Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp được những thông tin hữu ích về hoạt động sử dụng thuốc cho bệnh viện Nội tiết Trung Ương để bệnh viện có thể có những biện ph
Trang 1NGUYỄN THỊ THU PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TRUNG ƯƠNG NĂM 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ THU
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIÊN NỘI TIẾT
TRUNG ƯƠNG NĂM 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được gửi
lời cảm ơn chân thành tới PGS TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ, Trưởng
phòng đào tạo Sau đại học, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận Đây sẽ là hành trang quý giá để tôi học tập và làm việc trong tương lai
Tiếp theo, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Thạc sĩ Lê Thị Uyển - Trưởng khoa Dược Bệnh viện Nội tiết Trung
Ương và tất cả các anh chị trong khoa Dược đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian làm đề tài tại bệnh viện
- Các Thầy cô trong bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, các Thầy cô
trong Trường Đại học Dược Hà Nội, đặc biệt là cô giáo Nguyễn Phương Chi
người đã truyền đạt kiến thức cho tôi và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận của mình
- Dược sĩ Mai Khánh Chi và bạn Nguyễn Thu Thủy đã cùng tôi làm việc giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại Bệnh viện
Sau cùng, tôi xin gửi những lời yêu thương nhất tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên, cổ vũ, động viên, cho tôi nghị lực trong cuộc sống và học tập
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng thuốc 3
1.2.3 Chu trình sử dụng thuốc 5
1.2 Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc 9
1.2.1 Thông tin thuốc 9
1.2.2 Vị trí của đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện 9
1.2.3 Nhiệm vụ của đơn vị thông tin thuốc 9
1.2.4 Nội dung của thông tin thuốc 10
1.2.5 Phản ứng có hại của thuốc (ADR) 10
1.2.6 Tương tác thuốc 11
1.3 Thực trạng về sử dụng thuốc tại một số bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây 12
1.3.1 Về vấn đề kê đơn 12
1.3.2.Về vấn đề giao phát thuốc 14
1.3.3.Về sự tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân 14
1.3.4.Về hoạt động thông tin thuốc và theo dõi ADR 15
1.4 Một vài nét về bệnh nội tiết và bệnh viện Nội tiết Trung Ương 16 1.4.1.Vài nét về tình hình bệnh nội tiết 16
Trang 51.4.2.Vài nét về bệnh viện Nội tiết Trung Ương 17
1.4.3 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện 18
1.4.4 Cơ cấu tổ chức khoa Dược bệnh viện 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu : 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 21
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu……… 25
2.2.4 Phương pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu 25
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 25
2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu việc thực hiện quy chế kê đơn 25
2.3.2 Các biến số nghiên cứu về hoạt động giao phát thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc 27
2.3.3 Các biến số nghiên cứu về sự tuân thủ của người bệnh 28
2.3.4 Các biến số nghiên cứu hoạt động thông tin thuốc và theo dõi ADR 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 30
3.1 Kết quả nghiên cứu 30
3.1.1 Phân tích một số chỉ số kê đơn và việc thực hiện quy chế chuyên môn trong kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Trung 30 3.1.1.1 Phân tích việc thực hiện quy chế trong kê đơn thuốc ngoại trú tại BV Nội tiết Trung Ương……… 30
3.1.1.2 Phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong điều trị ngoại trú của bệnh viện NTTW qua một số chỉ số kê đơn 33
3.1.2 Phân tích hoạt động giao phát thuốc ngoại trú tại BVNTTW ……… 40
Trang 63.1.2.1 Mô tả hoạt động giao phát thuốc ngoại trú tại BV Nội tiết
TW……… 40
3.1.2.2 Các chỉ số phân tích hoạt động giao phát thuốc……… 41
3.1.3 Phân tích sự tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân tại BVNTTW 42
3.1.4 Phân tích hoạt động thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại BVNTTW 48
3.1.4.1 Hoạt động thông tin thuốc tại BVNTTW……….48
3.1.4.2 Hoạt động theo dõi phản ứng có hại của thuốc…………49
3.2 BÀN LUẬN 51
3.2.1 Về việc thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú và một số chỉ số kê đơn ……… 51
3.2.2 Về hoạt động giao phát thuốc tại BVNTTW 54
3.2.3 Về hoạt động tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân 56
3.5.4 Về hoạt động thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 60
KẾT LUẬN 60
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 Phiếu phỏng vấn bệnh nhân điều trị ngoại trú
PHỤ LỤC 2 Phiếu thu thập thông tin về kê đơn
PHỤ LỤC 3 Các cặp tương tác thuốc có trong đơn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các yếu tố dẫn đến sử dụng thuốc không hợp lý 4
Bảng 1.2 Số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Nội tiết TW 18
Bảng 2.1 Nhóm biến số phân tích các chỉ tiêu thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú 26
Bảng 2.2 Nhóm biến số phân tích các chỉ số sử dụng thuốc 26
Bảng 2.4 Biến số nghiên cứu hoạt động giao phát thuốc 28
Bảng 2.5 Nhóm biến số nghiên cứu sự tuân thủ của bệnh nhân 28
Bảng 2.6 Nhóm biến số về thông tin thuốc 29
Bảng 3.1 Tỉ lệ phân bố bệnh trong số lượng đơn khảo sát tại Bệnh viện Nội Tiết Trung Ương năm 2013 30
Bảng 3.2 Tình hình thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú tại BV 32
Bảng 3.3 Số thuốc trung bình cho mỗi đơn 34
Bảng 3.4 Tỷ lệ thuốc nội tiết được kê trong đơn 34
Bảng 3.5 Tỷ lệ đơn có kê thuốc tiêm, vitamin, thuốc bổ và TPCN 35
Bảng 3.6 Tỷ lệ thuốc nội, ngoại và thuốc nằm ngoài DMTSD có trong đơn 36
Bảng 3.7 Tương tác thuốc có trong đơn 38
Bảng 3.8 Một số tương tác phổ biến trong đơn thuốc 39
Bảng 3.9 Thực hiện quy trình giao phát thuốc 41
Bảng 3.10 Thời gian phát thuốc trung bình tại bệnh viện NTTW 41
Bảng 3.11 Tỉ lệ thuốc được cấp phát thực tế tại bệnh viện 42
Bảng 3.12 Thông tin bệnh nhân 43
Bảng 3.13 Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh 43
Bảng 3.14 Tình trạng cung cấp thông tin của bác sĩ và người giao phát 44
Trang 8Bảng 3.15 Hiểu biết của bệnh nhân về sử dụng thuốc 45
Bảng 3.16 Hiểu biết của bệnh nhân về bảo quản thuốc 46
Bảng 3.17 Tỷ lệ bệnh nhân quên uống thuốc 47
Bảng 3.18 Cách xử lý khi bệnh nhân quên uống thuốc 47
Bảng 3.19 Sự hài lòng của bệnh nhân với thông tin tư vấn 48
Bảng 3.20 Hoạt động thông tin thuốc tại BV Nội tiết TW Năm 2013 49 Bảng 3.21 Số báo cáo ADR năm 2013 tại BVNTTW 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình sử dụng thuốc……… 5
Hình 1.2 Quy trình giao phát thuốc cho người bệnh ……….6
Hình 1.3 Một số biện pháp cải thiện việc tuân thủ của người bệnh…… 7
Hình 1.4 Mối quan hệ giữa bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân……… 8
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức khoa Dược………19
Hình 2.1.Sơ đồ thiết kế nghiên cứu……….22
Hình 3.1 Tỷ lệ các thuốc có trong đơn……… 35
Hình 3.2 Xu hướng kê đơn trong điều trị ngoại trú tại BVNTTW…… 37
Hình 3.3 Quy Trình giao phát thuốc bảo hiểm ngoại trú tại BVNTTW ………… 4
Trang 10BVĐK Bệnh viện đa khoa
BVNTTW Bệnh viện Nội Tiết Trung Ương
DMTSD Danh mục thuốc sử dụng
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
IDF Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
TPCN Thực phẩm chức năng
TTT Thông tin thuốc
WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc chưa hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Tình trạng bác sĩ kê đơn thuốc chưa hợp lý, bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị, theo dõi thông tin thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân chưa đầy đủ còn phổ biến ở hầu hết các bệnh viện Điều
đó không chỉ làm gia tăng chi phí cho người bệnh mà còn làm giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh Đặc biệt,
sử dụng thuốc không hợp lý đang có chiều hướng ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Ngày nay, tỷ lệ bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, basedow tăng nhanh chóng Theo WHO “Thế kỉ 21 là thế kỉ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa, đặc biệt đái tháo đường là bệnh phát triển nhanh nhất” [27] Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF) đánh giá Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới (khoảng 8-10%/năm) [35] Các bệnh nội tiết chủ yếu là các bệnh mạn tính yêu cầu phải dùng nhiều thuốc trong một thời gian dài, thậm chí dùng thuốc cả đời và phải kết hợp nhiều thuốc để điều trị Vì vậy, vấn đề sử dụng thuốc hợp
lý cho các bệnh nhân này cần phải được chú trọng
Bệnh viện Nội tiết Trung Ương là bệnh viện tuyến cuối về điều trị các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa Số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh ngày càng đông đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện Để có các biện pháp khắc phục những hạn chế trong dùng thuốc cần có các nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện Tuy nhiên cho tới nay, chưa có nghiên
cứu nào được thực hiện Do đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích hoạt
Trang 12động sử dụng thuốc tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương Năm 2013” với hai
mục tiêu:
- Phân tích hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Trung Ương năm 2013
thuốc của người bệnh và hoạt động thông tin thuốc tại bệnh viện Nội Tiết Trung Ương năm 2013
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp được những thông tin hữu ích về hoạt động sử dụng thuốc cho bệnh viện Nội tiết Trung Ương để bệnh viện có thể có những biện pháp thúc đẩy hoạt động sử dụng thuốc an toàn và hợp lý hơn trong những năm tới Ngoài ra,
đề tài hy vọng sẽ đóng góp một phần trong việc mô tả thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện
1.1.1 Một số khái niệm
Tổ chức Y tế thế giới đưa ra khái niệm về sử dụng thuốc hợp lý và không hợp lý như sau:
* Sử dụng thuốc hợp lý:
“Sử dụng thuốc hợp lý là bệnh nhân phải nhận được thuốc điều trị phù
hợp với yêu cầu lâm sàng của họ, với liều dùng đúng với từng cá nhân, với thời gian sử dụng đầy đủ và với mức giá thấp nhất cho bệnh nhân và cộng đồng” [30]
* Sử dụng thuốc không hợp lý:
“ Sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm các trường hợp kê đơn thuốc không cần thiết, kê sai thuốc điều trị, kê và cấp phát các thuốc không hiệu quả và an toàn, không kê các thuốc có hiệu quả và sẵn có, bệnh nhân dùng thuốc sai”[30]
Thuốc không được sử dụng hợp lý dẫn đến giảm chất lượng điều trị và chăm sóc y tế, tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại của thuốc, trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân Ngoài ra, nó còn tác động đến chi phí chăm sóc sức khỏe, làm lãng phí nguồn lực tài chính và tạo ra nhu cầu sử dụng thuốc không hợp lý trong cộng đồng, làm cho bệnh nhân lệ thuộc quá mức vào thuốc [30]
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng thuốc
Việc sử dụng thuốc của người bệnh bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như hệ thống cung cấp y tế, người kê đơn,… Các yếu tố dẫn tới việc sử dụng thuốc không hợp lý được tóm tắt qua bảng 1.1:
Trang 14Bảng 1.1 Các yếu tố dẫn đến sử dụng thuốc không hợp lý [30]
2
Người kê đơn
Người kê đơn không được đào tạo đầy đủ, không cập nhật được các thông tin mới về thuốc, thiếu trách nhiệm trong công việc, kê những thuốc không cần thiết trong đơn thuốc và thu nhập của người kê đơn phụ thuộc vào doanh số bán thuốc
Trang 151.2.3 Chu trình sử dụng thuốc
Chu trình sử dụng thuốc trong bệnh viện được sơ đồ hóa như hình 1.1
Hình 1.1 Chu trình hoạt động sử dụng thuốc [30]
Kê đơn
Kê đơn là hoạt động của bác sĩ xác định xem người bệnh cần dùng những thuốc gì, liều dùng cùng với liệu trình điều trị phù hợp Luật khám chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 quy định: khi kê đơn thuốc, người thầy thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc thông tin về thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng thuốc Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán bệnh, tình trạng bệnh của người bệnh [19]
Một đơn thuốc tốt phải đạt được các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao,
an toàn trong dùng thuốc và tiết kiệm Nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều sai sót trong kê đơn như kê sai tên thuốc, nhầm lẫn liều lượng, kê quá nhiều thuốc gây tương tác và tăng gánh nặng chi phí y tế,… Trên thế giới, WHO và Hội y khoa các nước đã ban hành và áp dụng “ Hướng dẫn kê đơn tốt” [33] Tại Việt Nam, Bộ y tế đã ban hành “Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị
Trang 16ngoại trú” để tăng cường sự an toàn, hiệu quả và hợp lý trong công tác kê đơn tại các bệnh viện trên cả nước [7]
Kê đơn hợp lý thông qua việc kê những thuốc hiệu quả, an toàn cho bệnh nhân không những giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân tại các cơ sở y tế mà còn góp phần giảm chi phí điều trị [30]
Giao phát thuốc
Giao phát thuốc là quá trình chuẩn bị và đưa thuốc cho bệnh nhân dựa trên đơn kê bao gồm chuẩn bị thuốc, tư vấn sử dụng thuốc và ghi nhãn Đảm bảo giao phát thuốc đúng là một yếu tố thiết yếu trong sử dụng thuốc hợp lý
an toàn [30]
Thuốc sau khi được đóng gói, ghi nhãn sẽ được giao phát cho bệnh nhân Quy trình giao phát thuốc tốt phải đảm bảo rằng cuối cùng thuốc được đưa cho đúng bệnh nhân, với liều dùng và chất lượng thuốc tốt, có hướng dẫn
rõ ràng và thuốc được đựng trong bao bì đảm bảo được điều kiện bảo quản của thuốc Bất kỳ sai sót trong quá trình giao phát đều có thể ảnh hưởng đến
sự an toàn của người bệnh Quy trình giao phát thuốc được sơ đồ hóa như hình 1.2:
Hình 1.2 Quy trình giao phát thuốc cho người bệnh [30]
5 Ghi lại các
hoạt động vào
sổ theo dõi
1 Nhận và xác nhận đơn thuốc
4 Kiểm tra lại
thuốc
3 Chuẩn bị thuốc
có bao bì và nhãn
2 Kiểm tra đơn thuốc
6 Phát thuốc và hướng dẫn cách dùng cho BN
Trang 17Chỉ số dùng để phân tích hoạt động giao phát thuốc là thời gian phát thuốc trung bình và tỉ lệ % thuốc được phân phát thực tế Thời gian những người phân phát thuốc dành cho mỗi bệnh nhân phản ánh mức độ quan trọng
về chất lượng điều trị bệnh Đây là quá trình giúp bệnh nhân hiểu cách dùng mỗi loại thuốc như thế nào Tỉ lệ % thuốc được phân phát thực tế phản ánh khả năng cung cấp các thuốc đã kê của cơ sở y tế [20]
Sự tuân thủ của người bệnh
Sự tuân thủ của người bệnh là sự hợp tác tự nguyện của bệnh nhân sử dụng thuốc theo đơn đã được kê bao gồm thời gian sử dụng thuốc, liều dùng
và số lần dùng Các lí do dẫn tới bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc là lịch làm việc của người bệnh ảnh hưởng tới việc dùng thuốc, thiếu sự hướng dẫn của nhân viên y tế, tương tác giữa người cung cấp dịch vụ y tế và người bệnh kém, thiếu tiền để mua thuốc và điều trị bệnh, thiếu phương tiện cung cấp thông tin, phác đồ điều trị bệnh phức tạp phải dùng nhiều thuốc, thời gian điều trị dài Để cải thiện sự tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh, thường áp dụng các biện pháp sau [30]:
Hình 1.3 Một số biện pháp cải thiện sự tuân thủ của người bệnh [30]
Liều dùng được viết rõ ràng trên hộp thuốc
Bác sĩ thân thiện,
nhiệt tình, giải thích
cụ thể cho BN
Viết hoặc dùng biểu tượng chỉ thời gian dùng thuốc
Trang 18Trong bệnh viện, để người bệnh tuân thủ cần xây dựng mối quan
hệ chặt chẽ giữa bác sỹ - dược sỹ - điều dưỡng - bệnh nhân Mối quan
hệ này được sơ đồ hóa trong hình 1.4:
Hình 1.4 Mối quan hệ giữa bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân
Vai trò của từng người trong sơ đồ như sau:
Với dược sĩ:
Người dược sĩ có trách nhiệm cung cấp thông tin và tư vấn về sử dụng
thuốc cho bác sĩ, bệnh nhân đồng thời giám sát việc thực hiện các quy chế
dược trong toàn bệnh viện
Với bác sĩ:
Bác sĩ là người chịu trách nhiệm thăm khám, kê đơn cho bệnh nhân,
đồng thời theo dõi hiệu quả điều trị để có những điều chỉnh kịp thời Khi có
nghi ngờ và chưa rõ về thuốc định kê đơn, bác sĩ cần trao đổi với dược sĩ
Với điều dưỡng:
Điều dưỡng là người trực tiếp thực hiện y lệnh của bác sĩ nhưng cần
chủ động phát hiện những nhầm lẫn trong y lệnh điều trị hoặc tác dụng có hại
của thuốc đối với bệnh nhân và thông báo kịp thời với bác sĩ
Bác sĩ
Bệnh nhân
Điều dưỡng Dược sĩ
Trang 19 Với bệnh nhân:
Cần tuân thủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ, y tá, điều dưỡng
1.2 Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc
1.2.1 Thông tin thuốc
Thông tin thuốc là một hoạt động thiết yếu, là chìa khóa để sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả Một sản phẩm thuốc được coi là thuốc dùng để chữa bệnh cho người khi nó đảm bảo đủ hai yếu tố cấu thành, đó là phải có hoạt tính dược lý lâm sàng và thông tin đi kèm về công dụng, cách sử dụng TTT được cung cấp chính xác kịp thời sẽ giúp việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và hợp lý [26]
1.2.2 Vị trí của đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện
Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện thường trực thuộc khoa Dược hoạt động dưới sự giám sát của Hội đồng thuốc và điều trị và Ban giám đốc bệnh viện nhằm tư vấn, cung cấp thông tin thuốc cho Hội đồng thuốc và điều trị, cán bộ y tế trong khoa Dược, các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
1.2.3 Nhiệm vụ của đơn vị thông tin thuốc
Thông tư 21/2013-TTBYT quy định Hội đồng thuốc và điều trị quản lý công tác thông tin thuốc trong bệnh viện Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện cần cập nhật thông tin về thuốc, cung cấp thông tin về thuốc nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn trong phạm vi bệnh viện [11]
Thông tư 13/2009-TTBYT quy định nhiệm vụ của đơn vị thông tin thuốc Theo đó, đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện có nhiệm vụ chính là:
- Thu thập, tiếp nhận thông tin thuốc
- Cung cấp thông tin thuốc nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp
lý trong phạm vi bệnh viện Cung cấp các thông tin phản hồi đã được xử lý tới bệnh viện tuyến dưới
Trang 20- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra đơn vị thông tin thuốc bệnh viện tuyến dưới
- Thu thập, tổng hợp, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tới Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện, Trung tâm Quốc gia/ Trung tâm khu vực về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc
- Các vấn đề khác có liên quan đến thông tin thuốc [8]
1.2.4 Nội dung của thông tin thuốc
Đơn vị thông tin thuốc cung cấp thông tin thuốc cho bác sĩ, điều dưỡng
và bệnh nhân Nội dung của thông tin thuốc thường là các nội dung như các phản ứng có hại của thuốc, các khuyến cáo về: liều dùng, dược động học, sinh khả dụng của các biệt dược, thông tin về tương tác thuốc, chống chỉ định của các thuốc, đặc biệt đối với các trường hợp phụ nữ mang thai, cho con bú, người bệnh suy giảm chức năng gan, thận, các thông báo về : những thuốc được phép lưu hành tại Việt Nam, những thuốc đã bị thu hồi và bị cấm ở Việt Nam và các nước khác,… [8]
1.2.5 Phản ứng có hại của thuốc (ADR)
“ Phản ứng có hại của thuốc là phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng, không nhất thiết phải có quan hệ nhân quả với việc điều trị và tính chất dược lý của thuốc” Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ đích hay vô tình [28]
Khi bệnh nhân điều trị bằng nhiều thuốc thì tần suất xuất hiện ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lượng thuốc trong mỗi lần điều trị Nguyên nhân gây ra ADR có thể do phối hợp cùng lúc nhiều loại thuốc, cơ địa bệnh nhân, bản chất dược lý tự nhiên của thuốc chưa nhận biết được trong quá trình nghiên cứu lâm sàng, sư khác thường của người được dùng thuốc,… Theo
Trang 21dõi, phát hiện các phản ứng có hại trong sử dụng thuốc góp phần nâng cao tính an toàn trong sử dụng thuốc trong bệnh viện và cộng đồng [28]
Thông tư 22/2011/TT-BYT và Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định hoạt động của khoa Dược và Hội đồng thuốc và điều trị về việc theo dõi phản ứng có hại của thuốc Theo đó cần có quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, giám sát và dự phòng ADR và các sai sót trong chu trình sử dụng thuốc tại bệnh viện [9]
Khi gặp các tác dụng bất lợi của thuốc, bệnh nhân rất dễ tự ý bỏ thuốc trong điều trị Điều này có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của việc điều trị nếu thuốc đó là thuốc chính Vì vậy, theo dõi các phản ứng có hại của thuốc góp phần phát hiện vấn đề và có những biện pháp xử lý để việc sử dụng thuốc hiệu quả hơn
1.2.6 Tương tác thuốc
Tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc, thuốc này làm thay đổi tác dụng hoặc độc tính của thuốc kia dẫn tới hậu quả có lợi hoặc bất lợi đối với cơ thể người dùng thuốc [5]
Mục đích của việc sử dụng nhiều thuốc trên một bệnh nhân trong cùng một thời gian là để đạt mục tiêu điều trị mong muốn hoặc để chữa nhiều bệnh cùng một lúc Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thuốc được phối hợp quá nhiều và không cần thiết Khi dùng đồng thời nhiều thuốc, người thầy thuốc đứng trước vấn đề phối hợp thuốc như vậy có thể dẫn đến tương tác thuốc hay không Nhiệm vụ của người thầy thuốc là phải hiểu những nguyên lý cơ bản của tương tác thuốc trong việc xây dựng phác đồ điều trị, đảm bảo đơn không
có nguy cơ tương tác bất lợi đã biết Dược sĩ có trách nhiệm phát hiện các tương tác thuốc nghiêm trọng khi đọc đơn thuốc Điều dưỡng phải nhận biết những dấu hiệu lâm sàng của tác dụng nguy hại khi người bệnh dùng thuốc [5]
Trang 221.3 Thực trạng về sử dụng thuốc tại một số bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây
Kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân đang ngày càng được cải thiện làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo làm tăng nhu cầu sử dụng thuốc Theo báo cáo của Cục quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người tại Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong các năm gần đây Năm
2007, tiền thuốc bình quân đầu người là 13,39 USD/năm Sau 5 năm, vào năm
2012 tiền thuốc bình quân đầu người đã tăng lên mức 29,5 USD/năm và dự báo năm 2014, tiền thuốc bình quân đầu người sẽ nâng lên mức 33,8 USD/năm Nhu cầu tiêu dùng thuốc bình quân đầu người tăng lên giúp cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân và thúc đấy ngành Dược phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó, chúng ta đang gặp phải nhiều bất cập trong vấn đề sử dụng thuốc hiện nay [36]
1.3.1 Về vấn đề kê đơn
Hiện nay, mô hình bệnh tật của nước ta đang thay đổi với gánh nặng bệnh tật kép của các bệnh truyền nhiễm cùng với các bệnh mạn tính và các bệnh không lây ngày một gia tăng Thực trạng này kéo theo một loạt các vấn
đề về sử dụng thuốc như lạm dụng kháng sinh, thuốc bổ, vitamin và kê quá nhiều thuốc trong 1 đơn Tỷ lệ đơn ngoại trú có kháng sinh ở BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc là 59,5% và nội trú là 61,8% Cục Quản lý khám chữa bệnh vừa công bố về tình hình sử dụng thuốc tại một số bệnh viện tuyến trung ương có 41% bệnh án sử dụng kháng sinh kết hợp, chủ yếu là kết hợp hai kháng sinh, 7,7% bệnh án chỉ định kết hợp ba kháng sinh Số thuốc trong từng bệnh án rất cao, theo khảo sát có tới 85% đơn kê từ 6 - 10 thuốc/bệnh án, trên 10% bệnh
án sử dụng 11 - 15 thuốc và 1,7% bệnh án sử dụng trên 16 thuốc Việc kê quá nhiều thuốc cho người bệnh dẫn đến làm tăng chi phí điều trị và tăng nguy cơ
Trang 23xuất hiện tương tác thuốc và có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân [13],[24]
Theo đánh giá của BYT việc chấp hành thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn chưa nghiêm, một bộ phận thầy thuốc ghi đơn thuốc theo tên biệt dược , không kê đơn theo tên gốc, kê các thuốc đắt tiền, hoặc kê đơn các thuốc được tiếp thị để hưởng hoa hồng Theo nghiên cứu tại bệnh viện E cho thấy tỷ lệ thuốc theo tên generic trong đơn chỉ chiếm 30,9% Tại bệnh viện Tim Hà Nội số lượng thuốc được ghi bằng tên gốc chiếm tỷ lệ 19,95% Một nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc vào năm 2011 chỉ ra rằng tỷ lệ thuốc được kê bằng tên gốc chỉ đạt 8,5%, còn lại hầu hết các thuốc được kê theo tên biệt dược Kê đơn thuốc theo quảng cáo đồng nghĩa với việc bán thuốc đắt cho bệnh nhân vì giá thuốc kê theo tên biệt dược đắt gấp 2-3 lần trở lên so với thuốc kê tên gốc dẫn tới làm tăng chi phí điều trị bệnh Qua kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ cơ sở y tế tư nhân có hoạt động của trình dược viên của các công ty dược chiếm tỷ lệ 43,3% Trong đó, đáng chú ý là số cơ sở thực hiện kê đơn thuốc để hưởng hoa hồng chiếm tỷ lệ 26,6% [12],[13], [21], [22]
Trong kê đơn, việc lạm dụng vitamin và thuốc bổ còn xảy ra phổ biến Theo nghiên cứu tại bệnh viện Tim Hà Nội, số đơn có kê vitamin chiếm tỷ lệ 35% tổng số đơn Ngoài ra, việc người bệnh có thể dễ dàng mua các thuốc bán theo đơn tại các nhà thuốc làm gia tăng đáng kể tình trạng dùng thuốc theo kinh nghiệm, tự ý hiệu chỉnh liều thuốc… gây nguy hại đến sức khỏe người bệnh Trong một nghiên cứu cộng đồng về việc tiêu thụ kháng sinh, các nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng có tới 78% kháng sinh được mua tại các hiệu thuốc tư nhân mà không có đơn thuốc Thực trạng về việc bán thuốc không đơn đã chỉ ra rõ ràng có sự thất bại trong việc tuân thủ các quy định đề ra và ảnh hưởng tới tính an toàn hợp lý trong sử dụng thuốc [12]
Trang 241.3.2.Về vấn đề giao phát thuốc
Công tác cấp phát của bệnh viện hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn do thiếu nhân lực, trang thiết bị chưa đầy đủ, diện tích kho chưa đạt yêu cầu Việc cấp phát còn chậm trễ, thủ công Thực hành cấp phát thuốc không đúng
là nguyên nhân dẫn tới các lỗi điều trị , hạn chế nhận thức và thiếu kiến thức của người bệnh về chế độ liều lượng và khoảng cách dùng thuốc Tại BVĐK Vĩnh Phúc, khoa Dược áp dụng phần mềm tổng hợp thuốc theo y lệnh của từng bệnh nhân và tổng hợp thuốc lĩnh trong ngày, giúp hoạt động cấp phát thuốc được nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên khi cấp phát cho bệnh nhân tại các khoa lâm sàng, khay thuốc chỉ ghi tên, tuổi bệnh nhân và số giường, còn số lượng thuốc và tên thuốc thì không được ghi [13], [16]
1.3.3.Về sự tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân
Thực trạng hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế của cán bộ y tế cho người bệnh còn rất nhiều hạn chế Theo kết quả nghiên cứu tại bệnh viện nhân dân 115, thời gian phát thuốc trung bình cho bệnh nhân là 19,02 giây Thời gian hướng dẫn quá ít, chỉ tính bằng giây thì việc người bệnh sử dụng thuốc sai là không tránh khỏi, dễ gây ra những tác dụng không mong muốn Khi người bệnh gặp phải những tác dụng không mong muốn của thuốc mà không được sự nhắc nhở trước của các cán bộ y tế thì có thể gây tâm lý hoang mang cho người bệnh và việc tự ý ngừng thuốc rất có thể xảy ra Thêm vào
đó, những tương tác giữa các loại thuốc khi sử dụng cùng nhau hoặc tương tác giữa thuốc và đồ uống, thức ăn có thể gây nguy hiểm cho người bệnh nếu
họ không có sự hướng dẫn của những nhà chuyên môn Đặc biệt với các bệnh mạn tính, sự hướng dẫn của nhà chuyên môn đóng vai trò rất quan trọng trong việc tuân thủ sử dụng thuốc Bệnh nhân mạn tính thường phải dùng thuốc lâu dài và dùng nhiều loại thuốc nên việc tuân thủ điều trị có xu hướng giảm dần
Trang 25theo thời gian Vì vậy công tác hướng dẫn, theo dõi sự tuân thủ thuốc của bệnh nhân đóng vai trò rất quan trọng [23]
1.3.4.Về hoạt động thông tin thuốc và theo dõi ADR
Đến năm 2008, 100% các bệnh viện công lập đã thành lập Hội đồng thuốc và điều trị Tuy nhiên hoạt động của Hội đồng cũng chỉ mang tính hình thức, chủ yếu tập trung vào việc mua sắm, cấp phát thuốc trong khi hoạt động giám sát sử dụng thuốc còn hạn chế HĐT & ĐT đã được thành lập ở các bệnh viện và đi vào hoạt động trong mấy năm trở lại đây, tuy nhiên chưa phát huy được vai trò của mình Thông tin thuốc chưa được cập nhật thường xuyên Ở các bệnh viện đã thành lập tổ Dược lâm sàng (DLS) và thông tin thuốc, thực hiện công tác quản lý sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và cập nhật thông tin cho bác sĩ điều trị Cho đến nay trừ một số bệnh viện trung ương và một số bệnh viện lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khoa dược đã triển khai công tác DLS phát huy nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng thuốc, còn lại hầu hết các nơi khác chức năng này còn khá mờ nhạt Nghiên cứu tại BV Vân Đồn Quảng Ninh, Tổ DLS-TTT đã được thành lập từ lâu nhưng DS lâm sàng, thông tin thuốc vẫn nằm trong thế bị động, chỉ trả lời thông tin thuốc khi
có yêu cầu của bác sĩ, y tá [23] Hơn 90% khoa Dược có đơn vị TTT nhưng
đa số các bệnh viện đều không có phần mềm tra cứu thông tin, hoặc nếu có chỉ là phần mềm tương tác thuốc Tỷ lệ này ở các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện là 20%; 70,1%; 85% [18] Nghiên cứu hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện trường đại học Y Dược Huế chỉ ra rằng tại bệnh viện, Dược sĩ lâm sàng mới chỉ thực hiện được những bước đầu nhiệm
vụ của mình trong vấn đề giám sát thực hiện kê đơn của bác sĩ thông qua đơn BHYT, và các phiếu lĩnh, chưa thể hiện vai trò thực sự trong tư vấn sử dụng thuốc [14]
Trang 26Hoạt động theo dõi ADR của thuốc còn rất mới mẻ đối với hầu hết các bệnh viện Tại bệnh viện trường Đại học y dược Huế, trong năm 2011, bệnh viện không có báo cáo về ADR Còn nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Vĩnh phúc, đơn vị TTT của bệnh viện chỉ tổ chức được 23 lần thông tin thuốc và không
có một báo cáo ADR nào được báo cáo cho thấy công tác theo dõi phản ứng
có hại của thuốc chưa được coi trọng Phần lớn các cán bộ y tế thường tự xử
lý nếu có xảy ra ADR và không muốn báo cáo lại với khoa Dược [13] Tại
BV Tim Hà Nội giai đoạn 2008-2010 cho thấy nhân lực Dược của tổ lâm sàng
và thông tin thuốc chỉ có 4 thành viên nhưng tất cả đều kiêm nhiệm nhiều công việc, kết quả chỉ có 29 lần thông tin thuốc và không có báo cáo ADR [13]
1.4 Một vài nét về bệnh nội tiết và bệnh viện Nội tiết Trung Ương
1.4.1.Vài nét về tình hình bệnh nội tiết
Bệnh nội tiết là các bệnh rối loạn của hệ thống nội tiết Hệ thống nội tiết bao gồm các tuyến nội tiết Tuyến nội tiết tiết ra các chất ngấm thẳng vào máu rồi được vận chuyển tới các cơ quan và ảnh hưởng tới hoạt động của các
cơ quan Các tuyến nội tiết trong cơ thể người gồm có vùng dưới đồi, tuyến tùng, tuyến yên, tuyến cận giáp, tuyến thượng thận, tuyến tụy và tuyến sinh dục [4], [15]
Các bệnh nội tiết đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới, đặc biệt
là bệnh đái tháo đường Theo WHO, năm 2012, trên thế giới có 347 triệu người mắc bệnh đái tháo đường trong đó hơn 80% số bệnh nhân sống tại các nước có thu nhập thấp và trung bình Dự đoán trong 10 năm tới, tổng số người chết do ĐTĐ sẽ tăng thêm 50% và ĐTĐ trở thành nguyên nhân thứ 7 dẫn tới cái chết trên thế giới vào năm 2030 [38]
Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng Bệnh không chỉ xuất hiện ở thành phố lớn mà ở hầu khắp mọi miền của cả
Trang 27nước Rất nhiều người bệnh và gia đình cũng như các cơ sở y tế đang phải chịu những gánh nặng về kinh tế do chi phí rất lớn để điều trị căn bệnh này Theo PGS.TS Lương Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh
tỷ lệ ĐTĐ trên toàn quốc là 5,7% dân số (theo kết quả điều tra năm 2012) Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới (khoảng 8 - 10% /năm) Riêng tại TP.Hồ Chí Minh, tình hình bệnh ĐTĐ, thừa cân béo phì đang ở mức báo động và là tiền đề cho việc gia tăng nguy cơ các bệnh mãn tính không lây khác như tim mạch, ung thư So sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và năm 2012 cho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam tăng tới 211% [35]
ĐTĐ là bệnh mạn tính yêu cầu sử dụng thuốc hàng ngày Vì vậy số người mắc bệnh đái tháo đường tăng mạnh trong những năm qua trở thành gánh nặng lớn cho bảo hiểm y tế nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Riêng tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương, chi phí điều trị cho bệnh đái tháo đường hàng năm là 75 tỉ đồng Nếu tất cả bệnh nhân đái tháo đường được điều trị thì chi phí hàng năm ước tính lên tới 12.500 tỉ đồng, chiếm khoảng 25% kinh phí dành cho khám chữa bệnh nói chung ở Việt Nam Sử dụng thuốc hợp lý ở bệnh nhân ĐTĐ nói riêng và các bệnh nhân mắc bệnh mạn tính nói chung đang là một yêu cầu cấp thiết trong xã hội để đảm bảo sức khỏe cho người dân và giảm gánh nặng cho nền kinh tế [37]
1.4.2.Vài nét về bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là Bệnh viện tuyến cuối về điều trị các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa Bệnh viện được thành lập ngày 16/9/1969 có tên là bệnh viện Nội Tiết và được đổi tên thành Bệnh viện Nội Tiết Trung Ương vào 7/12/2009 Trong những năm qua, ngoài thực hiện công tác khám, điều trị theo chỉ tiêu Bộ Y tế giao, Bệnh viện Nội tiết còn đảm
Trang 28nhiệm 02 chương trình Phòng chống các rối loạn thiếu hụt iod và Phòng chống đái tháo đường
Do tốc độ phát triển bệnh rất nhanh chóng dẫn tới số lượng bệnh nhân ngày càng đông Để giảm quá tải, bệnh viện đã triển khai thêm cơ sở Tứ Hiệp-Thanh Trì đi vào hoạt động vào 11/2012 song song với cơ sở 1 ở Thái Thịnh Bệnh viện hiện có 34 khoa phòng với 463 cán bộ, viên chức đang làm việc [2]
1.4.3 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện
Số lượng bệnh nhân điều trị tại bệnh viện được thể hiện qua bảng 1.3
Bảng 1.2 Số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Nội tiết TW[2]
Năm Tổng số
người khám
Số BN ngoại trú
Tỷ lệ %
BN ngoại trú
Số BN nội trú
Tỷ lệ %
BN nội trú
Tỷ trọng
% BN (So với năm 2012)
Hàng năm, bệnh viện đón tiếp hàng trăm nghìn bệnh nhân đến khám từ khắp mọi miền trong cả nước (Trung bình khoảng 1500 bệnh nhân/ ngày) Hầu hết tất cả mọi người tới khám đều được giải quyết trong ngày để tạo thuận lợi cho bệnh nhân [2] Số liệu bảng trên cho thấy, hơn 93% số bệnh nhân của bệnh viên là bệnh nhân điều trị ngoại trú Do đặc thù của bệnh nội tiết là bệnh mạn tính, điều trị duy trì nên công tác chữa bệnh của bệnh viện tập trung vào khám và điều trị ngoại trú cho bệnh nhân Do vậy, công tác kê đơn ngoại trú có vai trò rất quan trọng trong hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện Hoạt động kê đơn ngoại trú phản ánh hoạt động sử dụng thuốc tại
Trang 29bệnh viện Vì vậy đề tài thực hiện nghiên cứu hoạt động sử dụng thuốc của
Bệnh viện qua hoạt động kê đơn ngoại trú
1.4.4 Cơ cấu tổ chức khoa Dược bệnh viện
Khoa dược hiện tai có 1 thạc sĩ, 3 dược sĩ đại học, 17 dược sĩ trung học
và dược tá đảm nhiệm các công việc trong khoa Dược [1]
Sơ đồ tổ chức của khoa Dược thể hiện theo hình dưới đây:
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức khoa Dược
Tóm lại:
Hiện nay vấn đề sử dụng thuốc tại Việt Nam còn rất nhiều bất cập
Hơn nữa, với tỉ lệ người dân mắc các bệnh về nội tiết như Đái tháo đường, tự
miễn đang tăng lên nhanh chóng thì việc sử dụng thuốc điều trị các bệnh nội
tiết đang là vấn đề được rất nhiều người quan tâm Bệnh viện Nội tiết Trung
Trưởng khoa Dược
Phó Trưởng khoa Dược
Bộ phận Thống
kê Dược
Bộ phận Dược lâm sàng
Kho chính
Tổ pha chế
Khoa cấp phát ngoại trú
Khoa cấp phát nội trú
Nhà thuốc
Bộ phận
nghiệp
vụ
Dược
Trang 30ương là cơ sở chuyên khoa đầu ngành về nội tiết trong cả nước.Từ khi thành lập đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc tại
đây Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích hoạt động sử
dụng thuốc tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương Năm 2013” với mong muốn
nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu :
Đề tài nghiên cứu hoạt động sử dụng thuốc của bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2013 thông qua các đối tượng sau:
- Bác sĩ tham gia khám bệnh và kê đơn điều trị ngoại trú tại BVNTTW
- Nhân viên khoa Dược
- Hội đồng thuốc và điều trị
- Bệnh nhân điều trị ngoại trú đồng ý trả lời phỏng vấn
Địa điểm tiến hành nghiên cứu:
+ Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
Thời gian nghiên cứu: từ 10/2013 đến 4/2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp:
- Mô tả hồi cứu: Hồi cứu các đơn thuốc ngoại trú trong năm 2013 lưu tại phòng bệnh án ngoại trú của bệnh viện từ ngày 1/1/2013 - 25/12/2013
- Mô tả cắt ngang: Nghiên cứu đơn thuốc trong sổ khám bệnh mạn tính của bệnh nhân không có bảo hiểm (không được lưu lại) tại nhà thuốc bệnh viện và nghiên cứu hoạt động giao phát thuốc ngoại trú tại bệnh viện từ tháng 10/2013 đến 12/2013
Nghiên cứu được thiết kế như hình 2.1
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
* Xác định cỡ mẫu :
Trang 32Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
Phân tích hoạt động sử dụng thuốc tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
- Quy trình giao phát thuốc ngoại trú
- Hướng dẫn
BN tuân thủ sử dụng thuốc
Sự tuân thủ của người bệnh
- Hiểu biết của bệnh nhân về sử dụng thuốc
Kết luận và đề xuất
Hoạt động thông tin thuốc, theo dõi ADR
- Hoạt động thông tin thuốc -Báo cáo ADR
Mô tả hồi cứu
và cắt ngang
ngang
Mô tả cắt ngang
Trang 33Số lượng mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu sau [6]:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ :
2
2 2 /
d
p p Z
Trong đó:
- n: số đơn thuốc, bệnh án, sổ khám bệnh cần nghiên cứu
- Z : Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95%, Z= 1,96
- p = tỷ lệ ước tính tỷ lệ đơn thuốc kê phù hợp với quy định của Bộ Y tế Lựa chọn p = 0,5
- d: Khoảng sai lệch chấp nhận được so với thực tế cộng đồng
Chọn d = 0,05
Theo công thức trên, n =384 đơn thuốc
Trên thực tế đề tài lấy 400 đơn thuốc để phân tích trong đó có 200 đơn thuốc BHYT và 200 đơn thuốc của bệnh nhân tự nguyện (không có BHYT)
* Kỹ thuật lấy mẫu:
Đề tài tiến hành thu thập 200 đơn thuốc bảo hiểm ngoại trú năm 2013 bằng phương pháp chọn mẫu hệ thống như sau:
Gọi tổng số đơn bảo hiểm ngoại trú năm 2013 là N, k là khoảng cách thứ
tự các mẫu và k = N/200 Chọn ngẫu nhiên một số thứ tự từ 1 đến 10, mẫu đầu tiên là đơn có số thứ tự đó tính từ đơn được đánh số đầu tiên trong năm
2013 Các mẫu tiếp theo là các đơn có số thứ tự bằng số trước cộng k, cứ lấy tiếp như vậy đến đủ 200 đơn
Theo số liệu lưu tại phần mềm kê đơn thuốc BHYT, tổng số đơn BHYT ngoại trú năm 2013 là 93508 đơn [3] Từ đó, tính được k = 93508/200= 467 Chọn ngẫu nhiên đơn thuốc đầu tiên có số 5, và đơn thuốc thứ hai có số 472
Trang 34Chọn các đơn tiếp có số thứ tự bằng số thứ tự của đơn trước cộng 467 cho tới khi đủ 200 thì dừng lại
Đề tài thu thập 200 đơn thuốc trong sổ điều trị mạn tính của bệnh nhân không có bảo hiểm y tế tại nhà thuốc bệnh viện vào các ngày thứ 2,3,4,5,6 trong thời gian từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2013 đến khi đủ số lượng Mỗi ngày đề tài dự kiến lấy khoảng 10 đơn thuốc tự nguyện bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Phỏng vấn 100 bệnh nhân vào các ngày thứ 2,3,4,5,6 trong thời gian từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2013 đến khi đủ số lượng Bộ câu hỏi phỏng vấn xin được trình bày ở phụ lục 1
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
* Thu thập và hồi cứu các số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu sẵn có sẵn trong năm 2013 :
- Báo cáo công tác khám chữa bệnh và kinh phí hoạt động năm 2012-2013
- Danh mục thuốc sử dụng của bệnh viện
- Các tài liệu về hoạt động thông tin thuốc và theo dõi ADR của bệnh viện
- Đơn thuốc BHYT ngoại trú
- Các báo cáo về nhân lực lưu tại phòng Tổ chức cán bộ và tài chính lưu tại phòng tài chính kế toán
* Thu thập số liệu sơ cấp thông qua:
- Đề tài tiến hành phỏng vấn 100 bệnh nhân với bộ câu hỏi có cấu trúc
Sử dụng phương pháp phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi có cấu trúc Phỏng vấn bệnh nhân để nghiên cứu hiệu quả thông tin cung cấp cho bệnh nhân, mức độ hiểu biết thông tin về sử dụng và bảo quản thuốc, sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân và mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với hoạt động này tại bệnh viện
Trang 35- Sử dụng bảng kiểm để thu thập các số liệu cần nghiên cứu trong đơn thuốc Nội dung bảng kiểm xin được trình bày ở phụ lục 2
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp các hoạt động giao phát thuốc
tại nơi cấp phát thuốc BHYT và nhà thuốc của bệnh viện để xác định thời gian phát thuốc trung bình và lượng thuốc cấp phát thực tế
+ Thời gian phát thuốc cho một bệnh nhân là thời gian từ lúc bệnh nhân đến điểm phát thuốc tới khi bệnh nhân rời đi, không tính thời gian chờ đợi + Thời gian phát thuốc trung bình được tính bằng cách chia tổng số thời gian dành cho việc phát thuốc đối với tất cả các bệnh nhân cho số trường hợp được phát [20]
+ Lượng thuốc cấp phát được tính là đủ khi bệnh nhân nhận đủ số thuốc có
trong đơn theo đúng lượng được kê trong đơn
2.2.4 Phương pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu
- Phương pháp tỷ trọng: Là phương pháp tính tỷ lệ phần trăm của giá trị
số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng số liệu nghiên cứu trong tổng số
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp so sánh giá trị số liệu giữa hai nội dung Trong nghiên cứu này, phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các nội dung giữa đơn BHYT và đơn tự nguyện
- Các số liệu được trình bày bằng: Bảng biểu và biểu đồ
- Xử lý số liệu thu được bằng phần mềm Microsoft Excel 2007
- Xử lý bộ câu hỏi bằng phần mềm SPSS
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu việc thực hiện quy chế kê đơn
Các chỉ tiêu nghiên cứu được đánh giá dựa trên quy đinh về kê đơn thuốc ngoại trú - Thông tư 04/2008 – TTBYT được trình bày theo bảng 2.1
Trang 36Bảng 2.1 Nhóm chỉ tiêu phân tích các chỉ tiêu thực hiện quy chế kê
Tỷ lệ % đơn ghi địa chỉ bệnh nhân phải chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã
Tỷ lệ % đơn ghi chẩn đoán bệnh
Tỷ lệ % đơn đánh số khoản
Tỷ lệ % đơn gạch chéo phần đơn còn giấy trắng
Tỷ lệ % đơn ghi tên bác sĩ đầy đủ
Tỷ lệ % đơn ghi theo tên biệt dược có tên chung quốc tế trong ngoặc đơn với thuốc một thành phần
Tỷ lệ % đơn ghi đầy đủ hàm lượng, số lượng
Hướng dẫn
Tỷ lệ % đơn ghi đủ liều dùng
Tỷ lệ % đơn ghi đủ đường dùng
Tỷ lệ % đơn ghi thời điểm dùng
Tỷ lệ thuốc nội tiết được kê trong Số thuốc nội tiết/ Tổng số
Trang 374 Tỷ lệ % số đơn kê có thuốc tiêm
Tổng số đơn kê có thuốc tiêm/tổng số đơn*100%
5
Tỷ lệ thuốc nội (ngoại) được kê
trong đơn
Số thuốc nội(ngoại)/tổng số thuốc*100%
6 Tỷ lệ thuốc được kê nằm ngoài
DMTSD của BV
Số thuốc nằm ngoài DMTSD/Tổng số *100
*Tương tác thuốc trong đơn
Sử dung phần mềm Drugs.com/ Drug_interactions php để tra cứu các
tương tác thuốc Tương tác thuốc được phân chia thành 3 mức độ: nghiêm trọng, trung bình, nhẹ Các biến số nghiên cứu về tương tác thuốc trong đơn được trình bày qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Tương tác thuốc trong đơn
Nội dung SL tương tác Tỉ lệ %
Trung bình Nhẹ
Trang 38Bảng 2.4 Biến số nghiên cứu hoạt động giao phát thuốc
1 Thời gian giao phát thuốc Quan sát trực tiếp
2 Số lượng cấp phát thuốc thực tế
2.3.3 Các biến số nghiên cứu về sự tuân thủ của người bệnh
Sự tuân thủ của người bệnh được nghiên cứu qua các biến số sau
Bảng 2.5 Nhóm biến số nghiên cứu sự tuân thủ của bệnh nhân
Được người giao phát thuốc hướng dẫn về cách sử dụng thuốc
Được người giao phát hướng dẫn
về cách bảo quản thuốc
Biết về tác dụng của thuốc
Biết về cách sử dụng thuốc
Biết cách bảo quản thuốc
Biết tác dụng phụ điển hình của thuốc
3 Tuân thủ sử
dụng thuốc
Quên uống thuốc
Tự ý bỏ thuốc khi gặp tác dụng phụ của thuốc
Ngừng thuốc và hỏi ý kiến bác sĩ
2.3.4 Các biến số nghiên cứu hoạt động thông tin thuốc và theo dõi ADR
Thu thập các văn bản thông tin thuốc tại bệnh viện trong năm 2013 để xác định số lần thông tin thuốc, đối tượng và nội dung thông tin thuốc Hình
Trang 39thức thông tin thuốc tại bệnh viện được tìm hiểu qua nhân sự ở phòng Dược lâm sàng tại khoa Dược của bệnh viện
Bảng 2.6 Nhóm biến số về thông tin thuốc
1 Số lần thông tin thuốc của khoa dược/năm Số lượng
2 Hình thức thông tin thuốc
3 Nội dung thông tin thuốc
4 Đối tượng thông tin thuốc
Các báo cáo ADR được thu thập tại phòng Dược lâm sàng trong khoa Dược của bệnh viện Đánh giá chất lượng báo cáo ADR thông qua hướng dẫn báo cáo ADR của Trung tâm DI&ADR quốc gia [34]
Biến số nghiên cứu công tác theo dõi ADR được trình bày qua bảng 2.7
Bảng 2.7 Nhóm biến số về theo dõi ADR
1 Số báo cáo ADR/năm
2 Nội dung báo cáo ADR
3 Chất lượng báo cáo ADR Chỉ xét về chỉ tiêu điền đầy đủ
thông tin trong mẫu báo cáo ADR
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Kết quả nghiên cứu
3.1.1 Phân tích một số chỉ số kê đơn và việc thực hiện quy chế chuyên môn trong kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương
3.1.1.1 Phân tích việc thực hiện quy chế trong kê đơn thuốc ngoại trú tại BV Nội tiết Trung Ương
Đề tài khảo sát 400 đơn thuốc bao gồm 200 đơn bảo hiểm y tế (BHYT)
và 200 đơn khám tự nguyện, không bảo hiểm y tế Tiến hành phân tích thu được quả như bảng 3.1:
Bảng 3.1 Tỉ lệ phân bố bệnh trong số đơn khảo sát tại BVNTTW
Bệnh Tên bệnh chẩn đoán
trong đơn thuốc
Đơn bảo hiểm
Đơn tự nguyện
TL % N=400
Cường giáp ( Basedow) 24 12,0 26 13,0 12,5