DANH MỤC BẢNG sát 33 Bảng 3.11 Tính sẵn có trung bình của thuốc ở từng vùng khảo sát khu vực tư nhân 36 Bảng 3.14 Trung vị MPRs của tất cả các thuốc được tìm thấy ở khu vực công Bảng 3.1
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
KHẢO SÁT TÍNH SẴN CÓ VÀ GIÁ THUỐC THIẾT YẾU CHO TRẺ EM TẠI TỈNH BẮC NINH NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐINH XUÂN ĐẠI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS Nguyễn
Thị Thanh Hương - phó trưởng Bộ môn Quản lý và kinh tế dược, người đã
dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn anh Đồng Duy Trường - hiệu phó trường
Cao đẳng y tế Bắc Ninh; cán bộ, nhân viên phòng Nghiệp vụ dược - Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên của các bệnh viện, các trạm y tế xã; quản lý và nhân viên các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới chị Kiều Thị Tuyết Mai và các thầy cô trong
Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Dược Hà
Nội đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến
thức bổ ích trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, ông bà và người thân
trong gia đình tôi đã nuôi dạy tôi trưởng thành, luôn nâng đỡ và cho tôi nhiều bài học quý giá trong cuộc sống
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn Lê Bá Nam, bạn Trần Thị
Ngọc Mai, bạn Trần Hải Đăng, bạn Phan Thị Hường và tất cả bạn bè của tôi
đã luôn sát cánh bên tôi, luôn động viên và giúp đỡ tôi cả trong học tập và trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đinh Xuân Đại
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính
sách quốc gia về thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ
em của WHO ……… …… ………….… …… …… 3
1.1.1 Khái niệm thuốc thiết yếu ……… … …… … 3
1.1.2 Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu trên thế giới và ở Việt Nam ……… …… … 3
1.1.2.1 Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ……… … 3
1.1.2.2 Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở một số nước trên thế giới……… …… 4
1.1.2.3 Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam ………….…….…… 5
1.1.2.4 Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ……… ………… 6
1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành ………… 7
1.2 Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam trong những năm qua ……… 9
1.2.1 Kết quả đạt được và những tiến bộ về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam ……… 9
1.2.1.1 Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại Việt Nam ……….….….… 9
1.2.1.2 Về giá thuốc tại Việt Nam ……… …….…….……… 10
1.2.2 Các khó khăn và thách thức ……… 11
1.2.2.1 Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu ……… 11
1.2.2.2 Về giá thuốc ……… 11
1.3 Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở một số khu vực, quốc gia trên thế giới ……….……… 13
1.3.1 Tính sẵn có của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Ấn Độ ……… 13
Trang 51.3.2 Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Guatelama ……… 15
1.3.3 Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Thiểm Tây, Trung Quốc ……… 17
1.4 Sơ lược về tỉnh Bắc Ninh ……… 18
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ….……… 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 20
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ……… 20
2.2 Danh mục các thuốc được khảo sát ……… 20
2.2.1 Các thuốc cốt lõi được khuyến cáo ……… 20
2.2.2 Một số thuốc khảo sát bổ sung cho tỉnh Bắc Ninh ……… 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu ……….……… 23
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu ……… 23
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu ……… 23
2.3.3 Tiến trình thu thập dữ liệu ……… … 25
2.4 Các thông số để đánh giá tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em …… ……… 26
2.4.1 Phần trăm tính sẵn có của thuốc ……… 26
2.4.2 Tỷ lệ giá trung vị MPR (Median Price Ratio) ………… ……… 27
2.4.3 Tứ phân vị và khoảng tứ phân vị ……… 28
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29 3.1 Tính sẵn có của các thuốc khảo sát ……… 29
3.1.1 Tính sẵn có của từng loại thuốc trong các cơ sở khảo sát ……… 29
3.1.2 Tính sẵn có trung bình của các thuốc ở từng khu vực khảo sát …… 33
3.1.3 Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ 6 (EML) ……… 34
3.1.4 Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần thứ 4 của WHO (EMLc) ……… 34
3.1.5 Tính sẵn có trung bình của năm thuốc khảo sát bổ sung ……… 35
Trang 63.1.6 Tính sẵn có trung bình của các thuốc ở từng vùng khảo sát ……… 36
3.2.1 Tỷ lệ giá trung vị của từng thuốc ở khu vực công lập và khu vực tư
3.2.3 So sánh giá bệnh nhân chi trả ở khu vực công lập với khu vực tư
3.2.4 So sánh thuốc giá cao nhất và thuốc giá thấp nhất qua trung vị MPRs
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BMC Better Medicines for Children Thuốc tốt hơn cho trẻ em
EML Essential Medicines List Danh mục thuốc thiết yếu
EMLc Essential Medicines List for
Children
Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em
HAI Health Action International Y tế hành động quốc tế
IDPIG International Drug Price Indicator
MSH Management Sciences for Health Khoa học quản lý về Y tế
Trang 8for Refugees
Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn
USD United States Dollar Đô la Mĩ
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
Children
Công thức thuốc cho trẻ em của
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
sát
33
Bảng 3.11 Tính sẵn có trung bình của thuốc ở từng vùng khảo sát (khu vực tư
nhân)
36
Bảng 3.14 Trung vị MPRs của tất cả các thuốc được tìm thấy ở khu vực công
Bảng 3.16 Trung vị MPRs của các thuốc được tìm thấy đồng thời ở cả hai khu
vực công lập và khu vực tư nhân
42
Bảng 3.17 So sánh nhóm thuốc giá cao nhất và nhóm thuốc giá thấp nhất:
Trung vị MPRs của các thuốc được tìm thấy ở cả hai nhóm sản phẩm
43
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
công lập và khu vực tư nhân (nhóm thuốc giá thấp nhất)
37
hô hấp ở khu vực công lập và khu vực tư nhân (nhóm thuốc giá thấp nhất)
38
thấp nhất được tìm thấy ở cả khu vực công lập và khu vực tư nhân
44
Ninh và Thiểm Tây khu vực công lập
53
Ninh và Thiểm Tây khu vực tư nhân
54
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, năm 2012 có khoảng 6,6 triệu trẻ
em dưới 5 tuổi tử vong Trong đó có trên 70% trường hợp trẻ tử vong xảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Á [60] Các nguyên nhân tử vong hàng đầu là viêm phổi, biến chứng sinh non, ngạt sinh, tiêu chảy và sốt rét Hơn một nửa số trường hợp trẻ em chết sớm là do những bệnh mà có thể được phòng ngừa hoặc chỉ cần điều trị đơn giản [38] Tình trạng thiếu thuốc dành cho nhi khoa hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Thậm chí ngay cả khi thuốc sẵn có thì bệnh nhân hoặc người nhà có thể không có khả năng chi trả [28] Nhiều trẻ em không được tiếp cận với những điều trị cần thiết vì không tồn tại dạng chế phẩm thuốc phù hợp, vì thuốc không sẵn có hoặc giá quá đắt [27]
Việt Nam tuy đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cho nhân dân nhưng vẫn còn một số khó khăn, thách thức Một trong những khó khăn hàng đầu đó là còn tồn tại một lượng lớn trẻ em tử vong hàng năm Năm 2010, tỷ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi là 15,8‰, tỷ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi là 25‰ Hàng năm nước ta vẫn có tới 31.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong trong đó có khoảng 16.000 trẻ sơ sinh Nhiễm khuẩn hô hấp dưới (viêm phổi) là nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật ở trẻ em, chiếm 11% tổng gánh nặng bệnh tật [15]
Trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm trong vấn đề sử dụng thuốc
vì nhiều cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện đầy đủ Có nhiều khác biệt cả về dược động học lẫn dược lực học của thuốc ở trẻ so với người lớn [4] Tại nhiều nơi trên thế giới, có không ít loại thuốc được kê đơn cho bệnh nhi mà không theo hướng dẫn chính thức nào cả, nghĩa là ảnh hưởng của chúng đối với trẻ chưa từng được nghiên cứu và phê chuẩn [38] Thuốc được sản xuất riêng cho trẻ em hiện còn rất hạn chế nên các bác sĩ và nhiều phụ huynh thường có thói quen giảm liều dành cho người lớn xuống bằng cách bẻ nhỏ viên thuốc để cho bệnh nhi dùng Nhưng trẻ em không phải là “người lớn thu nhỏ” nên cơ thể có thể có các phản ứng khác, dẫn đến quá liều, gây ra các tác dụng phụ hoặc chưa đủ liều khiến việc điều trị thất bại [43]
Trang 12Với sự phát triển ồ ạt của ngành Dược trong giai đoạn hiện nay làm cho số chế phẩm thuốc xuất hiện ngày càng nhiều Tính đến tháng 7 năm 2013, có 15.799 loại thuốc trong nước và 12.860 thuốc nước ngoài được cấp số đăng ký [47] Trên thị trường còn có nhiều loại thuốc giả, thuốc kém chất lượng, không rõ nguồn gốc lưu hành làm cho lượng thuốc lưu hành trên thị trường trong nước còn lớn hơn nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lý [16] Một số biện pháp bình ổn giá thuốc
đã được thực hiện trong những năm qua nhưng việc kiểm soát giá thuốc trên thị trường Việt Nam vẫn còn là 1 thách thức lớn Đấu thầu thuốc chưa có hiệu quả trong việc giảm giá thuốc ở bệnh viện Giá thuốc ở Việt Nam vẫn còn cao hơn giá tham khảo quốc tế kể cả thuốc biệt dược lẫn thuốc gốc [7], [15]
Thu thập các bằng chứng về tính sẵn có và giá thuốc là bước đầu tiên trong việc cải thiện khả năng tiếp cận các điều trị với giá cả phải chăng Tháng 5 năm
2003, Tổ chức Y tế thế giới hợp tác với Y tế hành động quốc tế phát triển một phương pháp tiêu chuẩn để khảo sát giá thuốc, tính sẵn có, khả năng chi trả và thành phần giá [41] Kể từ đó, việc tiếp cận thuốc thiết yếu đã được nghiên cứu rộng rãi bằng cách sử dụng phương pháp WHO/HAI Tuy nhiên mới chỉ có một số ít các nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới đo lường tính sẵn có và giá thuốc cho trẻ em
và Việt Nam không nằm trong số các quốc gia đó Với một số lượng còn nghèo nàn các nghiên cứu về tính sẵn có và giá thuốc dành cho trẻ em trên thế giới, chúng tôi
tiến hành đề tài “Khảo sát tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm 2014” theo phương pháp tiêu chuẩn của WHO/HAI với 2 mục tiêu:
- Mô tả thực trạng về tính sẵn có của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm 2014
- Phân tích giá của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm
2014
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích ngày càng nâng cao công tác đảm bảo chất lượng chăm sóc và điều trị cho trẻ
Trang 13Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO
1.1.1 Khái niệm thuốc thiết yếu
Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đại đa số nhân dân, được quy định tại danh mục thuốc thiết yếu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [11]
Các thuốc thiết yếu được lựa chọn phải đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) có hiệu lực phòng và chữa bệnh cao; (2) an toàn trong điều trị; (3) giá thành điều trị hợp lý; (4) có dạng bào chế (dạng chế phẩm, nồng độ, hàm lượng) dễ sử dụng; (5) phù hợp với trình độ chuyên môn của nhân viên y tế; (6) phù hợp với các phương tiện, trang thiết bị để sử dụng, bảo quản tại các tuyến y tế; (7) có sự ưu tiên nhất định cho các thuốc sản xuất trong nước [1]
1.1.2 Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO
Năm 1975, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra quan niệm về thuốc thiết yếu và khuyến nghị các quốc gia xây dựng một đường lối, chính sách về thuốc từ nghiên cứu, sản xuất cho đến phân phối sao cho phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, luôn sẵn có các thuốc với chất lượng đảm bảo, dạng dùng phù hợp và giá cả hợp lý Nhóm ủy ban chuyên gia của WHO về lựa chọn và sử dụng thuốc thiết yếu gặp nhau 2 năm một lần để xem xét các bằng chứng khoa học mới
nhất về hiệu quả, tính an toàn và chi phí của các loại thuốc [61] Cho đến nay, Danh
mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO đã qua 17 lần thay đổi [62] Danh mục thuốc thiết yếu mẫu lần thứ 18 được lựa chọn với sự hỗ trợ của nhóm ủy ban cố vấn trong
Trang 14hội nghị từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 4 năm 2013 tại Geneva, Thụy Sĩ với sự tham gia của 11 thành viên ủy ban và 5 cố vấn tạm thời [39]
Danh sách thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành có vai trò như là một
hướng dẫn cho tất cả các nước trên thế giới phát triển Danh mục thuốc thiết yếu
quốc gia Các thuốc nằm trong danh mục được lựa chọn dựa trên tỷ lệ nhiễm bệnh,
các bằng chứng về tính hiệu quả, tính an toàn và so sánh hiệu quả chi phí của thuốc Danh mục các thuốc thiết yếu không những có thể giúp cải thiện tính sẵn có và khả năng sử dụng thuốc hợp lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe mà còn giúp hướng dẫn việc mua sắm, cung ứng thuốc trong khu vực công, hướng dẫn các đề án hoàn trả chi phí y tế, đóng góp y học và sản xuất thuốc trong nước [64]
Tuy không được thiết kế như là một tiêu chuẩn toàn cầu nhưng trong hơn 30
năm qua, Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành đã nhận được sự chấp
thuận toàn cầu về khái niệm thuốc thiết yếu như là một công cụ hiệu quả để thúc
đẩy bình đẳng y tế [64] Hầu hết các nước trên thế giới đều có Danh mục thuốc thiết
yếu quốc gia, thậm chí một số quốc gia còn có danh mục riêng cho các tiểu bang
hoặc các tỉnh [65] Nhiều tổ chức quốc tế bao gồm UNICEF, UNHCR, UNFPA cũng như các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan cung ứng phi lợi nhuận quốc tế khác cũng đã áp dụng khái niệm thuốc thiết yếu và hệ thống cung ứng thuốc của họ
dựa vào Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành [66]
1.1.2.2 Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở một số nước trên thế giới
Tại Trung Quốc, trong năm 2009, chính phủ đã xác định chính sách về thuốc thiết yếu là một trong năm lĩnh vực ưu tiên cho cải cách hệ thống y tế Kể từ đó, một chính sách thuốc thiết yếu quốc gia đã được ban hành cùng với các kế hoạch để thực hiện [47] Nhiều chính sách y tế được ban hành nhằm tiêu chuẩn hóa việc kê đơn và ưu tiên sử dụng thuốc thiết yếu; giảm giá thuốc thiết yếu và đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc thiết yếu đạt chất lượng cho toàn dân; đảm bảo cung ứng các loại thuốc an toàn và cần thiết cho điều trị các bệnh nhi khoa; đẩy mạnh các hoạt động
Trang 15quản lý về thuốc Danh mục thuốc thiết yếu mới nhất của Trung Quốc được ban
hành trong năm 2013 đã đáp ứng các nhu cầu điều trị lâm sàng cơ bản, giúp đảm bảo tính sẵn có của thuốc, điều chỉnh dịch vụ y tế, giảm chi phí điều trị, có lợi cho công tác tiêu chuẩn hóa quá trình đấu thầu và thu mua thuốc Trong danh mục này
có 520 thuốc thiết yếu mới được thiết lập riêng cho trẻ em [57], [67] Ngoài ra ở Trung Quốc, mỗi tỉnh còn có thể lựa chọn các thuốc bổ sung để lập nên một danh mục thuốc riêng cho tỉnh mình và đã có nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả trong việc lựa chọn các thuốc bổ sung ở mỗi tỉnh này [29]
Tanzania là nước đầu tiên ban hành Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia vào
năm 1970, trước cả danh mục mẫu do WHO ban hành [21] Hiện nay, Tanzania có nhiều chính sách nhằm đảm bảo tất cả mọi người được tiếp cận với thuốc thiết yếu
mà họ cần và có khả năng chi trả; đảm bảo các thuốc an toàn, hiệu quả và có chất lượng tốt; các thuốc được kê đơn, phân phối và sử dụng hợp lý [63] Tại nhiều quốc gia như Phillipin, Malawi… cũng có những chính sách nhằm lựa chọn và cung ứng thuốc thiết yếu với giá cả hợp lý, chất lượng phù hợp và xem việc xây dựng chính sách thuốc thiết yếu là một trong những nội dung cơ bản của chính sách thuốc quốc gia [1]
1.1.2.3 Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam
Năm 1985, Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ I Danh
mục này sau đó đã được cập nhật, điều chỉnh và ban hành vào các năm 1989, 1995,
1999 và 2005 [7] Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ VI đang dần được hoàn thiện, trong đó Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ VI đã được ban hành vào tháng
12 năm 2013 [6] Danh mục này được lựa chọn trên nguyên tắc kế thừa Danh mục
thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V [2] đồng thời tham khảo Danh mục thuốc thiết yếu mẫu lần thứ 18 của WHO và các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế; phù hợp với
các chính sách, pháp luật về dược, thực tế sử dụng và khả năng bảo đảm cung ứng thuốc của Việt Nam Tiêu chí lựa chọn thuốc bao gồm: (1) bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng; (2) sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp
Trang 16với điều kiện bảo quản, cung ứng và sử dụng; (3) phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; (4) giá cả hợp lý; (5) đa số là đơn chất, nếu là đa chất phải chứng minh được sự kết hợp đó có lợi hơn so với khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn; trường hợp có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá đầy đủ về hiệu lực, độ an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng [6] Số lượng thuốc cũng như dạng đóng gói đều thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào mô hình bệnh tật cũng như điều kiện kinh tế xã hội của thời điểm ban hành danh mục Các thuốc được lựa chọn là những thuốc generic sẵn có, có hiệu lực cao, ít tác dụng phụ, ít độc và rẻ tiền [7]
Bên cạnh Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, tháng 7 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các sơ sở khám bệnh, chữa
bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán làm nền tảng cho các cơ sở khám chữa
bệnh lựa chọn thuốc, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng bệnh nhân có thẻ bảo hiểm Danh mục này không những góp phần giúp đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh mà còn đảm bảo quyền lợi cho các bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế, phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm [5]
1.1.2.4 Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu
Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở Việt Nam với mục tiêu chung là: (1) Nhà nước đảm bảo bằng chính sách, cơ chế và biện pháp cung cấp thuốc thiết yếu cho công tác phòng chữa bệnh cho nhân dân trong toàn quốc; (2) Bộ Y tế xây dựng và phổ biến danh mục quốc gia về thuốc thiết yếu và triển khai việc sản xuất, cung ứng thuốc thiết yếu đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong từng thời kỳ [1] Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu bao gồm 10 nội dung chính: (1) lựa chọn TTY và ban hành danh mục TTY; (2) danh pháp TTY; (3) sản xuất TTY; (4) cung ứng TTY; (5) kê đơn, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý TTY; (6) chất lượng TTY; (7) thông tin về TTY; (8) đào tạo nhân viên y tế; (9) hợp tác
Trang 17trong nước và hợp tác quốc tế; (10) các điều khoản đảm bảo cho việc thi hành chính sách Mười nội dung trên đều có các mục tiêu và chính sách cụ thể riêng cho từng nội dung Bên cạnh đó còn có các chính sách cung ứng thuốc dự trữ phòng chống dịch bệnh, thiên tai; cung ứng thuốc cho các đối tượng chính sách xã hội; chính sách thuốc cho phòng và điều trị các bệnh xã hội và y tế công cộng; chính sách thuốc cho bảo hiểm y tế [1]
1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành
Năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới kỷ niệm 30 năm ngày ban hành Danh mục
thuốc thiết yếu Nhìn lại tiến độ thực hiện trong những năm đã qua cho thấy có một
nhu cầu cần thiết của nhiều loại thuốc được phát triển và thử nghiệm đặc biệt để sử
dụng cho trẻ em Tháng 10 năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra chiến dịch “Tạo
cỡ thuốc cho trẻ em” nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề này giữa các nhà ban
hành chính sách, các nhà sản xuất dược phẩm, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và cộng đồng [58] Cũng trong năm 2007, Hội đồng Y tế Thế
giới đã thông qua một Nghị quyết có tiêu đề “Thuốc tốt hơn cho trẻ em” Nghị
quyết này công nhận sự cần thiết phải nghiên cứu và phát triển các thuốc chữa bệnh cho trẻ em bao gồm các dạng bào chế tốt hơn, các bằng chứng và các thông tin tốt hơn về cách sử dụng thuốc để đảm bảo rằng các loại thuốc dùng để điều trị các bệnh thông thường ở trẻ được đưa ra đúng liều cho trẻ ở mọi lứa tuổi [35]
Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần đầu tiên được Tổ chức Y tế thế giới
ban hành vào năm 2007 đã xác định ra các loại thuốc nên có sẵn để sử dụng cho đối tượng là trẻ em từ 0 đến 12 tuổi Lần đầu tiên những người có chuyên môn y học được tiếp cận với thông tin chuẩn về liều lượng, đường dùng, tác dụng phụ, chống chỉ định của các thuốc sử dụng cho trẻ [58]
Đến nay, Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành đã qua
bốn lần thay đổi: lần thứ nhất ban hành danh mục vào tháng 10 năm 2007 [32], lần thứ 2 vào tháng 3 năm 2009 [34], lần thứ 3 vào tháng 3 năm 2011 [37] và lần thứ 4
Trang 18vào tháng 4 năm 2013 [40] Các thuốc trong danh mục được sắp xếp theo các nhóm tác dụng dược lý và được chia thành 2 cột: cột thứ nhất là tên của các hoạt chất, cột thứ 2 mô tả dạng bào chế, đường sử dụng, liều lượng, các chú ý khi sử dụng của từng thuốc và các thuốc này được sử dụng cho trẻ sơ sinh đến trẻ 12 tuổi [40]
Trẻ em là đối tượng dùng thuốc cần được đặc biệt quan tâm do cơ thể trẻ có những khác biệt với người lớn Nhiều cơ quan trong cơ thể trẻ còn chưa hoàn thiện
về mặt chức năng do đó các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ thuốc
có rất nhiều điểm khác biệt so với lứa tuổi trưởng thành [52] Việc sử dụng thuốc hợp lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là một thách thức lớn cho những người kê đơn Sự khác biệt về sinh lý giữa trẻ em và người lớn bao gồm sự phát triển của các cơ quan
và thành phần cơ thể có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, hiệu quả và tính an toàn của thuốc Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu về dược động học và dược lực học của thuốc trên đối tượng là trẻ em được cung cấp khá ít, nếu có thì các thông tin về hoạt động của thuốc thường chỉ được hướng dẫn cho người lớn [4]
“Công thức thuốc cho trẻ em của WHO” (WMFc) [35] là một tài liệu được
Tổ chức Y tế thế giới xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em
WMFc cung cấp các hướng dẫn kê đơn, là một phần trong một loạt các hoạt động
của Tổ chức Y tế thế giới đã được thực hiện, một phần của chiến dịch “Tạo cỡ
thuốc cho trẻ em” và “Thuốc tốt hơn cho trẻ em” [58] Việc ban hành WMFc góp
phần giúp cải thiện khả năng tiếp cận các loại thuốc an toàn, hiệu quả và chất lượng tốt cho trẻ bằng cách thúc đẩy nhận thức và các hoạt động thông qua việc nghiên cứu, các biện pháp quản lý và các thay đổi trong các chính sách của chính phủ
Khảo sát về tính sẵn có và giá của thuốc thiết yếu cho trẻ em được thực hiện theo phương pháp tiêu chuẩn được hướng dẫn và phát triển bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hợp tác với Y tế hành động quốc tế (HAI), là một phần trong chương
trình “Thuốc tốt hơn cho trẻ em (BMC)” Phương pháp khảo sát tiêu chuẩn WHO/HAI được mô tả cụ thể trong cuốn “Đo lường giá thuốc, tính sẵn có, khả
năng chi trả và thành phần giá (WHO/HAI, 2008)” và có thể truy cập trang web của
Trang 19HAI để tham khảo [41] Phương pháp này đã được sử dụng để tiến hành khảo sát và nghiên cứu các thuốc thiết yếu cho trẻ em ở một số nước trên thế giới như ở 14 quốc gia của châu Phi năm 2007 [33], Sri Lanka năm 2011 [26], Guatelama năm
2012 [17], tỉnh Thiểm Tây - Trung Quốc năm 2013 [31]…
1.2 Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam trong những năm qua
Tại Việt Nam trong những năm qua, về cơ bản hệ thống y tế đã đáp ứng được nhu cầu thuốc thiết yếu và vắc-xin cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân Các cơ sở y tế đều bảo đảm có đủ thuốc phù hợp với phân tuyến kỹ thuật, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc ở cộng đồng [7] Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người dân được tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng ngày càng tốt hơn thông qua các chương trình nâng cấp hệ thống y tế, mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm y tế và tăng nguồn ngân sách Nhà nước cho y tế Tuy nhiên, cũng như các quốc gia đang phát triển khác, để thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, Việt Nam còn phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức Sau đây là một số thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu được cung cấp trong báo cáo JAHR năm 2013 [7]
1.2.1 Kết quả đạt được và những tiến bộ về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam
1.2.1.1 Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại Việt Nam
Tại các bệnh viện, việc đấu thầu cung ứng thuốc được tổ chức thực hiện thường xuyên để bảo đảm đủ thuốc cho khám chữa bệnh Nghiên cứu đánh giá thực hiện chính sách quốc gia về thuốc năm 2005 cho thấy hầu hết các loại thuốc thiết yếu đều có sẵn tại các cơ sở y tế các tuyến Trong số 35 loại thuốc thiết yếu trong danh mục được lựa chọn để khảo sát, số thuốc trung bình có sẵn tại các quầy thuốc
là 26,0 (đạt 74,3%); TYT là 22,4 (đạt 64,0%); quầy thuốc bệnh viện là 26,6 (đạt 76,0%) và ở các nhà thuốc tư là 28,5 (đạt 81,4%) [7]
Trang 20Theo kết quả khảo sát năm 2010 với 30 thuốc được lựa chọn, tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại cơ sở y tế công lập là 55,9%; nhà thuốc bệnh viện là 56,4% và nhà thuốc tư nhân là 55,3% Tính sẵn có của thuốc thiết yếu giảm dần từ bệnh viện tuyến trung ương (71,7%); bệnh viện tỉnh, thành phố (68,1%) đến bệnh viện huyện (58,8%) và thấp nhất ở TYT xã (28,3%) [16]
Tỷ lệ các hộ gia đình có thuốc trong nhà khá cao Một nghiên cứu cho thấy tỷ
lệ này là hơn 70% trong đó có những thuốc còn lại từ lần điều trị trước và có cả những thuốc tích trữ có chủ đích để dùng khi ốm đau Hộ gia đình có mức thu nhập càng cao, tỷ lệ số thuốc dự trữ càng cao [13]
1.2.1.2 Về giá thuốc tại Việt Nam
Giá thuốc phù hợp với khả năng chi trả là một yếu tố quan trọng trong khung tiếp cận thuốc của WHO [41] Ở Việt Nam, theo Luật Dược năm 2005, các cơ sở sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn thuốc được tự định giá thuốc trên cơ sở cạnh tranh của thị trường; đồng thời chịu sự quản lý bình ổn giá thuốc của Nhà nước Giá thuốc thanh toán BHYT trong các bệnh viện công lập được kiểm soát chủ yếu thông qua cơ chế đấu thầu Kê khai, công bố thông tin về giá nhằm cải thiện tính minh bạch là một trong những cơ chế chính của Việt Nam nhằm ổn định giá thuốc [11]
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy sau một thời gian tăng cao, chỉ số tăng giá nhóm hàng dược phẩm những gần đây đã từng bước được kiềm chế Trong nhiều năm trở lại đây, mức tăng giá của nhóm hàng dược phẩm luôn thấp hơn mức tăng giá hàng tiêu dùng nói chung Năm 2012, hàng dược phẩm tăng giá 5,27% trong khi giá hàng tiêu dùng nói chung tăng 6,81% [7] Không như đối với thuốc gốc, giá thuốc generic ở Việt Nam không cao hơn nhiều so với mức trung bình trên thế giới Một khảo sát năm 2012 trên 36 mặt hàng thuốc có cùng tên thương mại, cùng hoạt chất, cùng nồng độ và hàm lượng cho thấy 25 mặt hàng thuốc ở Thái Lan
và 23 mặt hàng thuốc ở Trung Quốc có giá trúng thầu cao hơn ở Việt Nam từ 1,03
Trang 21lần đến 6,64 lần [9] Nhìn chung, người dân Việt Nam khi đau ốm có thể chi trả được tiền thuốc đối với thuốc generic [16]
Chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi cho y tế nói chung và chi tiêu của các bệnh viện nói riêng BHYT đóng vai trò quan trọng trong cung cấp tài chính cho thuốc với khoảng 70% chi phí dành cho việc chi trả tiền thuốc Tỷ lệ người có BHYT tăng là một điều kiện quan trọng để tăng khả năng tiếp cận thuốc của bệnh nhân [7]
1.2.2 Các khó khăn và thách thức
1.2.2.1 Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu
Tính sẵn có của thuốc nói chung và thuốc thiết yếu nói riêng tại các trạm y tế
xã vẫn chưa đáp ứng được cho nhu cầu CSSK Số thuốc tại các TYT xã không nhiều, trung bình ở 110 TYT xã là 70,6 ± 26,2 thuốc, trong đó số thuốc thiết yếu là 34,0 ± 12,1 loại, chiếm 49% [12] Theo hai nghiên cứu đánh giá chính sách quốc gia về thuốc năm 2005 và 2010, mặc dù các thuốc thiết yếu được lựa chọn phân tích
có khác nhau, nhưng tỷ lệ sẵn có thuốc thiết yếu năm 2010 thấp hơn năm 2005 cũng
có thể coi là một dấu hiệu về sự quan tâm chưa đúng mức trong việc thực hiện chính sách thuốc thiết yếu [7]
Tính sẵn có của thuốc cho các đối tượng dễ tổn thương như trẻ em chưa được đánh giá đầy đủ Nghiên cứu đánh gíá thực hiện chính sách quốc gia về thuốc cho thấy thuốc cho trẻ em có tỷ lệ sẵn có thấp: 43% bệnh viện tỉnh và 50% TYT xã được khảo sát không có bất kỳ loại thuốc nào dành cho trẻ em trong số 3 thuốc được lựa chọn để khảo sát Hầu như không có bệnh viện nào ở cả tuyến trung ương
và tuyến tỉnh có đủ cả 3 loại thuốc [16]
1.2.2.2 Về giá thuốc
Một số nghiên cứu cho thấy giá thuốc ở Việt Nam cao hơn so với giá tham khảo quốc tế [24] Kết quả khảo sát năm 2010 cho thấy giá thuốc bán lẻ đến tay
Trang 22bệnh nhân cao gấp 12,1 lần so với giá tham khảo quốc tế đối với biệt dược của nhà phát minh và cao gấp 1,4 lần đối với thuốc generic có giá thấp nhất [16] So sánh với số liệu của WHO, chỉ số giá thuốc của Việt Nam tương đối cao đối với thuốc biệt dược độc quyền song lại tương đối thấp đối với thuốc generic Việc tổ chức đấu thầu mua thuốc được tổ chức phân tán với 1046 cơ sở thực hiện đấu thầu mua thuốc trên toàn quốc dẫn đến có sự chênh lệch khá lớn về giá trúng thầu mua thuốc Thực
tế giá của cùng một loại thuốc, cùng hàm lượng, cùng một đường dùng vào cùng một thời điểm vẫn có thể khác nhau giữa các địa phương và giữa các bệnh viện trên cùng một địa bàn, tạo ra sự lãng phí đáng kể [7] Việc có quá nhiều loại mặt hàng thuốc cũng khiến cho việc quản lý giá trở nên khó khăn hơn
Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng tăng đáng kể hằng năm chiếm khoảng 42% tổng chi cho y tế Chính giá thuốc cao cùng với việc sử dụng thuốc chưa hợp lý là những nguyên nhân làm gia tăng chi phí thuốc, tạo nên gánh nặng chi trả và cản trở khả năng tiếp cận của người dân với thuốc nói riêng và dịch vụ y tế nói chung Tuy nhiên tỷ lệ tiền vốn dành cho thuốc thiết yếu chưa cao (51,5%) Ba phần tư số trạm
y tế xã được nghiên cứu vẫn thiếu vốn dành cho thuốc Nguồn tài chính cho thuốc chủ yếu vẫn đến từ hộ gia đình, chiếm 72% tổng chi phí, trong đó chi phí cho mua thuốc tự điều trị chiếm 58% còn mua thuốc khi đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế chỉ chiếm 14% [8]
Việc quản lý giá thuốc vẫn còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân Trước hết là do chưa giám sát và chưa bảo đảm thực hiện tốt các quy định về định giá, đấu thầu, kê đơn và thiếu cơ quan được giao trách nhiệm chính làm đầu mối quản lý giá thuốc Kiểm soát giá thuốc nhập khẩu gặp khó khăn trong khi thuốc sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng chưa đầy 50% về giá trị, lại bị động về nguồn nguyên liệu (90% nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước còn phải nhập khẩu) Quy định về đấu thầu thuốc vẫn còn một số vướng mắc, chưa tổ chức được việc đấu thầu tập trung quốc gia Việc kiểm soát giá thông qua thặng số bán buôn toàn chặng mới chỉ trong giai đoạn thử nghiệm [7]
Trang 23Sau khi tham gia Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, dự kiến giá thuốc (nhất là các thuốc biệt dược mới) có khả năng tăng gấp đôi trong vòng 5 năm tới và có tới 58% thuốc có thể nằm ngoài mức chi trả của người dân [25] Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tiếp cận thuốc của người dân trong giai đoạn sắp tới Công nghiệp dược trong nước chỉ chiếm chưa đầy 1% GDP Thuốc sản xuất trong nước đáp ứng chưa đến 50% giá trị thuốc được
sử dụng trong khi đó 90% nguyên liệu vẫn phải nhập ngoại nên chưa chủ động được nguồn thuốc cũng như giá cả [7]
1.3 Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở một số khu vực, quốc gia trên thế giới
Đối với các nước đang phát triển, mức độ sẵn có và giá của các thuốc thiết yếu vẫn còn là vấn đề lớn Trong khi nguồn lực dành cho chăm sóc sức khoẻ còn hạn chế, tỷ lệ bệnh nhân tự chi trả trong tổng chi của xã hội cho y tế còn cao (khoảng 50%), lại phải chi phí cho thuốc với tỷ lệ lớn, đến 68% [55] Một nghiên cứu quốc tế trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 cho thấy trung bình chỉ có 51,8% số cơ sở y tế công lập và 68,5% cơ sở y tế tư nhân sẵn có thuốc thiếu yếu [30] Theo số liệu khảo sát của WHO, tại khu vực công lập, thuốc generic bán cho bệnh nhân có giá dao động từ 1,9 đến 3,7 lần so với giá tham khảo quốc tế còn giá thuốc biệt dược gốc dao động từ 5,3 đến 20,5 lần so với giá tham khảo quốc tế [36] Giá thuốc cao cũng là một rào cản trong việc đảm bảo thuốc sẵn có và khả năng tiếp cận thuốc thiết yếu của người dân [59] Sau đây là một số nghiên cứu về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu đã được nghiên cứu tại một số khu vực trên thế giới
1.3.1 Tính sẵn có của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Ấn Độ
Một nghiên cứu về tính sẵn có của 5 loại thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Ấn Độ
đã được tiến hành vào tháng 4 năm 2011 [19] Các thuốc khảo sát được lựa chọn
nằm trong chương trình Sứ mệnh Y tế nông thôn quốc gia (NRHM) Ngoài ra chúng
Trang 24cũng thuộc Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia hoặc trong danh sách mua sắm của
các bang được bao phủ bởi NRHM hoặc cả hai Đây là cuộc khảo sát các thuốc thiết yếu cho trẻ em nên các dạng chế phẩm phù hợp với trẻ được lựa chọn và đều nằm
trong Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành
Bảng 1.1 Danh sách các thuốc được khảo sát ở Ấn Độ
Vitamin A Dạng lỏng Cotrimoxazole Si rô ORS Gói bột pha Paracetamol Si rô
Kẽm sulfat Viên hoặc dạng lỏng uống
Sau khi tiến hành thu thập từ 129 cơ sở y tế công cộng trên khắp 17 tiểu bang, hai vùng lãnh thổ (Pondicherry, Lakshwadeep) và NCT Delhi, dữ liệu được biểu diễn bằng các thống kê tóm tắt và tính sẵn có được mô tả bằng tính sẵn có trung bình cùng với các khoảng giá trị Kết quả cho thấy:
- Tính sẵn có trung bình chung của các thuốc là 80% với một khoảng biến đổi rộng tính sẵn có từ 0% đến 100%, đặc biệt ở Madhya Pradesh tính sẵn có của cả 5 thuốc khảo sát đều là 0%
Bảng 1.2 Tính sẵn có của từng thuốc tại các cơ sở khảo sát ở Ấn Độ
- 91,5% các cơ sở khảo sát có ORS và si rô cotrimoxazole trong khi chỉ 36% các cơ sở có kẽm sulfat Trừ 4 tiểu bang có tính sẵn có thấp hơn 100%, si rô cotrimoxazole và ORS sẵn có 100% ở các tiểu bang còn lại Kẽm sulfat ở nhiều tiểu bang được xác định là không sẵn có (0%) Gần 90% các cơ sở khảo sát có si rô paracetamol Trừ 6 tiểu bang có tính sẵn có thấp hơn 100%, các tiểu bang còn lại 100% sẵn có si rô paracetamol
Trang 25Tính sẵn có của các loại thuốc thiết yếu cho trẻ em là chưa thỏa đáng và cần được cải thiện [19] Hai nghiên cứu khác cũng cho thấy tính sẵn có của các thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Ấn Độ còn rất thấp [18], [27]
1.3.2 Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Guatelama
Trẻ em ở các nước nghèo đói có nhiều khả năng chết vì chúng không nhận được thuốc thích hợp hoặc nhận được không kịp thời Guatelama (một quốc gia ở Trung Mĩ, phía nam Bắc Mĩ) là một quốc gia nghèo đói Đó là một trong những nguyên nhân góp phần vào việc nước này có một tỷ lệ tử vong cao của trẻ em dưới
tế bao gồm 29 cơ sở ở khu vực tư nhân và 21 cơ sở ở khu vực PROAM (một tập hợp con của khu vực công)
Số thuốc khảo sát là 23 thuốc cốt lõi giống như hướng dẫn của WHO/HAI (Phụ lục 1) tuy nhiên artemether/lumefantrine bị loại trừ vì nó được sử dụng cho các
loài ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum, loài này không phổ biến ở các
nước châu Mĩ Thuốc được lựa chọn thay thế là primaquine, hiệu quả trong việc
chống lại Plasmodium vivax là loài ký sinh trùng sốt rét phổ biến ở Guatelama Do
có 1 số hoạt chất được khảo sát trên nhiều dạng bào chế khác nhau nên 23 thuốc này được tách thành 27 loại thuốc dùng để khảo sát Tuy nhiên khi phân tích dữ liệu có
3 thuốc bị loại trừ, để còn lại 24 loại thuốc Hỗn dịch phenytoin và phenobarbital bị loại bỏ do trên phiếu thu thập liều được in không chính xác Beclomethasone dạng hít cũng bị loại bỏ mặc dù nó vẫn nằm trong danh sách 23 thuốc gốc nhưng nó đã bị
xóa khỏi Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành từ năm 2009
Trang 26Đáng chú ý là beclomethasone cũng không được tìm thấy ở bất kỳ nhà thuốc nào được khảo sát
Kết quả cho thấy tính sẵn có của thuốc thay đổi tùy theo từng loại thuốc và từng khu vực Tính sẵn có trung bình của tất cả các loại thuốc khảo sát rất thấp Tính sẵn có trung bình của khu vực PROAM chỉ là 25% còn của khu vực tư nhân là 35% Trong khu vực PROAM, các thuốc generic là sản phẩm chủ yếu có sẵn với 98% các loại thuốc được tìm thấy là thuốc generic
Giá thuốc trong khu vực PROAM: Các thuốc thuộc nhóm thuốc giá thấp nhất thường được bán với giá cao gấp 1,73 lần so với giá tham chiếu quốc tế Một nửa thuốc generic giá thấp nhất được bán với giá gấp từ 1,24 (nhất tứ phân vị - 25th) đến 2,32 (tam tứ phân vị - 75th) so với giá tham chiếu quốc tế cho thấy có một sự thay đổi vừa phải trong tỷ lệ giá thuốc của các thuốc generic ở khu vực PROAM
Ngược lại, ở khu vực tư nhân tồn tại một sự thay đổi đáng kể trong tỷ lệ giá thuốc trung vị (MPR) So sánh giữa các chế phẩm có giá cao nhất và giá thấp nhất (thuốc phải được tìm thấy ít nhất là 2 dạng chế phẩm) cho thấy:
+ Trung bình thì các loại thuốc có giá cao nhất đắt gấp đôi so với các loại thuốc
có giá thấp nhất
+ Thuốc có giá cao nhất đắt gấp 22,67 lần so với giá tham chiếu quốc tế Một nửa số thuốc này có giá dao động trong khoảng từ 11,21 lần (nhất tứ phân vị) đến 35,51 lần (tam tứ phân vị) so với giá tham chiếu quốc tế
+ Thuốc có giá thấp nhất đắt gấp 10,67 lần so với giá tham chiếu quốc tế trong
đó một nửa số thuốc này có giá dao động trong khoảng từ 5,57 lần (nhất tứ phân vị) đến 16,99 lần (tam tứ phân vị) so với giá tham chiếu quốc tế
Như vậy, tính sẵn có của các thuốc thiết yếu cho trẻ em ở khu vực công lập
và khu vực tư nhân ở Guatelama rất thấp Giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở khu vực
tư nhân cao hơn nhiều so với giá tham chiếu quốc tế
Trang 271.3.3 Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Thiểm Tây, Trung Quốc
Một khảo sát nhằm đánh giá tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em được thực hiện trong năm 2013 ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc theo phương pháp tiêu chuẩn của WHO/HAI Khảo sát được tiến hành ở trên 6 khu vực với 60 cơ sở bán lẻ thuốc được lựa chọn (30 cơ sở ở khu vực công lập và 30 cơ sở ở khu vực tư
nhân) 28 thuốc được lựa chọn để khảo sát bao gồm 21 thuốc thuộc Danh mục thuốc
thiết yếu cho trẻ em của WHO và 7 thuốc được lựa chọn dựa trên gánh nặng bệnh
tật, nhu cầu của địa phương, Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia năm 2009, Danh
sách thuốc thiết yếu bổ sung của tỉnh Thiểm Tây và theo ý kiến của một số chuyên
gia y tế [31]
Kết quả cho thấy rằng tính sẵn có của các thuốc ở cả khu vực công lập và khu vực tư nhân đều thấp Tính sẵn có trung bình của thuốc gốc và thuốc generic giá thấp nhất ở các bệnh viện công lần lượt là 10,8% và 27,3% còn ở các nhà thuốc
tư nhân lần lượt là 11,9% và 20,6% Có hai thuốc là thuốc tiêm procain penicillin và hỗn dịch amoxicillin/a clavulanic không được tìm thấy ở bất kỳ cơ sở khảo sát nào Chỉ có 7 thuốc generic giá thấp nhất ở khu vực công lập và 4 thuốc ở khu vực tư nhân có tính sẵn có trên 50%
Ở khu vực công lập, giá bán lẻ cho các thuốc gốc gấp 2,59 lần so với giá tham chiếu quốc tế và đối với thuốc generic giá thấp nhất là 0,93 lần Ở khu vực tư nhân, giá của thuốc gốc và thuốc generic giá thấp nhất lần lượt gấp 3,89 lần và 1,25 lần so với giá tham chiếu quốc tế
Qua thực trạng của ba nước trên ta có thể thấy được tính sẵn có của các thuốc thiết yếu cho trẻ em vẫn còn rất thấp Tình trạng giá cao và thiếu thuốc thiết yếu cho trẻ em trên toàn cầu là một vấn đề đang rất được quan tâm và cần có nhiều biện pháp cải thiện nhằm tăng khả năng tiếp cận của trẻ em với các dạng bào chế phù hợp
Trang 281.4 Sơ lƣợc về tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng với diện tích đất là 822,7 km2, chỉ chiếm 0,2% diện tích tự nhiên của cả nước, là tỉnh có diện tích đất nhỏ nhất trong 63 tỉnh, thành phố Nó được chia thành 8 đơn vị hành chính với diện tích và dân số được miêu tả trong bảng 1.3 [44]
Tổng dân số toàn tỉnh vào khoảng 1.079.000 người với mật độ dân số là 1313,0 người/km2 gần gấp 5 lần mật độ dân số chung của cả nước và là tỉnh có mật
độ dân số xếp thứ 3 trên 63 tỉnh, thành phố [46], [48] Dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 25,9% [45] Thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 2.304.000 đồng/tháng (tính chung cho vùng Đồng bằng sông Hồng) [49]
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh
Theo số liệu của Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng
166 quầy thuốc, 211 đại lý thuốc, 65 nhà thuốc, 14 công ty dược và 9 doanh nghiệp kinh doanh thuốc; trong đó có 109 quầy thuốc và 38 nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP
Trang 29Toàn tỉnh hiện có 217 cơ sở khám chữa bệnh trong đó có 19 bệnh viện; 11 phòng khám; 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng; 186 trạm y tế xã, phường, thị trấn [50]
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn được tỉnh đặc biệt chú trọng thể hiện ở mạng lưới các bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực rải đều khắp các huyện, thị trấn 100% các xã, phường, thị trấn có trạm y tế Cơ sở vật chất
và đội ngũ y sỹ, bác sỹ tăng dần qua các năm Số giường bệnh trong toàn tỉnh là 2.340 giường; số cán bộ công tác ở ngành y là 3.249 người; trong đó có 55 tiến sĩ và thạc sĩ, 650 bác sĩ Năm 2010 đã thực hiện tiêm chủng cho 21.718 trẻ em trên toàn tỉnh [45]
Bảng 1.3 Các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh (tính đến tháng 4/2014)
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/1 km 2 )
Trang 30Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý thuốc thuộc các cơ sở y tế công lập và tư nhân hợp pháp, nằm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chịu sự quản lý của Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian thực hiện: từ tháng 10/2013 đến tháng 4/2014
2.2 Danh mục các thuốc được khảo sát
Danh mục các thuốc khảo sát gồm 2 phần:
- Các thuốc cốt lõi thuộc danh sách 23 thuốc được khuyến cáo dùng để khảo sát chung cho tất cả các nghiên cứu về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em trên thế giới
- Một số thuốc khảo sát bổ sung cho địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tại thời điểm khảo sát, tất cả các thuốc trong danh sách các thuốc khảo sát ở bảng 2.4 (bao gồm thuốc cốt lõi và thuốc khảo sát bổ sung) đều có số đăng ký lưu hành tại Việt Nam
2.2.1 Các thuốc cốt lõi được khuyến cáo
Các thuốc cốt lõi được khuyến cáo khảo sát nằm trong hướng dẫn tiến hành khảo sát của WHO/HAI [33] Các thuốc này đại diện cho các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị các bệnh phổ biến cho trẻ em ở các nước có thu nhập trung bình và thấp Điều này đảm bảo rằng dữ liệu về các chế phẩm thuốc có thể so sánh
Trang 31sẽ được thu thập trong tất cả các cuộc khảo sát, giúp cho việc so sánh giữa các quốc gia dễ dàng được thực hiện
Các thuốc nằm trong nhóm thuốc cốt lõi được quy định rõ ràng và cụ thể về dạng bào chế, liều lượng và dạng đóng gói Tuy nhiên các tiêu chí trên có thể được thay đổi:
- Một số loại thuốc mà dạng bào chế của nó không có số đăng ký tại Việt Nam thì không được tiến hành khảo sát [33] Ví dụ: viên nhai phenytoin 50mg, viên nhai carbamazepine 100mg, dung dịch uống morphine 10mg/5ml, dung dịch uống phenobarbital 3mg/ml không có số đăng ký tại Việt Nam bị loại khỏi danh sách các thuốc khảo sát Các thuốc bị loại có thể được thay thế thành dạng chế phẩm khác để khảo sát Ví dụ: viên phân tán cotrimoxazole 400 + 80mg không có số đăng ký tại Việt Nam được thay thế bằng viên nén cotrimoxazole 400 + 80mg
- Mỗi một loại thuốc có nhiều dạng đóng gói khác nhau tùy vào mỗi quốc gia,
mỗi khu vực Thay đổi dạng đóng gói mong muốn tìm trong Phiếu khảo sát nếu
thấy cần thiết (phiếu được chuẩn bị sẵn trước khi tiến hành khảo sát thực địa - Phụ lục 4) [33]
2.2.2 Một số thuốc khảo sát bổ sung cho tỉnh Bắc Ninh
Các thuốc khảo sát bổ sung được lựa chọn trên cơ sở nhu cầu và gánh nặng bệnh tật của tỉnh Bắc Ninh (được xác định bằng một cuộc khảo sát thí điểm trước khi tiến hành khảo sát) Ngoài ra việc lựa chọn các thuốc này còn dựa trên cơ sở
tham khảo các Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần thứ 4 do WHO ban hành;
Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ 6 của Việt Nam; Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán
cùng với sự góp ý của một số chuyên gia về dược thuộc Sở Y tế tỉnh và nhân viên một số cửa hàng thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 32Bảng 2.4 Danh sách các thuốc khảo sát
Có 24 thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần thứ 4 của WHO
ban hành [40] Ba thuốc không nằm trong danh mục là beclomethasone bình xịt
Trang 33100mcg/liều, cefalexin viên nang 500mg và amoxicillin/a clavulanic bột pha hỗn dịch 250 + 31,25mg
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
Ba vùng khảo sát được lựa chọn từ 8 quận, huyện, thành phố của tỉnh Bắc Ninh Thành phố Bắc Ninh (TP BN) được lựa chọn là trung tâm đô thị chính của tỉnh Hai vùng khảo sát thêm vào là thị xã Từ Sơn (TX TS) và huyện Thuận Thành (H TT) được lựa chọn một cách ngẫu nhiên Cả 3 vùng khảo sát đều thỏa mãn các tiêu chí lựa chọn sau: (1) có dân số từ 100.000 đến 250.000 người, (2) có khả năng
đi lại trong vòng 1 ngày từ trung tâm chính là thành phố Bắc Ninh, (3) mỗi vùng khảo sát phải có số lượng các cơ sở y tế cần thiết để tiến hành khảo sát Cả ba vùng khảo sát này đều không có những tình hình bất lợi có thể ảnh hưởng đến quá trình khảo sát như: không có bất ổn chính trị, không có nguy cơ buôn lậu qua biên giới [33]
Từ Danh sách hành nghề dược và Danh sách các cơ sở đạt GPP của Sở Y tế
tỉnh Bắc Ninh, chọn ngẫu nhiên các cơ sở khảo sát thuộc 3 vùng khảo sát đã chọn sao cho đủ số lượng các cơ sở dự kiến như bảng 2.5 Tuy nhiên để tránh một số rủi
ro có thể xảy ra trong khi đi thu thập số liệu (như địa chỉ không rõ ràng, không cụ thể), lấy dư số lượng các cơ sở dự kiến khảo sát lên 60 cơ sở Các cơ sở này được lập thành danh sách các cơ sở khảo sát ghi rõ địa chỉ, số điện thoại nếu có
Dữ liệu về tính sẵn có và giá thuốc được thu thập tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong khu vực công lập (14 cơ sở) và khu vực tư nhân (26 cơ sở) Tổng số cơ sở khảo sát là 40 Ở mỗi khu vực nghiên cứu, các cơ sở khảo sát đều có khả năng đi lại trong vòng 3 giờ đồng hồ từ bệnh viện chính (bệnh viện tỉnh/bệnh viện huyện) [33]
Trang 34Bảng 2.5 Số lượng các cơ sở tại mỗi vùng khảo sát
(*): nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý thuốc thuộc phòng khám hoặc ở bên cạnh
Trong khu vực công lập, bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện huyện và trạm y
tế xã lần lượt được xếp vào các mức độ 1, 2 và 3
+ Mức độ 1: Chăm sóc cơ bản (primary care), là điểm liên lạc đầu tiên với cơ
sở y tế để được chăm sóc sức khỏe Ví dụ: trạm y tế xã
+ Mức độ 2: Chăm sóc cấp hai (secondary care), dịch vụ y tế cấp cứu chuyên ngành, được giới thiệu đầu tiên cho bệnh nhân ngoại trú và nội trú chăm sóc sức khỏe Ví dụ: bệnh viện huyện
+ Mức độ 3: Chăm sóc cấp ba (tertiary care), dịch vụ y tế và các dịch vụ liên quan có độ phức tạp cao Ví dụ: bệnh viện khu vực [33]
Việc phân chia thành 3 mức độ này có ý nghĩa như sau: Một số thuốc nằm trong danh sách các thuốc khảo sát chỉ có hoặc chỉ được hy vọng là có ở các cơ sở khảo sát mức độ 2 hoặc 3 Vì vậy khi xác định tính sẵn có thì các cơ sở khảo sát cấp
độ thấp hơn sẽ không được tính vào Ví dụ: bột pha tiêm ceftriaxone 250mg chỉ sẵn
có ở các cơ sở khảo sát thuộc mức độ 2 và 3 Trong phần mềm xử lý số liệu, mức độ quan tâm (hy vọng thuốc là sẵn có) của ceftriaxone sẽ được đặt ở mức độ 2 Khi nhập dữ liệu ở khu vực công lập, các cơ sở khảo sát cũng được đặt các mức độ là 1,
Trang 352 hoặc 3 Khi đó tính sẵn có của ceftriaxone chỉ được tính bằng số cơ sở có ceftriaxone/tổng số cơ sở mức độ 2 và 3 thay cho tổng số tất cả các cơ sở Các cơ sở khảo sát thuộc khu vực tư nhân không phân loại thành các mức độ như trên
2.3.3 Tiến trình thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng
4 năm 2014 Người thu thập dữ liệu (người thực hiện đề tài) được đào tạo theo phương pháp của WHO/HAI và đã được tiến hành thu thập thử ở một số nhà thuốc, quầy thuốc
Trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu, một lịch trình đi đến các cơ sở khảo sát được chuẩn bị Một số cơ sở kinh doanh thuốc đông bệnh nhân vào giờ cao điểm thì được gọi điện hoặc đến thăm để hẹn trước thời gian thu thập vào một ngày và tại một thời điểm thuận tiện cho người quản lý cơ sở Tất cả các cơ sở khảo sát không được thông báo về bất kỳ một loại thuốc nào trong danh sách các thuốc sẽ tiến hành khảo sát
Khi đi thu thập số liệu, mang theo đầy đủ các công cụ cần thiết (như các mẫu phiếu thu thập, máy tính, bút) Mỗi cơ sở được sử dụng một phiếu thu thập riêng Tại mỗi cơ sở khảo sát, tiến hành thu thập dữ liệu cho các thuốc trong danh mục với
sự trợ giúp của người phụ trách cơ sở
* Tính sẵn có: Quan sát trực tiếp sự có mặt của các thuốc trong danh sách để
xác định các thuốc đó có sẵn có hay là không tại mỗi cơ sở khảo sát
Lưu ý: Viên nén và viên nang được coi là tương đương Dạng chế phẩm không bao, có bao hay bao phim được coi là tương đương Viên phân tán tương đương với viên nhai nhưng không tương đương với viên thông thường Dạng bột phân tán tương đương với dạng lỏng đường uống [33]
* Giá thuốc: Với mỗi thuốc sẵn có ở cơ sở khảo sát, thu thập giá bán ra (giá
bán cho bệnh nhân) của tất cả các biệt dược cùng hoạt chất tính trên đơn vị đóng gói
Trang 36nhỏ nhất Giá đơn vị được xác định cho từng viên (đối với thuốc dạng viên nén, viên nang), ml (đối với dạng ống tiêm, hỗn dịch uống), liều (đối với thuốc dạng xịt, hít), g (đối với thuốc dạng kem, mỡ), lọ/ống (đối với bột pha tiêm) [22] Từ đó xác định hai thuốc cùng hoạt chất có giá đơn vị cao nhất và thấp nhất Thu thập dữ liệu cho hai thuốc này về tên biệt dược, nhà sản xuất, dạng đóng gói tìm thấy và một số ghi chú khác kèm theo nếu cần Nếu cơ sở khảo sát chỉ có một thuốc thì thuốc đó là thuốc giá thấp nhất và các dữ liệu về giá được thu thập cho thuốc có giá thấp nhất [33]
Dữ liệu được nhập vào phần mềm xử lý số liệu WHO/HAI Workbook Part 1 MSH2012 được cung cấp như là một phần nằm trong phương pháp tiêu chuẩn của WHO/HAI [54] Nhập dữ liệu vào hai trang: Giá bệnh nhân khu vực công lập (Public Sector Patient Prices) và Giá bệnh nhân khu vực tư nhân (Private Sector Patient Prices) Sử dụng kỹ thuật “Nhập dữ liệu đôi” (nhập dữ liệu 2 lần bởi 2 người khác nhau) và chức năng “Kiểm tra dữ liệu” của phần mềm để đảm bảo dữ liệu được nhập chính xác, đặc biệt là để tránh việc nhập sai giá đơn vị của thuốc (lỗi thường gặp nhất) Sau khi nhập dữ liệu, phần mềm sẽ tự động xử lý số liệu và đưa
ra kết quả Kết quả khảo sát được trình bày dưới dạng một số bảng và biểu đồ như trong hướng dẫn báo cáo của WHO/HAI [20], [41]
2.4 Các thông số để đánh giá tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em
2.4.1 Phần trăm tính sẵn có của thuốc
Tính sẵn có của mỗi thuốc được tính toán bằng tỷ lệ phần trăm các cơ sở khảo sát mà tại đó thuốc được tìm thấy trong ngày thu thập dữ liệu Tính sẵn có của các thuốc trong khu vực công được giới hạn trong các cơ sở mà thuốc được hy vọng
là sẵn có Ví dụ một thuốc chỉ được cung cấp trong các cơ sở thuộc mức độ 2 hoặc 3 thì tính sẵn có của thuốc sẽ được giới hạn để tính toán phần trăm trong các cơ sở này [41]
Trang 372.4.2 Tỷ lệ giá trung vị MPR (Median Price Ratio)
Để tạo điều kiện so sánh giữa các quốc gia, giá thuốc được tìm thấy trong cuộc khảo sát không được thể hiện bằng bất kỳ đơn vị tiền tệ của quốc gia nào, mà được thể hiện bằng tỷ lệ tương đối với một bộ tiêu chuẩn giá tham chiếu quốc tế:
MPR = Trung vị giá đơn vị địa phương
Giá đơn vị tham khảo quốc tế
Tỷ lệ này biểu hiện giá thuốc của địa phương lớn hơn hay bé hơn bao nhiêu lần so với giá thuốc tham khảo quốc tế Ví dụ: MPR = 2 nghĩa là giá thuốc địa phương cao gấp 2 lần so với giá tham chiếu quốc tế Tỷ lệ giá trung vị tạo điều kiện
so sánh dữ liệu giữa các quốc gia về giá thuốc [41]
Tỷ lệ giá trung vị MPR chỉ được tính toán cho những thuốc mà dữ liệu về giá được thu thập từ ít nhất 4 cơ sở khảo sát Tất cả giá thuốc thu thập về sẽ được phần mềm chuyển sang đơn vị tiền tệ USD theo tỷ giá hối đoái được lấy vào ngày 10/04/2014 (ngày đầu tiên đi thu thập số liệu) 1 USD = 21.080,5325 đồng [56]
Giá đơn vị tham khảo quốc tế được sử dụng là giá tham chiếu MSH năm
2012, tra cứu tại hướng dẫn Chỉ số giá thuốc quốc tế (IDPIG) [23] Giá thuốc ở
trong bộ tham chiếu MSH đã được lựa chọn như là tiêu chuẩn hữu ích nhất vì nó được cập nhật một cách thường xuyên, luôn có sẵn và tương đối ổn định [41] Giá tham chiếu MSH được sử dụng là trung vị của giá thu mua gần đây được cung cấp bởi các nhà cung cấp không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận cho các cơ quan, tổ chức phi lợi nhuận quốc tế đối với các sản phẩm thông thường [54] Các cơ quan này thường bán với số lượng lớn cho chính phủ nên giá tương đối thấp và đại diện cho việc mua sắm thuốc hiệu quả với số lượng lớn mà không cần các chi phí vận chuyển
và bảo hiểm [20]
Trang 382.4.3 Tứ phân vị và khoảng tứ phân vị - thông số đánh giá sự phân ly của dữ liệu
“k - bách phân vị (k th
percentile) của một tập dữ liệu được sắp xếp có thứ tự
là một giá trị x có tính chất: k% các dữ liệu trong tập dữ liệu đó có giá trị bé hơn hoặc bằng x.”
Tứ phân vị là một đại lượng mô tả sự phân bố và sự phân tán của tập dữ liệu
Có 3 giá trị chia tập dữ liệu thành bốn phần có số lượng quan sát đều nhau là Q1, trung vị và Q3
Nhất tứ phân vị Q1 (1st quartile - 25th) là giá trị quan sát thứ (n+1)/4 của dãy Tam tứ phân vị Q3 (3th quartile - 75th) là giá trị quan sát thứ 3(n+1)/4 của dãy
→ Khoảng liên tứ phân vị (interquatile range) IQR = Q3 - Q1 Khoảng giá trị này chứa một nửa các dữ liệu quan sát trung tâm
Năm giá trị biểu diễn tóm tắt dữ liệu bao gồm: (1) min (giá trị nhỏ nhất), (2)
Q1 (nhất tứ phân vị), (3) median (trung vị), (4) Q3 (tam tứ phân vị) và (5) max (giá trị lớn nhất) [51]
Một số thông số khác để đánh giá tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ
em bao gồm: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và trung vị
Trang 39Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tính sẵn có của các thuốc khảo sát
3.1.1 Tính sẵn có của từng loại thuốc trong các cơ sở khảo sát
Tính sẵn có của thuốc trong các cơ sở khảo sát được xác định là phần trăm số
cơ sở mà ở đó thuốc được tìm thấy trong ngày khảo sát Ở khu vực công lập có 9 thuốc thuộc nhóm giá thấp nhất và ở khu vực tư nhân là 7 thuốc thuộc nhóm giá thấp nhất được tìm thấy mà tính sẵn có lớn hơn hoặc bằng 50% Ở cả hai khu vực, trong nhóm thuốc giá cao nhất, thuốc có tính sẵn có cao nhất được tìm thấy là mebendazole với chỉ 46,2% tính sẵn có Chỉ duy nhất một thuốc là gói bột ORS pha thành 200ml có tính sẵn có bằng 100% ở khu vực tư nhân
Từ bảng 3.6 ta thấy có 11/27 thuốc không được tìm thấy ở bất kỳ cơ sở khảo sát nào bao gồm: (1) hỗn dịch amoxicillin, (2) viên nén artemether/lumefantrine, (3) bình xịt beclomethasone, (4) thuốc tiêm ceftriaxone, (5) hỗn dịch/si rô muối sắt, (6) viên nén ibuprofen, (7) hỗn dịch/si rô paracetamol, (8) hỗn dịch phenytoin, (9) thuốc tiêm procain benzylpenicillin, (10) viên nang vitamin A và (11) viên phân tán kẽm Một số thuốc khác có tính sẵn có thấp ở cả khu vực công lập và khu vực tư nhân bao gồm: hỗn dịch amoxicillin/a clavulanic, thuốc tiêm benzylpenicillin, viên nén carbamazepine, thuốc tiêm chloramphenicol
Có 4 thuốc chỉ được tìm thấy ở khu vực công lập mà không được tìm thấy ở khu vực tư nhân Cả 4 thuốc này đều thuộc nhóm thuốc giá thấp nhất: hỗn dịch amoxicillin/a clavulanic (7,1%), thuốc tiêm diazepam (50%), thuốc tiêm morphine (75%) và thuốc tiêm phenobarbital (50%)
Có 2 thuốc chỉ được tìm thấy ở khu vực tư nhân mà không được tìm thấy ở khu vực công lập Cả 2 thuốc này tính sẵn có đều rất thấp: viên nén carbamazepine (tính sẵn có của thuốc giá cao nhất và thuốc giá thấp nhất đều bằng 3,8%) và thuốc tiêm chloramphenicol (3,8% đối với thuốc giá thấp nhất)
Trang 40Bảng 3.6 Tính sẵn có của từng thuốc ở khu vực công lập và khu vực tư nhân
KV công lập (%)
KV tƣ nhân (%)