sẽ có tác dụng giải lo
âu, an thần, gây ngủ, chống động kinh, chống co giật [6] [72] Để đánh giá đầy đủ các tác dụng của thuốc cần dùng các mô hình thí nghiệm khác nhau Sau đây là một
số mô hình về lo âu, hành vi và phối hợp vận động cơ, mô hình đánh giá tác dụng gây ngủ được đề cập đến trong nhiều tài liệu [29] [31] [62] [72]:
Mô hình về lo âu:
mô hình tác dụng trên hành vi:
- mô hình chữ thập nâng cao
- mô hình bảng lỗ
- mô hình hai ngăn sáng tối
mô hình ức chế co giật:
- mô hình co giật gây ra bởi strychnin
- mô hình co giật gây ra bởi picrotoxin
- mô hình co giật gây ra bởi isoniazid
các mô hình khác
Mô hình về hành vi và phối hợp vận động cơ:
- mô hình môi trường mở
- mô hình Rotarod
- mô hình ống khói (Chimney test)
- các mô hình khác
Mô hình đánh giá tác dụng gây ngủ
- mô hình kéo dài thời gian ngủ của hexobarbital
- mô hình ngủ tự động trên chuột cống
- mô hình mất ngủ thực nghiệm trên chuột cống
- các mô hình khác
Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn các mô hình đã được kiểm chứng và được sử dụng rộng rãi: mô hình chữ thập nâng cao là một mô hình đơn
Trang 27giản và đã được sử dụng rất nhiều để đánh giá tác dụng giải lo âu của thuốc trong đó
có các thuốc có tác dụng an thần gây ngủ benzodiazepin và barbiturat [38] [46]; mô hình leo dây (Grip strength); mô hình đối kháng với co giật của strychnin và mô hình kéo dài thời gian ngủ của thiopental để đánh giá tác dụng an thần của bài thuốc ATH
Trang 282.1.2 Hóa chất, dung môi
- Hóa chất: Diazepam viên nén 5 mg (biệt dược Seduxen của Gedeon Richter, Hungari); dung dịch NaCl 0,9% (sản xuất tại CTDP Hà Nam); thiopental natri của Rotexmedica (Đức) do công ty cổ phần Dược phẩm TW2 phân phối; strychnin sulfat do Công ty cổ phần Dược phẩm TW2 sản xuất;
- Dung môi: dung dịch CMC 0,5% (carboxymethyl cellulose); dung dịch ethanol 96%
2.1.3 Thiết bị - dụng cụ
- Thiết bị: Nồi cách thủy, máy cất quay chân không, cân kĩ thuật, cân phân tích, đồng hồ bấm giây
- Dụng cụ: Cốc thủy tinh, ống đong, pipet với các dung tích khác nhau; bình sứ
để ngâm dược liệu, chày, cối và một số dụng cụ khác dùng trong pha chế của bộ môn Dược lực, trường Đại học Dược Hà Nội Kim tiêm đầu tù dùng để cho chuột uống thuốc, kim tiêm nhựa dùng để tiêm thiopental
2.1.4 Động vật dùng trong thử nghiệm
Chuột nhắt trắng giống đực, chủng Swiss albino khỏe mạnh, khối lượng trung
bình 20 ± 2 g được cung cấp bởi Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương
Chuột được mua đủ số lượng cho mỗi thí nghiệm và chia lô ngẫu nhiên 8-14 con/lô, nuôi tại khu chăn nuôi của trường Đại học Dược Hà Nội, điều kiện nhiệt độ,
Trang 29ánh sáng tự nhiên, cho ăn bằng thức ăn chuẩn, uống nước tự do trong thời gian thí nghiệm Chuột được nuôi 3-5 ngày để làm quen với môi trường thí nghiệm
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu bao gồm (Sơ đồ 2.1):
Thăm dò độc tính cấp của bài thuốc ATH và xác định liều LD50 (nếu có) trên động vật thử nghiệm từ đó chọn ra các mức liều phù hợp của chế phẩm dùng trong nghiên cứu
Đánh giá tác dụng dược lý an thần của bài thuốc ATH và của các thành phần trong bài thuốc:
Đối với bài thuốc an thần hoàn: đánh giá tác dụng an thần của bài thuốc trên
các mô hình thực nghiệm khác nhau:
- Tác dụng giải lo âu trên mô hình chữ thập nâng cao
- Tác dụng an thần trên mô hình kéo dài thời gian ngủ của thiopental
- Tác dụng an thần, giãn cơ trên mô hình leo dây
- Tác dụng ức chế thần kinh trung ương trên mô hình đối kháng với co giật gây ra bởi strychnin
Đối với các thành phần trong bài thuốc: đánh giá tác dụng của bình vôi và tác
dụng của phần dược liệu còn lại của bài thuốc:
- Tác dụng giải lo âu trên mô hình chữ thập nâng cao
- Tác dụng an thần trên mô hình kéo dài thời gian ngủ của thiopental
- Tác dụng giãn cơ trên mô hình leo dây
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chiết xuất dược liệu và chuẩn bị thuốc thử
2.3.1.1 Các mức liều sử dụng trong nghiên cứu
Các mức liều ATH: X (7,15 g/kg thể trọng chuột /ngày), 2X, 4X và 8X tương ứng với liều gấp 1 lần, 2 lần, 4 lần và 8 lần mức liều ngoại suy từ liều sử dụng trên người Liều của bình vôi và các thành phần dược liệu còn lại trong công thức (bạch truật, đảng sâm, hoài sơn và liên nhục) được ngoại suy từ liều của chế phẩm toàn phần và tỷ lệ phần trăm các thành phần này trong công thức
Trang 30Mức liều của chất đối chiếu diazepam là 2 mg/kg thể trọng chuột theo nghiên cứu của Dương Phước An và cộng sự [1], mức liều này phù hợp với mức liều khi ngoại suy từ mức liều dùng để điều trị lo âu trên người trưởng thành dùng đường uống (4 – 15 mg/ngày) [4]
Sơ đồ 2.1: Nội dung nghiên cứu
2.3.1.2 Chiết xuất dược liệu:
Dược liệu được chiết xuất ở dạng bột thô bằng phương pháp ngâm lạnh bằng ethanol 96% (Sơ đồ 2.2)
Quy trình chiết xuất:
Cân khối lượng bột dược liệu theo tỉ lệ trong bài thuốc, nạp vào bình sứ, thấm
ẩm Thêm tiếp dung môi cho đến khi ngập dược liệu, mức dung môi cao hơn khoảng 1/3 chiều cao toàn bộ khối bột dược liệu Sau 24 giờ gạn để thu dịch chiết
và lọc lấy phần dịch trong Tiếp tục chiết bột dược liệu thêm 2 lần nữa bằng cách bổ
Nghiên cứu thực nghiệm trên bài thuốc ATH
Thăm dò độc
tính cấp của
bài thuốc ATH
Đánh giá tác dụng dược lý của các thành phần trong bài thuốc ATH
Đánh giá tác dụng dược lý của bài thuốc ATH
Thí nghiệm kéo dài thời gian ngủ của thiopental
Thí nghiệm đối kháng co giật gây
ra bởi strychnin