5 LRE Low Rate Encoding Mã hoá tốc độ thấp MCU Monitor Channel Unit Khối kênh giám sát MEO Medium Earth Orbit Quỹ đạo trung bình MOD Modulater Bộ điều chế MODEM Modulater/Demodu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
HOÀNG VĂN DIỄN
Nghiên cứu đánh giá kết quả ứng dụng hệ thống thông tin vệ tinh dùng trạm mặt đất có Antenna cỡ nhỏ (VSAT)
cho vùng sâu vùng xa tại Việt Nam
luËn v¨n th¹c sÜ KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
Hµ néi - 2006
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
HOÀNG VĂN DIỄN
Nghiên cứu đánh giá kết quả ứng dụng hệ thống thông tin vệ tinh dùng trạm mặt đất có Antenna cỡ nhỏ (VSAT)
cho vùng sâu vùng xa tại Việt Nam
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
luËn v¨n th¹c sÜ KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ - VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Vệ
Hµ néi - 2006
Trang 3
1 MỤC LỤC MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN VỆ TINH VÀ
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 12
1.1 Giới thiệu chung 12
1.2 Phần không gian 15
1.2.1 Cấu trúc 15
1.2.2 Vai trò của trạm điều khiển 16
1.2.3 Phân hệ thông tin của vệ tinh 17
1.3 Phần mặt đất 19
1.4 Phân cực của sóng mang trên tuyến thông tin vệ tinh 20
1.5 Các dải tần số sử dụng trong thông tin vệ tinh 21
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tuyến thông tin vệ tinh 22
1.6.1 Giới thiệu 22
1.6.2 Trạm mặt đất và các yếu tố liên quan 23
1.6.3 Các yếu tố liên quan đường xuống và trạm thu mặt đất 25
1.6.4 Tham số của bộ phát đáp hệ thống vệ tinh ảnh hưởng đến tuyến truyền 31
CHƯƠNG 2: MẠNG VSAT DAMA TẠI VIỆT NAM 34
2.1 Đặc điểm chung của mạng VSAT 34
2.2 Trạm HUB 36
2.2.1 Phần cứng 36
2.2.2 Phần mềm 37
2.3 Trạm thuê bao xa 39
2.4 Nguyên lý hoạt động và phương thức truy cập 44
2.4.1 Kênh vệ tinh 44
2.4.2 Sử dụng băng tần 50
2.4.3 Đặc tính tổng đài của mạng VSAT 50
Trang 4
2 CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG THÔNG TIN VỆ TINH BĂNG THÔNG RỘNG
IP - STAR 54
3.1 IP qua vệ tinh 54
3.2 Hệ thống VSAT IP và các dịch vụ trên mạng VSAT IP băng thông rộng 55 3.2.1 Vệ tinh IPSTAR 55
3.2.2 Trạm cổng 56
3.2.3 Giao tiếp không gian 59
3.2.4 Thiết bị phía thuê bao (UT) 64
3.2.5 Các ứng dụng của hệ thống VSAT IPSTAR 66
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG 74
4.1 Ưu nhược điểm của hệ thống VSAT IPSTAR 74
4.1.1 Ưu điểm của hệ thống thông tin vệ tinh băng rộng IPSTAR 74
4.1.2 Nhược điểm của hệ thống 75
4.2 Các đặc tính của đường truyền vệ tinh ảnh hưởng tới chất lượng của kết nối sử dụng giao thức TCP 75
4.2.1 Ảnh hưởng của độ trễ tới các thuật toán điều khiển tắc nghẽn 75
4.2.2 Ảnh hưởng của tích số BDP lớn 79
4.2.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ lỗi lớn tới kết nối TCP qua vệ tinh 80
4.3 Các giải pháp cải tiến giao thức TCP 81
4.3.1 Giải pháp tăng kích thước cửa sổ khởi đầu truyền dẫn 81
4.3.2 Giải pháp TCP với tuỳ chọn SACK 85
4.3.3 Các giải pháp thông báo mất gói do lỗi 91
4.4 Dự báo nhu cầu dịch vụ qua hệ thống VSAT băng rộng 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5
3
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ACK Acknowledgement Gói tin ACK được phát đi từ phía thu xác
nhận đã nhận được gói tin có số thứ tự được
chỉ rõ trong nội dung gói ACK này BDP Bandwidth Delay
Thông báo rõ lỗi tích luỹ khi truyền tải
Codec Coder/Decoder Bộ mã hoá/Bộ giải mã
CoS Class of Service Lớp dịch vụ
CU Channel Unit Khối kênh
DAMA Demand Assigned
Multiple Access
Đa truy nhập phân chia theo yêu cầu
DEM Demodulater Bộ giải điều chế
DEMUX Demultiplexer Bộ tách kênh
DIU Digital Interface Unit Khối giao diện số
Eb/No Energy Per Bit To
Noise Density Ratio
Tỷ số năng lượng bit/Mật độ tạp âm
ECM Echo Canceller Module Khối khử tiếng vọng
EIRP Equivalent Isotropic
Radiated Power
Công suất bức xạ đẳng hướng tương đương
FDMA Frequency Division
Multiple Access
Đa truy nhập phân chia theo tần số
FIM Facsimile Interface
Module
Mạch giao diện fax
Trang 6
4
FIN Finish Gói tin FIN được phía phát TCP sử dụng để
thông báo kết thúc kết nối
FLP Forward Link
Processor
Bộ xử lý tuyến từ trạm chủ đến trạm con
FTP File Transfer Protocol Giao thức truyền File
GEO Geostationary Earth
Orbit
Quỹ đạo địa tĩnh Vệ tinh ở quỹ đạo này có
chu kì quay xung quanh bằng chu kì tự quay của trái đất
HACK Header ChecKsum Tuỳ chọn tổng tiêu đề, bằng tuỳ chọn này
phía thu có thể thông báo được chính xác
tiêu đề của gói tin bị lỗi
HPA High Powered
Amplifier
Bộ khuyếch đại công suất cao
HTTP HyperText Transfer
Protocol
Giao thức truyền dẫn siêu văn bản
ICC Inbound Control
Channel
Kênh kiểm soát vào
ICM Interface Converter
Module
Mạch chuyển đổi giao diện
ICMP Internet Control
MessageProtocol
Giao thức bản tin điều khiển Internet
IF Intermediate Frequency Tần số trung gian
IGMP Internet Group
Management Protocol
Giao thức quản lí nhóm Internet
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ISN Initial Sequence
LEO Low Earth Orbit Quỹ đạo thấp
LNA Low Noise Amplifier Bộ khuyếch đại tạp âm thấp
LQT Link Quality Test Kiểm tra chất lượng đường truyền
Trang 7
5
LRE Low Rate Encoding Mã hoá tốc độ thấp
MCU Monitor Channel Unit Khối kênh giám sát
MEO Medium Earth Orbit Quỹ đạo trung bình
MOD Modulater Bộ điều chế
MODEM Modulater/Demodulater Bộ điều chế /Giải điều chế
MTU Maximum Transfer Unit Đơn vị truyền dẫn có kích thước lớn nhất
NCS Network Control
System
Hệ thống điều hành mạng
NM Network Management Quản lý mạng
OCC Outbound Control
Channel
Kênh kiểm soát ra
ODU Out Door Unit Khối trong nhà
OFDM Orthogonal Frequency
Division Multiplexing
Ghép kênh phân chia tần số trực giao
QoS Quality of Service Chất lượng của dịch vụ
RG Receive Groundstation Phía mặt đất phía thu
RRM Radio Resources
Management
Quản lý tài nguyên vô tuyến
RTO Retransmission Timeout Khoảng thời gian chờ truyền lại, tính dựa
trên RTT và một số biến khác
RTT Round Trip Time Thời gian trễ vòng, được tính bằng khoảng
thời gian từ thời điểm bit cuối cùng của gói tin rời khỏi phía phát cho tới thời điểm phía phát nhận được bit đầu tiên của gói tin xác nhận trong điều kiện mạng không có tắc
hơn một gói tin đã tới đích
SCPC Single Channel Per
Carrier
Đơn kênh trên sóng mang
SCTP Stream Control
TransportProtocol
Giao thức truyền tải điều khiển luồng
SG Sender Groundstation Phía mặt đất phía phát
SI STAR Interface Giao tiếp STAR
Trang 8Bộ điều khiển theo chương trình
STAR SCPC TDMA Aloha
Return Link
3 kỹ thuật truy nhập Slotted Aloha, Aloha, TDMA dùng cho hướng truyền từ trạm con
về trạm chủ
SYN Synchronize Gói tin đồng bộ Gói tin này được gửi ở thời
điểm khởi tạo kết nối để đồng bộ giữa phía
phát và phía thu
TCP Transport Protocol Giao thức truyền tải Giao thức này truyền
tải các gói tin tới đích một cách tin cậy
TCPA TCP Accelerator Bộ tối ưu TCP qua kênh vệ tinh
TDM Time Division Multiplex Ghép kênh phân chia thời gian
TDMA Time Division Multiple
Access
Đa truy nhập phân chia theo thời gian
TES Telephony Earth Station Trạm điện thoại mặt đất
TI TOLL Interface Giao tiếp TOLL
không tin cậy
VCU Voice Channel Unit Khối kênh thoại
VSAT Very Small Aperture Trạm mặt đất dung lượng nhỏ
Trang 10Hình 3.2 Vùng phủ sóng của vệ tinh IPSTAR tại Việt Nam 60
Hình 3.7 Cấu trúc khung của Star Link cho loại 8 kênh 66
Hình 3.12 Cấu hình dịch vụ thuê kênh riêng IP và mạng riêng VPN 73
Trang 11
9
Hình 3.14 Cấu hình cung cấp dịch vụ truyền hình hội nghị 75
Hình 4.8 Sự cải thiện thông luợng của kết nối TCP khi không có tắc
nghẽn
87
Hình 4.9 Sự cải thiện thông lượng của kết nối TCP khi có tắc nghẽn 88 Hình 4.10 Số lượng gói tin phải được phát lại ở mạng có tỷ lệ mất gói cao 89
Hình 4.13 Thông lượng đạt được khi truyền các file 100 kB trong trường
hợp “no curruption”
92
Hình 4.14 Thông lượng đạt đuợc khi truyền các file 1MB,10MB trong các
trường hợp “no curruption”
Trang 12
10
Bảng 2 Dự báo phát triển các thuê bao thoại sử dụng qua hệ thống
thông tin vệ tinh trên toàn quốc
98
MỞ ĐẦU
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Nửa cuối thế kỷ 20, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các công nghệ viễn thông, việc ra đời và lớn mạnh của thông tin vệ tinh là tất yếu để thay thế cho các hệ thống vô tuyến chuyển tiếp tiếp mặt đất Hệ thống thông tin vệ tinh có nhiều ưu điểm nổi bật so với các hệ thống vô tuyến chuyển tiếp mặt đất, thể hiện ở giá thành, khả năng quảng bá và độ linh hoạt cao
Kỹ thuật thông tin vệ tinh bao gồm những công nghệ rất phức tạp bởi đặc điểm truyền dẫn của vệ tinh là có đường truyền rất xa và độ trễ lớn Điều này cũng đồng nghĩa với việc hệ thống vệ tinh sẽ phải chịu tổn hao môi trường, tạp âm, can nhiễu Các kỹ thuật thông tin vệ tinh thông dụng nhất như xử lý băng gốc, điều chế, khuếch đại công suất, đa truy nhập, bù tổn hao, chống lỗi, …
Hệ thống VSAT (Verry Small Aperture Terminal) là một hệ thống thông tin
vệ tinh với các trạm đầu cuối có khẩu độ nhỏ, cung cấp các đường truyền số liệu và
Trang 13
11 điện thoại số qua vệ tinh chỉ cần sử dụng các anten có đường kính tương đối nhỏ
Sự xuất hiện của nó không ảnh hưởng tới các mạng hiện có mà còn hỗ trợ để tăng tính linh hoạt cho mạng Nó cung cấp các tính năng ưu việt cho các khách hàng sử dụng
Ở Việt Nam, công nghệ thông tin vệ tinh đã được ứng dụng từ năm 1980 (Đài vệ tinh Hoa Sen 1), đến nay sau hơn 20 năm đổi mới phát triển, ngành Viễn thông Việt Nam đã thiết lập mạng viễn thông quốc gia rộng lớn trong toàn quốc nhưng vẫn còn nhiều vùng sâu vùng xa có địa hình hiểm trở chưa được kết nối vào mạng viễn thông công cộng quốc gia Xu thế đa dịch vụ trong viễn thông đang phát triển với tốc độ cao, nhất là phát triển các ứng dụng trên nền IP ngày càng phát triển phù hợp xu thế hội tụ công nghệ thông tin và truyền thông
Để đáp ứng các yêu cầu thông tin cho các vùng sâu vùng xa, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (trước đây là Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam) từ cách đây 10 năm đã thiết lập hệ thống thông tin VSAT (với nhiều ưu điểm hơn hẳn các hệ thông thông tin mặt đất) đến hàng chục tỉnh miền núi, các hải đảo, đưa dịch vụ điện thoại đến 100% xã trong toàn quốc Ngày nay, dịch vụ đa dạng trên cơ sở hội tụ công nghệ thông tin và truyền thông là xu thế tất yếu của thế giới
và ở Việt Nam đang được ứng dụng rộng rãi, việc dùng một hệ thống VSAT mới đa dịch vụ cho các vùng sâu, vùng xa và phục vụ an ninh quốc phòng cũng như các nhu cầu sử dụng đặc biệt là rất cần thiết Do đó việc nghiên cứu những vấn đề lý thuyết, thực nghiệm về mạng VSAT và các ứng dụng trong điều kiện Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung Trước yêu cầu đó, đề tài
“Nghiên cứu đánh giá kết quả ứng dụng hệ thống thông tin vệ tinh dùng trạm mặt đất có antenna cỡ nhỏ (VSAT) cho vùng sâu vùng xa tại Việt Nam” được lựa
chọn để nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn cao
2 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống thông tin vệ tinh và các yếu tố ảnh hưởng
Trình bày tổng quan về hệ thống thông tin chuyển tiếp bằng vệ tinh địa tĩnh bao gồm cấu trúc trạm mặt đất và bộ phát đáp trên vệ tinh, các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng đường truyền qua vệ tinh, xu thế công nghệ
Chương 2: Mạng VSAT DAMA tại Việt Nam
Trang 14
12 Trình bày tổng quan về hệ thống thông tin VSAT DAMA và các vấn đề liên
quan đến triển khai tại vùng sâu vùng xa xôi, vùng hải đảo tại Việt Nam
Chương 3 : Hệ thống thông tin vệ tinh băng thông rộng IP-STAR
Trình bày tổng quan về hệ thống thông tin VSAT IP-STAR băng rộng đa dịch
vụ các vấn đề liên quan đến triển khai tại vùng sâu vùng xa xôi, vùng hải đảo tại
Việt Nam
Chương 4: Đánh giá hệ thống
Chương này dành để phân tích các ưu nhược điểm của hai hệ thống trên bằng
các luận cứ khoa học về các mặt : dịch vụ, độ tin cậy thông tin, khắc phục các yếu
tố ảnh hưởng, khả năng phổ cập và tính ứng dụng của hệ thống
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN VỆ TINH
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.1 Giới thiệu chung
Thông tin vô tuyến (Radio Communication) bằng vệ tinh ra đời nhằm mục
đích cải thiện các nhược điểm của mạng vô tuyến mặt đất, đạt được dung lượng cao
hơn, băng tần rộng hơn, đem lại cho khách hàng nhiều dịch vụ mới và thuận tiện
với chi phí thấp
Nói tới một hệ thống thông tin vệ tinh, chúng ta phải kể đến ba ưu điểm nổi
bật của nó mà các mạng mặt đất không có hoặc không hiệu quả bằng đó là:
- Khả năng quảng bá rộng lớn
- Có dải thông rộng
- Nhanh chóng và dễ dàng cấu hình lại khi cần thiết (ví dụ khi bổ sung trạm mới hoặc thay đổi thông số trạm cũ, )
Ta đã biết đối với mạng thông tin vô tuyến mặt đất hai trạm muốn thông tin
cho nhau thì các antenna của chúng phải nhìn thấy nhau Đó gọi là thông tin vô
tuyến trong tầm nhìn thẳng (Line Of Sight - LOS) Tuy nhiên do trái đất có dạng
hình cầu cho nên khoảng cách giữa hai trạm sẽ bị hạn chế để đảm bảo cho các
antenna còn trông thấy nhau Đối với khả năng quảng bá cũng vậy, các khu vực trên
Trang 15
13 mặt đất không còn nhìn thấy anttena của đài phát sẽ không thể thu được tín hiệu nữa Trong trường hợp bắt buộc phải truyền tin đi xa, người ta có thể dùng phương pháp nâng cao cột antenna, truyền sóng phản xạ tầng điện ly hoặc xây dựng các trạm chuyển tiếp Trên thực tế người ta thấy rằng cả 3 phương pháp trên đều có nhiều nhược điểm Việc nâng độ cao của cột antenna gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí và kỹ thuật mà hiệu quả thì không bao nhiêu (ví dụ nếu cột antenna có cao được đến 1km thì nó cũng không thể quảng bá quá 200 km trên mặt đất) Nếu truyền sóng phản xạ tầng điện ly thì cần có công suất phát rất lớn và bị ảnh hưởng rất mạnh của môi trường truyền dẫn nên chất lượng tuyến không cao Việc xây dựng các trạm chuyển tiếp giữa hai trạm đầu cuối sẽ cải thiện được chất lượng tuyến, nâng cao độ tin cậy nhưng chi phí lắp đặt các trạm trung chuyển lại quá cao
và rất không thích hợp khi có nhu cầu mở thêm tuyến mới Tóm lại, để có thể truyền tin đi xa người ta mong muốn xây dựng được các antenna rất cao nhưng lại phải ổn định và vững chắc Sự ra đời của vệ tinh chính là để thoả mãn nhu cầu đó Với vệ tinh, nguời ta có thể truyền sóng đi rất xa và dễ dàng thông tin trên toàn cầu hơn bất cứ một hệ thống mạng nào khác Thông qua vệ tinh INTELSAT, lần đầu tiên hai trạm đối diện trên hai bờ Đại Tây Dương đã thông tin được cho nhau Do có khả năng phủ sóng rộng lớn cho nên vệ tinh rất thích hợp cho các phương thức truyền tin đa điểm đến đa điểm, điểm đến đa điểm (cho dịch vụ quảng bá) hay đa điểm đến một điểm trung tâm HUB (cho dịch vụ thu thập số liệu) [1]
Bên cạnh khả năng phủ sóng rộng lớn, băng tần rộng của các hệ thống vệ tinh rất thích hợp với các dịch vụ quảng bá hiện đại như truyền hình số phân giải cao (High Definition TV - HDTV), phát thanh số hay các dịch vụ ISDN thông qua một mạng mặt đất (Terrestrial Network) hoặc trực tiếp đến thuê bao (Direct to Home - DTH) thông qua mạng VSAT Cuối cùng do sử dụng phương tiện truyền dẫn qua giao diện vô tuyến cho nên một hệ thống thông tin vệ tinh là rất lý tưởng cho khả năng cấu hình lại nếu cần Các công việc triển khai trạm mới, loại bỏ trạm
cũ hoặc thay đổi tuyến đều có thể thực hiện dễ dàng, nhanh chóng với chi phí thực hiện tối thiểu
Tuy nhiên, vệ tinh cũng có những nhược điểm quan trọng đó là:
- Khoảng cách truyền dẫn xa nên suy hao lớn, ảnh hưởng của tạp âm lớn
- Giá thành lắp đặt hệ thống cao, chi phí cho trạm mặt đất tốn kém
- Tuổi thọ thấp hơn các hệ thống mặt đất, khó bảo dưỡng, sửa chữa và nâng cấp
Các vệ tinh bay trong không gian cách xa mặt đất, năng lượng chủ yếu dùng cho các động cơ phản lực điều khiển là các loại nhiên liệu lỏng hoặc rắn được vệ
Trang 16
14 tinh mang theo trên boong Lượng nhiên liệu dự trữ này không thể quá lớn vì khả năng của các tên lửa đẩy có giới hạn, đồng thời nó sẽ làm cho kích thước vệ tinh tăng lên đáng kể do phải tăng thể tích của thùng chứa Nếu như vệ tinh đã dùng hết lượng nhiên liệu này thì chúng ta không thể điều khiển vệ tinh được nữa tức là không còn duy trì được độ ổn định của tuyến Khi đó vệ tinh coi như đã hỏng và như thế nói chung tuổi thọ của vệ tinh thường thấp hơn các thiết bị thông tin mặt đất khác Để làm cho vệ tinh hoạt động trở lại, người ta cần thu hồi lại vệ tinh để sửa chữa và tiếp thêm nhiên liệu Sau đó người ta phải phóng lại nó lên quỹ đạo Việc khôi phục các vệ tinh đã hết tuổi thọ này hết sức tốn kém và phức tạp nên trong thực tế, nói chung người ta thường dùng phương pháp thay thế bằng một vệ tinh hoàn toàn mới và loại bỏ vệ tinh cũ đi
Một hệ thống vệ tinh có thể cung cấp rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau
và ngày càng được phát triển đa dạng hơn Tuy nhiên nhìn chung thông tin vệ tinh đem lại ba lớp dịch vụ như sau:
- Trung chuyển các kênh thoại và các chương trình truyền hình Đây là sự đáp ứng cho các dịch vụ cơ bản nhất đối với người sử dụng Nó thu thập các luồng
số liệu và phân phối tới các mạng mặt đất với một tỉ lệ hợp lí Ví dụ cho lớp dịch vụ này là các hệ thống INTELSAT và EUTELSAT Các trạm mặt đất của chúng thường được trang bị antenna đường kính từ 15 30m
- Cung cấp khả năng đa dịch vụ, thoại, số liệu cho những nhóm người sử dụng phân tách nhau về mặt địa lí Các nhóm sẽ chia sẻ một trạm mặt đất và truy nhập đến nó thông qua mạng Ví dụ cho lớp dịch vụ này là các hệ thống vệ tinh TELECOM 1, SBS, EUTELSAT 1, TELE - X và INTELSAT (cho mạng IBS) Các trạm mặt đất ở đây được trang bị antenna đường kính từ 3 10m
- Kết nối các thiết bị đầu cuối có góc mở rất nhỏ (VSAT) nhằm để truyền dẫn các luồng số liệu dung lượng thấp và quảng bá các chương trình truyền hình, truyền thanh số Thông thường người dùng sẽ kết nối trực tiếp với trạm mặt đất có trang bị antenna đường kính từ 0.6 2.4m Các thuê bao di động cũng nằm trong lớp dịch vụ này Tiêu biểu cho loại hình này là các hệ thống EQUATORIAL, INTELNET hoặc INTELSAT, v.v Các dịch vụ của VSAT hiện đã rất phong phú
mà ta có thể kể đến như cấp và tự động quản lý thẻ tín dụng, thu thập và phân tích
số liệu, cung cấp dịch vụ thoại mật độ thưa, hội nghị truyền hình,
Hình dưới đây thể hiện cấu trúc tổng quát của một hệ thống thông tin vệ tinh trong thực tế [2] Nó có thể chia thành hai thành phần chính là phần không gian (Space Segment) và phần mặt đất (Ground Segment)
Trang 17Trạm điều khiển (tt&c)
Phần mặt đất
Tuyến xuống Tuyến lên
Hỡnh 1.1: Cấu trỳc một hệ thống thụng tin vệ tinh
1.2 Phần khụng gian
1.2.1 Cấu trỳc
Phần khụng gian là khỏi niệm để chỉ một phần của hệ thống bao gồm vệ tinh
và tất cả cỏc thiết bị trợ giỳp cho hoạt động của nú như cỏc trạm điều khiển và trung tõm giỏm sỏt vệ tinh Tại cỏc trung tõm này cỏc hoạt động bỏm sỏt, đo lường từ xa
và điều khiển (TT&C - Tracking Telemetry and Command) sẽ được thực hiện nhằm mục đớch giữ cho vệ tinh cố định, đồng thời kiểm tra được cỏc thụng số hoạt động của nú như nhiệt độ antenna, nguồn điện acquy, nhiờn liệu
Tuyến mà súng vụ tuyến được phỏt từ cỏc trạm mặt đất đến antenna thu của
vệ tinh được gọi là tuyến lờn (Uplink) Ngược lại tuyến mà vệ tinh phỏt tin cho cỏc trạm mặt đất sẽ được gọi là tuyến xuống (Downlink) Để đỏnh giỏ chất lượng của tuyến người ta hay dựng đại lượng C/N là tỉ số giữa cụng suất súng mang và cụng suất tạp õm ảnh hưởng đến súng mang Tỉ số này trờn toàn tuyến được quyết định bởi chất lượng của cả tuyến lờn và tuyến xuống, tương ứng với cỏc điều kiện truyền dẫn riờng ở mỗi tuyến (như mụi trường trung gian, kiểu điều chế, kiểu mó húa, tớnh chất của thiết bị thu, v.v )
Trang 18
16
Vệ tinh bao gồm một phần tải hữu ích (Payload) và một phần nền (Platform) Phần Payload gồm antenna và các thiết bị điện tử phục vụ cho truyền dẫn thông tin Phần Platform chứa các thiết bị bảo đảm cho hoạt động của phần Payload như là giá
đỡ, cung cấp nguồn điện, điều khiển nhiệt độ, điều khiển hướng và quỹ đạo, các thiết bị đẩy phản lực, thùng chứa nhiên liệu và các thiết bị TT&C Ta thấy rằng trong quá trình hoạt động vệ tinh sẽ nhẹ dần đi do phải tiêu tốn nhiên liệu cho việc điều khiển Để cho vệ tinh không bị mất trọng tâm thì quá trình giảm trọng lượng phải luôn phân bố đều trên toàn bộ thể tích của nó Do đó bao giờ người ta cũng thiết kế sao cho các thùng chứa nhiên liệu đối xứng với nhau qua trọng tâm của vệ tinh Thực tế những thùng chứa nhiên liệu nằm trong phần Platform chiếm phần lớn khối lượng và thể tích của các vệ tinh [2]
Độ tin cậy của phần không gian là một nhân tố quan trọng để đánh giá khả năng hoạt động của cả hệ thống Độ tin cậy của vệ tinh phụ thuộc vào chất lượng tất
cả các thiết bị của nó Khi một vệ tinh bị hỏng thì không chỉ có nghĩa là các thiết bị của nó bị hỏng mà có thể là do vệ tinh đã hết tuổi thọ Một hệ thống có độ tin cậy cao khi nó có các biện pháp dự phòng tốt Trong các hệ thống cao cấp, cứ một vệ tinh hoạt động thì có một vệ tinh dự phòng sẵn sàng trên quỹ đạo và một vệ tinh dự phòng ở dưới mặt đất (trong kho)
1.2.2 Vai trò của trạm điều khiển
Trên lý thuyết, các vệ tinh chuyển động với các quỹ đạo có hình dạng là đường tròn hoặc đường Ellipse nhưng trong thực tế các quỹ đạo này không được hoàn toàn như lý thuyết do vệ tinh còn phải chịu tác động của rất nhiều yếu tố khách quan như sự thay đổi ngẫu nhiên lực hút của trái đất, lực hấp dẫn của các hành tinh lân cận, Vì vậy ngay đối với vệ tinh địa tĩnh thì vẫn luôn có sự dao động xung quanh vị trí cân bằng của nó Thêm nữa quỹ đạo của chúng còn bị nghiêng (Inclined Orbit) Điều này dẫn đến trong hệ thống phải có các trạm điều khiển và trong các trạm mặt đất phải có hệ thống bám
Trang 19
17
75km
Trái Đất 0.1 85km
75km
Quỹ đạo danh định của vệ tinh địa tĩnh
Đ-ờng Xích Đạo Độ tr-ợt vệ tinh: Bắc Nam (NS) Đông Tây (EW) Độ lệch tâm : 0.001 0.05 Hỡnh 1.2 : Cửa sổ giữ trạm đối với vệ tinh địa tĩnh
Sự dao động của vệ tinh địa tĩnh xung quanh vị trớ tương đối rừ ràng sẽ làm
cho thời gian truyền dẫn giữa trạm và vệ tinh luụn bị thay đổi Đồng thời nú cũn
gõy ra hiệu ứng Doppler đối với súng mang Tất cả những ảnh hưởng này đều gõy
nờn những khú khăn cho quỏ trỡnh truyền dẫn và đồng bộ của hệ thống, nhất là
trong cỏc hệ thống truyền dẫn số (Digital Transmission) Ngoài ra trạm điều khiển
cũn cú chức năng giữ antenna thu phỏt của vệ tinh luụn hướng về vựng phủ súng
trờn mặt đất Hoạt động của trạm điều khiển dựa trờn cơ sở cỏc thụng tin đo đạc
nhận từ rất nhiều bộ cảm biến (sensor) đặt trờn vệ tinh [2]
1.2.3 Phõn hệ thụng tin của vệ tinh
Trờn một vệ tinh thường cú hai phõn hệ, đú là phõn hệ thụng tin gồm tất cả
cỏc thiết bị phục vụ cho việc truyền dẫn tin tức và phõn hệ điều khiển cú nhiệm vụ
đo lường cỏc thụng số làm việc và điều chỉnh lại cỏc thụng số này khi cú lệnh từ
mặt đất Cấu trỳc của phõn hệ thụng tin cú thể được biểu diễn tổng quan bằng sơ đồ
khối sau đõy (Hỡnh 1.3)
1.2.3.1 Bộ khuếch đại tạp õm thấp LNA
Trong sơ đồ trờn LNA là bộ khuếch đại tạp õm thấp (Low Noise Amplifier)
được đặt ngay sau antenna thu ARx cú nhiệm vụ khuếch đại biờn độ điện ỏp tớn hiệu
thu với mức tạp õm ký sinh rất nhỏ Bộ LNA của vệ tinh thường là kiểu cú làm lạnh
bằng Nitrogen lỏng hoặc hiệu ứng nhiệt điện Peltier Bộ LNA của vệ tinh cũng
giống với bộ LNA của cỏc ES
Trang 20
18
FU FD
Hình 1.3: Phân hệ thông tin của vệ tinh
1.2.3.2 Bộ đổi tần FC (Frequency Converter )
Sau khi đã được khuếch đại về biên độ, tín hiệu thu ở tuyến lên sẽ được trộn với một tần số chuẩn FLO được tạo ra bởi bộ dao động (OSC -Ocsillator) đặt ngay trên vệ tinh Tần số sinh ra ở đằng sau bộ trộn (MIX) là tổ hợp giữa tần số tín hiệu ở tuyến lên FU và tần số ngoại sai FLO Do tần số sóng mang của tuyến lên bao giờ cũng cao hơn tuyến xuống cho nên bộ đổi tần của vệ tinh thường là bộ đổi tần xuống (Down Convertor) Nguyên tắc của việc trộn tần là dựa vào đặc tính truyền đạt không tuyến tính của các thiết bị bán dẫn, ví dụ như một Diode, để sinh ra các tổ hợp tần số mới từ hai tần số ở đầu vào (FU và FLO) Nguyên tắc này có thể giải thích một cách đơn giản như sau [10]:
- Giả sử tín hiệu đầu vào có dạng: I (t)= Acos[(2FUt) + U]
và tín hiệu ngoại sai có dạng: LO(t) = Bcos[(2FLOt) + LO]
- Sau khi qua bộ trộn tín hiệu đầu ra sẽ là O(t) = I(t)LO(t) Do đó:
O(t) = ABcos[(2FUt) + U] cos[(2FLOt) + LO]
O(t) = (AB/2){cos[2(FU + FLO)t + U + LO] + cos[2(FU - FLO)t + U - LO]}
Như vậy tại đầu ra của bộ trộn ta có tín hiệu O(t) với biên độ AB/2 bao gồm hai thành phần tần số là FU + FLO và | FU - FLO| Bằng các bộ lọc ở đầu ra của bộ đổi tần ta có thể chọn lấy một thành phần tần số mà ta mong muốn Trong thông tin
vệ tinh thường người ta chọn thành phần tần số hiệu và FLO lớn hơn FU Do đó ta
có FD=FLO - FU Ví dụ đối với băng C thì FU=6GHz nên FLO phải bằng 10GHz
để FD=4GHz Ta cũng nhận thấy rằng khi chọn pha LO của LO(t)= 0 thì pha của tín hiệu sau khi qua bộ đổi tần sẽ không đổi và bằng U nên nó không gây trở ngại cho các quá trình xử lí phía sau đặc biệt là việc giải điều chế dịch mức pha (PSK - Phase Shift Keying) Tóm lại nếu giả sử thành phần tín hiệu đầu vào I(t) và thành
Trang 21
19 phần tín hiệu ngoại sai LO(t) có dạng như trên thì tại đầu ra của bộ đổi tần ta sẽ có tín hiệu O(t) là: O(t) = Kcos[2(FLO - FU)t + U] (với LO=0 và K=AB/2)
1.2.3.3 Bộ khuếch đại tiền công suất PPA và bộ phân chia HIBRID
Bộ khuếch đại tiền công suất PPA (Prior Power Amplifier) có chức năng khuếch đại sơ bộ công suất tín hiệu đi ra từ bộ đổi tần tới mức đủ lớn để có thể phân chia cho các Transponder Việc phân chia này được thực hiện nhờ bộ HIBRID gồm
có n đầu ra tương ứng với số Transponder của vệ tinh Công suất tại mỗi đầu ra của
bộ HIBRID do đó nhỏ hơn n lần so với công suất tại đầu vào của nó
1.2.3.4 Các bộ phát đáp (Transponder)
Băng tần rất rộng của vệ tinh được chia làm các băng nhỏ hơn (ví dụ rộng khoảng 40 MHz) Mỗi băng này được phân phối cho mỗi bộ phát đáp của nó còn gọi là kênh vệ tinh (Satellite Channel) Mỗi một kênh vệ tinh lại có thể mang rất nhiều kênh số liệu và kênh thoại từ những người sử dụng Trên thực tế do phải có khoảng bảo vệ giữa các bộ phát đáp cho nên dải tần thực tế mà các bộ phát đáp sử dụng thường nhỏ hơn (36MHz) Các bộ phát đáp có vai trò như là các kênh chuyển tiếp thông tin Chúng làm việc trong những dải tần riêng nhờ các bộ lọc thông dải BPF đặt ngay tại đầu vào Sau khi xử lí bù như bù trễ, bù tần số tín hiệu trong mỗi
bộ phát đáp sẽ được đưa qua bộ khuếch đại công suất cao HPA ở đầu ra để khuếch đại đủ lớn trước khi phát lại ở hướng xuống Bộ HPA của mỗi kênh vệ tinh thường
là loại đèn sóng chạy TWTA với độ dự phòng 5:1 và hiện nay đã bắt đầu sử dụng loại HPA bán dẫn SSPA Dễ nhận thấy rằng trong trường hợp hệ thống dùng kỹ thuật sử dụng lại tần số (Reuse) thì sơ đồ hình 3 mới chỉ là một nửa phân hệ thông tin của vệ tinh dành cho một phân cực Nửa còn lại của phân cực kia có sơ đồ tương
tự
1.2.3.5 Bộ ghép công suất (MUX):
Trước khi ra antenna phát ATx tín hiệu của các Transponder ở các băng tần con khác nhau phải được ghép lại với nhau Yêu cầu ghép phải đảm bảo làm sao cho sự can nhiễu giữa các kênh vệ tinh là thấp nhất và mức công suất của chúng đồng đều nhau trong tín hiệu tổng hợp Có nhiều kỹ thuật được ứng dụng cho bộ MUX mà trong đó có thể kể đến một thiết bị thông dụng là bộ CIRCULATOR
1.3 Phần mặt đất
Phần mặt đất bao gồm tất cả các trạm mặt đất (ES - Earth Station) của hệ thống Thông thường chúng được nối với thiết bị đầu cuối của người sử dụng thông qua một mạng mặt đất có dây hoặc không dây Trong một số trường hợp chúng nối trực tiếp với thiết bị của người sử dụng (VSAT) Các ES nối với người sử dụng qua mạng thường là các trạm lớn có dung lượng cao phục vụ nhiều khách hàng một lúc
Trang 22
20 Ngược lại, các trạm VSAT lại là các trạm nhỏ dung lượng thấp và chỉ phục vụ một
số lượng hạn chế người dùng Hiện nay, các dịch vụ VSAT đang rất phổ biến và phát triển nên các trạm mặt đất VSAT được rất nhiều quan tâm nghiên cứu
Các trạm mặt đất có thể phân biệt theo kích cỡ của chúng Kích cỡ này phụ thuộc vào dung lượng truyền tải và kiểu tin tức của mỗi trạm (thoại, truyền hình hay
số liệu) Các trạm lớn nhất được trang bị antenna đường kính 30m như các ES tiêu chuẩn A của hệ thống INTELSAT thế hệ cũ Các trạm nhỏ nhất antenna chỉ có 0.6
m ví dụ như các trạm thu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh Nhìn chung do kỹ thuật ngày càng phát triển nên kích cỡ của các ES ngày càng nhỏ lại Ví dụ hiện nay trạm chuẩn A của INTELSAT chỉ cần có antenna đường kính từ 15 đến 18m
Các trạm mặt đất thường có cả máy phát và máy thu để trao đổi tin tức với vệ tinh Một số trạm khác chỉ có máy thu như trong trường hợp trạm khai thác các dịch
vụ quảng bá từ vệ tinh hoặc là trạm phân phối các dịch vụ truyền hình và số liệu tới khách hàng Hình 1.4 cho ta thấy cấu trúc tổng quan của một trạm mặt đất thông dụng
Kỹ thuật về trạm mặt đất đặc biệt quan trọng cho những người khai thác hệ thống thông tin vệ tinh bởi vì nó gắn liền với họ Các thông số của trạm mặt đất, các tính chất tín hiệu và các quá trình xử lí tín hiệu tại trạm mặt đất như là ghép kênh, gây méo trước, giải méo trước, nén giãn, mã hoá, chống lỗi, phân tán công suất, bảo mật (encryption), [2]
E
TÝn hiÖu B¨ng gèc
( Tõ ng-êi dïng )
( Tíi ng-êi dïng )
Khèi ®iÒu chÕ trung tÇn
Khèi gi¶i ®iÒu chÕ trung tÇn
Hình 1.4: Cấu trúc cơ bản của một trạm mặt đất
1.4 Phân cực của sóng mang trên tuyến thông tin vệ tinh
Sóng điện từ bao giờ cũng có một thành phần điện trường và một thành phần
từ trường có hướng vuông góc nhau và vuông góc với phương truyền sóng Theo
Trang 23
21 quy ước, phân cực của sóng được định nghĩa bởi hướng của vector cường độ điện trường Nói chung hướng của điện trường không cố định và biên độ của nó cũng không phải là hằng số Khi truyền sóng điện từ, đầu mút của vector cường độ điện trường thường vạch ra một hình ellipse do đó gọi là phân cực ellipse [2]
Phân cực của sóng điện từ có 3 thông số cơ bản sau:
- Hướng quay vector cường độ điện trường: theo tay phải hoặc theo tay trái (tức là cùng hoặc ngược chiều kim đồng hồ - Clockwise or Counter Clockwise)
- Tỉ số trục AR (Axial Ratio): AR=EMAX/EMIN là tỉ số giữa trục lớn và trục nhỏ của ellipse phân cực Khi AR=1 hay 0dB thì đường ellipse trở thành đường tròn và phân cực được gọi là phân cực tròn Khi AR= thì đường ellipse trở thành một đườngthẳng và phân cực được gọi là phân cực thẳng
- Khi dùng công nghệ truyền dẫn sử dụng lại tần số (Reuse) thì người ta phải dùng đến hai sóng mang có phân cực vuông góc nhau vì lúc đó không thể phân biệt sóng mang qua tần số Hai sóng điện từ được gọi là vuông góc nhau khi chúng có các ellipse phân cực vuông góc nhau hay độ nghiêng của 2 ellipse lệch nhau 90
Nhiều khi ở những tuyến gây xuyên cực lớn người ta phải sử dụng thêm sự phân biệt về chiều quay vector cường độ điện trường Một sóng mang quay theo tay phải còn sóng mang vuông góc với nó quay theo tay trái Đặc biệt khi sử dụng phân cực tròn thì chỉ có thể phân biệt về chiều quay của vector phân cực Khi đó sóng mang có vector E quay theo tay phải gọi là
RHCP (Right Hand Circular Polarisation) và
sóng mang có vector E quay theo tay trái gọi
là LHCP (Left Hand Circular Polarisation)
Các phân cực tròn LHCP và RHCP hiện
đang được dùng rất phổ biến trong thông tin
vệ tinh, đặc biệt trong các hệ thống dùng lại
tần số
Hai phân cực thẳng gọi là vuông góc
nhau khi có một phân cực hướng theo chiều
thẳng đứng (Vertical), phân cực kia hướng theo chiều nằm ngang (Horizontal) trong một hệ quy chiếu nào đó
1.5 Các dải tần số sử dụng trong thông tin vệ tinh
Để phân phối tần số người ta chia thế giới ra làm ba khu vực như sau:
- Khu vực 1: bao gồm Châu Âu, Châu Phi vùng Trung Đông và Nga
- Khu vực 2: bao gồm các nước Châu Mỹ
Trang 24- Khoảng 6GHz cho tuyến lên và 4GHz cho tuyến xuống được gọi là băng 6/4 GHz hay băng C Băng tần này được các hệ thống cũ sử dụng, ví dụ như hệ thống INTELSAT, các hệ thống nội địa của Mỹ, và hiện nay đã có xu hướng bão hòa
- Khoảng 8GHz cho tuyến lên và 7 GHz cho tuyến xuống được gọi là băng 8/7 GHz hay băng X Băng tần này được dành riêng cho chính phủ sử dụng
- Khoảng 14GHz cho tuyến lên và 11 hoặc 12GHz cho tuyến xuống được gọi là băng 14/12GHz - 14/11GHz hay băng Ku Băng tần này được các hệ thống mới hiện nay sử dụng ví dụ như hệ thống EUTELSAT, TELECOM I và II, v.v
- Khoảng 30GHz cho tuyến lên và 20 KHz cho tuyến xuống được gọi là băng 30/20GHz hay băng Ka Băng tần này hiện nay mới chỉ sử dụng cho các hệ thống cao cấp, các cuộc thử nghiệm và dành cho tương lai
- Các băng tần cao hơn 30GHz hiện đang được nghiên cứu và chắc chắn sẽ được dùng rất phổ biến trong tương lai
Các dịch vụ di động dùng vệ tinh sử dụng băng tần khoảng 1.6GHz cho tuyến lên và 1.5GHz cho tuyến xuống Băng tần này được gọi là băng 1.6/1.5 GHz hay băng L
Các dịch vụ quảng bá qua vệ tinh chỉ có tuyến xuống và sử dụng băng tần vào khoảng 12GHz
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tuyến thông tin vệ tinh [2] [10] 1.6.1 Giới thiệu
Mục đích của phân tích hệ thống đường truyền thông tin là nhằm đạt được kết quả cao của một tín hiệu khi nó được truyền từ một trạm này đến một trạm khác Bởi vì một đường truyền vệ tinh tín hiệu sẽ bị suy yếu trong quá trình truyền do ảnh hưởng của không khí, nhiệt độ, tầng điện ly và độ nhiễu giữa cung đoạn trái mặt đất
và vệ tinh Tuy nhiên nhìn chung thông số đường lên, xuống vệ tinh là những ảnh hưởng chính Chúng ta xét đường truyền vệ tinh cơ bản được chia làm ba phần:
- Trạm phát mặt đất và các yếu tố liên quan với đường lên
- Hệ thống vệ tinh
- Các yếu tố liên quan với đuờng xuống và trạm thu mặt đất
Trang 25Để định hướng tín hiệu, ở anten có hệ số tăng ích được tính như sau:
GdBi = 10*log + 20*log + 20*log D + 20.4dB (1)
Hệ số tăng ích 1m2 anten với hiệu suất 100% là:
Trong đó: là hiệu suất anten
D là đường kính anten là tần số hoạt động
20.4dB là hằng số tính từ 10log[(1*109* )/c ]
Phương trình trên cho thấy G phụ thuộc vào đường kính anten và tần số hoạt động
1.6.2.2 Công suất phát xạ đẳng hướng tương đương (EIRP)
Nguồn công xuất cao tần bức xạ trên một đơn vị góc cố định của anten vô hướng được tính bằng: PT / 4 (W)
Đối với anten định hướng, giá trị tăng ích của anten phát là GT thì công suất phát xạ trên một đơn vị góc được tính:
PT GT/ 4 (W)
Hệ số tăng ích anten (GT )là tham số chính, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc
sử dụng nguồn năng lượng cao tần (RF) từ máy phát
Tích PT GTđược gọi là công xuất bức xạ đẳng hướng tương đương (EIRP)
Do vậy EIRP được hiểu như là hàm của hệ số tăng ích anten phát GT và công suất phát PT của anten phát
Trang 261.6.2.3 Suy hao truyền dẫn và suy hao không gian tự do
Nếu một anten đẳng hướng phát xạ công suất PT, nguồn tín hiệu sẽ phân bổ theo hình cầu trong đó anten là tâm Mật độ công xuất bức xạ ở khoảng cách R so với điểm truyền dẫn được xác định theo phương trình sau:
W Cường độ bức xạ tại khoảng cách R
R Khoảng cách tại các điểm trong không gian tự do 71dB được tính từ 10log(4 * 106)
Khi anten thu ”nhận” tín hiệu, số lượng tín hiệu nhận được sẽ phụ thuộc vào kích cỡ của anten
Công suất đầu thu sẽ là:
Trang 27
25 Biểu thức (4 R/ )2 được xem như là suy hao trong không gian tự do L0 Tính theo đơn vị dB:
L0 = 20logR + 20log + 92.5 dB (10) Trong đó: là tần số hoạt động tính băng Ghz
92.5dB là hằng số tính từ 20log[(4*109*103)]
Phương trình (9) được biểu thị theo dB:
Ở phương trình này nếu GR là hệ số tăng ích cho 1m2
anten với hiệu suất 100% PR sẽ trở thành cường độ bức xạ trên 1 đơn vị, vì vậy cường độ bức xạ trong phương trình (6) được biến đổi là:
1.6.2.4 Khoảng cách từ vệ tinh tới trạm mặt đất
Khoảng cách R từ vệ tinh tới trạm mặt đất có thể tính :
R = [r2 + S2 - 2rS(Cos C )]1/2 (13) Trong đó: r: Bán kính quỹ đạo trái đất (6,378.14km)
S: Bán kính vệ tinh quỹ đạo đồng bộ địa tĩnh (42,164.57km)
Với tần số trong khoảng 1Ghz đến 10Ghz thì khoảng suy hao kết hợp giữa mưa và tầng điện li là không đáng kể Tần số càng cao (lớn hơn10Ghz) thì sự suy hao do mưa càng lớn
1.6.3 Các yếu tố liên quan đường xuống và trạm thu mặt đất
1.6.3.1 Trị số G/T ( Đặc trưng độ nhạy máy thu)
Trong các hệ thống truyền dẫn, nhiễu là ảnh hưởng lớn nhất đối với chất lượng của đường truyền G/T dB/K được xem như là độ phẩm chất cho hệ thống thu
Trang 28
26
Vệ tinh thông tin yêu cầu giá trị G/T cụ thể cho các tiêu chuẩn trạm mặt đất được đưa ra trong tiêu chuẩn IESS Điều này cũng có nghĩa là các trạm không gian cần cung cấp những thông số G/T cần thiết cho trạm mặt đất Vệ tinh thông tin sẽ cung cấp đầy đủ yêu cầu kỹ thuật để đáp ứng những đặc tính của mọi dịch vụ
1.6.3.2 Nhiệt tạp âm
Là tạp âm do chuyển động hỗn loạn của các điện tích gây ra Mặc dù tạp âm trong thông tin vệ tinh do nhiều nguồn tạo ra nhưng công suất của nó rất nhỏ Nhiệt tạp âm dùng làm đơn vị thuận tiện để biểu thị công suất nhiệt tạp âm T theo công thức:
Trong đó: (KTB)*G : Độ nhiễu đầu vào trạm thu, nhiều bộ phận qua hệ số tăng ích nơi nhận và được điều chỉnh đầu ra nơi thu
N: Độ nhiễu đầu ra nơi thu N = KTeB
Te: Là nhiệt tạp tương đương nơi thu Te = (F-1)T0 (16) F: số nhiễu trong 1 đơn vị
T0: Nhiệt độ tuyệt đối (290 Kelvin)
1.6.3.3 Nhiệt hệ thống
Nhiệt tạp âm hệ thống của một trạm mặt đất bao gồm: Nhiệt tạp âm đầu thu, nhiệt tạp âm của anten (Tant), kể cả feed, ống dẫn sóng và nhiễu bầu trời đều tác dộng đến hệ thống thu của anten
Tsystem = Tant /L + (1 - 1/L)*T0 + Te (17) Trong đó: L: Hệ số suy hao feed
Tant: Nhiệt tạp âm anten phát Phương trình này cho thấy feed và ống dẫn sóng có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống nhiệt tạp âm
1.6.3.4 Tính tỷ số G/T
Sau tất cả tính toán trên cho thấy dễ dàng tính được:
Trang 29
27 Khi hệ số tăng ích anten là tần số độc lập thì G/T phải đơn giản hoá tần số đã biết (thường là 4 hoặc 11 Ghz) bằng cách áp dụng phương trình (18) 20*logf/f0 (f0
là 4 hoặc 11 Ghz) ở đây f là tần số đo bằng Ghz
1.6.3.5.Tỷ số sóng mang trên nhiễu
Một trong những thông số tính toán một đường truyền là công suất sóng mang thu được trên công suất tổng nhiễu đầu thu (C/N) được định nghĩa là:
Với PRvà Pn được định nghĩa ở phương trình (6) và (14) cụ thể:
C/N = (EIRP*GR)/(KTsystemB).L0 (20) Tính theo đơn vị dB:
C/N dB = EIRPdb – L0 dB + G/T dB/K – 10logK – 10logB (21) (-10logK = +228.6dBW/K)
Trong đó: Độ rộng băng tần sóng mang (đối với sóng mang số tỉ lệ truyền dẫn B=0.6)
Độ rộng băng tần đầu thu (B) thường phụ thuộc vào sóng mang điều chế Thông thường tách thông số năng lượng đường truyền bằng cách giản hoá sự phụ thuộc băng tần Mối quan hệ mới sẽ là tỉ số sóng mang trên nhiễu (C/N0)
1.6.3.6 Phân bổ nhiễu khác (Other noise contribution)
Để tính được tổng độ nhiễu của đường truyền và từ đó có thể tính được chất lượng đường truyền Thì tất cả phân bổ độ nhiễu ở các nguồn khác nhau phải được tính đến
Ví dụ nhiễu xuyên điều chế (Intermodulation noise) ở HPA(C/THPAIM) của trạm mặt đất, ở khuyếch đại đầu ra của vệ tinh (C/TSATIM), nhiễu do phân cực hoá tín hiệu trong các mạng giống nhau (C/TCo) và nhiễu do vệ tinh (C/Tup) cũng như
độ nhiễu do đường xuống trạm thu (C/TDOWN) Thông tin vệ tinh được đưa ra từ bảng IESS410 và những thông tin này được đổi sang C/T bằng các cách:
- Độ nhiễu xuyên điều chế (Intermodulation noise) trong bộ khuyếch đại công suất vệ tinh:
Thông tin trong bảng IESS410 cho mọi bức xạ vệ tinh giá trị này được đưa
ở dB/4Khz, để chuyển đổi sang C/T chúng ta có dùng công thức:
C/TSATIM = EIRPSAT - (giá trị SATIM) + 10log4Khz - 228.6 dBW/K (25)
Trang 30
28 Trong đó: EIRPSAT = EIRP sóng mang giá trị SATIM: là giá trị nhiễu xuyên điều chế tạo ra ở bộ phát đáp vệ tinh
- Nhiễu xuyên đều chế từ các tín hiệu phân cực trực giao:
Thông tin về độ nhiễu hợp kênh được đưa ra ở bảng IESS410 cho mọi bức
xạ vệ tinh Giá trị này đưa ra tỷ số sóng mang trên nhiễu (C/I) dB
Do đó để chuyển đổi sang C/T ta phải sử dụng:
C/TCo = C/IdB + 10log (BW chiếm trong sóng mang) - 228.6 db (26)
Ở đây BW chiếm trong sóng mang xác định sóng mang cần tính toán
- Nhiễu xuyên đều chế trong HPA trạm mặt đất
Giá trị này được chuyển đổi nếu độ lùi HPA thấp hơn 7dB trong bộ hoạt động đa sóng mang (multicarrier operation)
Ở đây tiêu chuẩn IESS phải đáp ứng:
EIRPIM 4Khz = EIRPIM - 10log(IM băng tần 4Khz) (27) C/TIM E/S = EIRP(sóng mang đã kiểm tra)- EIRPIM4Khz + 10log4Khz -228.6dB (28) Trong đó: EIRPIM là EIRP nhiễu xuyên điều chế đã điều chỉnh ở đầu ra HPA EIRPIM4Khz : EIRP nhiễu xuyên điều chế được đổi sang độ rộng băng tần 4Khz
Ví dụ: tính EIRP IM: Với EIRP sóng mang = 63.9 dBW
a Can nhiễu với đường thông tin viba trên mặt đất
Có hai trường hợp một đường thông tin viba trên mặt đất can nhiễu với một
hệ thống thông tin vệ tinh
Trường hợp 1: Đường thông tin viba mặt đất có cùng tần số làm việc với đường lên của hệ thống thông tin vệ tinh, bởi vậy tín hiệu viba mặt đất được trộn với tín hiệu đầu vào máy thu vệ tinh
Trường hợp 2: Hai đường thông tin mặt đất có tần số bằng tần số đường xuống của hệ thống thông tin vệ tinh, bởi vậy ở đầu vào máy thu trạm mặt đất cũng
bị trộn với tín hiệu của đường thông tin viba mặt đất
Trong trường hợp đầu anten của đường thông tin mặt đất được điều khiển sao cho không hướng vào quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh, như vậy can nhiễu được giảm nhỏ ở trường hợp sau, có thể có khả năng phát sinh can nhiễu mạnh lên hệ thống thông tin vệ tinh, phụ thuộc vào vị trí các trạm mặt đất
Trang 31
29
Ở trên đề cập đến can nhiễu của đường thông tin viba mặt đất với hệ thống thông tin vệ tinh Ngược lại, can nhiễu giữa hệ thống thông tin vệ tinh với đường viba trên mặt đất cũng là một vấn đề Đặc biệt là khi máy phát của trạm mặt đất làm việc ở cùng tần số với đường thông tin viba mặt đất, có khả năng một tín hiệu can nhiễu mạnh sẽ trộn lẫn với tín hiệu đường thông tin mặt đất
b Sự can nhiễu với vệ tinh bên cạnh:
Hình vẽ dưới đây cho ta thấy can nhiễu xảy ra giữa các hệ thống thông tin vệ tinh Nếu chúng ta xem xét tín hiệu can nhiễu từ hệ thống vệ tinh 1 lên hệ thống vệ tinh 2, can nhiễu xảy ra nếu bức xạ cách trục chính từ trạm mặt đất 2 chiếu vào vệ tinh 1 và anten thu của vệ tinh 1 cũng nhạy cảm với hướng trạm mặt đất 2 trên đường lên
Trong khi đó đường xuống can nhiễu xảy ra khi anten phát của vệ tinh 2 cũng chiếu vào trạm mặt đất 1 và anten thu của trạm mặt đất 1 cũng thu được ở hướng của vệ tinh 2
Công suất của sóng can nhiễu giảm khi góc tăng và hệ số tăng ích của anten trạm mặt đất giảm Tỷ số công suất của sóng hữu ích trên sóng can nhiễu giữa các
hệ thống thông tin vệ tinh trong thực tế có thể đạt 30dB (1000lần) hoặc lớn hơn khi hai vệ tinh đặt cách nhau khoảng 20 trên quỹ đạo, ngay cả nếu các anten của chúng cùng chiếu vào một vị trí [2]
Trang 32
30
c Tạp âm
Tạp âm được hiểu là tín hiệu không mong muốn có trong luồng tín hiệu thu
về, tạp âm làm giảm chất lượng thông tin, ví dụ như tạp âm làm giảm tỷ số tín hiệu trên nhiễu S/N, hoặc làm giảm tỷ số sóng mang trên tạp âm, tăng tín hiệu lỗi bít đường truyền Trên thực tế đối với các hệ thông tin khác thì tạp âm thường rất nhỏ
so với tín hiệu hữu ích, nhưng trên tuyến thông tin vệ tinh, tín hiệu hữu ích thu được thường rất nhỏ, trong khi đó tạp âm thì lại rất lớn do khoảng cách truyền của thông tin rất dài (khoảng cách 37000km) Tạp âm còn được góp nhặt bởi anten từ môi trường truyền sóng, suy hao do mưa Tín hiệu thu về xem như bị chìm trong tạp âm
Vì thế nghiên cứu tạp âm là một vấn đề rất quan trọng không thể thiếu trong thông tin vệ tinh
- Tạp âm vũ trụ: Tạp âm vũ trụ hình thành do nhiễu bức xạ cao tần từ các dải
ngân hà, phát xạ của mặt trăng, tác động mạnh ở dải tần dưới 10GHz
- Tạp âm khí quyển: Ôxy, ni tơ, hơi nước, sương mù, có trong khí quyển hấp
thụ năng lượng sóng điện từ có tần số xấp xỉ bằng tần số dao động của các phần tử khí nói trên khi sóng điện từ truyền qua nó, chính sự hấp thụ này làm cho sóng điện
từ bị suy yếu đi và tạp âm cũng sinh ra từ đó Trong thông tin vệ tinh dải tần từ 1 đến 10Ghz khi góc ngẩng của anten dưới 5o thì mức suy hao do ảnh hưởng tầng đối lưu sẽ nhỏ hơn 1,5dB Suy hao do mây mù vào khoảng 1dB trong dải tần 4-6Ghz (băng C) và suy hao khoảng 3dB trong dải tần 7Ghz và nhỏ hơn 6dB ở dải tần 10Ghz
- Tạp âm do mưa: Sóng điện từ không những bị suy hao do mưa mà còn cộng
thêm tạp âm sinh ra do các bức xạ siêu cao của mưa, thêm vào đó nhiệt độ nước mưa cũng là nguồn tạp âm nhiệt Có thể nói trong các nguồn tạp âm trong thông tin
vệ tinh thì tạp âm do mưa sinh ra cần phải lưu ý nhất Do đó trong tính toán tuyến
Trang 33
31 truyền thông tin vệ tinh, để đảm bảo chất lượng thông tin người ta phải có tính toán đến sự dự trữ cho mưa và đây cũng là một bài toán rất phức tạp
- Tạp âm trái đất: Mặt đất phản xạ sóng điện từ đối với các búp sóng phụ của
anten trạm mặt đất, các búp sóng phụ này gây ra tạp âm ảnh hưởng trực tiếp từ mặt đất và tạp âm khí quyển từ phản xạ từ mặt đất Nhiệt độ tạp âm do ảnh hưởng của trái đất trong khoảng từ 3-25°K
- Tạp âm nhiệt: Tạp âm sinh ra do hoạt động ngẫu nhiên của các điên tử tự
do của các vật dẫn điện, khi chuyển động các điện tử này va chạm với các nguyên
tử và sinh ra tạp âm nhiệt, Mặc dù khi các vật dẫn hở mạch, các điện tử chuyển động hỗn loạn vẫn sinh ra tạp âm nhiệt
1.6.4 Tham số của bộ phát đáp hệ thống vệ tinh ảnh hưởng đến tuyến truyền
Khi phân tích đường truyền cho vệ tinh ta phải tính đường truyền cho tuyến lên, tuyến xuống và tại hệ thống vệ tinh Tính toán đường truyền tại hệ thống vệ tinh chủ yếu là ở bộ phát đáp, thu nhận đường truyền tuyến lên rồi phát đáp xuống trạm thu bằng phương tiện đường xuống
Bộ phát đáp vệ tinh thực hiện chức năng phát lại tín hiệu điện từ Chúng nhận tín hiệu từ trạm phát sau đó khuyếch đại, đổi tần rồi truyền lại trạm thu mặt đất Nguồn từ vệ tinh được chia ra nhiều trạm mặt đất với những chuẩn khác nhau (A, B, C, D, E và F) và theo đó là những vệ tinh khác nhau Với độ rộng băng tần 51.2 Khz (cho sóng mang 64kbit/s với 3/4 FEC) cho một bộ phát đáp
Theo độ rộng băng tần, các thông số được chia ra là:
A Mật độ bão hoà (dBW/m2)
B Tỷ số G/T nhận (dB/ K)
C EIRP bão hoà ( dBW)
Mật độ bão hoà là tổng mật độ phát ra ở nguồn chuyển tới vệ tinh từ trạm phát mặt đất, nơi phát ra EIRP bão hoà tới vệ tinh
1.6.4.1 Điểm hoạt động của bộ phát đáp
Vì khuyếch đại công suất đầu ra bộ phát đáp phải là bộ tuyến tính Nó phải được hoạt động như điểm bão hoà để tránh biến dạng phi tuyến Do vậy đầu vào và
độ lùi đầu ra (input and output back off) phải đạt được điểm Đây là một sự lãng phí nguồn có sẵn trong TWTA chính Hai phương pháp sử dụng để tối thiểu hoá nguồn lãng phí do độ lùi đầu vào (back off) Phương pháp một là sử dụng SSPA như là khuyếch đại nguồn ra Phương pháp hai là khi áp dụng nguồn cao cần phải sử dụng các TWTA Nhưng khi sử dụng TWTA thì cần phải sử dụng đến hiệu chỉnh đường nét Cả hai đều tăng đặc trưng hệ phát đáp IM
Trang 34Ví dụ: X= 5.5 dB cho 1 TWTA trong INTELSAT VI HEMI/HEMI
X= 1.8 dB cho 1 SSPA trong INTELSAT VII HEM/ZONE (và trong một số trường hợp của INTELSAT VI)
X= 1.7 dB cho 1 LTWTA trong INTELSAT VII-A ku sport
1.6.4.2 EIRP hoạt động của bộ phát đáp
EIRP vệ tinh hoạt động (EIRPop) được tính theo phương trình (30):
TWTA transfer characteristic
1.6.4.3 Mật độ thông lượng công suất vệ tinh ở bề mặt trái đất
Thế nhiễu tạo ra bởi một vệ tinh phát và hạn chế tối đa hoá mật độ thông lượng công suất đưa ra ở một số vệ tinh tại bề mặt trái đất Việc hạn chế vùng này
sẽ thay đổi được chức năng của góc mở Bảng dưới đây cho thấy mật độ thông lượng công suất (PAD) giới hạn ở bề mặt trái đất như là hàm của góc mở và được xét ở độ rộng băng tần 4Khz
Ở mọi trường hợp có thể đánh giá được bằng cách áp dụng công thức:
Trong đó: W: Cường độ bức xạ tính cho đường xuống
B: Độ rộng băng tần chiếm trong sóng mang
Băng tần Mật độ thông lượng công suất tối đa (dBW/m2)
(Ghz) 0< < 5 5< < 25 25< < 90 Băng chuẩn
3.4 - 7.75 -125 -150+0.5(-5) -142 4Khz
8.025 - 11.7 - 150 -150+0.5(-5) -140 4Khz
12.2 - 12.75 - 148 -148+0.5(-5) -138 4Khz
Trang 35
33
Kết luận: Việc thiết lập tuyến thông tin vệ tinh cần phải xem xét đến các yếu
tố ảnh hưởng, những vấn đề liên quan đến chất lượng, băng thông và điều kiện làm việc
Hệ thống VSAT (Verry Small Apecture Terminal) là một hệ thống thông tin
vệ tinh với các trạm đầu cuối có khẩu độ nhỏ, cung cấp các đường truyền số liệu và điện thoại số qua vệ tinh chỉ cần sử dụng các ăng ten có đường kính tương đối nhỏ
Tất cả các nước công nghiệp phát triển đều coi vệ tinh là một mũi nhọn của ngành Viễn thông và nước ta không nằm ngoài xu thế này Mạng thông tin vệ tinh VSAT đã được triển khai ở Việt Nam từ năm 1996, đó là mạng VSAT DAMA, đáp ứng được nhu cầu thông tin ở nhiều địa hình khó khăn hiểm trở, sử dụng trong những tình huống khẩn cấp, khắc phục hậu quả thiên tai Chương tiếp theo sẽ trình bày về hệ thống thông tin vệ tinh VSAT tại Việt Nam
Trang 36
34
CHƯƠNG 2 MẠNG VSAT DAMA TẠI VIỆT NAM
2.1 Đặc điểm chung của mạng VSAT [1]
Hệ thống VSAT có các trạm đầu cuối cung cấp các đường truyền số liệu và điện thoại số qua vệ tinh sử dụng các anten có đường kính tương đối nhỏ Sự xuất hiện của nó không ảnh hưởng tới các mạng hiện có mà nó còn hỗ trợ để tăng tính linh hoạt cho mạng Nó cung cấp các tính năng ưu việt cho các khách hàng sử dụng
Một mạng VSAT bao gồm: Một vệ tinh thông tin, một trạm trung tâm (HUB) với anten khoảng từ 4,5m đến 11m và một mạng gồm nhiều trạm đầu cuối VSAT (các trạm Remote) với các anten nhỏ (thường từ 0,9 đến 2,4m)
Mạng VSAT DAMA (Demand Assigned Multiple Access: đa truy cập ấn định theo yêu cầu) tại Việt Nam bao gồm 01 trạm chủ được đặt tại Sài Gòn, có đường kính ăng ten 7.2m
Trạm chủ (HUB) kiểm soát, điều khiển các trạm thuê bao
+ Trạm con có 1 tới 4 cạc kênh CU (Channel Unit), đảm trách các phương thức truyền tin
+ Định dạng tần số phát - thu cho máy, phương thức điều chế QPSK hay BPSK tốc độ dữ liệu cho các loại thuê bao khác nhau, định mức phát, mức thu cao tần lên vệ tinh Kiểm soát toàn bộ mức tần số, băng tần sóng mang, để phù hợp với những qui định khai thác vệ tinh của hệ thống Làm điều đó bởi phần mềm điều khiển và quản lý mạng (NCS: Network Control System) đặt ở trạm chủ.Tại đây sau khi cài đặt tất cả các yêu cầu kỹ thuật vào bộ vi xử lý đổ vào cạc thoại thì được hiểu
là kênh thoại (VCU: Voice Channel Unit) hay đổ vào cạc số liệu thì được hiểu là kênh số liệu (DCU:Data Channel Unit)
Tóm lại một cạc hoạt động như thế nào là do việc cài đặt tại trạm chủ
- Để kiểm soát từ xa các trạm con, theo một chu kỳ thời gian ngắn qui định trạm chủ cập nhập tình trạng trạm con của mình, phát hiện các vấn đề sự cố và trao đổi thông tin với nhau Có thể tự thử nối vòng về (loopback) từ xa để kiểm tra mọi thông số kỹ thuật Các sự kiện đang xảy ra và đã xảy ra của thiết bị trạm con đều được thông tin đầy đủ
- Việc điều khiển cung cấp tần số phát và thu qua vệ tinh đối với hàng trăm trạm con như vậy khá phức tạp Hệ thống NCS kiểm soát mạng sẽ chỉ cho phát lên
vệ tinh khi hai trạm con có yêu cầu kết nối thông tin và ngắt sóng mang phát lên hai trạm khi một trong hai trạm có yêu cầu ngừng kết nối Như vậy mới đảm bảo để đáp ứng được nhiều trạm con
Trang 37
35
Hệ thống VSAT DAMA được thiết lập nhằm cung cấp dịch vụ thoại cũng như phi thoại Đối với các ứng dụng thoại (voice) nó hoạt động như một tổng đài điện thoại: thực hiện các chức năng cung cấp đường truyền, chuyển mạch, ghi nhận
và tính cước Hơn thế nữa hệ thống VSAT còn có thể sử dụng để cung cấp các đường truyền số liệu với các tố độ 9.6kbps đến 64kbps
Điểm khác biệt so với các hệ thống VSAT khác đang sử dụng tại Việt Nam
là đường truyền trong hệ thống VSAT DAMA có các sóng mang vệ tinh truyền theo phương thức SCPC (Single Channel Per Carrier): mỗi một sóng mang mang thông tin đã được số hoá (Digital Signal) trên một kênh từ thuê bao này đến thuê bao kia
- Hệ thống điều khiển NCS có thể trao đổi thông tin với các trạm Remote bằng hai kênh điều khiển:Outbound Channel (OCC) truyền dữ liệu từ NCS đến Remote và Inbound Channel(ICC) từ trạm Remote đến NCS
- Mọi cạc kênh (CU) đều giống nhau về mặt cấu trúc điện vật lý tuỳ thuộc vào việc lập trình phần mềm tại NCS, NCS sẽ qui định từng cạc hoạt động với nhiều cấu hình khác nhau thực hiện các chức năng khác nhau: CCU (Control Channel Unit) cho kênh điều khiển, VCU cho mạch thoại, DCU cho mạch truyền số liệu
+ Một trạm con chỉ có một chassis, mỗi chassis có thể có tối đa 4 cạc CU Mỗi CU (card) có các giao tiếp:
(i) Giao tiếp hai dây cho các máy lẻ
(ii) Giao tiếp E&M với tổng đài
(iii) Giao tiếp RS 232 để thiết lập cấu hình, điều khiển
Băng thông (Bandwidth) của một kênh phụ thuộc vào các yếu tố tốc độ dữ liệu, phương thức sửa lỗi FEC và các kiểu điều chế Các mạch có cùng một chế độ làm việc (tốc độ dữ liệu (bit rate), FEC, và phương thức điều chế ) được tập trung trong một tập hợp các cặp tần số đã được xác định trước
Bằng quá trình thực hiện sự phối ghép khả năng báo hiệu và kết nối theo yêu cầu giữa các đầu cuối thuê bao xa (Remote Terminal: RT), nhờ gán các tần số hoặc các khe thời gian tới các RT tương ứng), NCS sẽ xác định và chỉ định tần số cho các cạc kênh thuê bao xa (Remote CU) Sau khi xác định được tần số làm việc, các Remote CU sẽ thực hiện truyền đẫn thông tin của khách hàng Khi cuộc gọi kết thúc, CU sẽ thông báo với NCS để giải toả cặp tần số dành cho các khách hàng khác
sử dụng
Vệ tinh
Đầu cuối vô tuyến (ODU) Thiết bị bên tronng
Đầu cuối vô tuyến Thiết bị trong nhà (IDU)
Chuyển mạch trạm trung tâm
Mạng thoại công cộng
Thoại
Trang 38Các bộ điều chế
Thiết bị
RF
Trang 39
37
Hình 2.2 Bố trí trạm trung tâm(HUB) của VSAT
Trạm trung tâm gồm 3 phần chính [1]: RFT (đầu cuối tần số vô tuyến) thiết
bị băng cơ sở của trạm trung tâm và giao diện khách hàng
Phần RFT bao gồm 1 anten parabol kích thước 7,2m và thiết bị điện tử tần số cao (RF) thường được đặc trưng cho các trạm mặt đất lớn (bộ chuyển đổi lên, bộ chuyển đổi xuống, bộ khuếch đại tạp âm thấp LNA, và bộ khuyếch đại công suất cao HPA )
Thiết bị băng cơ sở trung tâm bao gồm các bộ điều chế cần thiết để truyền thông với các trạm thuê bao đầu xa cũng như giao thức phối ghép của mạng: số liệu cần gửi đi được mã hoá để cung cấp cơ chế sửa sai trực tiếp và được điều chế để cho phép truyền thông trên một tần số vệ tinh ấn định trước Sau đó tại đầu thu thông tin được giải điều chế
2.2.2 Phần mềm
Sự điều khiển và quản lý mạng của hệ thống VSAT DAMA thực hiện được nhờ các chức năng đã khai báo trong các cạc lắp đặt tại các trạm thuê bao xa mà trong quá trình khai thác có liên quan tới hệ thống điều khiển NCS từ trạm HUB
NCS phải có cấu hình sao cho nó có thể cung cấp các chức năng sau:
- Chức năng xử lý DAMA: việc cung cấp một mạch vệ tinh (các kênh SCPC)
để liên lạc giữa một cặp CU bất kỳ nào trong hệ thống được thực hiện trước sự điều khiển của bộ sử lý DAMA của NCS
- Chức năng lưu trữ dữ liệu của toàn mạng: NCS cung cấp phương tiện để lưu trữ chi tiết về khai thác như các sự cố xảy ra trong toàn mạng, thông số để tính cước, các dữ liệu thống kê khác
Trang 40
38
- Chức năng cung cấp giao tiếp cho người khai thác mạng
- Chức năng cấu hình hệ thống cho phép người khai thác khai báo cấu hình
hệ thống
- Chức năng điều khiển gỡ rối mạng: Thông qua mạng máy tính, NCS phối hợp các chức năng để thực hiện các yêu cầu về kiểm tra, chuẩn đoán và điều khiển các thành phần trong mạng lưới
- Điều khiển NCS: Thông qua giao tiếp mạng, người khai thác có thể kiểm tra tại chỗ các chức năng khác của NCS như lưu trữ những tập thông tin dữ liệu, kiểm soát các cơ sở dữ liệu, điều khiển về cấu hình các bộ xử lý của NCS
Phần mềm xử lý điều khiển mạng: là trọng tâm của NCS, nó là cơ sở dữ liệu
về cấu hình hệ thống, điều khiển cập nhật các thông số của cơ sở dữ liệu này, để tải phần mềm xuống các trạm đầu cuối, lưu các dữ liệu được tạo ra trong mạng Nói chung điều khiển và kiểm tra các thành phần khác của hệ thống như NCS chỉ có duy nhất một NCP
Bộ xử lý DAMA (DPU): thực hiện việc cung cấp các kênh thoại DAMA vệ tinh và biên dịch các số được quay tương ứng với nhu cầu thiết lập cuộc gọi mà nó nhận được từ trạm đầu cuối và chuyển tiếp tới NCS để xử lý Mỗi NCS chỉ có duy nhất một DPU, hoặc ở trong cùng một thiết bị với NCS hoặc tách ra trong bộ xử lý
các dịch vụ của máy (NSP)
Các kênh điều khiển: Đặc biệt được dùng để truyền thông điệp kết nối cuộc gọi và những thông điệp quản lý giữa NCS và các trạm thiết bị đầu cuối, có hai loại kênh điều khiển được dùng trong hệ thống: Kênh điều khiển ra OCC (Outbound Control Channel): là những kênh SCPS được dùng để truyền dữ liệu từ NCS đến các trạm đầu cuối Hệ thống có thể làm việc với một OCC khi hệ thống mở rộng, nhiều kênh OCC có thể được sử dụng
Kênh điều khiển vào ICC (Inbound Control Channel) mỗi ICC là một kênh SCPC được dùng để truyền các data đến các trạm đầu cuối NCS: Có ít nhất là hai
kênh ICC được dùng trên mạng lưới Khi mạng mở rộng có thể có nhiều kênh ICC