Để đảm bảo được sự tham gia của người dân, tăng cường quyền tiếp cận thông tin của người dân, các sáng kiến của dự án cũng tạo ra được nhiều mô hình tiếp cận thông tin với các cách thức
Trang 1TRUYỀN THÔNG CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
MỘT SỐ MÔ HÌNH GIÚP NGƯỜI DÂN TIẾP CẬN THÔNG TIN
Kinh nghiệm thực hiện Dự án Tăng cường sự tham gia của người
dân trong quá trình cải cách
hành chính ở Việt Nam
Tài liệu tham khảo
Trang 3MỘT SỐ MÔ HÌNH GIÚP NGƯỜI DÂN TIẾP CẬN THÔNG TIN
Kinh nghiệm thực hiện Dự án Tăng cường sự
tham gia của người dân trong quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam
TRUYỀN THÔNG CÓ SỰ
THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
Trang 5AAV ActionAid Quốc tế tại Việt NamCCHC Cải cách hành chính
DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan MạchICT4D Công nghệ thông tin cho phát triểnKHKT Khoa học kỹ thuật
KHHGD Kế hoạch hóa gia đình
MTTQ Mặt trận tổ quốc
OSS Văn phòng một cửa một dấu
PTTH Phát thanh truyền hình
TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
UBND Ủy ban nhân dân
VHTT Văn hóa thông tin
Các từ viết tắt
Trang 7Mục lục
1.1 Những khó khăn cản trở người dân trong quá trình tiếp cận thông tin 131.2 Phương pháp luận của AAV và thực tế trong lĩnh vực phát triển Nhấn mạnh sự tham gia của người dân, nâng cao năng lực cộng đồng 14
2.2 Các nhóm tự quản và nòng cốt truyền thông tại cộng đồng 162.3 Hệ thống loa công cộng của xã và hệ thông truyền sóng FM 172.4 Cổng thông tin về Thủ tục hành chính cấp xã phường 19001715 172.5 Cuộc thi pháp luật - hiểu biết về cải cách hành chính 182.6 Hoạt động tham gia phân tích ngân sách tại địa phương của người dân 18
3.1 Đánh giá của người dân về các hình thức phổ biến thông tin 203.2 Đánh giá của người dân trực tiếp tham gia thực hiện các mô hình
3.3 Đánh giá từng mô hình truyền thông do dự án đề xuất và thực hiện 27
Trang 9TóM TắT
Cải cách hành chính công (CCHC) ở Việt Nam đã trải qua các giai đoạn trải nghiệm và khẳng định từ năm 2001-2010 Trong giai đoạn I (2001-2005), Chính phủ Việt Nam tập trung vào xây dựng cơ chế quản lý công, như cơ chế một cửa một dấu (OSS) và phân cấp trao quyền cho cơ sở Trong giai đoạn II (2006-2010), CCHC tiến thêm một bước khẳng định sự phân cấp nhưng cũng nhấn mạnh dân chủ cơ sở và sự tham gia thực sự của người dân nhằm mục đích xây dựng một cơ chế hiệu quả, công khai, có trách nhiệm giải trình của quản lý công ở địa phương Quá trình thử nghiệm về sự tham gia và giám sát của người dân vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi ActionAid Việt Nam cũng góp phần giúp người dân tham gia để thúc đẩy tính minh bạch giải trình và giám sát các chương trình CCHC
Với Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở1, hình thức công khai thông tin được quy định bao gồm Niêm yết công khai tại trụ sở của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã; Công khai trên các hệ thống truyền thanh của cấp xã; Công khai qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân Để thể chế hóa sự liên kết của tiếp cận thông tin
và trách nhiệm của cơ quan công quyền hay công chức hướng tới tính minh bạch và giải trình, một dự Luật tiếp cận thông tin đang được Chính phủ xây dựng với nội dung quy định về quyền thông tin và làm thế nào để cơ quan công quyền cung cấp thông tin hiệu quả cho người dân
Hiện nay, các hình thức cung cấp thông tin ngày càng đa dạng hơn, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin và truyền thông Trong sự phát triển nhanh chóng của thời đại, nhu cầu thông tin của người dân ngày càng tăng cao và mong muốn thông tin được cung cấp hiệu quả, phục vụ cho cuộc sống ngày càng rõ nét Để đáp ứng nhu
1 Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 thông qua ngày 20/4/2007
Trang 10cầu này, Nhà nước và nhân dân đang
cùng nhau nỗ lực tìm ra các giải pháp
để cung cấp và tiếp cận thông tin hiệu
quả hơn Rất nhiều các tổ chức và các
dự án đang nỗ lực cùng tìm ra các mô
hình thông tin phù hợp cho người dân
Với sự hỗ trợ tài chính từ Đại sứ quán
Đan Mạch (DANIDA), ActionAid Việt Nam
(AAV) cùng các đối tác là các tổ chức xã
hội dân sự đang triển khai dự án “Tăng
cường sự tham gia của người dân trong
quá trình cải cách hành chính công” tại
4 tỉnh gồm Đắk Lắk, Lai Châu, Điện Biên
và Hà Tĩnh Một trong những mục tiêu
của Dự án là hỗ trợ người dân tiếp cận
thông tin theo quyền hạn của mình. Dự
án đã xây dựng các hoạt động như thiết
lập và vận hành 15 kiốt thông tin với
các trang thiết bị như máy tính kết nối
internet, điện thoại, thư viện, dữ liệu cơ
sở tại các tỉnh thí điểm nhằm giúp người dân địa phương tiếp cận thông tin về CCHC Tại các thôn bản, dự án cùng đối tác hỗ trợ cộng đồng thành lập mạng lưới tuyên truyền cơ sở làm cầu nối phổ biến (truyền thông) và tiếp cận thông tin tại cộng đồng Ngoài ra, các hoạt động khác như phân tích ngân sách, kiểm toán xã hội, đánh giá dịch vụ công, lập
kế hoạch có sự tham gia của người dân cũng góp phần cung cấp thông tin cho người dân hướng tới công khai, minh bạch hơn ở địa phương Bằng việc giúp người dân tiếp cận thông tin và hiểu rõ các vấn đề của xã hội và của cộng đồng,
dự án mong muốn tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương cũng như giúp người dân nâng cao hiểu biết và giảm nghèo tốt hơn
Để đảm bảo được sự tham gia của người dân, tăng cường quyền tiếp cận thông tin của người dân, các sáng kiến của dự án cũng tạo ra được nhiều mô hình tiếp cận thông tin với các cách thức truyền thông cộng đồng hiệu quả
và dễ tiếp cận
Để mô tả lại các mô hình thông tin trong việc thúc đẩy tiếp cận thông tin cho người dân, nhóm đánh giá đã tiến hành khảo sát và tham vấn tại các địa bàn nơi
có các hoạt động truyền thông và các
mô hình thông tin Tài liệu này ngoài việc
mô tả các mô hình của dự án, cách thức phổ biến và tiếp nhận thông tin, có đánh giá sơ bộ tính hiệu quả và tính phù hợp của các mô hình mà dự án đã và đang thực hiện
Các mô hình tiếp cận thông tin của dự
án là dạng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng Tuy các hình thức truyền thông này là hình thức không chính
Trang 11thống như các hình thức truyền thông
đại chúng hay phổ biến thông tin của
nhà nước, nhưng các hình thức này có
thể bổ trợ nhiều cho các hình thức của
nhà nước để người dân tiếp cận dễ hơn,
hiểu cụ thể hơn và đặc biệt, người dân
được tham gia trong quá trình chia sẻ
và bàn thảo về những thông tin mà họ
có Các mô hình này cũng có tính bền
vững vì có thể lồng ghép trong kênh
thông tin chính thống Đặc biệt, tại các
vùng khó khăn hay vùng đồng bào dân
tộc khó tiếp cận kênh thông tin chính,
đây vẫn là các hình thức gần gũi nhất và
được người dân đánh giá cao
Những đề xuất cho việc củng cố hơn
phương thức tiếp cận thông tin cho
người dân tại cộng đồng qua các thí điểm
và sáng kiến của dự án là: (i) Những hoạt
động truyền thông của dự án có thể phát
huy tối đa hiệu quả nếu lồng ghép hoặc
gắn hoạt động vào các hình thức truyền
thông đại chúng, hay truyền thông của
nhà nước đang có tại địa phương nhằm
giúp hình thức phổ biến thông tin của
nhà nước được hiệu quả hơn và dễ tiếp
cận hơn; (ii) Dự án có thể tập trung hỗ trợ
nâng cao năng lực của cán bộ vận hành
kiốt hay cán bộ văn hóa xã và giới thiệu
rộng rãi về hình thức tiếp cận qua kiốt
thông tin cho người dân; (iii) Tăng cường
thúc đẩy việc thực hiện hình thức niêm
yết thông tin tại các vùng xa xôi, vùng dân tộc thiểu số nơi đa số người dân có nhiều hạn chế để tiếp cận thông tin cơ bản; (iv) Điều quan trọng để tiếp cận thông tin hiệu quả và rộng khắp cho người dân là cán bộ thôn và cán bộ công quyền của địa phương tham gia tích cực vào công tác này Dự án có thể đẩy mạnh việc hỗ trợ nâng cao năng lực truyền thông của cán bộ thôn và cán bộ thông tin cơ sở để
có thể đáp ứng được nhu cầu thông tin của người dân
Tuy nhiên điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể rút ra là để xây dựng các
mô hình thông tin thật sự có hiệu quả bền vững lâu dài, cần thiết phải trang bị kiến thức về thông tin cho người dân, phải giúp cho người dân hiểu vai trò, lợi ích của thông tin trong đời sống hàng ngày (thông tin về thông tin) và trong mọi hình thức cần khuyến khích, phát triển tính hai chiều trong hoạt động truyền thông với người dân
Tài liệu này là đánh giá độc lập của nhóm
tư vấn thuộc Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI) về các mô hình thông tin của
dự án Nhóm viết báo cáo chính gồm Ngô Minh Hương, Nguyễn Minh Hương, Đinh Hà An Nhóm dự án quốc gia của AAV và Hoàng Mai Hương biên tập và hiệu đính
Trang 13I GIớI THIệU CHUNG
I GIớI thIệu chunG
Cùng với các hợp phần khác, “Hỗ trợ người dân tiếp cận theo quyền hạn của mình” là một trong ba hợp phần chính của dự án: “Tăng cường
sự tham gia của người dân trong quá trình cải cách hành chính công ở Việt Nam” Hợp phần này được thiết kế dựa trên khung phát triển:
Tăng khả năng tiếp cận thông tin theo quyền hạn của mình cho người dân;
Thông tin cho phát triển: nâng cao năng lực tiếp cận thông tin phục
vụ đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống
Từ thực tế CCHC và bối cảnh xây dựng dự luật quyền tiếp cận thông tin, cần thiết có các mô hình thông tin hiệu quả cho người dân nhằm:
Tiếp cận thông tin cho người dân tốt hơn;
Tăng cường sự tham gia của người dân
1.1 Những khó khăn cản trở người dân trong quá trình tiếp cận thông tin 2
Nhiều khảo sát và đánh giá về tiếp cận thông tin vừa qua đã ghi nhận các khó khăn của tiếp cận thông tin ở Việt Nam Trong đó các lý do chính như sau:
Cải cách hành chính chưa đạt đến được mức độ hiệu quả của việc cung cấp thông tin Việc người dân có thể tiếp cận thông tin hay không là phụ thuộc vào sự chủ động và tích cực của các cơ quan,
tổ chức quản lý, nắm giữ thông tin trong việc đăng tải, phổ biến các loại thông tin ngay cả khi không có yêu cầu của người dân;
2 Báo cáo tóm tắt Khảo sát nhu cầu và hiện trạng tiếp cận thông tin của người dân ở một số tỉnh Việt Nam – Nhóm công tác về sự tham gia của người dân (PPWG)
Trang 14 Khả năng tiếp cận thông tin của người
dân còn thấp vì trình độ dân trí thấp và
tình hình kinh tế khó khăn chưa có đủ
phương tiện thông tin liên lạc;
Ở các địa phương còn thiếu phương
tiện truyền thông (kể cả hệ thống đài,
truyền hình, sách báo) và chất lượng
của phương tiện truyền thông còn
nghèo nàn, thiếu đồng bộ;
Nội dung thông tin thiếu và chưa
chính xác, còn dài dòng khó hiểu đối
với người dân vì vấn đề đặc thù ngôn
ngữ và trình độ dân trí chưa cao;
Chất lượng công tác tuyên truyền
thông tin của các cấp chính quyền
địa phương còn nhiều hạn chế Trong
đó có một phần không nhỏ do trình
độ chuyên môn yếu của cán bộ tuyên
truyền thông tin;
Thủ tục giải quyết tiếp cận thông tin
chưa rõ ràng vì cũng chưa có quy
định cụ thể, kể cả trong quy định về
thủ tục hành chính Nhiều nơi, chính
quyền địa phương quan liêu, cửa
quyền, thái độ phục vụ dân không
tận tình, gây khó dễ, thời gian làm việc
không thống nhất, kéo dài, quá trình
giải đáp thông tin, khiếu nại thắc mắc
có khi kéo dài 5 đến 7 tháng Thậm
chí, cán bộ cơ sở vẫn còn mang văn
hóa bí mật, muốn nắm giữ thông tin
chung Kết quả là nhiều thông tin
không đến kịp thời với người dân;
Vai trò truyền thông của các tổ chức
chính trị xã hội và tổ chức cộng đồng
chưa được phát huy hiệu quả và có
lồng ghép trong các kênh truyền
thông chính thức
Thông tin là công cụ điều hành của chính
quyền địa phương, là diễn đàn của Đảng
và Nhân dân Thông tin cũng là công cụ
để nhân dân có thể tham gia trong các công việc của đời sống xã hội Hiện nay, nhu cầu thông tin của người dân rất cao
Họ mong muốn được cung cấp thông tin hiệu quả, đi vào cuộc sống
Những khó khăn chung nói trên là những vấn đề để có thể nhìn nhận lại làm thế nào để có các giải pháp, mô hình cung cấp thông tin hiệu quả cho người dân ở cơ sở, và làm thế nào để người dân
có thể tiếp cận thông tin tốt hơn Hiện nay, ngoài kênh thông tin của nhà nước, địa phương thực hiện, còn có các kênh thông tin được các tổ chức đoàn thể địa phương, các tổ chức phi chính phủ thực hiện bằng nhiều phương thức và phương tiện khác nhau
Nhà nước và nhân dân đang cùng nhau
nỗ lực tìm ra các giải pháp để cung cấp
và tiếp cận thông tin hiệu quả hơn Vậy
mô hình nào có thể đang được thực hiện hiệu quả ở địa phương?
1.2 Phương pháp luận của AAV và thực tế trong lĩnh vực phát triển Nhấn mạnh sự tham gia của người dân, nâng cao năng lực cộng đồng
Quá trình CCHC đă đem lại nhiều kết quả khả quan theo đó các thủ tục hành chính
ở hầu hết các lĩnh vực đã được xem xét, sửa đổi, dỡ bỏ và ban hành nhằm đơn giản hóa và tiện lợi hơn cho người dân.Tuy nhiên những hạn chế của CCHC bắt nguồn từ lý do cơ bản là thiếu sự tham gia của người dân, vì thế AAV mong muốn tạo điều kiện cho quá trình CCHC thông qua việc triển khai một mô hình thí điểm nhằm khắc phục những khó khăn
và xây dựng một mô hình lấy con người làm trung tâm để có thể giúp người dân
Trang 15đạt được những kết quả tốt nhất từ các
quá trình cải cách tiến bộ
Công tác đào tạo và phổ biến các thông
tin liên quan đến CCHC cho cán bộ và
người dân địa phương chưa được đẩy
mạnh AAV cùng các đối tác địa phương
xây dựng các mô hình thông tin nhằm
khắc phục khoảng trống này trong quá
trình thực hiện CCHC
Quan niệm về vai trò của truyền thông
trong phát triển ngày nay đã thay đổi
Trước đây trong những mô hình truyền
thông cho phát triển từ trên xuống,
phương tiện thông tin đại chúng được
sử dụng để chuyển giao công nghệ cần
thiết cho sự tăng năng suất lao động
Ngày nay, mô hình truyền thông phát
triển từ dưới lên chứng minh được sự
phù hợp và cần thiết của mình Mô hình
truyền thông này giúp khuyến khích phát
huy tiềm năng thay đổi của cộng đồng
giúp thiết lập đối thoại giữa các nhân tố,
giữa các vấn đề khác nhau trong phát
triển và giữa các cấp địa phương
Ý tưởng đạt được phát triển vững bền và
đứng vững được là một xu hướng toàn
cầu, một tiến trình tổng thể thay đổi xã
hội mà các xã hội có trách nhiệm tiến
tới Để dỡ bỏ các thách thức trong việc
áp dụng phát triền bền vững, yêu cầu
về việc xây dựng đối tác với cộng đồng
được đặt ra ở địa phương Các mô hình
truyền thông như là công cụ hữu hiệu
để xây dựng quan hệ đối tác vì nó tạo
điều kiện cho việc sử dụng mô hình phát
triển nội sinh, nơi mà truyền thông được
sử dụng như là chất xúc tác khuấy động
tiềm năng thay đổi từ bên trong cộng
đồng và khuyến khích sự tham gia của
tất cả các nhân tố
Từ thực tế CCHC của Việt Nam, dựa vào phương pháp luận của mình, dự án đã lựa chọn xây dựng các mô hình thông tin tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong khuôn khổ dự án
II các mô hình truyền thônG của dự án
Các mô hình lựa chọn: Đan xen các phương thức giữa các mô hình truyền thông 2 chiều và 1 chiều, nhấn mạnh, nâng đỡ sự tham gia của cộng đồng
và truyền thông 2 chiều;
Tại các vùng dự án có các hợp phần khác, việc sử dụng phương pháp Reflect để phát triển quá trình lập kế hoạch dựa vào cộng đồng có thể giúp cộng đồng tiếp cận được quá trình ra quyết định và củng cố quyền làm chủ của một nền quản trị địa phương Cách tiếp cận này đã phát triển thành một phương pháp luận mang tính thực tiễn mà các nhóm cộng đồng
có thể sử dụng để hiểu và tác động tới các vấn đề có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và đồng thời củng cố năng lực của họ để truyền thông với các đối tác bên ngoài về những phân tích của chính họ;
Địa bàn dự án được chọn lựa dựa trên những cam kết, sự sẵn sàng và quá trình tham gia xây dựng dự án của đối tác địa phương
Các mô hình tiếp cận thông tin do dự án
đề xuất và thực hiện:
Kiốt thông tin;
Tổ liên gia/nhóm cộng đồng tự quản
và nòng cốt truyền thông cộng đồng;
Trang 16 Hệ thống loa truyền thanh và đài
Hoạt động tham gia phân tích ngân
sách tại địa phương của người dân
2.1 Kiốt thông tin
Kiốt thông tin là một mô hình áp dụng
công nghệ thông tin cho phát triển
(ICT4D) Các kiốt thông tin là địa điểm
có kết nối internet với trang bị máy tính,
máy in, điện thoại, có nguồn thông tin
dữ liệu cơ sở như thông tin về kinh tế,
xã hội, văn hóa, kỹ thuật sản xuất, luật
pháp… Kiốt được đặt tại những nơi
công cộng (gần chợ, gần trường học,
hay gần nhà văn hóa thôn ) để dễ dàng
cho mọi người tìm đến Người dân nếu
không biết truy cập internet có thể đưa
ra yêu cầu để cán bộ thông tin kiốt giúp
tìm thông tin từ các nguồn chuyển cho
người dân Tại kiốt thông tin, người dân
cũng có thể sử dụng điện thoại miễn phí
gọi đến các số điện thoại hỏi đáp của
chính phủ, chính quyền yêu cầu giải đáp
các thắc mắc và yêu cầu thông tin về các
thủ tục hành chính
Các kiốt thông tin cũng là một địa điểm
công cộng để niêm yết trưng bày các
thông tin quan trọng như ngân sách, hay
báo tường Để vận hành được kiốt thông
tin này, dự án đã chú trọng đến việc đào
tạo cho cán bộ kiốt thông tin và kết hợp
với tuyên truyền phổ biến về hình thức
tiếp cận thông tin qua internet tại kiốt và
tuyên truyền về ích lợi của việc tiếp cận
thông tin tại kiốt Qua các cuộc họp thôn
hay họp nhóm cộng đồng tự quản tại các
thôn bản, các nhóm tự quản có nhiệm vụ chia sẻ thông tin họ lấy được từ kiốt đến cho người dân chưa có điều kiện trực tiếp đến kiốt Đồng thời, tại những cuộc họp này, nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân được các cán bộ ghi nhận lại để tiếp tục tìm kiếm các thông tin phù hợp đáp ứng nhu cầu thông tin của dân
2.2 Các nhóm tự quản và nòng cốt truyền thông tại cộng đồng
Các nhóm tự quản tại cộng đồng được thiết lập với mục tiêu tăng cường sự tham gia của người dân trong các chương trình phát triển của địa phương Đây là hình thức cung cấp thông tin rất gần gũi
và thuận tiện cho người dân vì đây là sự trao đổi thông tin hai chiều: người dân
có thể đưa ra nhu cầu tìm hiểu thông tin và được phổ biến thông tin theo nhu cầu Sự thành công của mô hình cung cấp thông tin qua nhóm phụ thuộc vào
sự chuẩn bị chủ đề, năng lực truyền tải của cán bộ kiốt, năng lực điều hành của nhóm trưởng Do vậy dự án đã chú trọng đến nâng cao năng lực của trưởng nhóm
tổ liên gia/nhóm cộng đồng tự quản
và nhóm nòng cốt truyền thông cộng đồng Ở nhiều nơi sự gắn kết giữa nhóm cộng đồng tự quản/tổ liên gia và nhóm truyền thông cộng đồng và cán bộ kiốt rất chặt chẽ Họ trao đổi nhu cầu thông tin và chủ động tìm thông tin và tổ chức họp tổ liên qua đều đặn, hiệu quả Họp thôn bản được coi là một trong những hình thức tiếp cận và cung cấp thông tin hiệu quả nhất cần được duy trì Các nhóm tự quản họp hàng tháng với sự tham gia của cán bộ xã hoặc cán
bộ kiốt thông tin Trong khi họp, người dân đưa ra các vấn đề quan tâm và cán
bộ kiốt thông tin cung cấp và phổ biến
Trang 17các thông tin và tài liệu (nếu có) cho các
thành viên trong nhóm Các tài liệu này
sau đó được chia sẻ rộng hơn cho các hộ
gia đình khác trong xóm Cán bộ thôn
bản là một đầu mối quan trọng giúp
người dân kết nối và tiếp cận thông tin
với các nguồn thông tin khác như nguồn
thông tin từ ki-ốt thông tin, từ các cơ
quan ban ngành đoàn thể của xã hoặc
cao hơn Tổng số có 247 nhóm tự quản
như vậy hoạt động hàng tháng tại các
xã dự án Ngoài sinh hoạt hàng tháng,
các thành viên nhóm còn tích cực tham
gia vào các hoạt động khác như đánh
giá dịch vụ công, hoạt động phân tích
ngân sách hay quá trình lập kế hoạch,
triển khai và đánh giá các chương trình
tại địa phương
2.3 Hệ thống loa công cộng của xã
và hệ thống truyền sóng FM
Ngoài các hệ thống loa phóng thanh
tại tất cả các xã dự án, dự án cũng đã
thiết lập một hệ thống truyền sóng FM
nhằm giúp địa phương dùng phương
tiện này phổ biến tin tức, thông báo các
thông tin cần thiết cho dân Về cơ bản
thì đây là hình thức phổ biến thông tin
một chiều, trừ hệ thống truyền thanh
FM Thông thường, hầu hết các thông
tin được truyền tải qua hệ thống này do
chính quyền chủ động sắp xếp và quản
lý nội dung Dự án cùng phối hợp với
chính quyền xã để bổ sung thêm nhiều
thông tin theo nhu cầu (ví dụ thông tin
về phương thức canh tác, thị trường, giá
cả hoặc gương người tốt việc tốt ở địa
phương…) Hình thức tiếp cận thông
tin này được đánh giá là nhanh chóng,
hiệu quả đặc biệt là cho công tác tuyên
truyền và phổ biến hoặc thông báo về
các chính sách của Nhà nước, các nghị
quyết của Đảng, các quy định/quyết
định của chính quyền địa phương Dự án cũng đã dùng loa phóng thanh để công
bố thông tin về ngân sách Phổ biến thông tin qua hệ thống loa công cộng
có thể đến từng người dân và không ảnh hưởng đến thời gian lao động sản xuất của tất cả mọi người Tuy nhiên, hiệu quả của truyền thông và phổ biến thông tin phụ thuộc vào năng lực của cán bộ xã phụ trách truyền thanh nhằm xây dựng nội dung thông tin làm cho truyền thanh phù hợp hơn với nhu cầu thông tin của người dân
2.4 Cổng thông tin về Thủ tục hành chính cấp xã phường 19001715
Một trong những ứng dụng về công nghệ thông tin trong dự án là cổng thông tin về thủ tục hành chính cấp xã phường qua điện thoại với số 19001715
Trang 18Người dân ở vùng dự án và khắp nơi
trên cả nước có thể tiếp cận các thủ tục
hành chính cơ bản thuộc cấp phường
xã Các thủ tục được tóm tắt ghi âm vào
hệ thống để người dân có thể nghe dễ
dàng khi quay số trực tiếp bằng mã số
đến các thủ tục cụ thể Ngoài tiếng phổ
thông, cổng thông tin đã chuyển ngữ
sang các ngôn ngữ cho đồng bào Thái,
H’mông và Êđê Hoạt động này được Bộ
Nội vụ thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật
của công ty truyền thông
Nhìn chung, ý tưởng về một cổng thông
tin qua điện thoại có thể giải đáp thắc
mắc và nhu cầu nắm bắt thông tin cụ thể
là thông tin về cải cách hành chính cho
dân là rất tốt Mô hình này đã rất hiệu quả
ở nhiều nước trên thế giới Tiếc rằng thời
gian hoạt động của dự án không đủ dài
để giới thiệu rộng rãi dịch vụ này đến mọi
đối tượng trong cả nước, mặt khác ở nhiều
nơi vùng sâu vùng xa, dịch vụ điện thoại
còn chưa có, hoặc chưa thuận tiện Tuy
nhiên, trong tương lai, có thể chú trọng
hơn đến việc đưa dịch vụ này tại các điểm
bưu điện của xã hay tại địa điểm một cửa
của xã với một cổng dịch vụ miễn phí và
phổ biến các lợi ích của việc tra cứu bằng
điện thoại cho người dân
2.5 Cuộc thi pháp luật - hiểu biết về
cải cách hành chính
Với mục đích tạo ra mối quan tâm về
thông tin và nêu ra các vấn đề liên quan
đến hành chính và quản trị địa phương,
dự án đã có sáng kiến tổ chức cuộc thi
người dân với cải cách hành chính Cuộc
thi bắt đầu bằng việc tìm hiểu pháp luật
và nội dung của Pháp lệnh dân chủ cơ sở
tại các nhóm cộng đồng tự quản đến việc
tổ chức các tiểu phẩm phản ánh các vấn
đề của địa phương và đưa ra các mong
đợi của cộng đồng Việc người dân chủ động và tích cực tham gia học pháp luật giúp thúc đẩy việc thảo luận về quyền
và trách nhiệm của các bên ngay trong dân chúng Quá trình nhận thức về dân chủ được hình thành một cách tự nhiên trong các nhóm cộng đồng
Khi nắm rõ nội dung của pháp lệnh dân chủ cơ sở, người hiểu về quyền của mình nên tự tin hơn trước cách bày tỏ quan điểm và thể hiện yêu cầu trong các tiểu phẩm Hầu hết các tiểu phẩm đều có tính phê bình rất cao Trong bối cảnh chính trị
và xã hội hiện nay của Việt Nam, việc tiếp nhận các ý kiến có tính phê bình từ cộng đồng thông qua hình thức tiểu phẩm, đặc biệt là các hình thức hài hước là có thể dễ chấp nhận
Các cuộc thi này khơi dậy phong trào tìm hiểu thông tin của người dân về những chủ đề như pháp luật nói chung, cải cách hành chính, thủ tục hành chính Cuộc thi vừa mang tính cạnh tranh lành mạnh giữa các đội thi, vừa mang tính văn hóa nghệ thuật của địa phương nên đã được người dân hưởng ứng rất tích cực Hình thức này được coi là phong trào tốt ở một
số địa phương chưa có nhiều hoạt động tuyên truyền về cải cách hành chính, đặc biệt là ở một số vùng sâu, vùng xa, hay huyện và xã mới chưa có điều kiện thiết lập bộ phận một cửa, cải cách hành chính hay phổ biến, niêm yết về các thủ tục hành chính ở cơ sở
2.6 Hoạt động tham gia phân tích ngân sách tại địa phương của người dân
Phân tích ngân sách có thể hiểu là người dân tham gia đánh giá việc quản
lý nguồn lực tài chính của địa phương
Trang 19Các nhóm nòng cốt thu thập thông tin
về các nguồn thu và đề nghị cán bộ có
trách nhiệm giải trình việc chi tiêu các
quỹ của địa phương
Hoạt động này vừa là cách thức để người
dân tham gia giám sát nguồn lực vừa là
một hình thức truyền thông rất mới thúc
đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải
trình theo quy định của pháp lệnh dân
chủ cơ sở ở cấp xã Hoạt động này sẽ
được triển khai ở cấp xã và các thông tin
phản hồi sẽ giúp quy trình lập kế hoạch
cũng như các quyết định về tài chính
hợp lý và hiệu quả hơn
Quá trình phân tích ngân sách thường
không dễ được ủng hộ của chính quyền
địa phương, ít nhất khi bắt đầu thực hiện
vì thường tạo ra những vấn đề được coi
là nhạy cảm và đòi hỏi cơ quan quản lý
phải giải trình Việc phân tích ngân sách
có thể cũng tạo ra những tranh luận và
đánh mất lòng tin của người dân nếu có
nhiều vấn đề được phát hiện
Trong khuôn khổ của dự án với tính chất
mang nhiều tính thí điểm, hoạt động này
đang dừng ở mức công khai ngân sách
nhiều hơn là tập trung vào phân tích tính
hợp lý, hiệu quả của ngân sách phân bổ
và chi tiêu Tại các vùng dự án, các nhóm
nòng cốt, với vai trò chủ đạo của Hội
đồng nhân dân, đã có đầy đủ các thông
tin về ngân sách của xã và các báo cáo
quyết toán để công trình bày với người
dân Một trong những kết quả chính đạt
được là yêu cầu bỏ đi một số khoản thu
không hợp lý của cấp xã Kết quả quan
trọng hơn là người dân bắt đầu có thói
quen và nhận thức rõ về quyền yêu cầu
chính quyền công khai ngân sách Ở
và sự tham gia trong từng mô hình Đồng thời qua việc tài liệu hóa các cách thức truyền thông và xây dựng mô hình thông tin cho người dân, chúng tôi cũng nhận xét sự phù hợp, hiệu quả của cách tiếp cận thông tin đó với hy vọng tài liệu có thể hữu ích để viện dẫn cho dự luật về tiếp cận thông tin trong tương lai Để tài liệu hóa
mô hình thông tin và phương thức truyền thông trong khuôn khổ dự án này, chúng tôi đã thực hiện khảo sát và đánh giá mô hình tại một số điểm thí điểm là Lai Châu
và Hà Tĩnh với phương thức thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và quan sát
Mục tiêu của việc tài liệu hóa mô hình thông tin này nhằm chia sẻ phương thức vận hành các mô hình về tiếp cận thông tin tại cơ sở Đồng thời, AAV có thể đề xuất các cách thức để giúp người dân có thể tiếp cận thông tin, như là một minh chứng và kinh nghiệm thực tế cho tính khả thi của các giải pháp đảm bảo quyền tiếp cận thông tin như dự luật tiếp cận thông tin sắp được ban hành
Những vấn đề đưa ra để hiểu về mô hình tiếp cận thông tin của dự án trong khi làm tài liệu này bao gồm:
(a) Nhu cầu thông tin của người dân như thế nào? Những thông tin hiện nay người dân đang mong muốn được biết hoặc tìm hiểu?
Những thông tin mong muốn
có được phổ biến không? So sánh với những thông tin được cung cấp
Trang 20 Nếu có, thì mức độ tiếp cận
thông tin như vậy đã thỏa mãn
được nhu cầu của người dân
hay chưa?
Mức độ cập nhật và thuận tiện
của thông tin được tiếp cận?
Nếu không được tiếp cận thông
tin thì họ sẽ làm gì?
(b) Về loại thông tin: Những loại thông
tin nào thường được phổ biến tại
địa phương: cả chính thức và không
chính thức (hình thức truyền thông
cung cấp thông tin của dự án)
(c) Các khó khăn trong tiếp cận thông
tin ở cộng đồng, nêu lý do tại sao?
Năng lực cán bộ;
Cơ sở vật chất;
Hình thức phổ biến thông tin;
Nhận thức của người dân…)
(d) Các mô hình tiếp cận thông tin của
dự án?
Tính hiệu quả của từng mô hình;
Thuận lợi và khó khăn khi thử
nghiệm các mô hình này tại địa
phương;
Thông tin nhận được từ các
mạng lưới thông tin liệu đã
đúng, đủ và chính xác, nó phụ
thuộc vào trình độ của cán bộ
mạng lưới, nhóm tự quản Cơ
chế làm việc của nhóm tự quản;
Vai trò của cán bộ phụ trách đài phát thanh địa phương, nguồn, tần suất phát thanh, phát thanh trong thời gian bao lâu, quy trình phát thanh
(e) Hình thức cung cấp thông tin của sáng kiến dự án như thế nào?
Quy trình phổ biến thông tin (cả chính thức và không chính thức);
Ai tham gia truyền thông?
Thuận lợi và khó khăn của từng loại hình;
Tính hiệu quả của từng hình thức cung cấp thông tin tại địa phương
(f ) So sánh các mô hình tiếp cận thông tin của dự án với các mô hình tuyên truyền thông tin chính thức đã được vận hành ở địa phương?
(g) Nếu các mô hình có hỗ trợ việc cung cấp thông tin được nhiều hơn thì việc cung cấp thông tin như vậy có giải quyết được tính minh bạch và tính trách nhiệm giải trình hay không?
3.1 Đánh giá của người dân về các hình thức phổ biến thông tin
Chúng tôi đã thực hiện các nhóm thảo luận để người dân đưa ra nhận xét về các hoạt động phổ biến thông tin thông qua kênh của nhà nước và của dự án mà
họ được tham gia hay hưởng lợi dựa trên
3 tiêu chí: tính hiệu quả, tính dễ tiếp cận
và tính cần thiết
Trang 21Bảng1: Đánh giá của người dân về các hình thức tiếp cận thông tin
Kết quả thảo luận nhóm tại xã Ích Lộc, Lộc Hà, Hà Tĩnh
Thang điểm đánh giá từ thấp nhất tới cao nhất : 1- 16 điểm
Hình thức tiếp cận/phổ biến
thông tin
Kênh truyền thông
Hiệu quả (Điểm)
Dễ tiếp cận (Điểm)
Cần thiết (Điểm)
Sách báo (tại kiốt, nhà văn hóa,
Truyền thông qua Tổ liên gia + Nhóm
Văn hóa văn nghệ (Hội thi)/sinh hoạt CLB,
Kết quả thảo luận của người dân (mẫu
ngẫu nhiên như trên) đưa tới những
nhận xét về các hình thức tiếp cận và
phổ biến thông tin qua kênh của nhà
nước và kênh của dự án như sau:
Những hoạt động truyền thông của
dự án có tính đại chúng như: Loa
phóng thanh, Văn hóa văn nghệ/
Cuộc thi tìm hiểu pháp luật và Phân tích ngân sách được đánh giá cao về
cả hiệu quả và sự cần thiết Tuy nhiên, không phải hình thức đại chúng nào người dân cũng có thể dễ tiếp cận Ví
dụ, hoạt động Hội thi còn hạn chế về
số người được trực tiếp tham gia và hiểu sâu về pháp luật và cải cách hành chính Hoạt động truyền thông qua tổ
Trang 22liên gia và nhóm nòng cốt cũng được
đánh giá mức độ tiếp cận thấp vì có
sự hạn chế vào một số nhóm dân và
sự truyền tải thông tin từ các nhóm
này cho những người dân khác chưa
cao Trong khi đó, hình thức truyền
thông của địa phương như phương
tiện truyền thông đại chúng (đài, TV),
trung tâm học tập cộng đồng, họp
dân lại được đánh giá cao vì tính rộng
khắp, hiệu quả và trực tiếp;
Mô hình khác của dự án là kiốt thông
tin và sách báo tại nhà văn hóa được
đánh giá là dễ tiếp cận nhất Nhà nước
chưa thể làm được hình thức này đến
tận thôn bản Tuy nhiên, đánh giá về
tính hiệu quả và sự cần thiết của hình
thức này chưa cao Việc người dân
cho là ít cần thiết thể hiện sự tuyên
truyền về các tác dụng của hình thức này chưa rộng rãi Trong những năm đầu thí điểm, còn ít người dân biết đến hình thức này;
Hình thức niêm yết thông tin tại cộng đồng cũng được cho là dễ tiếp cận Tuy nhiên vì chưa được cả dự án và địa phương thực hiện nhiều nên người dân còn cho rằng hiệu quả và sự cần thiết chưa cao Dự án có thể đầu tư và thúc đẩy việc niêm yết thông tin này nhiều hơn nữa, nhất là ở các địa điểm người dân có thể tới tại cấp thôn bản
vì ở những vùng xa xôi, vùng dân tộc thiểu số, người dân có nhiều hạn chế
để tiếp cận thông tin cơ bản
Quá trình đánh giá đã ghi nhận được ý kiến của một số nhóm dân đối với các hình thức truyền thông riêng của dự án
Bảng 2: Đánh giá của người dân về các hình thức tuyên truyền phổ biến thông tin của dự án
Kết quả thảo luận nhóm tại Can Lộc, Hà Tĩnh
Thang điểm đánh giá từ thấp nhất tới cao nhất: 1- 5 điểm
Hình thức
Nhiều thông tin Kịp thời Phù hợp Cần thiết
Phương tiện thông tin đại
Tiêu chí đánh giá
Trang 23Bảng trên cho thấy, nhìn chung, người
dân thích hình thức họp nhóm và họp
dân nhất vì được trực tiếp trao đổi
Người dân cũng cho rằng hình thức đài
phát thanh và văn bản mà dự án cung
cấp là phù hợp Tuy nhiên các hình thức
này còn chưa nhiều và kịp thời Đây
là hạn chế của dự án với khả năng về
nguồn lực có hạn Hình thức kiốt thông
tin được cho là có thể tiếp cận thông
tin nhanh và nhiều, tuy nhiên người dân
còn cho rằng chưa phù hợp vì hầu như
họ không thể tự tìm kiếm thông tin qua
internet
Các mô hình thông tin của dự án đã có
những tác động tới đời sống của cộng
đồng và sự quản trị địa phương
Một trong các kết quả của dự án là sự
hiểu biết về pháp luật cũng như thủ tục
hành chính của người dân được nâng
cao dẫn đến giảm bớt nhiều đơn thư
khiếu nại của người dân như nhận xét
của cả cán bộ cấp huyện và cấp xã
Nhận xét về tính thay thế và bổ sung của
các mô hình phổ biến thông tin của dự án
so với các hình thức khác của nhà nước
và địa phương đang có, một số cán bộ
địa phương cho rằng làm theo hình thức
như của dự án chỉ có thể làm thí điểm vì
cần nguồn đầu tư lớn ngoài ngân sách
của địa phương Chính quyền khó có thể
làm theo được, hoặc cũng không làm tốt như dự án được vì không có ngân sách
và không đủ cán bộ có năng lực
Người dân đã chủ động hơn và mạnh dạn hơn trong việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin
Ở đâu người dân tiếp cận được
thông tin càng nhiều thì ở đó, hoạt
động của chính quyền tốt hơn
Nếu người dân tiếp cận được chính
sách thì khiếu nại tố cáo giảm
Trần Văn Thắng – PCT UBMTTQ
Huyện Can Lộc Tôi đang làm thủ tục sửa đổi giấy
khai sinh cho con đang học lớp 12, tôi có lên hỏi cán bộ một cửa về thủ tục,… tôi được phổ biến cách làm… nói chung là, tôi không cảm thấy khó khăn gì trong việc
đi hỏi thủ tục này ở trên xã ”
Một phụ nữ dân tộc Lự, bản Pape
xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Trang 24Bảng 3: Đánh giá các mô hình thông tin của người dân tham gia thực hiện dự
án thông qua thảo luận nhóm
Đáp ứng được nhu cầu về
nhiều loại thông tin cho
người dân
Có nhiều loại hình cung
cấp thông tin: báo chí, văn
Người dân còn chưa chủ động trong tiếp cận thông tin
Tăng cường sự tham gia và hợp tác của cán
bộ địa phương trong việc cung cấp và tổng hợp tài liệu (pháp luật, chính sách…)
Tăng cường tập huấn
về các phương pháp tuyên truyền thông tin cho người dân
Tăng cường năng lực cho cán bộ vận hành kiốt thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau
Nâng cao được kỹ năng
quản lý của tổ trưởng,
tham gia tích cực hơn, có
trách nhiệm hơn, hiểu biết
hơn
Truyền tải thông tin trực
tiếp đến người dân
Dân dễ tiếp cận, dễ hiểu
Năng lực của cán bộ
tổ trong điều hành họp, thuyết phục vẫn còn nhiều hạn chếCông tác tổ chức chưa tốt
Hoạt động sinh hoạt tổ liên gia chưa thường xuyên
Ý thức của người dân tham gia chưa đồng đều
Số lượng tổ còn ít, chưa lan tỏa vì chưa vận động hết
Khuyến khích mở rộng phạm vi và số lượng của tổ liên giaThêm tài liệu, thông tin để giúp cho hoạt động cung cấp thông tin của tổ liên gia được hiệu quả hơn
Kinh phí hoạt độngTập huấn kỹ năng truyền thông cho cán
bộ Tổ liên gia & nhóm nòng cốt
3.2 Đánh giá của người dân trực
tiếp tham gia thực hiện các mô hình
thông tin của dự án
Dưới đây là những đánh giá của người dân tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện các hoạt động truyền thông do dự
án đề xuất
Trang 25Mô hình
Loa phóng
thanh Nhanh, rộng, mọi đối tượng
Cung cấp thông tin về
Bổ sung loaQuy định thời gian phát thanh phù hợp hơn
Phát nhiều lần, nội dung rõ ràng, đầy đủ
Hấp dẫn, lôi kéo nhiều đối
tượng tham gia
Hiệu quả tuyên truyền tốt,
nâng cao ý thức người dân
Đi sát nội dung tuyên
Thêm kinh phí cho văn hóa văn nghệ, tổ chức các cuộc thi
Tập huấn cho đối tượng có năng khiếu,
bổ sung kiến thức
Trung tâm
học tập
cộng đồng
Mọi đối tượng đều có thể
tham gia (lịch được thông
báo bằng loa, văn bản,
điện thoại đến tận người
dân trong từng xóm)
Nâng cao kiến thức cho
người dân, nội dung đa
dạng: KHKT, văn hóa,
KHHGĐ, pháp luật, bạo lực
gia đình, tệ nạn xã hội…
Trình độ chuyên nghiệp của cán bộ (giảng viên) của trung tâm chưa cao Khó khăn về phối hợp với các ngành liên quan khác
Tổ chức chưa thường xuyên / không có lịch
cụ thể
Sự tiếp thu của người học còn hạn chế, không đồng đều
Cán bộ cần được tập huấn về lĩnh vực muốn tuyên truyềnCán bộ phải có trách nhiệm cao
Cần có tài liệu kịp thờiCán bộ chuyên trách phối hợp với cán bộ
TT & bộ ban ngành theo ngành dọc Cần có phương tiện cần thiết (máy chiếu…)
Hướng tới xây dựng bản tin của TTHTCĐ
Trang 26Người dân được trực tiếp
tham gia đánh giá, góp ý
Nhận được phản hồi
từ kết quả đánh giá của người dân
Tổ chức thường xuyên hơn
Phân tích
ngân sách Được sự quan tâm của lãnh đạo chính quyền địa
phương
Chủ trương sát với nhu cầu
của người dân
Tiếp tục tập huấn nâng cao kỹ năng cho cán bộ
Tăng cường thời gian tuyên truyền đến cho người dân
dân có thời gian tập trung
cho chuyên môn nhiều
hơn
Các điều khoản của luật thay đổi quá nhanh, khiến cho việc tiếp cận của người dân gặp nhiều khó khăn, cán bộ phụ trách cũng mất nhiều thời gian nghiên cứu và giải thích cho người dân
Hiện nay theo phân cấp quản lý, công việc quá nhiều nên có phần ảnh hưởng đến công tác chuyên môn
Tăng cường công tác tập huấn cho cán bộ
để công tác tuyên truyền và thực thi các cải cách hành chính đạt hiệu quả cao hơnTăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức (các phương tiện thông tin đại chúng, văn bản, tờ rơi…) cho người dân
để các điều khoản của luật được cập nhật kịp thời và chính xác
Trang 27Người dân chưa quen với mô thức này
Cần tuyên truyền nhiều hơnCần bổ sung thêm nhiều thông tin cần thiết khác
Bổ sung các dịch vụ trực tuyến phù hợp
3.3 Đánh giá từng mô hình truyền
thông do dự án đề xuất và thực hiện
MÔ HÌNH 1 – KIỐT THÔNG TIN
Dự án xây dựng các kiốt thông tin với các
thiết bị công nghệ thông tin cho phát
triển (ICT4D) giúp thúc đẩy việc chia sẻ
và cung cấp thông tin cho những người
cần các thông tin cơ bản Các kiốt thông
tin thường được đặt tại Trung tâm học
tập cộng đồng của các xã dự án Các kiốt
thông tin với các thiết bị ICT4D giúp cho
việc truy cập vào các trang web điện tử
và sự hỗ trợ của các cán bộ quản lý kiốt
đã qua đào tạo đã khuyến khích người
dân tiếp cận thông tin một cách hoàn
toàn miễn phí vào tất cả các ngày trong
tuần từ thứ 2 đến thứ 7, từ 7h30 đến
17h30
Hình thức tiếp cận thông tin mới này
được đánh giá là khá hiệu quả đáp ứng
nhu cầu thông tin của người dân Đặc
biệt, cán bộ quản lý kiốt thông tin kết
hợp chặt chẽ với mạng lưới tình nguyện
viên của nhóm tự quản trong việc tổ chức
các buổi họp thôn bản lấy ý kiến và thu
thập nhu cầu thông tin của người dân
đã tạo ra một mô hình tiếp cận thông tin
hai chiều khá phù hợp và hiệu quả cho các nhóm yếu thế như đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người có trình
độ học vấn thấp, tiếp cận những thông tin họ đang thực sự cần Hình thức cũng được coi như cầu nối giữa những cán bộ lãnh đạo, quản lý của chính quyền với những nhóm yếu thế, giúp họ xóa đi sự
e dè, mặc cảm khi tiếp cận và khai thác những thông tin liên quan đến cơ quan công quyền và những thông tin về thủ tục hành chính công Với sự hỗ trợ của cán bộ quản lý kiốt, những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số, những người không biết chữ vẫn có thể tiếp cận và khai thác thông tin ở kiốt thông tin Hiểu biết về pháp luật cũng như thủ tục hành chính của người dân được nâng cao dẫn đến giảm bớt nhiều đơn thư khiếu nại Một trong những kết quả nổi bật nữa của mô hình tiếp cận thông tin mới này
là việc từng bước xóa đi sự thụ động trong tiếp cận thông tin của người dân địa phương, đặc biệt là ở địa bàn các xã vùng cao, vùng dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, mô hình thông tin này có được duy trì và hoạt động hiệu quả hay không còn phụ thuộc nhiều vào trình độ
Trang 28hiểu biết, sự năng động và kỹ năng khai
thác thông tin, đặc biệt là thông tin từ
internet của cán bộ điều hành kiốt, và
phụ thuộc vào mức độ cập nhật cũng
như mức độ đa dạng của các tài liệu tại
kiốt, đặc biệt là tài liệu liên quan đến các
quy phạm pháp luật, các chế độ chính
sách của Nhà nước Ngoài ra, ở một số
nơi có địa bàn rộng như Lai Châu, vị trí
của kiốt thông tin ở trung tâm xã đã hạn
chế sự tiếp cận của một số nhóm dân
như nhóm phụ nữ hoặc nhóm người
cao tuổi
Đánh giá của người dân:
Theo đánh giá của cán bộ thôn bản
cũng như các bộ UBND xã thì kiốt thông
tin có thể “hỗ trợ được nhiều việc” trong
việc cung cấp thông tin cho người dân
ở nhiều hình thức đa dạng khác nhau:
thông qua sách báo tạp chí, văn bản, internet hoặc thông qua các phương tiện nghe nhìn sinh động như các đĩa VCD hướng dẫn cách làm kinh tế
Kiốt thông tin cũng rất hữu ích cho các cán bộ thôn bản trong việc trả lời các câu hỏi thắc mắc của người dân ở địa phương Cán bộ thôn bản như là một đầu mối quan trọng trong mạng lưới tiếp cận thông tin của người dân với kiốt thông tin, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng dân tộc thiểu số
“Chúng tôi đi mượn các băng đĩa
ở trên kiốt thông tin về các điểm bản chiếu cho bà con xem… hình thức này rất hữu ích vì ở đây đa
số là đồng bào dân tộc thiểu số
ít biết đọc biết viết, xem bằng hình ảnh thế này rất dễ dàng cho người dân, họ có thể nhìn trực tiếp cách làm thế nào,… dễ hiểu
và phù hợp”
Trưởng bản Nậm Thàng, xã Bản Bo, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
“Đồng bào ở đây có vấn đề gì thắc mắc thì hay hỏi trưởng bản, nhưng không phải cái gì trưởng bản cũng biết được nên tôi đến kiốt thông tin để có hiểu biết thêm Nếu cái gì không rõ thì hỏi cán bộ kiốt nhờ tìm hộ”
Trích thảo luận nhóm, nhóm cán bộ
xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu