1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư tại việt nam giai đoạn 2006 2010

43 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 605,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị và tỷ trọng thuốc nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010 [6] Tỷ trọng % Trị giá thuốc nhập khẩu triệu USD* Tỷ trọng % *: bao gồm cả nguyên liệu và thuốc thành phẩm Cùng với bướ

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LƯU QUANG HUY

KHẢO SÁT CƠ CẤU VÀ XU HƯỚNG NHẬP KHẨU CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LƯU QUANG HUY

KHẢO SÁT CƠ CẤU VÀ XU HƯỚNG NHẬP KHẨU CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận này, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, gia đình và bạn bè.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:

ThS Nguyễn Thị Hà – Giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, người đã tận

tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

ThS Chu Quốc Thịnh – Chuyên viên Cục Quản lý Dược – Bộ Y tế, người đã gợi ý

cho tôi hướng phát triển và hoàn thiện đề tài

DS Nguyễn Vĩnh Nam – Giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, người đã

đưa ra những chỉ dẫn quý báu giúp tôi hoàn thành đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô Bộ môn Quản lý và Kinh

tế Dược đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Cuối cùng, tôi xin dành những lời yêu thương nhất để bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bên quan tâm, chăm sóc và cho tôi những lời động viên khích lệ

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Lưu Quang Huy

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Tổng quan về bệnh ung thư và điều trị bệnh ung thư 2

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm bệnh ung thư 2

1.1.2 Tình hình bệnh ung thư trên thế giới 2

1.1.3 Tình hình bệnh ung thư tại Việt Nam 5

1.1.4 Điều trị ung thư 6

1.2 Tổng quan về thị trường thuốc điều trị ung thư 8

1.2.1 Thị trường thuốc điều trị ung thư thế giới 8

1.2.2 Thị trường thuốc điều trị ung thư tại Việt Nam 9

1.3 Tổng quan về nghiên cứu định lượng tiêu thụ thuốc 12

1.3.1 Nghiên cứu dựa trên chi phí 12

1.3.2 Nghiên cứu dựa trên số lượng đơn vị đóng gói 12

1.3.3 Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc 13

1.3.4 Nghiên cứu dựa trên liều xác định hàng ngày 13

1.4 Các đề tài nghiên cứu liên quan 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.3 Thiết kế nghiên cứu 16

2.4 Nội dung nghiên cứu 16

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 16

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 17

2.7 Trình bày và báo cáo kết quả 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010 21

Trang 5

3.1.1 Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo KNNK 21

3.1.2 Cơ cấu và xu hướng NK các thuốc ĐTƯT theo số lượng SĐK 22

3.2 Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT giai đoạn 2006-2010 22

3.2.1 Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT theo KNNK 23

3.2.2 Cơ cấu và xu hướng NK các nhóm thuốc ĐTƯT theo số lượng SĐK 24

3.3 Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT giai đoạn 2006-2010 26

3.3.1 Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT theo KNNK 26

3.3.2 Cơ cấu và xu hướng NK các hoạt chất ĐTƯT theo số lượng SĐK 28

3.4 Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT theo quốc gia xuất xứ giai đoạn 2006-2010 29 3.4.1 Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT từ các quốc gia theo KNNK 30

3.4.2 Cơ cấu và xu hướng NK thuốc ĐTƯT từ các quốc gia theo SL SĐK 32

BÀN LUẬN 35

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Những nhóm thuốc có doanh số cao nhất năm 2010 8

Bảng 1.2 Giá trị và tỷ trọng thuốc nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 10Bảng 1.3 Thị phần dược phẩm theo nhóm thuốc của một số nước trong khu vực 11Bảng 2.1 Các hoạt chất được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai đoạn 2006-

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong bệnh ung thư tại các khu vực trên thế giới 3

Hình 1.2 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong của các loại ung thư trên thế giới 4

Hình 1.3 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong của các loại ung thư tại Việt Nam 6

Hình 1.4 Doanh số thuốc điều trị ung thư toàn thế giới trong giai đoạn 2006 –2010 9 Hình 2.1 Sơ đồ xử lý số liệu 18

Hình 3.1 Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK các thuốc ĐTƯT 21

Hình 3.2 Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK các nhóm thuốc ĐTƯT 23

Hình 3.3 Số lượng SĐK các nhóm thuốc điều trị ung thư 25

Hình 3.4 Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK các hoạt chất ĐTƯT 27

Hình 3.5 Số lượng SĐK các hoạt chất điều trị ung thư 28

Hình 3.6 Giá trị và tỷ trọng giá trị KNNK các thuốc ĐTƯT theo quốc gia xuất xứ 30 Hình 3.7 Số lượng SĐK các thuốc điều trị ung thư theo quốc gia xuất xứ 33

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATC Anatomical Therapeutic

Chemical Classification

Hệ thống phân loại dựa trên tính chất hóa hoc, phương pháp điều trị, bộ phận giải phẫu

ASR Age-Standardise Rate Tỷ lệ chuẩn theo tuổi

BMI Bussiness Monitor

IARC International Agency for

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư hiện là vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới Theo ước tính của

Tổ chức y tế thế giới, vào năm 2008, trên toàn thế giới có 12,7 triệu trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và có 7,6 triệu trường hợp tử vong vì ung thư [17] Tại Việt Nam, trong những năm qua, số lượng bệnh nhân ung thư tăng nhanh một cách đáng báo động do những nguyên nhân về ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, thay đổi lối sống, hút thuốc lá

Để đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng tăng, thị trường thuốc điều trị ung thư ngày càng mở rộng và đa dạng hóa về sản phẩm Đáng chú ý, phần lớn các thuốc điều trị ung thư hiện lưu hành trên thị trường dược phẩm Việt Nam có xuất xứ nước ngoài (chiếm 98,4

% tổng số lượng số đăng ký) [13]

Trước bối cảnh các thuốc nhập khẩu điều trị ung thư giữ một vai trò quan trọng, việc thực hiện các nghiên cứu khảo sát đánh giá tình hình nhập khẩu thuốc điều trị ung thư là rất cần thiết Kết quả của các nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để cơ quan quản lý đề ra những chính sách phù hợp, đồng thời, các doanh nghiệp trong nước có thể định hướng cho hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, chưa có nhiều đề tài

đi sâu vào phân tích cơ cấu và xu hướng nhập khẩu của các thuốc này Chính vì vậy, đề tài

“Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư giai đoạn 2010” được thực hiện với hai mục tiêu:

2006- Khảo sát cơ cấu các thuốc điều trị ung thư nhập khẩu giai đoạn 2006-2010

 Khảo sát xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư giai đoạn 2006-2010

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh ung thư và điều trị bệnh ung thư

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm bệnh ung thư

Trang 10

Khái niệm: Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [10].

Các nguyên nhân gây ra ung thư bao gồm: tác nhân vật lý (bức xạ ion hóa, bức xạ cực tím), thuốc lá, dinh dưỡng, những yếu tố nghề nghiệp, các tác nhân sinh học (virus viêm gan B, virus HPV, ), yếu tố di truyền và suy giảm miễn dịch [10]

Ung thư không phải là vô phương cứu chữa Theo ước tính 1/3 số bệnh nhân ung thư có thể phòng ngừa, 1/3 số bệnh nhân ung thư có thể chữa khỏi nếu được chẩn đoán sớm Đối với 1/3 số bệnh nhân còn lại, việc chăm sóc bổ trợ sẽ làm tăng chất lượng sống Tại một số nước phát triển, có tới 70% số lượng bệnh nhân ung thư đã được chữa khỏi [5]

1.1.2 Tình hình bệnh ung thư trên thế giới

Ung thư là vấn đề sức khoẻ được quan tâm ở nhiều nước Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) về mô hình bệnh tật trong thế kỉ 21: Các bệnh không lây nhiễm trong đó có ung thư sẽ trở thành nhóm bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người (chiếm 54% nguyên nhân gây tử vong), nhóm bệnh nhiễm trùng sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu (chỉ chiếm 16% nguyên nhân gây tử vong) Cùng với sự gia tăng kinh tế, lối sống thay đổi, công nghiệp phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái ngày càng trở nên trầm trọng Bên cạnh đó, cơ cấu dân số già đi do tuổi thọ trung bình tăng trong khi bệnh ung thư lại hay xảy ra ở nhóm tuổi già Đó là những lý do giải thích vì sao bệnh ung thư ngày càng tăng lên [1]

Đáng chú ý, ung thư là một trong 8 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, đứng trên cả HIV/AIDS, lao và các loại sốt rét Năm 2008, ước tính có 12,7 triệu trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh ung thư và có 7,6 triệu trường hợp tử vong vì ung thư trên toàn thế giới Trong đó, hơn 60% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình- nơi vẫn còn đang thiếu thốn về các nguồn lực và hệ thống chăm sóc sức khỏe để giảm nhẹ các gánh nặng bệnh tật [17]

Hơn nữa, gánh nặng về bệnh ung thư trên toàn cầu đang gia tăng ở một mức độ đáng báo động Dự báo đến năm 2030 sẽ có khoảng 21,4 triệu ca mắc ung thư mới và 13,2 triệu người chết vì ung thư (tính đơn giản theo sự gia tăng và lão hóa của dân số) [14]

Trang 11

Ở vùng châu Á Thái Bình Dương, ung thư là một trong 3 nguyên nhân chính gây tử vong Tỉ lệ tử vong do ung thư lên tới 100/100.000 dân ở các nước Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapo Châu Á –Thái Bình Dương với đặc thù dân cư đông đúc cũng

là khu vực có tỷ lệ bệnh nhân ung thư cao nhất với tỷ lệ mới mắc là 42,39% và tỷ lệ tử vong là 46,68% [23]

Hình 1.1 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong bệnh ung thư tại các khu vực trên thế giới

Theo số liệu của cơ quan quốc tế về nghiên cứu ung thư (International Agency for Research of Cancer-IARC), năm 2008, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư đại trực tràng là những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới Ung thư vú là loại ung thư có tỷ lệ người mắc cao nhất trong khi ung thư phổi là loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất (hình 1.2)

Đơn vị: ASR(W)

Hình 1.2 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong của các loại ung thư trên thế giới [26]

Chú thích: ASR (Age-standardised rate) là tỷ lệ mà một quần thể dân cư đạt được nếu có một cấu trúc tuổi tiêu chuẩn ASR được tính trên 100.000 dân.

1.1.3 Tình hình bệnh ung thư tại Việt Nam

Theo nhận định của Bộ Y tế, mô hình bệnh tật ở nước ta là một mô hình kép Bên cạnh các bệnh nhiễm trùng, suy dinh dưỡng của các nước chậm phát triển, các bệnh ung thư, tim mạch, tâm thần đang có nguy cơ tăng lên giống với các nước công nghiệp phát triển Trong khi, thế kỷ 20 là thế kỷ của các loại bệnh nhiễm trùng, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của bệnh ung thư, tim mạch và các bệnh không lây nhiễm khác [5]

Theo số liệu thống kê tại Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh

và một số tỉnh, ước tính mỗi năm ở nước ta có khoảng 150.000 trường hợp mới mắc và 75.000 người chết vì ung thư, cao gấp 7 lần số trường hợp tử vong do tai nạn giao thông, con số này có xu hướng ngày càng gia tăng Dự báo tới năm 2010, mỗi năm ở Việt Nam

có khoảng 200.000 trường hợp mới mắc và 100.000 trường hợp chết do ung thư Như vậy cho tới nay, bệnh ung thư đã trở thành nguyên nhân số một đe dọa sức khỏe cộng đồng trong nhóm bệnh không lây nhiễm [4]

Trang 12

Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển, ngoài những đặc điểm của các nước đang phát triển như là sự đô thị hóa, công nghiệp hóa, dẫn đến môi sinh bị hủy hoại, thay đổi thói quen, phong cách sống còn có những đặc điểm riêng, là chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh tàn phá, di chứng của chiến tranh vẫn còn tồn tại dai dẳng đe dọa sức khoẻ của con người Đó là những lý do cho sự gia tăng của bệnh ung thư tại nước ta [4].

Cũng theo số liệu của IARC, tại Việt Nam, năm 2008, ung thư gan, ung thư phổi, ung thư vú và ung thư dạ dày là những loại ung thư phổ biến nhất với tỷ lệ mới mắc và tỷ

lệ tử vong cao nhất (hình 1.3)

Đơn vị: ASR(W)

Hình 1.3 Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ tử vong các loại ung thư tại Việt Nam [26]

1.1.4 Điều trị ung thư

Ung thư không chỉ đa dạng về bệnh học mà còn đa dạng trong điều trị Nhược điểm của phương pháp điều trị này lại là ưu điểm, là chỉ định của phương pháp điều trị khác Mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quá trình điều trị Các phương pháp

sẽ bổ sung cho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh, giải quyết một cách triệt

để nhất bệnh ung thư

Các phương pháp điều trị ung thư (ĐTƯT) thường áp dụng hiện nay bao gồm [10]:

- Các phương pháp điều trị tại chỗ gồm có: phẫu thuật và xạ trị Các phương pháp này có khả năng điều trị triệt để khi bệnh còn ở giai đoạn sớm, tổn thương ung thư chỉ khu trú ở tại chỗ hoặc tại vùng Nếu ung thư đã có di căn xa, có thể vẫn phải dùng phẫu thuật hay xạ trị để điều trị tạm thời hoặc giải quyết các triệu chứng

- Các phương pháp điều trị toàn thân gồm có điều trị hóa chất (dùng các tác nhân chống ung thư), điều trị nội tiết (dùng nội tiết tố hoặc kháng nội tiết tố) và điều trị miễn dịch (làm tăng sức đề kháng của cơ thể để diệt tế bào ung thư) Các phương pháp này được áp dụng điều trị ung thư có tính chất toàn thân hoặc đã lan rộng

Trong đó, điều trị hóa chất là một phương pháp quan trọng Bởi lẽ, hiện tại, ngay cả

Trang 13

ở những nước phát triển cũng có nhiều bệnh nhân ung thư khi đến khám bệnh đã ở giai đoạn muộn, sau khi được điều trị bằng các phương pháp tại chỗ bao gồm phẫu thuật, tia

xạ, các ổ di căn xa vẫn tồn tại và hoàn toàn cần thiết phải được điều trị bằng phương pháp toàn thân Hóa chất không chỉ được sử dụng để điều trị ung thư mà còn để kéo dài sự sống hoặc làm giảm bớt sự đau đớn cho bệnh nhân Hiện nay, việc áp dụng điều trị hóa chất trong ung thư đã có nhiều tiến bộ đáng kể Nhiều thuốc mới ra đời với xu hướng tác dụng chống ung thư ngày càng hiệu quả và tác dụng phụ được hạn chế tối đa Bên cạnh đó, nhiều phác đồ phối hợp thuốc có hiệu quả cao được xây dựng để điều trị đặc hiệu cho từng loại bệnh ung thư cụ thể [11], [24]

Phân loại theo mã ATC bậc 3, thuốc điều trị ung thư có các nhóm [27]:

 Nhóm tác nhân alkyl hóa (L01A) (VD: cyclophosphamid, ifosfamid, chlorambucil, )

 Nhóm chất kháng chuyển hóa (L01B) (VD: methotrexat, capecitabin, cytarabin, )

 Nhóm alcaloid thực vật và các sản phẩm tự nhiên khác (L01C) (VD: paclitaxel, docetaxel, vicristin, )

 Nhóm kháng sinh gây độc tế bào và các chất liên quan (L01D) (VD: bleomycin, dactinomycin, doxorubicin, )

 Nhóm tác nhân chống ung thư khác (L01X) (VD: bevacizumab, trastuzumab, rituximab, )

 Nhóm hormon và chất liên quan (L02A) (VD: goserelin, triptorelin, )

 Nhóm chất kháng hormon và chất liên quan (L02B) (VD: tamoxifen, anastrozol, )

Ngoài ra còn có nhóm các tác nhân giải độc dùng trong điều trị ung thư (V03AF) (VD: calci folinat)

1.2 Tổng quan về thị trường thuốc điều trị ung thư

1.2.1 Thị trường thuốc điều trị ung thư thế giới

Theo số liệu thống kê của IMS Health, năm 2010, nhóm thuốc điều trị ung thư là nhóm có doanh số cao nhất với doanh số lên tới 56,4 tỷ USD, chiếm 7,03% doanh số dược

Trang 14

phẩm toàn cầu (bảng 1.1).

Bảng 1.1 Những nhóm thuốc có doanh số cao nhất năm 2010 [19]

Chính vì vậy, IMS Health dự báo rằng sẽ không có nhóm thuốc nào có thể vượt qua doanh số của thuốc điều trị ung thư cho tới năm 2020 [20]

1.2.2 Thị trường thuốc điều trị ung thư tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nhu cầu về dược phẩm tăng 20% hàng năm Chi phí bình quân cho dược phẩm năm 2009 là 19,77 USD, cao hơn năm 2008 20% (16,45 USD) và gấp 3 lần

Trang 15

năm 2001 (6 USD) Theo thống kê của tổ chức BMI (Bussiness Monitor International), năm 2010, Việt Nam đã chi khoảng 1,71 tỷ USD cho dược phẩm tăng 19,5% so với năm

2009 [12], [15]

Trước nhu cầu sử dụng thuốc của người dân ngày càng tăng đi đôi với nhu cầu sử dụng các thuốc chất lượng cao thì ngành Dược cần không ngừng phát triển về quy mô và chất lượng Tuy nhiên, khả năng sản xuất thuốc trong nước chỉ đáp ứng được gần 50% nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân, trong đó 90% nguyên liệu là nhập khẩu Chính vì vậy, thuốc nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống y tế ở nước ta [6]

Bảng 1.2 Giá trị và tỷ trọng thuốc nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010 [6]

Tỷ trọng (%)

Trị giá thuốc nhập khẩu (triệu USD)*

Tỷ trọng (%)

(*): bao gồm cả nguyên liệu và thuốc thành phẩm

Cùng với bước tiến chung của thị trường dược phẩm, các thuốc điều trị ung thư tại Việt Nam ngày càng phong phú về sản phẩm và mức doanh thu ngày càng lớn Tuy nhiên

tỷ trọng của nhóm thuốc điều trị ung thư chỉ đạt khoảng 3% trên tổng doanh thu của dược phẩm, đây là một tỷ lệ khá thấp so với thế giới cũng như một số nước khác trong khu vực (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Thị phần dược phẩm theo nhóm thuốc của một số nước trong khu vực [2]

Đơn vị:%

STT Nhóm thuốc

Indon-esia

in

Philip-Việt Nam

Thái Lan

sia

Malay-

Singa-po ASEAN

Trang 16

1.3 Tổng quan về nghiên cứu định lượng tiêu thụ thuốc

Nội dung chính của đề tài là khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu thuốc điều trị ung thư Trong quá trình phân tích kết quả, các chỉ số nghiên cứu khác nhau bao gồm kim ngạch nhập khẩu (thể hiện giá trị bằng tiền), tổng số liều DDD (thể hiện giá trị sử dụng), tổng số đăng ký (thể hiện mức độ cạnh tranh) sẽ được đưa vào phân tích song song với từng nội dung nghiên cứu Các chỉ số này được rút ra dựa trên các nghiên cứu định lượng

về sử dụng, tiêu thụ thuốc Do đó, chúng tôi thực hiện phần tổng quan này nhằm mô tả các

Trang 17

loại nghiên cứu và các chỉ số tương ứng các nghiên cứu về sử dụng/tiêu thụ thuốc.

1.3.1 Nghiên cứu dựa trên chi phí

Các nghiên cứu về chi phí thuốc đem lại thống kê ban đầu về tương quan giữa chi phí sử dụng thuốc so với tổng chi phí y tế, đặc biệt trên quy mô quốc gia Trên thực tế, khi triển khai các nghiên cứu này, nhà nghiên cứu thường thực hiện so sánh giữa chi phí sử dụng thuốc với thu nhập bình quân đầu người [22]

Nghiên cứu về chi phí có một số hạn chế như: không cung cấp chính xác về số lượng thuốc được bán ra hay số lượng thuốc thực tế được người dân sử dụng, hơn nữa giá thuốc khác nhau giữa các quốc gia gây ra những khó khăn trong việc so sánh chi phí tiêu thụ thuốc giữa các quốc gia Nghiên cứu dài hạn cũng gặp khó khăn do những biến động

về tiền tệ và những thay đổi trong giá thuốc [25]

1.3.2 Nghiên cứu dựa trên số lượng đơn vị đóng gói

Đánh giá sự tiêu thụ dựa trên số lượng đơn vị đóng gói (viên, lọ, ống, ) đưa ra những đánh giá chính xác về tiêu thụ thuốc hơn là đánh giá theo chi phí Nghiên cứu này hay được sử dụng để đánh giá sử dụng thuốc trong cả một giai đoạn hoặc so sánh giữa các quốc gia [22]

Hạn chế của nghiên cứu này đó là với cùng một hoạt chất theo thời gian và giữa các quốc gia có thể có nhiều biệt dược với dạng bào chế, nồng độ hàm lượng và quy cách đóng gói khác nhau, do đó gây khó khăn cho việc định lượng tiêu thụ Tuy nhiên, nếu làm được các nghiên cứu này sẽ cho thấy biến động về chủng loại biệt dược ứng với dùng 1 hoạt chất, theo thời gian [22]

1.3.3 Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc

Nghiên cứu dựa trên đơn thuốc có thể phản ánh mối quan hệ giữa người thầy thuốc

và bệnh nhân và sự thay đổi của mối quan hệ đó trong một giai đoạn thời gian Hạn chế của phương pháp này là không thể thực hiện được trừ khi sự khảo sát bao gồm cả những chẩn đoán và những vấn đề liên quan khác Không may là, những thông tin này thường rất khó để có được vì một vài lý do hơn nữa sự khảo sát loại này có trở ngại là thường đắt [22]

1.3.4 Nghiên cứu dựa trên liều xác định hàng ngày

Trang 18

Liều xác định hàng ngày (Defined Daily Dose-DDD) là liều tổng cộng trung bình của một thuốc dùng cho một ngày cho một chỉ định ở người trưởng thành DDD chỉ là một đơn vị đo lường kỹ thuật về sử dụng thuốc, không phản ánh liều dùng thực tế nhưng có ý nghĩa để theo dõi, giám sát, đánh giá về tình hình tiêu thụ và sử dụng hợp lý hay không [1].

Đơn vị này cung cấp một tỷ lệ dân số điều trị hằng ngày bằng một thuốc hay một nhóm thuốc Tính toán này hữu ích nhất cho các thuốc điều trị bệnh mãn tính có liều quy định gần với liều DDD [22]

Hạn chế của phương pháp nghiên cứu này là kết quả gặp sai số do không phải tất cả các thuốc được dùng đều cần thiết cho bệnh nhân Hơn nữa, việc tính toán số liều DDD dựa trên tổng số dân tuy nhiên việc sử dụng một số loại thuốc lại chỉ tập trung ở một số nhóm đối tượng Ngoài ra liều DDD có thể không tương đương với liều kê trên đơn hoặc liều sử dụng thực tế của bệnh nhân [22]

Đặc biệt, đối với các thuốc trong các nhóm tác nhân chống ung thư (có mã ATC bậc

2 là L01) không có các liều DDD cụ thể cho từng thuốc bởi lẽ những thuốc này được sử dụng mang tính cá biệt hóa rất cao và khoảng liều rất rộng Hơn nữa, liều lượng các thuốc này thay đổi đáng kể vì mức độ nghiêm trọng khác nhau giữa các loại ung thư và việc sử dụng các phương pháp phối hợp thuốc [27] Chính vì vậy, không thể sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên đơn vị là liều DDD cho đề tài này

1.4 Các đề tài nghiên cứu liên quan

Năm 2008, nghiên cứu “Khảo sát tình hình nhập khẩu thuốc thành phẩm trong năm 2007” của tác giả Lê Ngọc Hoàng, thông qua số liệu nhập khẩu thực tế do Tổng cục Hải quan cung cấp đã phân tích tình hình nhập khẩu thuốc theo doanh nghiệp nhập khẩu, tình hình nhập khẩu thuốc quản lý đặc biệt và tình hình nhập khẩu của các nhóm thuốc phân loại theo mã ATC Tuy nhiên, đề tài chưa khảo sát được toàn bộ các thuốc thành phẩm lưu hành trên thị trường cũng như chưa đi sâu vào phân tích tình hình nhập khẩu thuốc điều trị ung thư trong năm 2007 [7]

Năm 2009, đề tài “Khảo sát tình hình nhập khẩu thuốc thành phẩm trong năm 2008” của tác giả Lê Thị Phương Hoa với nội dung nghiên cứu tương tự đề tài “Khảo sát tình hình nhập khẩu thuốc thành phẩm trong năm 2007” đã được thực hiện Bên cạnh những kết

Trang 19

quả thu được về tình hình nhập khẩu thuốc trong năm 2008, đề tài cũng đã xây dựng được

“chương trình quản lý thông tin thuốc nhập khẩu” Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa có những đánh giá về cơ cấu và các xu hướng nhập khẩu của các thuốc điều trị ung thư [9]

Năm 2011, tác giả Lê Thị Phương Hoa tiếp tục nghiên cứu đề tài “Phân tích thực trạng nhập khẩu các thuốc kháng khuẩn trong giai đoạn 2006-2010” với những nội dung về phân tích cơ cấu và xu hướng nhập khẩu của nhóm thuốc kháng khuẩn [8]

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào đánh giá thực trạng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư thông qua phân tích cơ cấu và xu hướng nhập khẩu của các thuốc điều trị ung thư

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các thuốc điều trị ung thư được nhập khẩu vào Việt Nam giai đoạn 2006- 2010

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/2/2013 – 21/5/2013

 Địa điểm nghiên cứu:

Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược - Đại học Dược Hà Nội

Phòng Quản lý giá thuốc - Cục quản lý Dược - Bộ Y tế

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả

2.4 Nội dung nghiên cứu

 Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các nhóm thuốc điều trị ung thư giai đoạn

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu

 Giá trị kim ngạch nhập khẩu (KNNK) và tỷ trọng giá trị KNNK của các nhóm thuốc, hoạt chất và của các quốc gia nhập khẩu thuốc điều trị ung thư vào Việt Nam Đơn vị tính của giá trị KNNK là đô la Mỹ (USD) để hạn chế sự biến động về tỷ giá

 Số lượng số đăng ký (SĐK) của các nhóm thuốc, hoạt chất và của các quốc gia nhập khẩu thuốc điều trị ung thư vào Việt Nam

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Dữ liệu về thuốc nhập khẩu của Tổng cục Hải quan được xử lý theo quy trình sau:

 Bước 1: Lọc các dữ liệu về thuốc thành phẩm

Trang 21

Dữ liệu thuốc nhập khẩu do Tổng cục Hải quan cung cấp bao gồm thông tin về từng đợt nhập hàng trong năm của các thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, thuốc thú y, vật tư y tế, hóa chất sát khuẩn Các thông tin này gồm có: mã hàng, tên hàng, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, nước xuất xứ, số lượng nhập, giá CIF (Cost, Insurance, Freight), giá trị KNNK và một số thông tin khác về quản lý nhập khẩu thuốc Dữ liệu về thuốc thành phẩm sẽ được lọc ra bằng cách lựa chọn những sản phẩm có mã hàng thuốc thành phẩm (chứa 4 chữ số đầu trong mã hàng là “3004”).

 Bước 2: Bổ sung mục hoạt chất cho thuốc thành phẩm

Bổ sung thêm mục hoạt chất cho các thuốc thành phẩm bằng cách tra cứu trên Internet Việc tra cứu được thực hiện ít nhất hai lần ở hai nguồn thông tin khác nhau để hạn chế sai số

 Bước 3: Lọc các hoạt chất điều trị ung thư

Các hoạt chất điều trị ung thư thu được bằng cách lọc lấy các hoạt chất có tên trong các nhóm L01, L02 và V03AF theo phân loại ATC-WHO

 Bước 4: Gán mã ATC, SĐK cho các thuốc điều trị ung thư

Việc gán mã được tiến hành bằng cách tra cứu trên địa chỉ website:

http://www.whocc.no/atc_ddd_index/ Thông tin về SĐK của thuốc sẽ được bổ sung dựa

trên dữ liệu quản lý về SĐK lưu trữ tại Cục quản lý Dược Việt Nam

Quy trình xử lý số liệu được thể hiện trong hình 2.1

Ngày đăng: 28/07/2015, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các hoạt chất được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai đoạn - Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư tại việt nam giai đoạn 2006   2010
Bảng 2.1. Các hoạt chất được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai đoạn (Trang 22)
Bảng 2.2. Các quốc gia xuất xứ được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai - Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư tại việt nam giai đoạn 2006   2010
Bảng 2.2. Các quốc gia xuất xứ được khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu giai (Trang 23)
Hình 3.1 cho thấy: - Khảo sát cơ cấu và xu hướng nhập khẩu các thuốc điều trị ung thư tại việt nam giai đoạn 2006   2010
Hình 3.1 cho thấy: (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w