ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm trọn trong vành đai nhiệt đới ẩm gió mùa, tuy nhiên, do có sự ảnh hƣởng của địa hình phức tạp nên khí hậu nƣớc ta có sự khác nhau cơ bản giữa các vùng miền, chính điều đó đã tạo nên nguồn tài nguyên thực vật phong phú. Theo những công bố gần đây, ở Việt Nam đã biết tới 3200 loài thực vật bậc cao cũng nhƣ bậc thấp đƣợc sử dụng làm thuốc 4. Tuy vậy, các vị thuốc đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian hoặc theo y học cổ truyền mà chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ và đầy đủ. Nhân dân ta đã biết sử dụng nhiều cây cỏ để làm thuốc từ lâu đời, đi cùng với đó là một hệ thống những kinh nghiệm dân gian của việc thu hái, chế biến, bảo quản… Ngành y dƣợc học dân tộc của nƣớc ta có một lịch sử phát triển rực rỡ, với nhiều các bài thuốc cổ truyền. Tất cả những điều này đã cho thấy nghiên cứu phát triển thuốc có nguồn gốc từ dƣợc liệu là hƣớng đi tƣơng lai của ngành y dƣợc Việt Nam. Cây Sa kê có tên khoa học là Artocarpus altilis (Park.) Fosberg (tên đồng nghĩa là Artocarpus communis J. R. Forst. G. Forst. 13) thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), trong dân gian đƣợc sử dụng nhiều vào các bài thuốc để chữa bệnh (gút, viêm gan vàng da, huyết áp cao, tiểu đƣờng,…) và nấu nƣớc uống thay trà rất phổ biến. Ở Việt Nam hiện nay rất ít công trình đề cập tới việc xác định thành phần và hoạt tính sinh học của loại cây này. Để góp phần làm sáng tỏ thành phần hóa học của cây Sa kê, đề tài “Chiết xuất, phân lập một số thành phần từ lá Sa kê” đƣợc thực hiện với các mục tiêu sau:
Trang 1BÙI QUANG HUY HOÀNG
CHIẾT XUẤT, PHÂN LẬP MỘT SỐ THÀNH PHẦN TỪ LÁ SA KÊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BÙI QUANG HUY HOÀNG
CHIẾT XUẤT, PHÂN LẬP MỘT SỐ THÀNH PHẦN TỪ LÁ SA KÊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
PGS.TS Nguyễn Thái An
Nơi thực hiện:
1 Bộ môn Dược liệu - Đại học Dược Hà Nội
2 Trung tâm Kiểm nghiệm Dược Quân đội
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên và giúp đỡ tận tình từ các thầy cô, gia đình và bạn bè Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu
sắc đến:
PGS TS Nguyễn Thái An
người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện thuận
lợi để tôi có thể hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, các anh chị kỹ thuật viên Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội, Trung tâm Kiểm nghiệm Dược Quân đội đã hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, cùng toàn thể các thầy cô giáo, các cán bộ Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi có thể lĩnh hội những kiến thức quý giá về ngành Dược trong suốt 5 năm học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh, động viên tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014 Sinh viên
Bùi Quang Huy Hoàng
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 31.1 VỊ TRÍ PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT 3
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Artocarpus J R Forst & G Forst 3
1.1.3 Đặc điểm thực vật chi Artocarpus J R Forst & G Forst 41.1.4 Đặc điểm thực vật và phân bố loài Artocarpus altilis (Park.) Fosberg 4
Trang 51.3.4.Tác dụng hạ lipid máu 12
1.3.7.Tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét và trực khuẩn lao 13
1.4 CÔNG DỤNG CỦA LÁ SA KÊ 14CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 152.1 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ 15
Trang 63.1.4 Định tính cắn phân đoạn ethyl acetat bằng sắc ký lớp mỏng 223.2 PHÂN LẬP 25
PHỤ LỤC
Trang 7AST Ánh sáng thường
13
C-NMR Carbon (13) Nuclear Magnetic Resonance
DEPT Distortionless Enhancement by Polarization Transfer EtOAc Ethyl acetat
H-NMR Proton (1) Nuclear Magnetic Resonance
HMBC Heteronuclear Multiple Bond Correlation
HSQC Hetoronuclear Single Quantum Coherence
Trang 8Hình 3.1 Sơ đồ chiết xuất các phân đoạn từ lá Sa kê 20 Hình 3.2 Phản ứng với dung dịch kiềm loãng 20
Hình 3.4 Phản ứng dung dịch sắt (III) clorid 21 Hình 3.5 Sắc ký đồ của cắn ethyl acetat với 5 hệ dung môi dưới UV365nm 22 Hình 3.6 Sắc ký đồ của cắn ethyl acetat với hệ V ở các điều kiện quan sát 24
Hình 3.7 Sơ đồ phân lập các thành phần từ phân đoạn
ethyl acetat chiết xuất từ lá Sa kê 26 Hình 3.8 Sắc ký đồ của FA01 với 3 hệ dung môi ở AST 27
Hình 3.9 Sắc ký đồ của FA02 với 3 hệ dung môi sau khi
phun thuốc thử vanilin/H2SO410%, AST 28
Hình 3.10 Sắc ký so sánh FA02 với cắn EtOAc, hệ dung
Hình 3.11 Cấu trúc hóa học của hợp chất FA01 31 Hình 3.12 Cấu trúc hóa học của hợp chất FA02 33
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả định tính cắn ethyl acetat bằng SKLM
Bảng 3.2 Kết quả SKLM của FA01 với 3 hệ dung môi 27 Bảng 3.3 Kết quả SKLM của FA02 với 3 hệ dung môi 28
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trọn trong vành đai nhiệt đới ẩm gió mùa, tuy nhiên, do có
sự ảnh hưởng của địa hình phức tạp nên khí hậu nước ta có sự khác nhau cơ bản giữa các vùng miền, chính điều đó đã tạo nên nguồn tài nguyên thực vật phong phú Theo những công bố gần đây, ở Việt Nam đã biết tới 3200 loài thực vật bậc cao cũng như bậc thấp được sử dụng làm thuốc [4] Tuy vậy, các
vị thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian hoặc theo y học cổ truyền
mà chưa được nghiên cứu kỹ và đầy đủ
Nhân dân ta đã biết sử dụng nhiều cây cỏ để làm thuốc từ lâu đời, đi cùng với đó là một hệ thống những kinh nghiệm dân gian của việc thu hái, chế biến, bảo quản… Ngành y dược học dân tộc của nước ta có một lịch sử phát triển rực rỡ, với nhiều các bài thuốc cổ truyền Tất cả những điều này đã cho thấy nghiên cứu phát triển thuốc có nguồn gốc từ dược liệu là hướng đi tương lai của ngành y dược Việt Nam
Cây Sa kê có tên khoa học là Artocarpus altilis (Park.) Fosberg (tên đồng nghĩa là Artocarpus communis J R Forst & G Forst [13]) thuộc họ Dâu
tằm (Moraceae), trong dân gian được sử dụng nhiều vào các bài thuốc để chữa bệnh (gút, viêm gan vàng da, huyết áp cao, tiểu đường,…) và nấu nước uống thay trà rất phổ biến Ở Việt Nam hiện nay rất ít công trình đề cập tới việc xác định thành phần và hoạt tính sinh học của loại cây này Để góp phần
làm sáng tỏ thành phần hóa học của cây Sa kê, đề tài “Chiết xuất, phân lập một số thành phần từ lá Sa kê” được thực hiện với các mục tiêu sau:
- Chiết xuất, phân lập một số thành phần từ lá Sa kê
- Nhận dạng chất phân lập được từ dữ liệu phổ MS, NMR
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài được tiến hành với các nội dung sau:
1 Giám định tên khoa học mẫu nghiên cứu
Trang 112 Chiết xuất và định tính cắn phân đoạn ethyl acetat bằng phản ứng hóa học và SKLM
3 Phân lập một số thành phần trong phân đoạn ethyl acetat
4 Nhận dạng chất phân lập dựa trên các dữ liệu phổ MS và NMR
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN 1.1 VỊ TRÍ PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Artocarpus J R Forst & G Forst [5]
Chi Artocarpus J R Forst & G Forst nằm trong họ Dâu tằm (Moraceae), bộ Gai (Urticales), liên bộ Gai (Urticanae), phân lớp Sổ (Dilleniidae), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta) Vị trí của loài Artocarpus altilis (Park.) Fosberg trong hệ
thống phân loại thực vật được tóm tắt như sau:
Chi Artocarpus J R Forst & G Forst
1.1.2 Đặc điểm thực vật của họ Moraceae
Cây gỗ hay bụi, ít khi là cây cỏ, leo Có rễ phụ Các bộ phận có nhựa mủ trắng Lá đơn, mọc so le Có lá kèm bọc lấy chồi, rụng sớm và để lại sẹo dạng nhẫn trên thân hoặc là hai lá kèm rụng sớm để lại hai vết sẹo trên thân Hoa thường nhỏ, đơn tính cùng gốc hay khác gốc họp thành cụm hoa chùm, bông, tán, đầu hoặc các hoa cái phủ toàn bộ mặt trong của một đế cụm hoa lõm hình quả gioi Hoa đực có 4 lá đài, không có cánh hoa, 4 nhị đứng đối diện với lá đài Bộ nhị của hoa cái có hai lá noãn, bầu trên hoặc dưới một ô, đựng một noãn Quả kép [3], [7]
Trang 131.1.3 Đặc điểm thực vật chi Artocarpus J R Forst & G Forst.[6]
Cây gỗ cao 10-20m Lá mọc so le, nguyên hay chia thùy sâu ra nhiều hay
ít
Hoa cùng gốc, các hoa đực xếp thành bông đuôi sóc, các hoa cái tập hợp trên một đế hoa lồi Đài của hoa đực gồm 2 hay 4 phiến Một nhị có chỉ nhị ở giữa, với bao phấn 2 ô mở bởi 2 kẽ nứt Bao hoa của hoa cái dính liền, có lỗ ở đỉnh và có bầu không cuống ở gốc, ban đầu có 3 ô, sau đó chỉ còn 1 ô
Quả thật, tức là bầu đã chín, là một quả bế nhưng tổng thể tất cả các quả bế này được bao trong một chất bột của đế hoa, tạo thành một quả tụ
1.1.4 Đặc điểm thực vật và phân bố loài Artocarpus altilis (Park.)
Fosberg
1.1.4.1 Đặc điểm thực vật
Tên Việt Nam: Sa kê Tên khác: Cây bánh mì [5] [12]
Tên nước ngoài: Bread-fruit (Anh), arbre à pain (Pháp) [13]
Tên khoa học: Artocarpus altilis (Park.) Fosberg [13]
Tên đồng nghĩa: Artocarpus communis J R et G, Forster, A camansi
Hoa đơn tính, có hoa đực, hoa cái riêng mọc trên cùng một cây Cụm hoa đực và hoa cái mọc ở đầu cành, gồm nhiều hoa nhỏ đính trên lõi cụm hoa mềm xốp, được bao bọc bởi hai lá kèm khi còn non, lá kèm sẽ già và rụng khi cụm hoa lớn Cụm hoa đực có dạng chùy, dài đến 40cm, đường kính đến 3cm, màu xanh khi còn non và ngả sang màu vàng, rồi nâu khi chín Các hoa nhỏ
Trang 14nằm sát lõi cụm hoa; mỗi hoa đực gồm 1 chỉ nhị mang bao phấn 2 buồng, hướng nội, chỉ nhị đính đế Bao phấn hình thận, hướng nội, hạt phấn rời, hình bầu dục, hai đầu nhọn Cụm hoa cái hình thuôn hoặc cầu, màu xanh sáng, dài đến 6cm, đường kính 4cm; gồm nhiều hoa đính trên lõi cụm hoa [10], [13] Quả Sa kê là một quả kép rất to gần như tròn hoặc hơi hình trứng, có đường kính 12-20cm, vỏ màu xanh lục nhạt hay vàng nhạt, thịt quả rất nạc và trắng chứa nhiều hột Quả Sa kê mọc thành từng chùm vài ba quả không có hạt, nhưng cũng có những quả có hạt chìm ngập trong thịt quả [12]
1.1.4.2 Phân bố và sinh thái
Sa kê có nguồn gốc ở các đảo phía nam Thái Bình Dương, châu Đại Dương (châu Úc) Hiện được di thực vào các đảo Giava, Sumatra, Malaysia, các vùng Đông Nam Á [12]
Ở Việt Nam, Sa kê được trồng trong các vườn cây ăn quả của gia đình từ
Đà Nẵng trở vào Cây không trồng được ở các tỉnh phía Bắc Đó là do loại cây gỗ lớn ưa sáng và ưa khí hậu của vùng nhiệt đới nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình từ 230C đến 300C Cây có thể chịu được thời tiết nắng nóng đến
400C; lượng mưa từ 2000 đến 3000mm/năm và độ ẩm không khí trung bình là
70 - 90% Sa kê sinh trưởng phát triển kém ở những vùng có nhiệt độ trung bình năm dưới 200
C hoặc có mùa đông lạnh kéo dài Cây mọc từ sau 4 - 5 năm bắt đầu có quả, vào những năm sau cây sẽ cho nhiều quả hơn Hoa Sa kê thụ phấn nhờ gió hoặc côn trùng, số hoa cái đậu quả thường đạt 75% Quả non dễ bị rụng khi gặp mưa nhiều [13]
1.1.4.3 Bộ phận dùng
Theo [5] [12] các bộ phận của Sa kê được sử dụng: Quả, lá, rễ, vỏ thân
Trang 151.2 THÀNH PHẦN HÓA HỌC
1.2.1 Quả
Quả Sa kê có 70% ăn đƣợc, trong 100g chứa protein 1,2 - 2,4g, chất béo 0,2 - 0,5g, carbohydrat 21,5 - 31,7g, Ca 18- 32mg, P 52 - 88mg, Fe 0,4 - 1,5mg, vitamin A 26 - 40 UI, thiamin 0,10 - 0,14mg, riboflavin 0,05 - 0,08mg, niacin 0,7 - 1,5mg và vitamin C 17 - 3mg [13]
Từ dịch chiết ethyl axetat và n-butanol của quả Sa kê, năm 2008, Nilupa R Amarasinghe và cộng sự đã phân lập đƣợc 3β-acetoxyolean-12-en-11-on, cycloartenyl acetat, isoartocarpesin, moracin M, norartocarpanon, norartocarpetin, oxyresveratrol, sitosterol, sitosterol β-D-glucopyranosid [15] Năm 1994, Wayne Iwaoka và cộng sự đã xác định đƣợc 40 hợp chất dễ bay hơi trong dịch chiết dichloromethan của quả Sa kê bằng sắc ký khí (GC)
và sắc ký khí/khối phổ, trong đó thành phần chủ yếu là cis-3-hexenol (35,8%) ngoài ra phải kể tới 3-hydroxy-2-butanon (23,3%), 1,2-cyclohexanediol
Trang 161-(2,4-dimethyl-2-(4-hydroxy-cùng với bốn geranyl flavonoid: 1-(2,4-di
hydroxyphenyl)-3-[8-hydroxy-methyl-(4-methyl-3-pentenyl)-2H-1-benzopyran-5-yl]-1-propanon (1), geranyl-20,3,4,40-tetrahydroxydihydrochalcon(3), 20-geranyl-30,40,7
2-trihydroxyflavanon (6), cycloaltilisin 6 (7) [39]
1.2.3 Rễ
Theo một số tài liệu nghiên cứu, thân rễ Sa kê có chứa các chất
prenylflavonoid bao gồm: cycloartocarpin (10) [21], [28], artocarpin (11) [28], [40], chaplashin (12) [33]
HO
1
4 3
O
1
4 3
O
O
Trang 17OH OH
OH
OH
OH
HO OH
HO
O O
OH
O
CH 3 O
O OH
O OH
OH
Từ dịch chiết dichloromethan của vỏ rễ và sử dụng phương pháp sắc ký cột và nhận dạng cấu trúc dựa vào phổ NMR, các nhà khoa học tại Đại học Chiang Mai - Thái Lan đã xác định được 6 prenylflavonoid, các hoạt chất này cũng đã được xác định trước đó qua các nghiên cứu khác, bao gồm: morusin
(13) [17], [24], cudraflavon B (14) [17], [19], [24], cycloartobiloxanthon (15) [17], [22], [37], artonin E (16) [17], [20], [22], cudraflavon C (17) [17], [21], [23] và artobiloxanthon (18) [17], [20], [37]
O
OH
O O
OH O
O
Trang 18OH
O O
Năm 2003, năm prenylflavonoid mới: artocommunol CA, CB, CC, CD và
CE được phân lập từ vỏ rễ của Sa kê bởi Sheng-Ching Chan và cộng sự Các
cấu trúc của artocommunol CA (19) và CE (20) đã được xác định bằng
20
1.2.4 Vỏ thân
Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản vỏ thân của
Artocarpus altilis (Park.) Fosberg có chứa các flavon prenylated bao gồm
3-(c,c-dimethylallyl)-6-isopentenyl-5,8,20,40-tetrahydroxy-7-methoxyflavon
(21), artocarpin (22), morusin (23), cycloartobiloxanthon (24),
cycloartocarpin A (25) và artoindonesianin V (26) Trong đó có một hợp chất
hydroxyartocarpin chưa được phân lập và xác định trước đây là
3-(c,c-dimethylallyl)-6-isopentenyl-5,8,20,40-tetrahydroxy-7-methoxyflavon Cấu
Trang 19trúc của các hợp chất được xác định bằng các phương pháp phổ (IR, MS, 1NMR và 13C-NMR) [35]
2
4 8a 8
5 6 14
O OH
O
O OH
Trang 20hạ huyết áp, chậm nhịp tim, hạ lipid máu, chống oxy hóa, chống ký sinh trùng sốt rét và trực khuẩn lao
1.3.1 Tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm
Sa kê cho thấy có hoạt tính kháng khuẩn cao Dịch chiết từ lá bằng các dung môi khác nhau (ether dầu hỏa, methanol và ethyl acetat) có tác dụng kháng khuẩn, ức chế hoạt động và sự tăng trưởng đối với một số chủng vi
khuẩn gây bệnh như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus mutans và Enterococcus faecalis [30] Dịch chiết methanol và
ethyl acetat từ quả Sa kê cũng được chứng minh là có khả năng ức chế tăng trưởng đối với các chủng vi khuẩn gây bệnh nói trên [32]
Năm 2012, nghiên cứu của Vasugi Raman và các cộng sự đã cho thấy tác dụng kháng khuẩn của các loại dịch chiết khác nhau từ lá Sa kê đối với các
chủng vi khuẩn Gram dương: Micrococcus luteus, Staphylococcus aureus, Bacillus cereus, Streptococcus viridans, các chủng vi khuẩn Gram âm: Salmonella typhi, Escherichia coli, Vibrio cholera, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter aerogenes, Proteus hauseri và nấm Candida albicans, Candida krusei, Mucor racemosus [34]
1.3.2 Tác dụng trên tế bào ung thư
Dịch chiết methanol từ lá Sa kê cho thấy 100% khả năng gây độc chọn lọc đối với PANC - 1 tế bào ung thư tuyến tụy của người trong điều kiện dinh dưỡng thiếu ở nồng độ 50mg/ml Trong đó, sakenins F và H phân lập từ dịch chiết có khả năng gây độc tế bào, với các giá trị tương ứng của PC50 là 8,0μM
và 11,1mM [29]
Năm 2008, Enos Tangke Arung và cộng sự đã nghiên cứu tác động của dịch chiết diethylether từ gỗ Sa kê trên tế bào ung thư vú ở người (T47D) Kết quả cho thấy, dịch chiết diethylether từ gỗ Sa kê, chủ yếu chứa artocarpin, có khả năng làm chết các tế bào ung thư bằng cách gây ra tình trạng tự chết và
Trang 21hình thành giai đoạn phụ G1 trong các tế bào vú T47D của người trong ống nghiệm Do đó dịch chiết diethylether từ gỗ Sa kê có khả năng của một tác nhân chống ung thư [16]
1.3.3 Tác dụng hạ huyết áp và chậm nhịp tim
Năm 2012, tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết nước từ lá Sa kê đã được nghiên cứu trên chuột Kết quả cho thấy tiêm tĩnh mạch dịch chiết lá Sa kê gây ra giảm phụ thuộc vào liều của huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và làm chậm nhịp tim ở chuột, tác dụng này có thể là do quản lý sự hoạt hóa của adrenegic tim, kích hoạt các tế bào nội mô mạch máu và tác dụng chống co thắt cơ trơn mạch máu thông qua ức chế kênh Ca2+ [31]
1.3.4 Tác dụng hạ lipid máu
Tác dụng hạ lipd máu của Sa kê đã được Oluwatosin Adekunle Adaramoye
và Olubukola Oyebimpe Akanni nghiên cứu trên chuột bằng cách cho chuột
ăn chế độ cholesterol cao trong chín tuần liên tiếp và so sánh với chuột có sử dụng dịch chiết methanol từ vỏ thân cây Kết quả cho thấy ở liều 200mg/kg làm giảm mạnh các chỉ số lipid đến gần với giá trị bình thường, đồng thời tác dụng của dịch chiết từ Sa kê tốt hơn so với thuốc làm giảm cholesterol chuẩn được sử dụng để so sánh (Questran) [14]
1.3.5 Tác dụng chống oxy hóa
Trong nghiên cứu của Wen-Chun Lan và cộng sự, tác dụng chống oxy hóa của các hợp chất khác nhau phân lập từ Sa kê được đánh giá thông qua khả năng loại trừ các gốc 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) , cation gốc 2,20-azino-bis(3 ethylbenzothiazolin-6-sulfonic acid) (ABTS +), và các anion peroxid ( O2
-) và khả năng ức chế sản xuất tyrosinase và melanin Kết quả cho thấy các hợp chất có trong thành phần hóa học của Sa kê có tác dụng chống oxy hóa theo các cơ chế khác nhau [26]
Trang 22Ngoài ra, dịch chiết từ vỏ thân Sa kê cũng được chứng minh là có tác dụng chống oxy hóa dựa trên khả năng đưa các chỉ số các enzym chống oxy hóa (GST) trong gan đã bị giảm do ảnh hưởng của nồng độ cholesterol cao trong máu về bình thường [14]
1.3.6 Tác dụng chống kết tập tiểu cầu
Sa kê cho thấy có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, tác dụng này có được là
do trong thành phần hóa học của Sa kê có chứa các hợp chất đã được phân lập gồm dihydroartomunoxanthon, artochamin B và artocommunol CC Tác động kháng tiểu cầu của 3 hợp chất này chủ yếu là do tác dụng ức chế việc hình thành thromboxan [41]
1.3.7 Tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét và trực khuẩn lao
Năm 2007, Boonphong và cộng sự nghiên cứu tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét và trực khuẩn lao của rễ cây Sa kê từ chín flavon prenylated phân lập được Trong đó cycloartocarpin, artocarpin và chaplashin được phân lập
từ dịch chiết dichloromethan của rễ và thân cây, morusin, cudraflavone B, cycloartobiloxanthon, artonin E và artbiloxanthon được tìm thấy trong vỏ rễ cho thấy tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét vừa phải với giá trị IC50 từ 1,9
đến 4,3g/ml và khả năng ức chế trực khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis
H37Ra với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) khác nhau từ 3,12 đến 100g/ml [17]
1.3.8 Tác dụng ức chế men chuyển angiotensin
Năm 2011, Jalahalli M Siddesha và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tác động của các dịch chiết khác nhau từ lá Sa kê lên hoạt động của men chuyển angiotensin (ACE) Kết quả cho thấy dịch chiết ethanol nóng và dịch chiết ethyl acetat lạnh, nóng ức chế mạnh ACE với giá trị IC50 lần lượt là 54,08 ± 0,29 và 85,44 ± 0,85mcm/ml Ngược lại, dịch chiết nước nóng cho thấy sự ức
Trang 23chế tối thiểu với giá trị IC50 765,52 ± 11,97mcg/ml 1 ở nồng độ tối đa được thử nghiệm [36]
1.4 CÔNG DỤNG CỦA LÁ SA KÊ [11]
Dân gian dùng lá Sa kê chữa phù thũng, viêm gan vàng da, gút bằng cách nấu lá tươi để uống Theo lương y Nguyễn Công Đức (Giảng viên khoa Y học
cổ truyền, Đại học Y Dược, TP.HCM) các bài thuốc dùng lá Sa kê chữa các bệnh sau:
Trị chứng huyết áp cao dao động: lá Sa kê vàng vừa mới rụng (2 lá), 50g rau ngót tươi và 20g lá chè xanh tươi nấu nước uống trong ngày
Trị bệnh gút (thống phong) và sỏi thận: dùng lá Sa kê tươi (2 lá), 100g dưa leo và 50g cỏ xước khô để nấu nước uống trong ngày
Trị đái tháo đường typ 2: Lấy 2 lá Sa kê tươi (100g), 100 trái đậu bắp tươi và 50g lá ổi non, tất cả để chung nấu nước uống trong ngày
Chữa viêm gan vàng da: Dùng 100g lá Sa kê tươi, 50g Diệp hạ châu (cây chó đẻ) tươi, 50g củ móp gai tươi và 20-50g cỏ mực khô, nấu nước uống trong ngày
Theo lương y Phạm Như Tá, lá Sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ
2.1.1 Nguyên liệu
- Mẫu nghiên cứu:
+ Mẫu cây tươi để giám định tên khoa học
+ Lá cây Sa kê, sấy ở 600C đến khô, làm nhỏ, bảo quản trong túi nilon kín,
để nơi khô ráo, thoáng mát làm nguyên liệu nghiên cứu
- Nơi thu hái: Quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh
- Giám định: Mẫu nghiên cứu được giám định tên khoa học bởi PGS.TS Nguyễn Khắc Khôi - Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm
khoa học & Công nghệ Việt Nam là Artocarpus communis J R Forst & G
- Cân kỹ thuật Sartorius
- Cân phân tích Precisa
- Đèn tử ngoại
- Máy xác định độ ẩm Sartorius
- Nồi cách thủy
- Tủ sấy Shellab
Trang 25- Máy ảnh Samsung L50
- Máy cất quay chân không Buchi Rotavapor R-200
- Máy sắc ký lỏng khối phổ LS/MS Single quadrupole, Agilent 1260 Series, USA, Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam
- Máy đo phổ khối lượng (ESI-MS): AGILENT 6310 LC-MSD Trap, Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam
- Máy đo phổ cộng hưởng hạt nhân (NMR): Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa học - Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam
- Máy đo điểm nóng chảy: Kofler micro-hostade, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Định tính thành phần hóa học
- Định tính các nhóm chất bằng phản ứng hóa học theo [8]
- Định tính các nhóm chất bằng sắc ký lớp mỏng [8]
Dịch chấm sắc ký: Mẫu phân tích được hòa tan trong methanol
Bản mỏng silicagel GF254 (Merck) tráng sẵn được hoạt hóa ở 1100C trong 1h
Khai triển với nhiều hệ dung môi khác nhau
Hiện màu bằng thuốc thử vanilin/H2SO410%
Tiến hành: Chấm dịch phân tích lên bản mỏng đã hoạt hóa và để nguội, sấy nhẹ cho khô, đặt bản mỏng vào bình sắc ký đã bão hòa dung môi Sau khi triển khai lấy bản mỏng ra khỏi bình, sấy nhẹ cho bay hết dung môi Quan sát tại các điều kiện: AST, UV254nm, UV365nm Sau đó phun thuốc thử vanilin/H2SO410% Sau khi phun thuốc thử sấy bản mỏng ở nhiệt độ 1100C rồi quan sát dưới AST
Trang 26- Các phân đoạn dịch chiết được cất thu hồi dung môi tới cắn
- Các cắn được làm khô tới khối lượng không đổi
2.2.3 Phân lập
Phương pháp sắc ký cột thông dụng được sử dụng để phân lập các chất:
- Cột sắc ký: sử dụng cột thủy tinh,chất hấp phụ là Silicagel cỡ hạt 40 -
Lót một lớp bông ở đáy cột Cân một lượng silicagel cần dùng vào cốc có
mỏ, thêm dung môi rửa giải rồi khuấy đều Cho hỗn dịch trên vào cột, mở vòi, rót tiếp dung môi vào và để cho silicagel lắng xuống đáy cột Tiếp tục hứng dung môi và rót liên tục vào cột trong một thời gian Để ổn định cột trong 24h
Đưa mẫu vào cột:
Cắn được hòa tan trong một lượng dung môi tối thiểu đến tan hòan toàn sau đó trộn đều với một lượng silicagel, để dung môi bay hơi hết, làm thành bột mịn rồi rải thành một lớp đều đặn trên mặt silicagel
Rửa giải:
Sử dụng hệ dung môi thích hợp để rửa giải Kiểm soát tốc độ dòng chảy dung môi theo thời gian Hứng dịch rửa giải vào các ống nghiệm và bình nón
Trang 27thích hợp Sử dụng SKLM để kiểm tra thành phần dịch hứng, dồn các phân đoạn có cùng thành phần
- Tinh chế các chất thu được
- Kiểm tra độ tinh khiết của các chất phân lập: sử dụng phương pháp SKLM
2.2.4 Nhận dạng các chất tinh khiết
Nhận dạng chất phân lập được từ dữ liệu phổ phổ MS, NMR