cung ứng dịch vụ công cho xã hội là một trách nhiệm vô cùng to lớn và khó của mọi nhà nước trong thời đại ngày nay
Trang 1Trường Đại học kinh tế quốc dân
^ ]
Đỗ Thị HảI Hμ
hoμn thiện quản lý nhμ nước
đối với cung ứng dịch vụ công
Chuyên ngành: Tổ chức và Quản lý sản xuất
Tóm tắt Luận án tiến sĩ kinh tế
Hμ Nội - 2006
Trang 2Công trình được hoμn thμnh Tại trường đại học kinh tế quốc dân
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Vào hồi………giờ………ngày………tháng……….năm 2006
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện quốc gia
Thư viện trường đại học kinh tế quốc dân
Trang 3có liên quan đến luận án đã công bố
1 Đỗ Hoàng Toàn (1999), Các giải pháp tăng cường năng lực điều hành của
Nhà nước trong quản lý vĩ mô (Đề tài cấp Bộ B98.38.12 - thành viên đề
tài, nghiệm thu 4/1999)
2 Đỗ Hoàng Toàn (2000), Lý thuyết nhận dạng ứng dụng trong quản lý (Đề tài
cấp Bộ B99.38.07 – thành viên đề tài, nghiệm thu 6/2000)
3 Đỗ Hoàng Toàn, Đỗ Thị Hải Hà (1998), “Nâng cao năng lực điều hành của Nhà
nước trong quản lý vĩ mô xã hội”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (27)
4 Phan Kim Chiến, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đỗ Hoàng Toàn (1998), Giáo trình
Các phương pháp lượng trong việc ra quyết định quản lý kinh tế, Nxb
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (chương V, đồng tác giả)
5 Mai Văn Bưu, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Hoàng Toàn (1999), Giáo trình Quản lý
kinh tế, tập I, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (chương II, đồng tác
giả)
6 Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2002), Giáo trình Khoa học quản
lý, tập II, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (chương IX, đồng tác giả)
7 Mai Văn Bưu, Đỗ Hoàng Toàn (2001), Giáo trình Quản lý học Kinh tế Quốc
dân, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (Chương II, đồng tác giả)
8 Đỗ Thị Hải Hà (2003), “Quản lý nhà nước với vấn đề dịch vụ công”, Tạp chí
Kinh tế và Dự báo (365), trang 22 - 23
9 Đỗ Thị Hải Hà (2004), “Những đặc điểm chủ yếu của trào lưu quản lý công
mới ở các nước OECD và CAPAM”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (87),
trang 45 - 46
10 Đỗ Thị Hải Hà (2005), Quản lý nhà nước với các dịch vụ công của một số
nước và bài học rút ra cho Việt Nam (đề tài NCKH cấp Cơ sở, nghiệm
thu năm 2005 - chủ nhiệm đề tài)
11 Đỗ Thị Hải Hà (2005), “Nhân tố văn hóa trong cung ứng và tiêu dùng dịch vụ
công”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (99), trang 55 - 56
Trang 4Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Cung ứng dịch vụ công cho xã hội là một trách nhiệm vô cùng to lớn và khó khăn của mọi nhà nước trong thời đại ngày nay, đây đồng thời cũng là một trong hai chức năng quản lý xã hội quan trọng của nhà nước
ở các nước phương Tây, thuật ngữ “dịch vụ công” được sử dụng khá sớm và việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội luôn là vấn đề bức xúc đặt ra trước nhà nước, thậm chí kết quả của việc cung ứng dịch vụ công của nhà nước cho xã hội còn là lá phiếu bầu cho sự tồn tại và đắc cử của các chính phủ Còn ở Việt Nam, thuật ngữ dịch
vụ công mới được chính thức đưa vào sử dụng tháng 8 năm 1999 tại Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII; việc quản lý nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề cả về lý luận cũng như thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và xử lý
Đề tài nghiên cứu của luận án với tiêu đề “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
cung ứng dịch vụ công” hy vọng góp phần làm rõ một số vấn đề được đặt ra ở trên
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ công và quản lý
nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công Tham khảo kinh nghiệm quản lý nhà nước
đối với cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới, kết hợp với việc phân tích thực tế hoạt động quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở nước ta thời gian vừa qua để rút ra những bài học mà Việt Nam có thể nghiên cứu và áp dụng
Hai là, phân tích thực trạng việc quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công
ở nước ta giai đoạn vừa qua (1991 - 2005), các kết quả đã đạt được, những yếu kém tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại yếu kém cần khắc phục
Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý nhà nước đối với
cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam trong giai đoạn tới 2006 - 2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ công và quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công, đề xuất các giải pháp nhằm
Trang 5hoàn thiện việc quản lý của Nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công nước ta giai
đoạn 2006 - 2010;
- Đi sâu phân tích việc quản lý nhà nước đối với cung ứng một số loại dịch
vụ công tiêu biểu như dịch vụ giáo dục, công chứng, đường giao thông và cấp phép kinh doanh ở nước ta giai đoạn vừa qua
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp triết học Mác - Lênin kết hợp với các quan
điểm của Đảng, các thành tựu của khoa học quản lý và các phương pháp truyền thống của khoa học xã hội để nghiên cứu, giải quyết các vấn đề, bao gồm: c Phương pháp phân tích so sánh tổng hợp, d Phương pháp điều tra xã hội học (thông qua các phiếu
điều tra xã hội học), ePhương pháp tiếp cận hệ thống, f Phương pháp toán kinh tế,
g Phương pháp nghiên cứu tư liệu, v.v
5 Những đóng góp mới của luận án
- Nghiên cứu một cách hệ thống các khái niệm “dịch vụ công”, “quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công”;
- Đúc rút các bài học kinh nghiệm về việc xử lý phân loại dịch vụ công và quản
lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công của một số quốc gia;
- Đánh giá thực trạng nhận thức về dịch vụ công và quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công của Nhà nước ta giai đoạn vừa qua, từ đó rút ra các vấn đề cần phải xử lý trong giai đoạn tới;
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được trình bày trong ba chương:
Chương 1 : Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công
Chương 2 : Thực trạng quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt
Nam giai đoạn vừa qua.
Chương 3 : Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý nhà nước
đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam trong giai đoạn tới (2006 - 2010).
Trang 6Chương 1
quản lý nhμ nước đối với cung ứng dịch vụ công
Trong chương này, luận án đề cập đến 4 nội dung cơ bản:
1.1 Dịch vụ vμ dịch vụ công
1.1.1 Dịch vụ (service): Sau khi đưa ra các khái niệm của một số tác giả ở
trong và ngoài nước, luận án kiến nghị sử dụng định nghĩa: Dịch vụ là những hoạt
động mang tính phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội
Tiếp đó luận án đi sâu nghiên cứu các cách phân loại dịch vụ
1.1.2 Dịch vụ công (DVC - Public Services) : Để làm rõ khái niệm dịch vụ công, luận án đề cập trước đó một số khái niệm có liên quan
1.1.2.1 Hàng hóa công cộng (HHCC - Public Goods)
Hàng hóa công cộng là các vật dụng, các tiện ích được đem trao đổi để sử dụng chung thỏa mãn ít nhất một trong hai thuộc tính: 1) tính không loại trừ trong tiêu dùng và 2) tính không cạnh tranh trong tiêu dùng
Hàng hóa công cộng bao gồm bốn loại (Sơ đồ 1.4)
Sơ đồ 1.4: Cơ cấu hàng hóa công cộng (HHCC)
1.1.2.2 Khu vực công (Khu vực công cộng - Public Sector) là khu vực sản xuất
và cung cấp hàng hóa công cộng và một phần các loại hàng hóa cá nhân dưới hình thức công cộng không theo cơ chế thị trường
1.1.2.3 Công vụ (Civil Service): là những hoạt động mang tính quyền lực và
hhcc
HH có tính cá
nhân nhưng cần
được cung cấp công cộng
- Điện
- Nước
- Giao thông công cộng
- vv
HHCC không thuần túy
- Đường sá, cầu cống
- Công viên
- Hệ thống thoát nước
- vv
Hàng hóa khuyến dụng
Trang 7pháp lý do đội ngũ công chức nhà nước thực thi để thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý của nhà nước đối với xã hội
1.1.2.4 Dịch vụ công : Sau khi nêu ra những nghiên cứu khác nhau, các quan
điểm và các cách tiếp cận không giống nhau về DVC, luận án rút ra những điểm thống nhất sau:
1) Dịch vụ công là một loại dịch vụ chứ không phải là hàng hóa (vật dụng, tiện ích công cộng)
2) Dịch vụ công là dịch vụ mang đặc tính công
1.2 Phân loại dịch vụ công
Có nhiều cách phân loại dịch vụ công tùy thuộc các tiêu thức phân loại và
ý đồ quản lý của nhà nước, trong đó tiêu biểu và quan trọng nhất là cách phân loại theo phương thức xử lý của nhà nước Với cách phân loại này theo NCS dịch vụ công có thể và cần được chia thành 4 loại sau:
Sơ đồ 1.5: Phân loại DVC theo phương thức xử lý của Nhà nước
1.2.1 Dịch vụ công đặc thù, hoặc còn gọi là dịch vụ công truyền thống nhằm thực hiện chức năng quản lý (hay chức năng cai trị) của nhà nước đối với xã hội
Đây là những loại dịch vụ công do hệ thống các cơ quan công quyền của Nhà nước trực tiếp thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ công chức của mình Các loại dịch vụ công này nhà nước không thể ủy quyền cho bất kỳ một loại tổ chức nào ngoài nhà nước thực hiện
1.2.2 Dịch vụ hành chính công (DVHCC): là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức và công dân các HHCC theo luật
định nhằm vận hành xã hội trong trật tự, kỷ cương đã định, với mức thu phí bằng nhau không đáng kể
DVC
đặc thù
DV
HCC
Trang 8lợi công) cho dân cư như: giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, nghỉ ngơi giải trí, bảo hiểm, an sinh xã hội v.v… Nhà nước có trách nhiệm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo nguyên tắc có thu phí, nhưng có thể từng bước xã hội hóa lĩnh vực này bằng cách ủy quyền cho các cơ sở (cơ quan, cá nhân, tổ chức) ngoài nhà nước thực hiện trong khuôn khổ và quy chế đã định, đây đang là một hướng được nhiều nước thực hiện
1.2.4 Dịch vụ công cộng (DVCC): Là các dịch vụ có thu phí nhằm đáp ứng các nhu cầu bức thiết của công dân mang tính phi lợi nhuận do các cơ sở thực hiện theo yêu cầu của cơ quan hành pháp nhà nước (thông qua hợp đồng hoặc nhiệm vụ phân giao)
Việc phân loại DVC như trên chỉ rõ mức độ tham dự của nhà nước có xu hướng giảm dần và mức tham dự của thị trường cũng như mức phải trả lệ phí có xu hướng tăng dần cho mỗi loại DVC
1.3 quản lý nhμ nước đối với cung ứng dịch vụ công
1.3.1 Khái niệm: Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công là sự tác
động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước lên đối tượng bị quản lý trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công cho mọi người dân một cách công bằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận
Sơ đồ 1.7: Quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC
1.3.2 Vai trò: Quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC có vai trò vô cùng
Nhμ nước (C)
Các tổ chức trực tiếp cung ứng DVC (TCC)
Trang 9quan trọng; nó liên quan đến sự sống còn và phát triển của nhà nước, của chế độ xã hội, góp phần chủ yếu vào việc thực hiện mục tiêu phát triển chung của đất nước
1.3.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC: c Xác định và phân loại chính xác các DVC; d Hình thành quan điểm, nguyên tắc và mô hình cung ứng DVC; e Xây dựng bộ máy và hình thành cơ chế hoạt động cung ứng DVC; f Huy động nguồn lực, lựa chọn phương thức, phương pháp, chính sách cung ứng DVC; g Theo dõi, kiểm tra, đo lường, đánh giá kết quả cung ứng DVC; h Đổi mới hoạt động cung ứng DVC
Tiếp đó luận án đi sâu nghiên cứu từng nội dung đã nêu ở trên
1.3.4 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC
Mục tiêu quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC chính là trạng thái mong
đợi, cần có của nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm cung ứng DVC cho xã hội một cách hiệu quả nhất trong khả năng cho phép thông qua: 1 Việc tạo ra các DVC có chất lượng, đủ số lượng, cơ cấu, chủng loại đầy đủ theo đúng yêu cầu của xã hội và với giá cả hợp lý; 2 DVC được phân phối một cách tốt nhất theo đúng các nguyên tắc và thể chế đã định, 3 Thu được sự cảm nhận hài lòng của người dân trong việc sử dụng DVC; nhằm góp phần tích cực nhất vào việc đạt được mục tiêu quản lý chung của đất nước
1.3.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC: là các ràng buộc khách quan có tính khoa học mà nhà nước và cơ quan chức năng quản lý cung ứng DVC các cấp phải thực hiện trong hoạt động quản lý của mình
Xuất phát từ 6 nguyên tắc tổ chức và hoạt động chung của mọi nhà nước, quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC có 7 nguyên tắc sau: c Nguyên tắc công bằng; d Nguyên tắc ổn định; e Nguyên tắc phi lợi nhuận; f Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; g Nguyên tắc pháp chế xã hội; h Nguyên tắc minh bạch, công khai; i Nguyên tắc tập trung dân chủ (phân cấp quản lý)
1.3.6 Mô hình tổ chức việc cung ứng DVC của nhà nước:
Mô hình tổ chức việc cung ứng DVC của nhà nước là phương thức sử dụng quyền lực nhà nước trong việc cung ứng DVC cho xã hội
Trong lịch sử, để thực hiện các chức năng của mình thông qua việc cung ứng các dịch vụ công cho xã hội, vai trò của nhà nước đã có những sự biến đổi đáng kể với ba loại mô hình nhà nước tiêu biểu
* Mô hình Nhà nước tập trung (hoặc mô hình nhà nước bảo hộ, mô hình chuyên chế), đó là nhà nước với vai trò là chủ thể duy nhất có khả năng và có
Trang 10điều kiện để cung ứng các DVC cho xã hội Nhà nước chịu trách nhiệm toàn bộ việc cung ứng các DVC cho xã hội không có sự tham dự của các yếu tố thị trường, nhà nước với vai trò là người "bao sân toàn bộ" các hoạt động cung ứng DVC thông qua một hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm cho tất cả mọi người đều
được hưởng các DVC
* Mô hình Nhà nước phi tập trung (theo cơ chế thị trường) đó là mô hình nhà nước chỉ đóng vai trò là nhà hoạch định chiến lược, người bảo đảm cung ứng các DVC thông qua việc ủy quyền tối đa (theo sự phân chia, phân công nhiệm vụ của nhà nước) việc sản xuất ra các DVC cho các tổ chức ngoài nhà nước đảm nhận
Đây là một xu thế đổi mới vai trò của chính phủ ở các nước phương Tây diễn ra hơn một thập kỷ nay (ở Anh năm 1991, Mỹ 1995, v.v.)
* Mô hình Nhà nước kết hợp, đây là mô hình đang được lựa chọn của nhiều nước trong việc cung ứng có hiệu quả nhất các DVC cho xã hội Tư tưởng chủ đạo của mô hình này là nhà nước để thực hiện các chức năng của mình (cả quản lý lẫn phục vụ) phải chịu trách nhiệm duy nhất bảo đảm việc cung ứng các loại DVC tối cần thiết một cách công bằng, hiệu quả, ổn định và phi lợi nhuận cho xã hội; nhưng có loại DVC mà nhà nước phải độc quyền cung cấp, có loại DVC có thể uỷ quyền cho các doanh nghiệp sản xuất HHCC hoặc cho xã hội công dân thực hiện theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của nhà nước theo đúng các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với DVC
Tiếp đó luận án đi sâu phân tích ưu nhược điểm của từng mô hình
1.3.7 Các công cụ quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC: Đó là các phương tiện hữu hình hoặc vô hình mà nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng bị quản lý trong hoạt động quản lý cung ứng DVC cho xã hội
Luận án đi sâu trình bày 8 công cụ mà nhà nước thường sử dụng trong quản
lý nhà nước đối với cung ứng DVC
1.4 quản lý nhμ nước đối với cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới vμ bμi học kinh nghiệm cho việt nam
1.4.1 Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở các nước OECD và khối liên hiệp Anh (TC): Đây là hai khối nước có tính tương đồng về mặt thể chế xã hội, cùng thực hiện cơ chế thị trường theo xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và phần lớn là những nước công nghiệp phát triển Hầu hết các nước OECD và TC đều thực thi cơ chế thị trường trong việc cung ứng các DVC cho xã hội Các nước TC còn thành lập "Hiệp hội Quản lý hành chính công và Quản trị công thuộc khối liên hiệp Anh" - CAPAM - The Commonwealth Association for Public Administration and
Trang 11Management năm 1994, với hy vọng cùng nhau tìm ra một cách vận hành chính phủ tốt nhất trong việc cung ứng các DVC cho xã hội Các nước thuộc OECD đều tiến hành công cuộc cải cách chính phủ trong việc cung ứng các DVC theo trào lưu
"Quản lý công mới" - NPM (New Public Management)
Đặc điểm nổi bật của công cuộc cải cách cung ứng DVC của chính phủ các nước OECD và CAPAM là:
* Các nước đều quan niệm việc cung ứng DVC cho xã hội là trách nhiệm của chính phủ
* Gắn kết Nhà nước - công dân - thị trường trong việc cung ứng DVC: chủ
trương tăng cường sử dụng yếu tố thị trường (thông qua nhà cung ứng dịch vụ),
hoặc nhà nước và tư nhân cùng làm (PPP - Public Private Partnership)
* Việc tổ chức cung ứng DVC được thiết kế một cách có căn cứ khoa học thông qua các chiến lược xác định dựa trên các nguyên tắc được xã hội công nhận
1.4.2 Cải cách cung ứng dịch vụ công của một số nước Nam sa mạc Sahara Châu Phi
Hầu hết các nước thuộc Nam sa mạc Sahara Châu Phi (Sub Sahara Africa - NSCP) là các nước đang phát triển như Ghana, Kênya, Tandania, Uganda, Zambia v.v… Các nước này đều tiến hành các chương trình cải cách DVC dưới sự bảo trợ của các tổ chức và các nước phương Tây (Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới, OECD v.v…) theo các mô hình áp đặt của các tổ chức và các nước này để nhận
được các nguồn tài trợ mà họ đưa lại
1.4.3 Quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở Mỹ
Năm 1993, tổng thống B.Clintơn và phó tổng thống A.Gore đã khởi xướng một công cuộc cải cách quản lý kéo dài nhất trong lịch sử Chính phủ liên bang
(với tên gọi là sáng kiến sáng tạo lại chính phủ) Nỗ lực này đã tạo ra một chính
phủ hoạt động tốt hơn, chi phí ít hơn và thu được những kết quả mà người Mỹ quan tâm Chính quyền đã hợp lý hóa, tổ chức lại lực lượng lao động, xóa bỏ các chương trình và các cơ quan đã lỗi thời, trao quyền cho các nhân viên để bỏ bớt thói quan liêu
1.4.4 Quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở Canađa
Từ năm 1998 đến nay, Canađa đã có nhiều công cuộc cải cách chính phủ theo hướng phải tập trung vào kết quả và giá trị đồng tiền đóng thuế của người dân Trong chương trình quản lý tập trung chú ý vào công dân được nêu trong
đề án Kết quả cho người Canađa có 4 cam kết cơ bản:
* Tập trung vào dân chúng: Chính phủ cam kết thiết kế, tài trợ và cung ứng các chương trình và DVC của mình và đánh giá các kết quả theo cách nhìn của người dân
Trang 12* Các giá trị DVC cao nhất: Chính phủ cam kết quản lý công việc của mình dựa vào các giá trị DVC cao nhất
* Các kết quả: Chính phủ sẽ tập trung nhằm đạt được các kết quả và báo cáo các kết quả Thông tin về việc thực hiện là căn cứ cho quản lý dựa trên kết quả
* Chi tiêu có trách nhiệm: tức là chi tiêu một cách khôn ngoan vào những vấn đề
có liên quan đến người dân Canađa và có khả năng liên hệ chi phí cho các sáng kiến với
các kết quả của chúng để đảm bảo giá trị cho người nộp thuế
1.4.5 Quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở Trung Quốc
Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc cung ứng và quản
lý cung ứng các DVC cho xã hội Trung Quốc luôn chú trọng nâng cao chất lượng cung ứng DVC cho xã hội theo hướng “nâng cao mức sống của nhân dân” Chuyển
đổi quan niệm quản lý của chính quyền từ lối ôm đồm sang cơ chế quản lý hành chính công theo nguyên tắc bình đẳng, công bằng, chính trực, công khai; kết hợp giữa sự giám sát trong đảng, giám sát của pháp luật với giám sát của quần chúng, phát huy vai trò giám sát của dư luận
Hạn chế của việc quản lý và cung ứng các DVC của chính phủ Trung Quốc cho xã hội trong thời gian vừa qua chủ yếu là đã quá tập trung vào vấn đề phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, chưa coi trọng thoả đáng vấn đề bảo đảm cung ứng DVC cho xã hội, không thực hiện tốt được hai nguyên tắc công bằng và ổn
định đồng đều trong việc cung ứng DVC cho nhân dân Trung Quốc đã từng bước thay đổi quan niệm về quản lý của chính phủ từ lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm chuyển dần sang lấy dịch vụ công làm trọng tâm
1.4.6 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Luận án đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm từ các nước về quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC mà Việt Nam có thể cân nhắc, sử dụng: c Vai trò quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC; d Nhà nước phải có chiến lược khoa học trong việc quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC; e Gắn kết việc quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC theo hướng xã hội hoá, tiếp cận thị trường; f Sớm đưa các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất DVC và quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC; g Cần sớm nghiên cứu đưa vào sử dụng vấn đề dịch vụ công chất lượng cao
và có phân biệt
T
Tóm lại, trong chương 1, luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về DVC
và quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC
- Làm rõ khái niệm DVC là gì? Cách phân loại DVC?
- Làm rõ khái niệm quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC là gì? nêu rõ nội dung, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC Luận
Trang 13án đề cập đến 8 công cụ mà nhà nước có thể và cần phải sử dụng trong việc bảo
đảm cung ứng DVC có hiệu quả cho xã hội
- Đi sâu phân tích 3 loại mô hình nhà nước trong việc tổ chức cung ứng DVC cho xã hội, nêu rõ ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng của từng loại mô hình
- Đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC của các nước khối OECD và Liên hiệp Anh, một số nước Nam sa mạc Sahara Châu Phi, Mỹ, Canađa, Trung Quốc để rút ra 5 bài học bổ ích cho Việt Nam
Chương 2
Thực trạng quản lý nhμ nước đối với cung ứng
dịch vụ công ở Việt Nam giai đoạn vừa qua
Trong chương này, luận án đề cập đến 2 vấn đề lớn:
đoạn trước năm 1990 ; và d giai đoạn từ 1990 đến nay)
2.1.2 Quá trình tổ chức thực hiện việc quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC
đã thu được những kết quả bước đầu
* Nguyên tắc cung ứng DVC : Nhà nước phân giao nhiệm vụ, quyền hạn quản
lý việc cung ứng DVC cơ bản, cốt lõi cho Chính phủ (Điều 8 Luật Tổ chức chính phủ ngày 7/10/2002) theo cơ chế điều hành chung của Nhà nước bằng các nguyên
tắc vốn có của quản lý nhà nước đối với xã hội: c Thống nhất lãnh đạo chính trị
và xã hội trong quản lý; d Kết hợp hài hoà các loại lợi ích trong xã hội; e Tiết kiệm, hiệu quả; f Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo địa phương vùng lãnh thổ; g Pháp chế xã hội chủ nghĩa
* Về quy hoạch và chiến lược quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC : Cho đến
nay Nhà nước ta chưa có một quy hoạch tổng thể và một chiến lược quản lý nhà nước