Theo quanđiểm này tính hiệu quả chỉ được xột tơớ phần kết quả và chi phí bổ sung,trong khi đó sản xuất kinh doanh lại là một quá trình, trong đó các yếu tố tăngthêm có sự liên hệ mật thi
Trang 1Lời nói đầu
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các đơn vị thuộc mọi thành phầnkinh tế khác nhau đều hoạt động theo nguyên tắc tự chủ - hợp tác - cạnh tranh
và bình đẳng trước pháp luật Theo cơ chế này các doanh nghiệp phải bố trísắp xếp tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh làm sao để sản xuất ra nhữngsản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng, để có thể đạt kết quả hoạtđộng kinh doanh tốt nhất Một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chính xác kết quảhoạt động của doanh nghiệp là hiệu quả sản xuất kinh doanh Chỉ có nhữngdoanh nghiệp nào có hiệu quả kinh doanh cao, ổn định thì mới có thể đứngvững và phát triển trên thị trường Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp tái
mở rộng sản xuất, để đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân
Vì vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đã và đang trở thành vấn đềbức thiết có tính chất sống còn của mỗi doanh nghiệp
Công ty Vận tải thuỷ bắc là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanhcũng lấy việc nâng cao hiệu quả kinh doanh làm kim chỉ nam cho hoạt độngcủa mình Trong quá trình thực hiện mục tiêu này, Công ty đã thu được nhiềuthành công, tuy vậy vẫn còn những hạn chế nhất định Xuất phát từ nhận thứccủa mình về tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
và thực trạng vấn đề này của Công ty Trong thời gian thực tập tại Công ty,
được sự giúp đỡ của thầy giáo PGS TS Phạm Quang Huấn và sự giúp đỡ
của cán bộ nhân viên của công ty Vận tải thuỷ bắc, em đã chọn đề tài: “Một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty Vận tải thủy bắc” cho luận văn tốt nghiệp của mình Trong luận văn, em chỉnghiên cứu vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh, trên cơ sơ các phương phápkhảo sát, phân tích, tổng hợp từ lý luận đến thực tiễn để đánh giá tình hìnhhiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty vận tải thuỷ bắc
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Trang 2Chương I: Những vấn đề cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanhChương II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sảnxuất kinh doanh ở Công ty Vận tải thủy bắc
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh ở Công ty Vận tải thuỷ bắc
Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS TS Phạm Quang
Huấn cùng tập thể cán bộ nhân viên trong công ty đã giúp đỡ em hoàn thành
đề tài này Do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không thể trỏnh khỏinhững thiếu sót nhất định, kính mong sự chỉ bảo của các thầy cô để luận vănđược hoàn thiện hơn
Chương I
Những vấn đề cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất
Trang 3- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giưó phần tăng thêmcủa kết quả và phần tăng thêm của chi phí sản xuất kinh doanh Theo quanđiểm này tính hiệu quả chỉ được xột tơớ phần kết quả và chi phí bổ sung,trong khi đó sản xuất kinh doanh lại là một quá trình, trong đó các yếu tố tăngthêm có sự liên hệ mật thiết vơớ cỏc yếu tố sẵn có.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bằng hiệu số giữa kếtquả và chi phí bỏ ra để có đựơc kết quả đó Quan điểm này có ưu điểm là đãgắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánhtrình độ sử dụng các chi phí, thể hiện được mối quan hệ bản chất của hiệu quảkinh tế Tuy nhiên quan điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng
và chất giữa kết quả với chi phí và chưa phản ánh được mức hết mức độ chặtchẽ của mối liên hệ này
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế, được phảnánh qua nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế Cách hiểu này mới chỉ đứngtrên góc độ biến động theo thời gian, chưa phản ánh được tương quan vềlượng và chất của quá trình sản xuất kinh doanh
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ của sản phẩm sản xuất ra,
nh doanh thu tiêu thụ hàng hoá hoặc là kết quả đạt được trong hoạt động kinh
Trang 4tế Quan niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả với kết quả sản xuất kinh doanh, giữahiệu quả vơớ mục tiêu kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quyluật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách
là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp, làchỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh Nếu theo quan điểm này thì khó cóphương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó bởi đời sống và mứcsống của con người là rất đa dạng và phong phó
- “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tậptrung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác cácnguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong qỳa trỡnh tái sản xuấtnhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.” (1)
- Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nh vậy, nhưng theo em kháiniệm hiệu quả sản xuất kinh doanh được sử dụng rộng rãi hiện nay là :
“- Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sửdụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả caonhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.” ( 2 )
Nh vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh mô tả mối quan hệ giữa lợi Ých
(1) Giáo trình Thống kê doanh nghiệp, Bộ môn thống kê kinh tế, nhà xuất
Trang 5Nói tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo quan trọng đểđánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
và nó cũng là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
1.2 Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất laođộng xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiếtcủa vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sảnxuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian.Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranhnhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khaithác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinhdoanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huynăng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phảiđạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả nhấtđịnh với chi phí tối thiểu. (3 )
2 Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề phức tạp, khó đánh giáchính xác Ngay từ phần khái niệm đã trình bày ở trên ta đã biết rằng, hiệuquả sản xuất kinh doanh được xác định bởi mối tương quan giữa lợi Ých kinh
tế hay kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chi phí màdoanh nghiệp bỏ ra để kết quả đó Mà việc xác định chính xác các đại lượngkết quả và chi phí của doanh nghiệp trong thực tế không phải là dễ dàng
(3) Xem: Giáo trình Thống kê doanh nghiệp, 1996, trang190-191.
Xét về kết quả mà doanh nghiệp thu được, sở dĩ điều này thường khôngxác định được chính xác bởi nhiều lý do
Trang 6Thứ nhất là, có những kết quả mà không thể đo lường, định lượng được
nh: uy tín của hãng, thị hiếu mà người tiêu dùng dành cho sản phẩm của hóng,cỏc mục tiêu định tính mà doanh nghiệp đã đặt ra, các lợi Ých kinh tếkhỏc vv
Thứ hai là, trong quá trình thực hiện sản xuất kinh doanh để tạo ra kết
quả diễn ra trong doanh nghiệp, thường có những sản phẩm hỏng, kộm chấtlượng, sản phẩm dở dang thì sẽ phải tính như thế nào? Hơn thế nữa, trong nềnkinh tế thị trường quá trình tiêu thụ sản phẩm lại không đồng nhất với quátrình tạo ra kết quả Trong một thời kỳ nào đó, có thể sản xuất ra rất nhiều sảnphẩm hoặc thực hiện được nhiều dịch vụ nhưng tiêu thụ sản phẩm được Ýthoặc chậm được thanh toán, nh thế chưa thể coi là doanh nghiệp đạt hiệu quảkinh tế
Mặt khác, để đánh giá hiệu quả thỡ cỏc kết quả cũng như các chi phíthường được đưa về một đơn vị đo lường chung là tiền trong một thời điểmnhất định Trong khi đó, giá hàng hoá, dịch vụ cũng như giá trị của tiền trênthị trường liên tục thay đổi theo thời gian Đối với việc xác định chi phí màdoanh nghiệp phải bỏ ra cũng không phải là điều dễ dàng Trong hoạt độngsản xuất kinh doanh có rất nhiều loại chi phí khác nhau như : chi phí nguyênvật liệu, chi phí nhân công, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanhnghiệp việc xác định các loại chi phí này một cách hoàn toàn đầy đủ gặp rấtnhiều khó khăn Mặt khác, trong thực tế bên cạnh những chi phí hoạt độngsản xuất kinh doanh cũn cú những chi phí khác cho các hoạt động xã hội vàcác chi phí đặc biệt khác mà không thể tính đầy đủ chính xác được
3 Phân biệt các loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế đượcthể hiện ở nhiều dạng khác nhau Việc phân biệt các loại hiệu quả sẽ có tácdụng khác nhau trong đánh giá và phân tích kinh tế, từ đó tìm ra các biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh tế
Trong bài viết này, chỉ giới hạn phân biệt một số loại hiệu quả sau:
Trang 7- Hiệu quả của các chi phí bộ phận và hiệu quả của tổng chi phí
Hiệu quả chi phí bộ phận thể hiện mối tương quan giữa kết quả thuđược và lượng chi phí từng loại yếu tố đã bỏ ra nh chi phí về lao động, chi phí
về thiết bị, nguyên vật liệu Hiệu quả của tổng chi phí thể hiện mối tươngquan giữa tổng lượng kết quả thu được và tổng lượng chi phí các yếu tố đã bỏ
ra để có được tổng lượng kết quả đó
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trongnhững điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, lao động, trình độ trang thiết bị
kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh, với các chi phí của mỗi yếu
tố khác nhau cấu thành nên tổng chi phí Do vậy, đánh giá hiệu quả sản xuấtkinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng chi phí, đồng thời cũngcần phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí để có thể xác định ảnh hưởngcủa từng loại yếu tố Từ đó, có những biện pháp đồng bộ để thu được hiệuquả toàn diện trờn cỏc yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh
“- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Hiệu quả tuyệt đối và tương đối là hai hình thức biểu hiện mối quan hệgiữa kết quả và chi phí Trong đó hiệu quả tuyệt đối được đo bằng hiệu sốgiữa kết quả và chi phí, còn hiệu quả tương đối được đo bằng tỷ số giữa kếtquả và chi phớ.” ( 4)
Nếu chỉ dùng một trong hai loại chỉ tiêu này để đánh giá kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh thì sẽ không thể cho ta kết luận chính xác được, dovậy ta cần phải kết hợp hai loại chỉ tiêu này khi đánh giá kết quả kinh doanh
- Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài
Hiệu quả trước mất là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gianngắn Còn hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian
(4) Giáo trình Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước, Khoa Khoa học quản lý,
NXB Khoa học và kỹ thuật, năm 1998, trang 7
Trang 8dài Việc phân biệt hai loại hệu quả này được căn cứ vào lợi Ých mà doanhnghiệp nhận được trong những khoảng thời gian khác nhau Lợi Ých tronghiệu quả trước mắt chỉ là mang tính tạm thời, có thể chỉ để đáp ứng yêu cầucấp thiết của doanh nghiệp hoặc do điều kiện của doanh nghiệp chi phối Ví
dụ như việc nhập các máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu rẻ tiền có thểmang lại hiệu quả trước mắt, bởi vì doanh nghiệp chỉ phải bỏ ra một lượngtiền Ýt (nhưng cũng có thể doanh nghiệp không có khả năng về vốn ), nhưng
về mặt lâu dài không hẳn là vậy Bởi lợi Ých lâu dài mới là vấn đề quantrọng đáp ứng cho sự phát triển ổn định và lâu dài của doanh nghiệp Chính vìvậy hai loại hiệu qủa này có mối quan hệ mật thiết với nhau, và trong hai loạihiệu quả này thì doanh nghiệp phải ưu tiên cho hiệu quả lâu dài trong điềukiện có thể dù có phải hy sinh lơị Ých trước mắt Chẳng hạn nh việc bỏ tiềnmua bảo hiểm có thể lợi Ých trước mắt bị vi phạm nhưng nó tạo ra một thế ổnđịnh lâu dài bởi nó cho phép giảm được rủi ro trong kinh doanh
- Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả thu được từ hoạt động của từngdoanh nghiệp.Hiệu quả này phản ánh mối quan hệ giữa lợi Ých kinh tế màdoanh nghiệp nhận được và chi phí của doanh nghiệp bỏ ra để có được lợiÝch đó Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả tổng hợp được tính cho toàn bộnền kinh tế quốc dân Chủ thể của hiệu quả kinh tế quốc dân là toàn bộ xã hội
mà người đại diện là Nhà nước, và do đó kết quả và chi phí trong hiệu quảnày xuất phát từ quan điểm toàn bộ xã hội
Nh vậy, hiệu quả kinh tế cá biệt được xem xét trên quan điểm hay làtrong phạm vi mét doanh nghiệp, còn hiệu quả kinh tế quốc dân được xem xéttrên quan điểm toàn bộ xã hội Quan hệ giữa hai loại hiệu quả này là quan hệgiữa lợi Ých bộ phận và lợi Ých tổng thể, giữa lợi Ých cá nhân, tập thể và xãhội Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được khi các doanh nghiệp hoạtđộng hiệu quả, và hiệu quả kinh tế quốc dân lại là tiền đề cho doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả Tóm lại, hiệu quả kinh tế cá biệt là mối quan tâm
Trang 9hàng đầu của các doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp cần phải quan tâm đếnviệc rằng, nú cú phạm vi đến lợi Ých của xã hội hay không để tránh bị xã hộitrừng phạt.
4 Các nguyên tắc xác định hiệu quả
Để có thể đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhthì cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quảTheo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mụctiêu Mục tiêu khác nhau, tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau, mục tiêu thay đổitiêu chuẩn hiệu quả thay đổi Tiêu chuẩn hiệu quả được xem nh là thước đo
để thực hiện các mục tiêu
Đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp luôn phải dùa vàophân tích mục tiêu Doanh nghiệp được coi là đạt hiệu quả cao nhất khi thựchiện được các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất
- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học
Để đánh giá hiệu quả các phương án cần phải dùa trên một hệ thốngcác chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức là phải kếthợp phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính Không thể thay thếphân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tích định lượng chưa
đủ bảo đảm chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi Ých còng nhmọi chi phí mà chủ thể quan tâm
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi những căn cứ tính toán hiệu quả phảiđược xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện
- Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế
Theo nguyên tắc này, những phương pháp tính toán hiệu quả và hiệuquả kinh tế phải được dựa trờn cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và
dễ hiểu Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa cóđầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chínhxác
Trang 10- Nguyên tắc về sự thống nhất lợi Ých
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh cầnphải đảm bảo sự kết hợp hài hoà các loại lợi Ých Bao gồm lợi Ých của chủdoanh nghiệp và lợi Ých của xã hội, lợi Ých trước mắt và lợi Ých lâu dài, lợiÝch vật chất và lợi Ých tinh thần, lợi Ých kinh tế và lợi Ých xã hội
5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Đối với mỗi doanh nghiệp, việc giải quyết các vấn đề cơ bản nh sảnxuất cái gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? sẽ không thành vấn đề nếu
nh các nguồn lực sản xuất kinh doanh : nguyên vật liệu, vốn, là vô tận Haynói cách khác, doanh nghiệp sẽ không cần phải tính toán tới hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của mình làm gì, bởi vì điều đó chỉ là vô Ých khi mà họ cóđược sự cung cấp vô tận cho hoạt động của họ Nhưng trên thực tế, trong cơchế thị trường hiện nay, bất kỳ một tổ chức nào dự cú lớn và mạnh đến đâuchăng nữa cũng đều bị giới hạn bởi một vài yếu tố nào đó về nguồn lực mà nó
có được Cú hóng thỡ bị giới hạn về nguồn nguyên vật liệu, chẳng hạn nhưnguồn nguyên vật liệu này chủ yếu được khai thác từ tài nguyên thiên nhiên
mà tài nguyên thì đang ngày càng trở nên khan hiếm, cạn kiệt, trong khi vậtliệu mới chưa ra đời hoặc đã ra nhưng không đáp ứng được Có doanh nghiệplại rất có nhu cầu về vốn nhưng lại khó có khả năng xoay xở Và có những tổchức thì trình độ năng lực, phẩm chất của đội ngò lao động chưa đáp ứngđược yêu cầu đặt ra v v
Mặt khác, cơ chế thị trường cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh khốcliệt, nếu doanh nghiệp nào không chịu đựng nổi, lại không nắm bắt được cơhội, không phát huy được các lợi thế cạnh tranh của mình, thường xuyên đạthiệu quả kinh doanh thấp thì tất yếu sẽ dẫn đến giải thể, phá sản Bởi vậy,nhiều người cho rằng : “ Thương trường như chiến trường ”, chỉ cần một chót
Trang 11(5) Những lý luận được viết trong phần 4 này chủ yếu được trích dẫn từ Giáo
trình hiệu quả và quản lý dự án nhà nước, Khoa Khoa học quản lý, nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội - 1998, trang 16-17
sai lầm thụi thỡ có thể các đối thủ cạnh tranh sẽ tấn công chiếm lĩnh thịtrường
của hãng ngay và đẩy hãng vào tình thế khó khăn Chính vì thế, trong điềukiện phải tự hạch toán lỗ lãi, phải tự tìm kiếm thị trường, phải cạnh tranh gaygắt với các đối thủ khác doanh nghiệp luôn phải tìm cách cắt giảm chi phí, lùachọn sản phẩm dịch vụ, lùa chọn phương thức sản xuất kinh doanh sao cho cólợi nhất, bởi vì nguồn lực là có hạn mà sự lùa chọn đúng đắn sẽ mang lại hiệuquả cao nhất
Nh vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là điều tấtyếu đối với mỗi tổ chức sản xuất kinh doanh Điều đó không chỉ có ý nghĩahiện tại mà nó còn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp tục mở rộngsản xuất, chiếm lĩnh thị trường mới, nâng cao sức cạnh tranh của doanhnghiệp trong tương lai Không những thế, nâng cao hiệu quả ở doanh nghiệpcũng chính là đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế xó hụị đất nước,làm cho đất nước phát triển hơn, từ đó tác động tích cực trở lại đối với doanhnghiệp
Nói tóm lại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề tất yếu
mà bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng phải thực hiện, bởi đóchính là điều kiện để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thịtrường
6 Các nhân tố chủ yếu tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
6.1 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Khi tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệpđều phải tập hợp các yếu tố sản xuất và đưa chúng vào hoạt động để tạo ra lợinhuận Các yếu tố đó như lao động, đất đai, trang thiết bị cụng nghệ, tỏcđộng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tập hợp
Trang 12các yếu tố này sẽ tạo lên sự vận hành của doanh nghiệp, và khi mỗi yếu tố nàythay đổi tất yếu dẫn đễn các kết quả khác nhau trong hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Sau đây ta sẽ xem xét một số yếu tố chủ yếu.
Nh vậy, số lượng, chất lượng, tinh thần làm việc của những người laođộng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của doanhnghiệp Vì vậy, mỗi tổ chức sản xuất kinh doanh cần phải có kế hoạch tuyểndụng, đào tạo hợp lý, có sự quan tâm đúng mức đến người lao động, đểngười lao động có thể phát huy hết trình độ và khả năng của mình
- Công nghệ trang thiết bị
Công nghệ là tập hợp những hiểu biết (các phương pháp, các quy tắc,các kỹ năng) hướng vào cải tạo thiên nhiên phục vụ cho các nhu cầu của conngười Công nghệ, trang thiết bị với tư cách là phương tiện, công cụ lao động
sử dụng trong sản xuất, nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế củadoanh nghiệp Thông qua việc tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tiết kiệmchi phí nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động từ đó hạ giá thành sảnphẩm tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp (đối với những công nghệ hiệnđại, hợp lý) Chớnh vì vậy, trong cơ chế thị trường nh hiện nay, trước rấtnhiều đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệp cần có sự đầu tư, nghiên cứu cải
Trang 13tiến và đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh.Bên cạnh đó, cũng cần phải thực hiện nghiêm túc công tác bảo quản máy mócthiết bị, đảm bảo cho máy móc hoạt động tốt nhất.
- Vốn bằng tiền
“ Là tiền đề cần thiết của sản xuất, đó là lao động của quá khứ, laođộng được vật hóa mà con người lưu trữ để sử dụng cho hiện tại và tương lai
Nó là phương tiện để đẻ ra phương tiện; nhờ có vốn bằng tiền ( kể cả ngoại tệ,
đá quý, kim loại hiếm ) mà con người có điều kiện để tạo ra các yếu tố phục
vụ sản xuất khác ( mua công nghệ, mua đất đai, mua trang thiết bị, muanguyên vật liệu, thuê sức lao động v v )” ( 6 )
Có thể nói trong bất cứ một doanh nghiệp nào yếu tố vốn bằng tiền làrất quan trọng Bởi vì ngoài việc trang trải các chi phí ở hiện tại, doanhnghiệp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, muốn cải tiến công nghệ, muốntham gia vào những lĩnh vực mới để nâng cao sức cạnh tranh, mà không cóvốn thì không thể làm được Thực tế chứng minh một điều rằng: trong sựcạnh tranh gay gắt diễn ra trên thị trường, nếu doanh nghiệp nào có tiềm lựcvốn mạnh mẽ sẽ vẫn có thể tồn tại và phát triển được mặc dù gặp thất bại mộtvài lần Nh vậy, nếu thiếu vốn thì doanh nghiệp khó có thể liên tục nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của mình
- Yếu tố quản lý
Quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh được coi là nhân tố cơbản quyết định sự tồn và phát triển hay trì trệ và diệt vong của doanh nghiệp.Thật vậy, nếu các nguồn lực của doanh nghiệp là rất dồi dào nhưng nếu không
có cách thức quản lý đúng đắn thì cuối cùng những nguồn lực kia cũng sẽ cạnkiệt và tất yếu sẽ dẫn đến thất bại trong hoạt động Yếu tố quản lý được áp đặttrên tất cả cỏc khõu của quá trình sản xuất kinh doanh, ở một khâu nào đó màkhông có sự tác động của quản lý thì không thể không hoàn thành nhiệm vụcuả mình một cách khoa học và đem lại hiệu quả cao được Chính vì vậy,trong doanh nghiệp vai trò của các nhà quản trị là rất quan trọng, đòi hỏi họ
Trang 14phải có đủ trình độ, năng lực, kinh nghiệm, nghệ thuật quản lý, sự sáng tạo vàquyết đoán, họ chính là người đưa ra các quyết định liên quan đến đường lối,chiến lược, kế hoạch của doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp đi tới mục tiêu
đã định Nói tóm lại, các nhà quản trị sẽ mang lại hiệu quả cao nhất cho doanhnghiệp hoặc là sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn mà có thể đạtđược
(6) Giáo trình quản lý kinh tế (tập 1), Khoa Khoa học quản lý, NXB Khoa
học và Kỹ thuật 1999, trang8
- Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
Hệ thống thông tin được quan niệm là tập hợp các phương tiện, cácphương pháp và các cơ quan có liên hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đảm bảo choviệc thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiếtcho công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, giữa các bộphận, phòng ban cũng như giữa những người lao động luụn cú sự trao đổi,giao tiếp với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao Vì vậy, hệ thốngthông tin cần phải thu thập những vấn đề xảy ra trong công việc, cũng nhưbầu không khí làm việc để cho các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết địnhđiều chỉnh kịp thời và thông qua đó truyền đạt các mục tiêu, kế hoạch đếnmọi bộ phận, mọi người lao động trong doanh nghiệp Mặt khác, hệ thốngthông tin trong doanh nghiệp sẽ xác định những yếu tố của môi trường bênngoài như : những yêu cầu về sản phẩm, nhu cầu về sản phẩm của doanhnghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, chính xác của nhà nước, các đốithủ cạnh tranh
hay nói cách khác là những vấn đề và cơ hội phát triển của doanh nghiệp, từ
đó xử lý, phân tích chúng để cho các nhà quản trị có những quyết định chínhxác Tóm lại, trong điều kiện hiện nay, khi mà thông tin kinh tế đang bùng nổ
Trang 15một cách nhanh chóng thì việc xây dựng một hệ thống thông tin vững mạnhtrong doanh nghiệp sẽ góp phần đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.
- Yếu tố văn hoá trong doanh nghiệp
Đây là môi trường của các mối quan hệ trong tập thể và trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Yếu tố văn hoá bao gồm cácquan hệ ứng xử giữa các thành viên, các bộ phận, với các triết lý kinh doanh,cỏc thói quen hoạt động, làm việc,
“ Thế mạnh của một doanh nghiệp (hay một tổ chức) có thể là kết quảcủa văn hoá doanh nghiệp mạnh và ngược lại điểm yếu của doanh nghiệp cóthể là hậu quả khôn lường của văn hoá doanh nghiệp yếu Một doanh nghiệpmạnh về văn hoá là một doanh nghiệp có phương châm, đường lối rành mạch,nhất quán, được thể hiện qua những triết lý kinh doanh Đó thường là nhữngdoanh nghiệp đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, các thành viên hiểu rõ con đườngphát triển của doanh nghiệp đang làm, họ đầy nhiệt tình không ngại khó khăn,dám nhận trách nhiệm và mạo hiểm.vv Ngược lại ở những doanh nghiệpyếu về văn hoá, thường có sự thiếu nhất quán trong bản thân các chính sáchlớn của doanh nghiệp, trong việc thực hiện chỳng, cỏc thành viên Ýt cởi mởvới nhau, thế thủ thiếu ăn khớp, lục đục.vv ” ( 7 )
Như vậy, có thể thấy rằng yếu tố văn hoá có ảnh hưởng rất lớn đến hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm hiệu quả đó
- Công tác tổ chức bảo đảm vật tư, nguyên vật liệu
Muốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệpđược tiến hành đều đặn, liên tục phải đảm bảo được vấn đề về cung cấpnguyên vật liệu Đây là vấn đề rất quan trọng, nó có tác động mạnh mẽ đếnhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì :
+ Cung ứng dự trữ đồng bộ, kịp thời và chính xác nguyên vật liệu làđiều kiện có tính chất tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Trang 16+ Đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt còn là điều kiệnnâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu,tăng năng suất lao động.
+ Đảm bảo cung ứng, sử dụng tiết kiệm, dự trữ đầy đủ nguyên vật liệucòn ảnh hưởng tích cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, ảnh hưởngđến việc giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanhnghiệp
(7) TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ, chương Lập kế hoạch trong quản trị kinh doanh, Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh, NXB Khoa học và kỹ thuật,
năm 1999, trang 181-182
6.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Nhóm nhân tố bên ngoài hay nói cách khác là môi trường bên ngoàicủa doanh nghiệp, là tập hợp các yếu tố nằm ngoài doanh nghiệp nhưng có tácđộng lên doanh nghiệp hoặc là chịu sự tác động của doanh nghiệp Môitrường nàu của doanh nghiệp luôn tồn tại một cách khách quan, doanh nghiệpkhông thể nào quản lý và kiểm soát được Môi trường là hết sức quan trọngbởi một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển bình thường nếu có môitrường thuận lợi Chính vì thế, doanh nghiệp cần phải hiểu được, phải dự báođược sự biến động của môi trường, tận dụng các yếu tố thuận lợi của môitrường để biến nó thành sức mạnh, nguồn lực của mình Mặt khác, cũng cầnphải khắc phục những cản trở, những tác động tiêu cực hay nói cách khác lànhiễu của môi trường
Có như vậy doanh nghiệp mới có thể đạt được hiệu quả sản xuất kinhdoanh cao Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có thể chia thành môitrường kinh doanh trực tiếp (tác nghiệp) và môi trường kinh doanh gián tiếp(vĩ mô) Sau đây, ta sẽ đi vào từng loại một
Trang 176.2.1 Môi trường kinh doanh trực tiếp
- Nhà cung ứng: là các đơn vị cung cấp cho doanh nghiệp các nguồn nguyên vật liệu và vật tư cần thiết để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ củadoanh nghiệp Những tổ chức cung ứng này ( có thể là cá nhân ) có ảnhhưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạnnhư nếu doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào một nguồn cung ứng thì có thể
sẽ bị chèn Ðp về giá cả nguyên vật liệu đầu vào, hoặc có thể chỉ nhận đượcnhững nguyên liệu kém phẩm chất, hoặc không có đủ để cung ứng cho doanhnghiệp Như vậy, sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, làm chậm kế hoạch đề ra của doanh nghiệp, từ đó kéo theo rất nhiềuảnh hưởng tai hại khác Do đó, doanh nghiệp cần phải có nhiều nguồn cungứng khác nhau và có mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng, đồng thời luôntheo dõi sát sự biến động của giá cả nguyên vật liệu đầu vào trên thị trường
- Khách hàng : là các cá nhân, nhóm người hoặc doanh nghiệp có nhucầu và có khả năng thanh toán về hàng hoá của doanh nghiệp mà chưa đượcđáp ứng và mong được thoả mãn Trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinhdoanh khách hàng luôn tranh đua với doanh nghiệp thông qua sự bắt Ðp giảmgiá hoặc yêu cầu chất lượng hàng hoá tốt hơn Nhưng khách hàng cũng chính
là nguồn sống của doanh nghiệp bởi họ tiêu thụ sản phẩm, hoặc sử dụng dịch
vụ của doanh nghiệp, từ đó tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp Cho nêndoanh nghiệp cần phải hiểu được khách hàng, nắm bắt được tâm lý kháchhàng, tìm mọi cách giữ chân khách hàng khi họ đã đến với sản phẩm, dịch vụcủa doanh nghiệp Đồng thời phải liên tục tìm kiếm khách hàng mới mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Làm được như thế thìdoanh nghiệp sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao
- Đối thủ cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệpđều đứng trước nhiều đối thủ cạnh tranh và sự cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi,mọi lúc Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Các đối thủ cạnh tranh luụn tỡm mọi cách để giành giật khách hàng
Trang 18và chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp Bất kỳ hành động nào của doanhnghiệp cũng rất dễ làm cho các đối thủ cạnh tranh bắt chước hoặc kích thích
sự trả đũa hay cố gắng chống trả Kết quả là hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty sẽ gặp khó khăn, lợi nhuận giảm xuống Để khắc phục sự cạnhtranh này, doanh nghiệp phải luụn cú những sáng kiến đổi mới chất lượng,mẫu mã sản phẩm, tạo ra những sản phẩm mới giá rẻ Ngoài ra, doanh nghiệpphải luôn nắm bắt thông tin về đối thủ cạnh tranh để tìm ra điểm mạnh cũngnhư điểm yếu của họ, các ý đồ của họ từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp.Đồng thời phải tuyệt đối giữ bí mật thông tin về doanh nghiệp mình
- Sản phẩm thay thế: sản phẩm thay thế có tác động không nhỏ đến hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó hạn chế mức lợi nhuận củaCông ty, bởi vì nếu hãng mà tăng giá thành sản phẩm, dịch vụ của mỡnh thỡnhiều khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng hàng thay thế Chẳng hạn như : métCông ty kinh doanh dịch vụ vận tải bằng đường thuỷ, nếu doanh nghiệp đó
mà tăng giá cước vận chuyển thì có thể khách hàng sẽ chuyển sang sử dụngdịch vụ vận chuyển bằng đường bộ, đường không, nếu họ cảm thấy có lợihơn Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải luôn giữ chữ tín, phải tạo được nhữngsản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao, ưu thế hơn hẳn so với hàng thay thế.Điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp đứng vững được trên thị trường và đạt hiệuquả kinh doanh
6.2.2 Môi trường kinh doanh gián tiếp
- Môi trường pháp lý: bao gồm các luật, các văn bản dưới luật, cácchính sách, chế độ, thủ tục của nhà nước có liên quan đến hoạt động củadoanh nghiệp Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt độngcủa các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế Nhà nước tạo môi trường
và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướngcác hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế hoạch vĩ
mô Chính sách kinh tế của nhà nước đối với các doanh nghiệp có ý nghĩa rấtquan trọng trong định hướng đầu tư phát triển kinh doanh, với các đòn bẩy
Trang 19kinh tế, nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh vàonhững ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh.
Như vậy, một môi trường pháp lý lành mạnh, đúng đắn, ổn định sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, cho phép doanh nghiệp tìm mọi cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình trong khuôn khổcủa pháp luật Ngược lại, doanh nghiệp sẽ rất vất vả khi môi trường này haythay đổi, các quy định không hợp lý Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải nắmvững các quy định của pháp luật, tuân thủ pháp luật, theo dõi sát môi trườngnày để tránh bị pháp luật trừng phạt và thích ứng kịp thời với sự thay đổi củamôi trường pháp lý
- Môi trường kinh tế: là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thì mỗidoanh nghiệp đều chịu tác động chung của nền kinh tế, như sự thay đổi về tốc
độ tăng trưởng, lạm phát, biến động tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán, tỷgiá hối đoái, Chúng tác động mạnh đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củahãng thông qua việc xác định cung cầu, giá cả, quy mô sản xuất
- Môi trường chính trị: môi trường chính trị ổn định là cơ sở để tạo ramột nền kinh tế ổn định, đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp có thể yên tâmđầu tư vào việc phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, tìm cách nâng caosức cạnh tranh trên thị trường Mặt khỏc, nú cũn tạo điều kiện để doanhnghiệp thực hiện việc liên doanh, liên kết với các Công ty nước ngoài nhằmđạt được hiệu quả kinh tế cao
- Môi trường công nghệ: là toàn bộ các nhân tố khoa học, kỹ thuật, cácphát minh sáng chế, những tiến bộ về công nghệ, có liên quan đến công nghệcủa doanh nghiệp trong việc tạo ra sản phẩm dịch vụ Khi mà công nghệ pháttriển thỡ chỳng sẽ tạo ra sức Ðp đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp đểnâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, cũng như nâng cao chất lượng,chủng loại, mẫu mã hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của kháchhàng Bởi vì, rất có thể nếu doanh nghiệp không kịp thời đổi mới thỡ cỏc đổi
Trang 20thủ cạnh tranh sẽ áp dụng công nghệ mới trước, làm tăng sức cạnh tranh củahọ.
- Mụi trường xó hội: môi trường văn hoá xã hội có những ảnh hưởngnhất định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì nếudoanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm hoặc cung ứng những dịch vụ đingược lại với các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội hay là truyền thống phongtục tập quán của một địa phương, một quốc gia thì tất yếu sẽ thất bại Mặtkhác, môi trường này cũng tác động đến tác phong làm việc của con người laođộng trong doanh nghiệp Họ sẽ có tác phong công nghiệp nếu môi trườngvăn hoá xã hội phát triển cao và ngược lại
II hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh
1 Hệ thống chỉ tiêu tổng quát
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp có quan
hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh như lao động, tư liệu laođộng, đối tượng lao động nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả caokhi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉtiêu tổng hợp (khái quát) và các chỉ tiêu chi tiết (cụ thể) Các chỉ tiêu chi tiết
đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lợi củatừng yếu tố, từng loại vốn (kể cả tổng số và phần gia tăng) và phải thống nhấtvới công thức đánh giá hiệu quả chung
Nếu ký hiệu :
K : là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu đó bằng các đơn vị khác nhau
C : là chi phí bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau
Trang 21(2): Hiệu quả tương đối
Như vậy, ta thấy rằng kết quả (K) mà doanh nghiệp nhận được theohướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí (C) bá ra baonhiêu thì càng có hiệu quả cao
2 Hệ thống các chỉ tiêu cụ thể
2.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu
mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động của mình với chi phí mà doanhnghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó
Như vậy: Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Lợi nhuận của doanh nghiệp nếu xét theo nguồn hình thành bao gồmcác bộ phận sau: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh; lợi nhuận từ hoạt độngtài chính; lợi nhuận bất thường
Lợi nhuận là chỉ tiêu rất quan trọng trong đánh giá hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Ta có thể thấy điều này qua các nhận định sau :
- Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong việc hoạt động sản xuất kinhdoanh của một doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơchế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không, điềuquyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Vì thế, lợinhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ tiêu cơbản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ( 8)
- Đối với mỗi doanh nghiệp có thể coi tăng lợi nhuận là biểu hiện trựctiếp của tăng hiệu quả kinh tế Chính lợi nhuận là điều kiện quan trọng nhấtbảo đảm khă năng tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trongcác lĩnh vực kinh doanh ( 9 )
Như vậy, lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phảnánh mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề để
Trang 22duy trì sự tồn tại và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp, cải thiện và nângcao mức sống của người lao động.
2.2 Hệ số doanh lợi vốn kinh doanh
“ Để đánh giá khả năng sinh lợi của vốn, người phân tích thường tính ra
và so sánh chỉ tiêu sau:
Hệ số doanh lợi
của vốn kinh doanh
Lợi nhuậnVốn kinh doanhChỉ tiêu này cho cho biết một đồng vốn kinh doanh đem lại mấy đồnglợi nhuận Trong công thức trên, chỉ tiêu lợi nhuận thường là lợi nhuận ròngtrước thuế hay sau thuế lợi tức hoặc lợi tức gộp, còn vốn kinh doanh có thể làtổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả) hay vốn chủ sở hữu,vốn vay ” ( 10 )
(8) Quản trị tài chính doanh nghiệp, Bộ môn Tài chính doanh nghiệp, NXB
Tài chính, năm 1999, trang 92
(9) Kinh tế các ngành sản xuất vật chất, Khoa Quản trị kinh doanh công
nghiệp và xây dựng cơ bản, Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ
môn Kinh tế đầu tư, NXB Giáo dục, 1996, trang 61.
(10) Xem: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, 1997, trang227.
2.3 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng chi phí
• “ Hiệu quả sử dụng chi phí
DTChi phíHiệu quả sử dụng chi phí phản ánh doanh thu đạt được khi bá ra mộtđồng chi phí
• Mức sinh lợi của một đơn vị chi phí
P CMức sinh lợi của một đơn vị chi phí biểu thị mức lợi nhuận thu đượckhi một đồng chi phí được bỏ ra.” ( 11 )
=
T1 =
T2 =
Trang 23Trong đó : T T1 : là hiệu quả sử dụng chi phí
T2 : là mức sinh lợi của một đơn vị chi phí
DT : là doanh thu
C : là chi phí
P : lợi nhuận
2.4 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản và lao động
- Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định
“ Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu,nhưng phổ biến là các chỉ tiêu sau :
(11) Kinh tế Thương mại-dịch vô, Bộ môn Kinh tế thương mại, NXB Thống
kê, năm 1997, trang 263-264
• Sức sinh lợi của
Tài sản cố định =
Lợi nhuận thuần ( hay lãi gộp)Nguyên giá bình quân Tài sản cố địnhChỉ tiêu mức sinh lợi tài sản cố định cho biết 1 đồng nguyên giá bìnhquân tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp
• Suất hao phí của
Tài sản cố định =
Nguyên giá bình quân tài sản cố định Doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần (hay giá trị tổng sản lượng )
Qua chỉ tiêu này ta thấy để có 1 đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuậnthuần có bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định
- Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Tổng doanh thu thuần
=
Trang 24Khi phân tích chung, cần tính ra các chỉ tiêu trên rồi so sánh giữa kỳphân tích với kỳ gốc ( kỳ kế hoạch hoặc thực tế kỳ trước ), nếu các chỉ tiêusức sản xuất và sức sinh lợi vốn lưu động tăng lên thì chứng tỏ hiệu quả sửdụng chúng tăng lên và ngược lại.” (12 )
(12) Xem: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh,1997, trang 220-221.
- Các chỉ tiêu hiệu quả sức lao động
• “Doanh thu bình quân một lao động
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể làm được bao nhiêu đồngdoanh thu trong một kỳ
• Mức sinh lợi của một lao động
Trang 25Trong đó :DT : là doanh trong kỳ DT : là doanh trong kỳ
N : là số lao động
P : là lợi nhuận hay lãi thực hiện
W : là doanh thu bình quân 1 lao động
B : là mức sinh lợi của 1 lao động
(13) Xem: Kinh tế Thương mại-dịch vụ,1997, trang 261- 262.
Chương II
Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở Công ty Vận tải thuỷ I
I Khái quát tình hình chung của Công ty
1 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1962 do nhu cầu vận tải nói chung và vận tải đường sống nóiriêng để phục vụ cho công cuộc thống nhất đất nước và phát triển kinh tế,Công ty Vận tải thuỷ Sông Hồng đã được thành lập vào ngày 5 tháng 9 năm
1962
Lúc đó Công ty bao gồm 4 đơn vị :
- Đường sông Hà Nội
- Đường sụng Phú Thọ
Trang 26- Đường sông Hải Dương
- Đường sông Ninh Bình
Trụ sở chính của Công ty đặt tại số 78 Bạch Đằng-Hai Bà Trưng-HàNội Nhiệm vụ chính của Công ty lúc đó là vận tải bằng đường sông các mặthàng chủ yếu : than, muối, lương thực, cát sỏi v v từ Hải Phòng, QuảngNinh đi Hà Nội, Tuyên Quang, Việt Trỡ, Phỳ Thọ, bằng các phương tiệnchủ yếu là tàu và sà lan gỗ Công ty có 3 đội tàu và 2 cơ sở sửa chữa là xưởng
Hà Nội và xưởng Ninh Bình
Năm 1965, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, Công ty Vận tảiSông Hồng được đổi tên thành Xí nghiệp Vận tải Đường sông 204 Để phục
vụ yêu cầu vận tải lúc bấy giê, Xí nghiệp đã được tăng cường thêm phươngtiện, một số đội tàu hoạt động của Xí nghiệp lúc đó là 05 đội, trong đó có 04đội tàu kéo và 01 đội tàu mích ở thời điểm này, Xí nghiệp nhận thêm nhiệm
vụ mới là vận tải lương thực cho liên khu 5, phạm vi hoạt động lúc này là từBến Thuỷ trở ra
Thời kỳ 1967-1968 do chiến tranh ác liệt, Cục đường sông phải phânchia phương tiện của xí nghiệp để thành lập ra các xí nghiệp :
- Xí nghiệp Vận tải đường sông 210 đóng tại Ninh Bình
- Xí nghiệp Vận tải đường sông 208 đóng tại Hải Phòng
- Xí nghiệp Vận tải đường sông 204 đóng tại Hà Nội (tiền thân củaCông ty Vận tải thuỷ I)
Nhiệm vụ chủ yếu của Xí nghiệp Vận tải đường sông 204 lúc đó là chởthan cho một số nhà máy điện, lương thực cho Hà Nội, Hoà Bỡnh, VớnhPhỳ Cũng do chiến tranh ác liệt, để bảo toàn phương tiện và tiếp tục nhiệm
vụ vận tải, một số bộ phận người, cơ sở vật chất của Xí nghiệp phải phân tánđến nhiều địa điểm như : Mạo Khê - Quảng Ninh, Kim Môn - Hải Hưng,Ninh Phóc - Hà Tây
Đến năm 1983 để phù hợp với tình hình sản xuất mới khi đất nước đãhoà bình, Xí nghiệp vận tải đường sông 204 sát nhập với cảng Việt trì và
Trang 27cảng Hoà bình và đổi tên thành Công ty vận tải đường sông I, trực thuộc Cụcđường sông Việt Nam Bé Giao thông vận tảiNăm 1996 để thực hiện chủtrương của Đảng và Nhà nước trong việc làm lành mạnh hoỏ cỏc doanhnghiệp Nhà nước, tăng khả năng cạnh tranh sản xuất và nâng cao sức cạnhtranh của các doanh nghiệp nhà nước Công ty Vận tải đường sông I được đổi
tên thành Công ty Vận tải thuỷ I, trực thuộc Tổng Công ty đường sông miền
Bắc-Bộ Giao thông vận tải Trải qua hơn 30 năm hoạt động, Công ty Vận tảithuỷ I đã không ngừng phát triển về mọi mặt, cả về cơ sở vật chất kỹ thuật,lẫn trình độ quản lý kinh doanh Từ chỗ Công ty chỉ có một số Ýt tàu và sàlan gỗ, đến nay Công ty đó cú vài chục tàu có sức đẩy lớn và hàng trăm sàlan Cụ thể:
Bảng 1 : Các loại tàu và sà lan hiện có năm 1999
Nguồn : Phòng kỹ thuật
Qua bảng ta thấy lực lượng phương tiện vận tải của Công ty là tươngđối mạnh, có trọng tải lớn với cơ cấu đội hình đa dạng, đủ sức đáp ứng đượcnhu cầu vận chuyển các loại hàng hoá khác nhau của khách hàng kể cả vậnchuyển những chuyến hàng siêu trường, siêu trọng
Hiện nay Công ty có 4 đơn vị thành viên đóng tại các địa bàn khácnhau ở Hải Dương, Hà Nội, Quảng Ninh CTVTT.I
XN c¬
khÝ thuû
vµ bèc xÕp Hµ
XN khai th¸c vËn t¶i vµ vËt
t
Trang 28Các xí nghiệp Mạo Khê, Hà Nội, Thượng Trà có nhiệm vụ chủ yếu làsửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ trong và ngoài Công ty, sản xuất phụtựng máy thuỷ và vật liệu phục vụ cho việc sửa chữa Còn xí nghiệp khai thácvật tư có nhiệm vụ chủ yếu là khai thác, kinh doanh cát sỏi.
2 Nhiệm vụ của Công ty
Công ty Vận tải thuỷ I là một đơn vị kinh tế quốc doanh, hạch toánkinh tế độc lập và có tư cách pháp nhân Hiện nay, Công ty chịu sự quản lýtrực tiếp của Tổng Công ty đường sông miền Bắc-Bộ Giao thông vận tải.Công ty cú cỏc nhiệm vụ sau :
- Thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh do Tổng công đường sôngmiền Bắc giao, đó chủ yếu là việc thực hiện các chỉ tiêu được phân bổ về việcvận chuyển mặt hàng than cho các nhà máy điện
- Vận tải vật tư hàng hoá do các cá nhân hoặc các tổ chức có tư cáchpháp nhân thuê, phục vụ cho nhu cầu sản xuất, xây dựng cơ bản và tiêu dùngcủa nhân dân
- Ký kết các hợp đồng kinh tế với các đối tác thuộc các thành phần kinh
tế để mở rộng thị trường vận tải, tăng khả năng cạnh tranh, đưa Công ty ngàycàng phát triển
- Đưa tiến độ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tăng cườngđảm bảo tốt nhất việc sửa chữa đóng mới các phương tiện vận tải
- Nghiên cứu điều tra tìm hiểu thị trường vận tải, vật liệu xây dùngtrong cả nước để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và dài hạnnhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu vận tải của các thành phần kinh tế trong cảnước, không để xảy ra tình trạng ách tắc trong khâu lưu thông hàng hoá
Trang 29- Đảm bảo an toàn lao động, an toàn giao thông và không ngừng nângcao đời sống cho cán bộ công nhân viên
- Nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc sửa chữa
và đóng mới các phương tiện vận tải thuỷ
- Quản lý sử dụng vốn theo đúng chế độ, quy định hiện hành và có hiệuquả
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, các chế độ chínhsách của nhà nước như: nép ngân sách, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
3 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty Vận tải thuỷ I là một đơn vị hoạt động liên hợp khép kín cácmặt vận tải - khai thác - xếp dì - sửa chữa và đóng mới phương tiện, có phạm
vi hoạt động rộng khắp các tuyến sông miền Bắc và một phần miền Nam Đểphù hợp với điều kiện kinh doanh trong cơ chế thị trường và đặc điểm củaCông ty, Công ty đó lựa chọn cơ cấu tổ chức theo cơ cấu trực tuyến - chứcnăng
Trang 30Sơ đồ ngang
Hiện nay Công ty Vận tải thuỷ I có tất cả 1377 cán bộ công nhân viênđược sắp xếp hoạt động ở cỏc phũng ban và xí nghiệp khác nhau
Trang 31Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
- Giám đốc Công ty: là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động củaCông ty, có quyền quyết định cao nhất trong Công ty và là người đầu tiênchịu trách nhiệm hoàn toàn về những vấn đề của Công ty trước pháp luật
- Phó giám đốc Công ty: là người giúp việc cho giám đốc và làm một
số công việc nhất định, khi giám đốc có việc đi vắng thì phó giám đốc sẽ thaymặt giám đốc điều hành Công ty
- Cỏc phòng ban: mỗi phòng ban đều có trưởng phòng, phó phòng cựngcỏc nhân viên thừa hành Số lượng lao động gián tiếp ở cỏc phũng ban tươngđối Ýt và hầu hết đều có trình độ đại học, cao đẳng Cỏc phũng ban có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau để giải quyết những vấn đề phát sinh trong Công
ty Sau đây là nhiệm vụ một số phòng ban chính sau:
+ Phòng tổ chức - lao động - tiền lương: phũng cú 10 người với nhiệm
vụ chủ yếu là : tổ chức và điều phối lao động, lập thông qua các kế hoạch tiềnlương cho Công ty, phụ trách khối đào tạo nguồn lao động cho Công ty
+ Phũng vận tải: phũng cú 35 người với nhiệm vụ chủ yếu là lập kếhoạch sản xuất kinh doanh, điều độ các đội tàu vận tải, tổ chức hoạt độngmarketing, ký kết các hợp đồng vận chuyển
+ Phũng tài vụ: phũng cú 15 người với nhiệm vụ chính là thực hiện vàquản lý toàn bộ công tác tài chính của Tổng Công ty, thực hiện chế độ báocáo thống kê, thanh quyết toán kịp thời theo pháp lệnh kế toán nhà nước vàcác quyết định của các cơ quan tài chính cấp trên, thực hiện quản lý cácnguồn thu chi, tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế, thanh quyết toán vàthanh lý hợp đồng
- Các xí nghiệp thành viên: các xí nghiệp có trách nhiệm tổ chức sảnxuất kinh doanh các công việc cụ thể như : sửa chữa, đóng mới các phươngtiện vận tải trong và ngoài Công ty, bốc xếp kinh doanh vật tư hàng hoá theoquy định của Công ty Các xí nghiệp cũng có cơ cấu tổ chức riờng, cú giámđốc, phó giám đốc, cỏc phũng ban Bộ máy quản lý của các xí nghiệp được
Trang 32Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
tham mưu cho giám đốc Công ty ra các quyết định cho phù hợp với đặc điểm
cụ thể của từng xí nghiệp
- Các chi nhánh: Công ty cú cỏc chi nhánh tại Phả Lại, Quảng Ninh,Việt Trì, Thành phố Hồ Chí Minh, văn phòng đại diện tại Hải Phòng, 2 trạm ởHoàng Thạch, Thái Bình Các chi nhánh, văn phòng này có nhiệm vụ kiểm traquá trình quay vòng các chuyến hàng vận chuyển, thời gian xếp dỡ hàng, tìmkiếm khách hàng
- Các đơn vị tự hạch toán: Công ty cú cỏc đơn vị hạch toán là Ban dịch
vụ đời sống, trung tâm kinh doanh phụ tùng máy thuỷ, bến cảng Đức Giang,bến cảng Nhật Tân, tổ dịch vụ sửa chữa xe máy và đại lý dầu nhờn Các đơn
vị tự hạch toán này hoạt động tự trang trải chi phí, Công ty không trả lươngcho họ, chỉ trợ giúp phần nào về bảo hiểm y tế và xã hội
4 Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình cạnh tranh của Công ty trên thị trường
* Nội dung của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Hoạt động sản xuất kinh doanh chính:
+ Thực hiện dịch vụ vận tải bằng đường thuỷ các loại sản phẩm, vật tưhàng hoá như : than, xi măng, lương thực, các loại hàng rời, bao kiện, côngten nơ theo yêu cầu vận chuyển của khách hàng, với địa bàn hoạt động rộngkhắp các tuyến sông miền Bắc và một phần phía Nam, thực hiện dịch vụ đại
lý vận chuyển Bắc Nam Ngoài vận chuyển bằng đường thuỷ Công ty còn kếthợp liên vận bằng ô tô đưa hàng tới tận chân công trình, nhận vận chuyểncung ứng vật liệu xây dựng từ kho tới kho ( trọn gãi )
+ Tổ chức khai thác, bốc xếp, chuyên chở cát đen, cát vàng, sỏi từ ViệtTrì về các bến bãi rồi cung ứng ra thị trường
+ Làm đại lý xi măng chinfon: đây là hoạt động kinh doanh mới có củaCông ty trong thời gian gần đây, nhưng nó có tác dụng lớn, không chỉ tạo ralợi nhuận mà còn hỗ trợ cho hoạt động vận tải và bốc xếp
Trang 33Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
- Thực hiện các hoạt động, dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động kinh doanhvận tải:
+ Sửa chữa, đóng mới gia công cơ khí, hoán cải nâng cấp các phươngtiện vận tải của Công ty (hoán cải phao thành sà lan, nâng cấp sà lan ), giacông sản xuất sơn, sản xuất các phụ tùng thay thế cho phương tiện máy mócCông ty Đồng thời thực hiện dịch vụ cho các phương tiện thuỷ ngoài Côngty
+ Nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, chuyển giao côngnghệ, áp dụng công nghệ mới vào sửa chữa đóng mới các phương tiện vận tải
+ Hợp tác đào tạo, đào tạo lại lao động và xuất khẩu lao động
* Mét số khách hàng chủ yếu của Công ty
Các khách hàng lớn của Công ty trong thời gian qua như là nhà máynhiệt điện Phả Lại1, nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, nhà máy xi măng HoàngThạch, Chinfon, Bót Sơn, nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 Đối với các nhà máynhiệt điện thì Công ty chủ yếu vận chuyển than để sản xuất điện Còn với cácnhà máy xi măng thì ngoài việc vận chuyển than Công ty còn vận chuyển cácnguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất xi măng như: clanke, bột đá, xỉ, thạchcao Riêng với nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 mới xây dựng gần đây, Công tyvận chuyển vật liệu xây dựng và vận chuyển thiết bị cho công trình này.Ngoài các khách hàng lớn này, Công ty còn rất nhiều khách hàng khác.Nhưng đây là những khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của Công ty Bởi vì, lượng hàng hoá vận chuyển cho các nhà máy này
là lớn và quãng đường vận chuyển cũng dài Nếu các đơn vị này làm ăn kémhiệu quả hoặc có nhu cầu vận chuyển giảm thì Công ty sẽ gặp rất nhiều khókhăn và hiệu quả kinh doanh cũng giảm xuống
* Tình hình cạnh tranh của Công ty
Hiện nay trên thị trường vận tải nói chung, hoạt động dịch vụ vận tảiđang diễn ra hết sức sôi động với sự tham gia của nhiều đơn vị, cá nhân khácnhau Có điều này là bởi vì việc vận chuyển các vật tư hàng hoỏ cú thể được
Trang 34Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
thực hiện bằng nhiều con đường, có thể là bằng máy bay-đường sông, bằngụtụ-đường bộ, bằng tàu hoả-đường sắt hoặc bằng sà lan, tầu thuỷ-đường thuỷ.Mỗi một phương thức vận chuyển đều có những ưu điểm, nhược điểm và phùhợp với những loại hàng hoá khác nhau Riêng đối với đường thuỷ có thếmạnh ở chỗ, có thể vận chuyển những chuyến hàng siêu trường, siêu trọngđáp ứng được yêu cầu tập trung lượng lớn hàng hoá trong thời gian ngắn, vớichi phí vận chuyển nhỏ hơn so với các cách thức vận chuyển khác Đồng thời,
hệ thống sông ngòi nước ta lại rất rộng lớn với nhiều bến bãi rất thuận tiệncho việc bốc xếp, cất giữ hàng hoỏ Chớnh vì vậy, có thể thấy rằng Công tyvận tải thuỷ 1 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ vớimột lực lượng phương tiện mạnh đó cú một số lợi thế nhất định Tuy nhiênđây mới chỉ là một phần của vấn đề, bởi vì ngay trong lĩnh vực hoạt động nàyCông ty đã và đang phải cạnh tranh quyết liệt với rất nhiều đối thủ khác
Môi trường cạnh tranh của CTVTT.I
Hiện nay CTVTT.I cú cỏc đối thủ cạnh tranh như: Công ty vận tải thuỷ 2đóng tại Ninh Bình, Công ty vận tải thuỷ 3 và Công ty vận tải thuỷ 4 đóng tạiHải Phòng Tất cả các Công ty này kể cả Công ty vận tải đường thuỷ 1 đềutrực thuộc Tổng Công ty đường sông miền Bắc và do vậy đều được thực hiện
TCT§SMB
CT
VT
I
CTVTII
CTVTIII
CTVTIV
Trang 35Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
những chỉ tiêu mà Tổng Công ty phân bổ (thông thường các hợp đồng vậnchuyển lớn với các Tổng Công ty hoặc các Công ty lớn khác đều do TổngCông ty ký kết) Nhưng như vậy, không phải là không có sự cạnh tranh giữacác Công ty này, bởi vì các chỉ tiêu được phân bổ chỉ tương xứng với mộtphần năng lực của Công ty Do đó, trong cơ chế thị trường như hiện nay đểtồn tại và phát triển thỡ cỏc Công ty còn cần phải tự tìm kiếm khách hàng, mởrộng thị trường để tăng lợi nhuận Mặt khác ngay trong việc thực hiện các chỉtiêu được phân bổ, nếu Công ty không cố gắng đảm bảo chất lượng dịch vụ,
uy tín của Công ty thì cũng có thể bị mất khách hàng do phía khách hàng yêucầu Tổng Công ty thay đổi đơn vị vận chuyển
Ngoài sự cạnh tranh với các Công ty thành viên trực thuộc Tổng Công
ty đường sông miền Bắc, thì Công ty vận tải thuỷ 1 còn phải cạnh tranh mạnh
mẽ với nhiều đơn vị khác như : Công ty vận tải thuỷ Hà Nội, và đặc biệt làcác lực lượng vận tải mới xuất hiện trong vài năm gần đây như các đoàn tàucủa ngành điện, ngành than, của các địa phương khỏc, cỏc đơn vị này khi giữa
ra đời lực lượng phương tiện còn mỏng những có lợi thế về việc có thể vậnchuyển trực tiếp cho Công ty của họ Đồng thời, sự ra đời hàng loạt các đơn
vị vận tải tư nhân trên địa bàn Hà Nội cũng như ở cỏc vựng khỏc cũng làmcho hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cũng bị giảm sút Các đơn vị
tư nhân này có cấu gọn nhẹ, họ lại có thể trèn thuế nhà nước, mà giá cước vậnchuyển giá vật thiết bị của họ là hai giá bao gồm giá cứng và giá mềm, cònđối với Công ty vận tải thuỷ 1 chỉ có một giá và luôn phải chấp hành nghiêmchỉnh các nghĩa vụ đối với nhà nước Như vậy, hiện nay Công ty vận tải thuỷ
1 đang đứng trước những khó khăn và thử thách to lớn, phải đương đầu với sựcạnh tranh mạnh mẽ của nhiều đối thủ trên thị trường Nhưng “thị trường dự
cú phồn vinh đến đâu cũng sẽ có những khoảng trống, cạnh tranh dù khốc liệtđến đâu cũng cũn cú những kẽ hở”(14)
Do đó, nếu Công ty có đường lối chiến lược đúng đắn, biết phát huynhững lợi thế của mình, biết nắm bắt những cơ hội của thị trường và biết tìm
Trang 36Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
(14) TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ, chương Lập kế hoạch trong quản trị kinh
doanh, giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh, NXB Khoa học và Kỹ thuật,
Bảng 2 : Cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp từ 1997-1999
TT Chỉ tiêu 1997 1998 1999
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
1 LĐ gián tiếp 239 14,5 232 14,8 221 16
2 LĐ trực tiếp 1407 85,5 1336 85,2 1156 84
Tổng 1646 100 1568 100 1377 100
( Nguồn : Phòng tổ chức )
Nhìn vào bảng ta có thể đánh giá tổng quát về cơ cấu lao động trực tiếp
và gián tiếp của Công ty là tương đối hợp lý Bởi vì Công ty hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh vận tải thuỷ vơớ lực lượng lớn về cơ sở vật chất kỹ thuậtbao gồm 54 đoàn tầu và nhiều máy móc nhà xưởng khác, do vậy lực lượng aođộng trực tiếp là lớn (trong 3 năm qua lực lượng này chiếm từ 83-85,2%)
Trang 37Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
Trong 3 năm qua lao động của Công ty liên tục được giảm xuống để cho phù
hợ với tình hình thực tế của Công ty vì hoạt động kinh doanh ngày càng gặpnhiều khó khăn và để nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng lao động trong sảnxuất kinh doanh Năm 1999 tổng lao động giảm 12,18% so với năm 1998,trong đó lao động trực tiếp giảm 13,47%, lao động gián tiếp giảm 4,74% làmcho tỷ trọng lao động gián tiếp trong cơ cấu tăng lên, điều này cũng là phùhợp bởi để phục vụ cho công tác nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng,
và vì chỉ có tìm được khách hàng thì lao động trực tiếp mới có việc làm Lựclượng lao động trong Công ty lại được chia thành 2 bộ phận do đặc điểm kinhdoanh vận tải, đó là khối công nghiệp và khối vận tải
Bảng 3 : Cơ cấu lao động khối công nghiệp và vận tải 1997-1999
TT Chỉ tiêu 1997 1998 1999
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
Số lượng (người )
Tỷ trọng (%)
Trang 38-Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
7 Chi phí nghiên cứu và phát triển -
Nguồn : Phòng tài vô
Tài sản cố định là bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sửdụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tại Công ty vậntải thuỷ 1 thì tài sản cố định bao gồm nhiều loại khác nhau
Qua bảng trên ta thấy đặc thù về tài sản cố định của Công ty Vận tảithuỷ 1 là phương tiện vận tải, truyền dẫn chiếm tỷ trọng rất lớn ( 69,51% ) sau
đó là nhà cửa vật kiến tróc ( 16,9% ) Điều này là do Công ty hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh vận tải thuỷ nên cần có nhiều phương tiện, đồng thời phải
có nhiều bến bãi, nhà kho để bốc xếp, cất giữ hàng hoỏ.Trong quá trình sảnxuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn vô hình và hữu hình Để tái sảnxuất thì doanh nghiệp phải tính khấu hao, ở Công ty vận tải thuỷ 1 thì áp dụngphương pháp bình quân khi tớnh trích khấu hao, mỗi năm khoảng 10,5%,dùng phương pháp kế toán tài sản cố định theo quy định của nhà nước, khấuhao tài sản cố định được tính theo từng nhóm, từng loại
Bảng 5 : Bảng tính khấu hao năm 1999 ĐVT: 1000.000 Đ
Khấu hao TSCĐ
Trong đó :
Khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất
Khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý
4.636
4.280356
Nguồn : Phòng tài vô
Qua bảng ta thấy khấu hao của Công ty là lớn chủ yếu là trong sảnxuất Trong năm 1999 Công ty đã không dùng quỹ khấu hao để mua sắm mớitài sản cố định mà chủ yếu dụng vốn ngân sách và vốn tự có, do vậy Công ty
đã sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao để phục vụ cho sản xuỏt kinh doanh cóhiệu quả
- Đặc điểm về vốn
Trang 39Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
Do Công ty là một doanh nghiệp nhà nước nên khi thành lập, Công tyđược giao vốn hoạt động và có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn Trongquá trình sản xuất kinh doanh, để mở rộng hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh
tế, Công ty phải vay vốn của các tổ chức tài chính, huy động vốn trong cácdoanh nghiệp khác, Công ty bị chiếm dụng vốn và cũng chiếm dụng vốn củacác Công ty khác Đồng thời, hàng năm Công ty cũng bổ xung vốn từ các quỹphục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn của Công ty được sử dụngvào việc mua sắm thiết bị, phương tiện vận tải một phần tồn tại dưới dạngvật tư, nhiên liệu, phần còn lại dưới dạng tiền mặt để trang trải các khoảncần thiết
Bảng 6 : Cơ cấu vốn và cơ vấu nguồn vốn kinh doanh năm 1999
T Chỉ tiêu Cơ cấu vốn Cơ cấu nguồn
Nguồn : Phòng tài vô
Nhìn vào bảng ta thấy, trong năm 1999 vốn lưu động của Công ty làlớn hơn vốn cố định (gần 4 tỷ), còn vốn vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốnkinh doanh (62,87%) Với đặc điểm nguồn vốn vay lớn như vậy đã ảnh hưởngrất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, mặt khác vốn vay chủyếu là từ cán bộ công nhân viên của Công ty và vay ngân hàng với lãi suấtngắn hạn và trung hạn Do vậy Công ty phải trả một khoản tiền lãi lớn điềunày đặt ra yêu cầu phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, đồng thời đòi
Trang 40Luận văn Tốt nghiệp Nguyễn Thành Đông
hỏi sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước đến Công ty trong việc tạo điều kiệncho vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi
- Công tác quản lý sử dụng vật tư nhiên liệu
Trong thời gian qua, chi phí vật tư nhiên liệu ở CTVTT I là cao, núluụn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí vận tải Ta có thể thấy qua bảngsau:
Bảng 7: Bảng chi phí vật tư nhiên liệu từ 1997 - 1999
Chỉ tiêu
Số tiền(triệuđồng)
% trongtổng chiphí
Số tiền(triệuđồng)
% trongtổng chiphí
Sốtiền(triệuđồng)
% trongtổng chiphí
VTNL
Nguồn: Phòng vật tưĐối với CTVTT I nhiên liệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việcduy trì hoạt động vận tải, mọi hoạt động vận tải sẽ bị ngừng trệ nếu không cónhiên liệu Nhiên liệu được dùng chủ yếu là xăng, dầu, mỡ để chạy máy DoCông ty có một lực lượng phương tiện vận tải lớn nên chi phí về nhiên liệuthường là cao Mặt khác cũng với đặc điểm có nhiều đoàn tàu nên cần phải có
sự sửa chữa, đóng mới chúng Do đó Công ty đã sử dụng nhiều loại vật tư với
số lượng lớn, giá trị cao Như vậy, công tác quản lý sử dụng vật tư nhiên liệu
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củaCông ty, bởi nếu việc này được làm tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí Nhữngnăm qua chi phí vật tư nhiên liệu của Công ty đã giảm dần, năm 1998 giảm6% so với 1997, năm 1999 giảm 7,9% so với năm 1998 Điều này là do Công
ty đã có nhiều biện pháp tiết kiện chi phí này, chẳng hạn như Công ty tậptrung quản lý nhiên liệu tại kho chính của Công ty và cú cỏc kho dự trữ tạicác xí nghiệp thành viên để đáp ứng nhu cầu cấp thiếp của việc vận tải, hạn