Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một công ty là đạt tối đa lợi nhuận. Mục tiêu này, đã tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết trong kinh tế vi mô.
Trang 1L ỜI N ÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của đất nước ta đang trên đàphát triển cao và ổn định, do vậy ngành xây dựng cơ bản, giao thông vận tải
đã được nhà nước quan tâm một cách thiết thực Nếu ngành này phát triểnthì nó sẽ đáp ứng được sự phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu quốc tế của đấtnước
Nhìn từ hình thức bên ngoài: đất nước có nhiều tuyến đường mớiđược xây dựng hiện đại, nhiều trục đường cũng được cải tạo và nâng cấp Đitheo nó nhiều công ty xây dựng của ngành giao thông được phát triển vàhình thành
Sự phát triển của ngành giao thông vận tải ai cũng phải công nhận,song cũng không ít các dư luận, lời bình và nhận xét khác nhau về sự pháttriển, tồn tại và tương lai của các công ty xây dựng giao thông
Do vậy tìm hiểu thực chất sự phát triển của một công ty xây dựng giaothông trong giai đoạn hiện nay là một chủ đề khá thu hút Bên cạnh đó việctìm hiểu sự bảo tồn và phát triển năng lực tài chính của các công ty xây dựngtrong thời kỳ đổi mới là một việc tuy không có gì mới mẻ nhưng luôn chứađựng nhiều rắc rối
Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng côngtrình 134, được sự giúp đỡ và tận tình chỉ bảo của thầy, cô giáo hướng dẫn,các cô chú, anh chị trong công ty, em đã làm quen với thực tế công việc, cácvấn đề của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong công ty
Chính vì các lí do trên mà em đã chọn đề tài “ Các giải pháp tài
chính nâng cao lợi nhuận của Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng công trình 134”
Trang 2Nội dung của đề tài gồm ba phần:
Chương I : Một số vấn đề cơ bản về lợi nhuận
Chương II : Tình hình lợi nhuận của Công ty 134
Chương III : Các giải pháp tài chính nâng cao lợi nhuận của Công ty
Trang 3NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN
1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận.
Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một công ty là đạt tối đa lợinhuận Mục tiêu này, đã tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết trong kinh tế vi
mô Trong lịch sử, các nhà kinh tế đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đíchcuối cùng cho các phân tích của mình về doanh nghiệp Do vậy, có rất nhiềuquan điểm khác nhau về lợi nhuận
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Marx:”Cáiphần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí là lợi nhuận”
Karl Marx cho rằng: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn
bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động khôngđược trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”
Theo các nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhausthì:”lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng
số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoảnchênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuấtkinh doanh, là chỉ tiêu tài chính quan trọng đánh giá hiệu quả kinh tế củahoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ góc độ của các nhà
quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh
nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để đạt được doanh thu đó
Bên cạnh đó, lợi nhuận của doanh nghiệp còn được chia ra thành lợinhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế
Trang 4Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạtđộng kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt độngbất thường.
Lợi nhuận trước thuế là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và chiphí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó
Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thuế thu nhập doanh
Lợi nhuậntrước thuế x
Thuế suấtthuế TNDNLợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế- Thuế thu nhập doanh nghiệpLợi nhuận trước thuế là nguồn để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụngân sách đối với nhà nước Còn lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận thuộc vềdoanh nghiệp Vai trò và chức năng cụ thể của từng loại lợi nhuận được đềcập đến ở phần 2 của mục này
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triểnđược hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợinhuận hay không Vậy, lợi nhuận có những vai trò gì?
1.1.2 Vai trò của lợi nhuận.
Lợi nhuận không những có vai trò quan trọng đối với bản thân doanhnghiệp mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội
Với doanh nghiệp(vai trò của lợi nhuận sau thuế)
Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanhnghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất.Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp
có tồn tại và phát triển được hay không thì điều kiện quan trọng nhất làdoanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không Lợi nhuận được coi làmột chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 5nghiệp, là động lực thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng sử dụng hợp lý vàhiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lượng của quátrình sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trêncác phạm vi chính sau: mức nộp ngân sách nhà nước, đảm bảo đời sống chocán bộ công nhân viên, mở rộng quy mô kinh doanh, khẳng định vị trí củadoanh nghiệp trên thị trường…
Cơ chế quản lý mới đã xoá bỏ sự bao cấp của Nhà nước, điều đó đòihỏi các doanh nghiệp phải tự chủ về tài chính, phải chủ động tìm nguồn tàinguyên cho mọi nhu cầu sản xuất của mình Vì vậy, lợi nhuận không nhữngtrở thành mục đích thiết thực của doanh nghiệp mà còn là động lực mở rộngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu không có lợi nhuận doanhnghiệp sẽ không mở rộng được quy mô sản xuất, không có điều kiện để thayđổi công nghệ, trang thiết bị, điều kiện làm việc của doanh nghiệp, áp dụngkhoa học kỹ thuật…Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹthuật thì chất lượng của sản phẩm chủ yếu được quyết định bởi trình độ khoahọc kỹ thuật và công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó Nhờ có vốn bổ sung từlợi nhuận, doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư vốn phát triển kinh doanhvào việc mua sắm máy móc thiết bị mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuấtkinh doanh từ đó góp phần tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và đadạng hóa sản phẩm phục vụ tối đa nhu cầu người tiêu dùng, nâng cao khảnăng chiếm lĩnh thị trường cho doanh nghiệp Nhờ vậy mà quy mô doanhnghiệp tăng dần lên
Bên cạnh đó, lợi nhuận còn kích thích người lao động nâng cao năngsuất lao động và chất lượng sản phẩm Mục đích của nhà đầu tư là lợi nhuận,mục đích của người cung cấp sức lao động là tiền lương Đối với doanhnghiệp, chi phí thuê sức lao động là thực hiện đầu tư vào sản xuất kinh
Trang 6doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận Đối với người lao động, thì tiền công vừađảm bảo nhu cầu vật chất cần thiết cho cuộc sống vừa đảm thực hiện tái sảnxuất lao động Doanh nghiệp có lợi nhuận thì thu nhập của người lao độngđược đảm bảo, từ đó sẽ kích thích họ hăng say sản xuất, có trách nhiệm vớichất lượng sản phẩm, phát huy tối đa sức sáng tạo của họ trong sản xuất.Ngoài ra, khi lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên đồng nghĩa với việc tăngthêm các quỹ trong đó có quỹ khen thưởng, phúc lợi vì vậy lợi ích của ngườilao động cũng được tăng lên.
Mặt khác, lợi nhuận cũng góp phần khẳng định vị trí của doanhnghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có lợi nhuận chứng tỏ rằng doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả, sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, bộ phận quản
lý có tài lãnh đạo, lực lượng cán bộ công nhân viên có trình độ, có thực lực.Nhờ vậy mà uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng, được khách hàng, nhàcung cấp, các tổ chức tín dụng, nhà nước tín nhiệm, từ đó hoạt động sản xuấtkinh doanh ngày càng thuận lợi
Với xã hội
Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình tài chính củadoanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sảnxuất Trên phạm vi xã hội, lợi nhuận của doanh nghiệp là động lực, là đònbẩy kinh tế của xã hội và là nguồn để thực hiện tái sản xuất xã hội Doanhnghiệp là một tế bào trong nền kinh tế, khi doanh nghiệp thực hiện quá trìnhtái đầu tư mở rộng sản xuất của mình thì đồng thời doanh nghiệp đã thựchiện luôn cả quá trình tái sản xuất mở rộng của xã hội
Mặt khác, khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lợi thì nguồn thucủa ngân sách Nhà nước tăng lên (thông qua các sắc thuế theo quy định củapháp luật) Ngân sách Nhà nước tăng lên sẽ đáp ứng nhu cầu tích luỹ vốn đểthực hiện quá trình đầu tư phát triển kinh tế theo các chức năng của Nhà
Trang 7nước như: phát triển kinh tế, củng cố tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ máyquản lý hành chính, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhândân.
Lợi nhuận của doanh nghiệp còn có một vai trò đặc biệt quan trọngđối với xã hội, nhất là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, đó là doanh nghiệp
có lợi nhuận cao sẽ tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệpcho xã hội Đồng thời doanh nghiệp cũng có điều kiện để tham gia các hoạtđộng từ thiện, nhân đạo
Qua việc phân tích trên, ta thấy lợi nhuận không chỉ có vai trò quantrọng trong sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa
to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bởi lợi ích của mỗi doanhnghiệp bao giờ cũng gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của toàn bộ nền kinh
tế Lợi nhuận làm cho Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động có quan hệgắn bó và cùng phát triển
1.1.3 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.3.1. Sự hình thành lợi nhuận trong doanh nghiệp
1.1.3.1.1 Doanh thu của doanh nghiệp.
Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền thuộc về doanh nghiệp(đây là doanh thu thuần).
Doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ hoạt động củadoanh ghiệp, nó đảm bảo trang trải các khoản chi phí thực hiện tái sản xuất
và các nghĩa vụ đối với Nhà nước Doanh thu bán hàng là nguồn thu quantrọng chủ yếu trong tổng nguồn thu từ hoạt động kinh doanh Đó là toàn bộtiền thu về từ việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.Sản phẩm được xác định là tiêu thụ khi được đơn vị mua trả tiền hoặc chấp
Trang 8nhận trả tiền Đối với công ty xây dựng cơ bản thì sản phẩm được tiêu thụkhi mà doanh nghiệp xây dựng hoàn thành công trình.
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu từ hoạt động kinhdoanh; Doanh thu từ hoạt động tài chính; Doanh thu từ hoạt động bấtthường
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm,hàng hoá, dịch vụ (số tiền mà khách hàng chấp nhận thanh toán không phânbiệt đã thu hay chưa thu được tiền) sau khi đã trừ đi khoản giảm giá hàngbán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ) Doanh thu từ hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phí thu bên ngoài ngoàigiá bán (trợ giá, phụ thu theo quy định của nhà nước mà doanh nghiệp đượchưởng đối với hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp); Giá trị các sản phẩmhàng hoá đem biếu, tặng, trao đổi hoặc tiêu dùng cho sản xuất trong nội bộ(như: điện sản xuất ra được dùng cho nhà máy sản xuất điện Xi măng sảnxuất ra để sửa chữa xí nghiệp sản xuất xi măng Quạt sản xuất ra được sửdụng ở nhà máy sản xuất quạt…)
Thu nhập từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu: Hoạt độngliên doanh liên kết, góp vốn cổ phần, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay hoặc tiềnlãi trả chậm của việc bán hang trả góp, tiền thu được từ hoạt động mua bánchứng khoán, công trái…; Từ hoạt động nhượng bán ngoại tệ hoặc thu nhập
về chênh lệch tỷ giá; Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán
Hoạt động bất thường là những khoản lợi nhuận không dự tính trướchoặc có dự kiến nhưng ít có khả năng thực hiện hoặc là các khoản thu mangtính chất không thường xuyên Những khoản chênh lệch bất thường có thể
do chủ quan hoặc khách quan mang lại Các khoản chênh lệch này là: Thu từbán vật tư, hàng hoá, tài sản dư thừa; Bán công cụ, dụng cụ đã phân bổ hếtgiá trị, bị hư hỏng hoặc không cần sử dụng; Các khoản phải trả nhưng không
Trang 9trả được vì nguyên nhân của phía chủ nợ; Nợ khó đòi đã xoá sổ nay thu hồilại được; Thu về do sử dụng hoặc chuyển quyền sở hữu trí tuệ; Hoàn nhập số
dư chi phí trích trước về bảo hành hàng hoá sản phẩm, công trình và hạngmục công trình khi hết thời gian bảo hành; Thu về tiền phạt vi phạm hợpđồng kinh tế; Các khoản thuế phải nộp được nhà nước miễn giảm
Đối với các loại hình doanh nghiệp với các hoạt động khác nhau,doanh thu cũng khác nhau
Đối với các cơ sở sản xuất, khai thác, chế biến v.v… doanh thu là toàn
bộ tiền bán sản phẩm, nửa thành phẩm, bao bì, nguyên vật liệu
Đối với ngành xây dựng: Doanh thu là giá trị công trình bàn giao.Đối với ngành vận tải: Doanh thu là tiền cước phí
Đối với ngành kinh doanh tiền tệ: Doanh thu là tiền lãi…
1.1.3.1.2 Chi phí của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sảncho các chủ sở hữu, bởi vậy, doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí nhấtđịnh trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Như
vậy có thể hiểu: chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả
các hao phí mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Chi phí là nguồn quan tâm của doanh nghiệp bởi vì việc giảm đượcmột đồng chi phí có nghĩa là tăng một đồng lợi nhuận (LNTT), mặt khác,vấn đề chi phí cũng quyết định mức sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp
Chi phí của doanh nghiệp được chia thành ba phần chính là: Chi phísản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm; Chi phí hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp; Chi phí hoạt động bất thường
1.1.3.1.2.1 Chi phí sản xuất
Trang 10Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao cácloại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho ngườilao động… Do vậy, có thể hiểu chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tất
cả các hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sảnxuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Do đặc điểm của chi phí sản xuất
là chi phí hàng ngày ngắn liền với từng vị trí sản xuất, từng loại sản phẩm vàtừng loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp, tính toán chi phí sảnxuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất định, không phânbiệt các sản phẩm sản xuất đã hoàn thành hay chưa hoàn thành
Nghiên cứu cơ cấu chi phí sản xuất nhằm: Xác định tỷ trọng và xuhướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất; Kiểm tra giá thành sảnphẩm và có biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Người ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khácnhau Đối với nhà tài chính, chi phí được chia thành chi phí biến đổi và chiphí cố định (cách phân chia này chỉ tồn tại trong ngắn hạn) Chi phí cố định
là chi phí không thay đổi theo khối lượng sản phẩm ví dụ: khấu hao nhàmáy, mặt bằng; tiền vay; chi phí quản lý
Chi phí biến đổi là chi phí tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm đượcsản xuất ra ví dụ: tiền lương của công nhân sản xuất; nhiên liệu; nguyênliệu
Nếu biểu diễn hai loại chi phí này thì ta có sơ đồ như sau:
tổng dt Tổng chi phí
O Khối lượng sp O Khối lượng sp O Q Khối lượng sp
Trang 11(Tại Q: Lợi nhuận=0)1.1.3.1.2.2 Chi phí tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng.Khối lượng tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệpcũng phải bỏ những chi phí nhất định: chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm;chi phí hỗ trợ marketing và phát triển
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm chi phí chọn lọc, đónggói; chi phí bao bì, vận chuyển, bảo quản; chi phí thuê kho, bến bãi… Chiphí này phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm và tốc độ tiêu thụ sản phẩm
Chi phí hỗ trợ marketing và phát triển bao gồm: chi phí điều tranghiên cứu thị trường; chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảohành sản phẩm Tỷ trọng của chi phí này có xu hướng tăng lên trong điềukiện nền kinh tế thị trường phát triển
1.1.3.2.3 Giá thành sản phẩm
Nghiên cứu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa cho biết lượngchi phí cần thiết để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hoặcmột đơn vị sản phẩm nhất định Do vậy, doanh nghiệp cần phải xác định giáthành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chiphí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc để sản xuất vàtiêu thụ một loại sản phẩm nhất định
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khácnhau: Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phảitoàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sảnphẩm trong kỳ Giá thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thànhsản xuất hoặc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩmnhất định, còn chi phí sản xuất và lưu thông sản phẩm thể hiện số chi phí mà
Trang 12doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhấtđịnh, thời kỳ này thường là một năm.
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giáthành sản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm Giá thành sản xuấtsản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sảnphẩm (đối với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công) Giá thành tiêu thụsản phẩm còn được gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm gồm chi phí để hoànthành sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm Trên giác độ kế hoạch hoá, giá thànhsản phẩm được phân biệt thành giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giáthành thực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượngsản phẩm trong cùng một thời kỳ
Đối với công tác quản lý doanh nghiệp giá thành là chỉ tiêu quan trọngbởi vì:
- Giá thành là thước đo chi phí sản xuất hoặc tiêu thụ đối với đầu tưsản phẩm hay tiêu thụ sản phẩm Đây là căn cứ để doanh nghiệp lựa chọnsản phẩm kinh doanh
- Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp là chỉ tiêu để đánh giá hiệuquả của biện pháp kinh tế kỹ thuật
- Là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xác định giá cả sản phẩn.1.1.3.1.2.4 Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động kinh là chi phí có liên quan đến quá trình hoạt độngsản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp Các chi phí này bao gồm: Chi phíbảo vệ hoạt động sản xuât kinh doanh; Chi phí bảo hiểm tài sản; Chi phí đểthuê chuyên gia; Một số các khoản lệ phí liên quan đến các hoạt động kinhdoanh
1.1.3.2. Xác định lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Trang 13Trong nền kinh tế thị trường, để tăng cường khả năng cạnh tranh đòihỏi các doanh nghiệp phải tiến hành đa dạng hoá hoạt động kinh doanh củamình trên nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp là lợinhuận thu được từ các hoạt động khác nhau bao gồm: hoạt động kinh doanh,hoạt động tài chính, hoạt động bất thường (lợi nhuận được đề cập ở đây làlợi nhuận trước thuế )
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa tổng
doanh thu và giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ trongnăm tài chính của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Lợi nhuận hoạt
động kinh doanh =
Doanh thu thuần -
Giá vốn hàng bán -
Chi phí bán hàng -
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trong đó: Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa tổng doanh thu với
các khoản giảm trừ doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,thuế giá trị gia tăng
Doanh thu
thuần =
Doanh thu bán hàng -
Khoản giảm giá hàng bán -
Trị giá hàng bán bị trả lại -
Thuế gián thu
-Các khoản giảm trừ bao gồm: Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.Trong các doanh nghiệp giao thông thì các khoản này thường không có hoặckhông đáng kể
-Thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,VAT… là các loại thuế theo luật định áp dụng cho các loại hàng hoá thuộcphạm vi chịu thuế
Sau khi xác định được các chỉ tiêu doanh thu thuần và giá vốn hàngbán ta có chỉ tiêu tài chính trung gian là “lãi gộp” ( hay lợi nhuận gộp)
Lãi gộp = Doanh thu thuần- Giá vốn hàng bán
Trang 14-Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụsản phẩm.
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm chi phí quản lý kinh doanh,quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Thu nhập trước
khấu hao và lãi = Lãi gộp
-Chi phí bán hàng, quản lý(không kể khấu hao và lãi vay)-Lãi vay: là khoản tiền phản ánh chi phí sử dụng vốn vay ngân hàngcủa doanh nghiệp
Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước khấu hao và lãi - Lãi vayQua việc xác định trên ta có thể tổng kết cách xác định lợi nhuận hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo sơ đồ sau:
Lợi nhuận trước thuế
Lãi vay
CPBH&CPQLDN Giá vốn hàng
bán Các khoản
Chi phí hoạt động tài
chính
Lợi nhuận từ hoạt động bất thường: là khoản chênh lệch giữa thu
nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động
Thu nhập hoạt động bất thường -
Chi phí hoạt động bất
thườngNhư chúng ta đã biết, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với doanhnghiệp và đối với toàn xã hội, tuy vậy, lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy
Trang 15nhất đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp, bởi vì lợi nhuận làchỉ tiêu tài chính cuối cùng nên nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủquan, khách quan Do vậy, để dánh giá chất lượng hoạt động của các doanhnghiệp, người ta phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu tỷ suất lợinhuận như tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu…
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận của doanh nhiệp.
Tỷ suất lợi nhuận vốn (ROE): là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận sau thuếđạt được trong kỳ với số vốn vốn chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lợicủa vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyếtđịnh bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu
là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanhnghiệp
Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Tỷ suất lợi nhuận giá thành: là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước(hoặc sau) thuế của sản phẩm tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩmhàng hoá tiêu thụ
Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Trang 16TSg = P
Z t
Trong đó: Tsg: Tỷ suất lợi nhuận giá thành
P :Lợi nhuận trước(hoặc sau thuế)của sản phẩm tiêu thụ.
Z t: Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trongkỳ
Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thuthì doanh nhiệp thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận, đồng thời nó cũngphản ánh hiệu quả của chi phí bỏ ra trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩmtrong kỳ là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước (hoặc sau) thuế của sảnphẩm tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuậntrước (hoặc sau) thuế của sản phẩm tiêu thụ với doanh thu tiêu thụ sản phẩmđạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
T
Trong đó: Tst: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
P :Lợi nhuận trước(hoặc sau thuế)của sản phẩm tiêu thụ.
T : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp cứ bán đượcmột đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêunày của doanh nghiệp thấp hơn chỉ tiêu chung của toàn ngành thì chứng tỏdoanh nghiệp đã bán hàng với giá thấp hoặc giá thành của doanh nghiệp caohơn so với các doanh nghiệp khác
Doanh lợi tài sản ROA: Chỉ tiêu này được tính bằng thu nhập trước
hoặc sau thuế của doanh nghiệp chia cho tài sản của doanh nghiệp
ROA = LNST
Trang 17Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất dùng để đánh giá khả năng sinh lợicủa một đồng vốn đầu tư
Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh cứ bỏ một đồng vốn đầu
tư thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Ngoài các tỷ số trên, các nhà phân tích cũng đặc biệt chú ý tới việctính toán và phân tích những tỷ số liên quan tới các chủ sở hữu và giá trị thịtrường, ví dụ như:
Tỷ lệ hoàn vốn
cổ phần =
LNST Vốn cổ phần
Khi sử dụng phương pháp phân tích Dupont nhằm đánh giá tác độngtương hỗ giữa các tỷ số tài chính, nhà phân tích có thể thực hiện việc táchROE như sau:
ROE = LNST/VCSH = TNST/TS x TS/VCSH = ROA x EMROE phản ánh mức tang giá trị tài sản cho các chủ sở hữu
ROA phản ánh mức sinh lợi của toàn bộ danh mục tài sản của doanhnghiệp
EM là hệ số nhân vốn chủ sở hữu, nó phản ánh mức độ huy động vốn
từ bên goài của doanh nghiệp, nếu EM tăng, điều này chứng tỏ doanh nghiệptăng vốn huy động từ bên ngoài
Trang 18PM: Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Phản ánh tỷ trọng lợinhuận sau thuế trong doanh thu của doanh nghiệp Khi PM tăng, điều đó thểhiện doanh nghiệp quản lý doanh thu và quản lý chi phí có hiệu quả.
EM: Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Như vậy qua hai lần phân tich, ROE có thể được biến đổi như sau:
ROE = PN x AU x EMĐến đây, có thể nhận biết được các yếu tố cơ bản tác động tới ROEcủa một doanh nghiệp: Đó là khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chiphí, quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính Các thành phần trên được tách chitiết và cụ thể hơn tuỳ theo mục tiêu cần đạt của nhà phân tích Với trình tựtách như trên, có thể xác định các nguyên nhân làm tăng giảm ROE củadoanh nghiệp
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu.
1.2.1.1 Quy mô của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có nguồn vốn lớn Với nguồn vốnlớn doanh nghiệp có thể nâng cao lợi nhuận do các doanh nghiệp có thể:Đầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại; Linh hoạt trong kinhdoanh, nắm bắt cơ hội kịp thời; Huy động vốn tín dụng dễ dàng với chi phíthấp
Việc đổi mới và cải tiến máy móc công nghệ hiện đại cần phải cónguồn vốn lớn vì máy móc thiết bị hiện đại mới đưa vào thị trường bao giờcũng có giá cả đắt, đặc biệt đối với các máy móc công nghệ mới, còn đangtrong giai đoạn giới thiệu hoặc tăng trưởng của chu kỳ sống Những côngnghệ này thường chỉ được bán cho một số ít các doanh nghiệp với giá cảcao Tuy nhiên việc đầu tư này là cần thiết vì trong cơ chế thị trường cạnhtranh gay gắt như hiện nay thì doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển nếu
Trang 19sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra có chất lượng cao và có những tiện ích hơncác sản phẩm của doanh nghiệp khác Muốn tạo ra sản phẩm có chất lượngcao và có những tác động vượt trội thì doanh nghiệp cần phải có máy móc,công nghệ hiện đại Muốn đầu tư vào máy móc công nghệ hiện đại thì doanhnghiệp cần phải có nguồn vốn lớn Việc đầu tư vào những công nghệ hiệnđại có trên thị trường mặc dù phải bỏ ra chi phí đầu tư lớn nhưng sản phẩmsản xuất ra sẽ gặp ít hoặc chưa có các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, do
đó doanh nghiệp sẽ tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm nhanh chóng đồng thời cóthể đặt giá cao, vì vậy doanh nghiệp sẽ thu được doanh thu cao
Môi trường kinh doanh luôn chứa đựng nhiều rủi ro đồng thời nó cũngtạo ra nhiều cơ hội kinh doanh tốt Khi có những sự cố bất ngờ xảy ra, doanhnghiệp có thể ứng phó được hay không phụ thuộc rất lớn vào quy mô vốncủa doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp có nắm bắt được các cơ hội kinhdoanh hay không cũng phụ thuộc vào quy mô vốn của doanh nghiệp Vớinguồn vốn lớn, doanh nghiệp có thể ứng phó được những trường hợp bấtthường gây bất lợi cho doanh nghiệp, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy
ra, đồng thời khi có các cơ hội kinh doanh tốt doanh nghiệp cũng có thể chủđộng nguồn vốn để đầu tư kịp thời Thông thường những dự án lớn, có lợinhuận kỳ vọng cao thì vốn bỏ ra ban đầu cũng lớn, vì vậy các doanh nghiệp
có quy mô vốn nhỏ khó có thể huy động vốn kịp thời để đầu tư
Những doanh nghiệp quy mô lớn thường là những khách hàng lớn và
có uy tín đối với các tổ chức tín dụng, do đó, các doanh nghiệp này có thể dễdàng vay vốn của ngân hàng với lãi suất thấp và có thể không cần đảm bảotài sản Điều này đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt được cơ hộikinh doanh tốt hơn
Trang 20Các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ thường không có được cácthuận lợi như các doanh nghiệp lớn, vì vậy doanh thu và lợi nhuận của cácdoanh nghiệp nhỏ thường thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn.
1.2.1.2 Chiều hướng phát triển ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp trong tương lai.
Doanh thu của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng đáng kể từ chiềuhướng phát triển ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Nếu ngành nghề của doanh nghiệp có chiều hướng phát triển tốt,doanh nghiệp có thể đạt được doanh thu cao và có lợi nhuận kỳ vọng cao.Chiều hướng phát triển ngành nghề kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến lượng sảnphẩm tiêu thụ trong tương lai của doanh nghiệp Khối lượng hàng hoá tiêuthụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp bởi vì:
Doanh thu = SL tiêu thụ sản phẩm x Giá bánNên nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng thì doanh thu của doanhnghiệp cũng tăng Khi ngành nghề kinh doanh của một doanh nghiệp có xuhướng phát triển tốt trong tương lai tức là sản phẩm của doanh nghiệp sẽđược ưa chuộng và tiêu dùng nhiều trong tương lai, do đó doanh nghiệp sẽbán được nhiều sản phẩm hơn và doanh thu tiêu thụ tăng lên
Ngành nghề kinh doanh có chiều hướng phát triển tốt cũng giúp chodoanh nghiệp thu hút được nhiều nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp, do đódoanh nghiệp có thể đổi mới máy móc công nghệ, nâng cao chất lượng sảnphẩm, thực hiện chiến dịch quảng cáo…từ đó doanh thu của doanh nghiệp
sẽ tăng lên Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể vay ngân hàng dễ dàng hơn
do chiều hướng phát triển của ngành nghề kinh doanh là một trong nhữngđiều kiện mà ngân hàng xem xét trước khi cho vay
Tuy nhiên, nếu ngành nghề kinh doanh đó có thể phát triển tốt trongtương lai, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn
Trang 21vì ngành nghề nào càng có xu hướng phát triển tốt thì càng thu hút nhiềudoanh nghiệp tham gia kinh doanh loại sản phẩm, dịch vụ đó Số lượng đốithủ cạnh tranh gia tăng đòi hỏi doanh nghiệp ngay từ bây giờ phải đầu tưnâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo uy tín tốt với khách hàng để cóthể tồn tại và phát triển, chiến thắng các đối thủ hiện tại và tương lai.
- Nếu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng suy giảmtrong tương lai
Nếu sản phẩm của doanh nghiệp không còn được ưa chuộng trong tươnglai, sẽ có ít người mua và do đó lượng sản phẩm tiêu thụ cũng ít đi làm giảmdoanh thu và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Đồng thời các nhà đầu tưcũng rút vốn khỏi doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong đổimới hoặc chuyển sang ngành nghề kinh doanh khác Lúc này, hầu hết cácđối thủ cạnh tranh sẽ rút khỏi thị trường, do đó doanh nghiệp cần đặt ra mứcgiá hợp lý để tiêu thụ hết lượng sản phẩm còn lại
1.2.1.3 Quy mô, cơ cấu, thu nhập của dân cư và tập quán tiêu dùng
Quy mô dân cư có ảnh hưởng lớn đến lượng sản phẩm mà doanhnghiệp có thể tiêu thụ được, do đó có ảnh hưởng đến doanh thu của doanhnghiệp Nếu hai thị trường tương đồng nhau về cơ cấu dân cư, tập quán tiêudùng, thu nhập của người dân và mức độ ưa thích sản phẩm của doanhnghiệp thì tại thị trường đông dân hơn doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiềusản phẩm hơn, do đó doanh thu sẽ cao hơn doanh thu tại thị trường ít dân cư
Cơ cấu dân cư và tập quán tiêu dùng có ảnh hưởng đến cơ cấu và khốilượng sản phẩm tiêu thụ Nếu sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với thịhiếu tiêu dùng hoặc với thành phần dân cư chiếm đa số tại một thị trườngnào đó, doanh thu của doanh nghiệp tại thị trường sẽ tăng và ngược lại Cơcấu dân cư còn quyết định đến cơ cấu sản phẩm tiêu thụ và do mỗi loại sản
Trang 22phẩm có giá bán khác nhau nên nó cũng ảnh hưởng đến doanh thu của doanhnghiệp.
Thu nhập của khách hàng là trong những yếu tố ảnh hưởng đến khảnăng mua của khách hàng Nếu khách hàng ưa thích sản phẩm của doanhnghiệp nhưng giá bán sản phẩm lại cao so với thu nhập của họ thì doanhnghiệp cũng không thể tiêu thụ được sản phẩm Vì vậy doanh nghiệp nênchú ý nghiên cứu thu nhập của đối tượng khách hàng ở mỗi thị trường đểđưa ra chính sách giá và cơ cấu sản phẩm phù hợp với khách hàng ở đó
1.2.1.4 Trình độ của cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật
Nhân tố con người bao giờ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thànhcông hay thất bại của bất cứ hoạt động nào Trình độ của cán bộ quản lý vàcán bộ khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu và lợinhuận của doanh nghiệp Nếu những người quản lý ở doanh nghiệp có trình
độ cao, họ sẽ vạch ra được những chiến lược phát triển đúng đắn cho doanhnghiệp, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đồng thời họcũng đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời trước các cơ hội kinh doanh
có thể làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Nếu một doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, họ sẽsáng tạo ra những máy móc công nghệ mới hoặc cải tiến máy móc côngnghệ cũ, tư vấn cho công ty nên đầu tư những công nghệ nào làm giảm giáthành dẫn tới giảm giá bán và nâng cao chất lượng sản phẩm, do đó, doanhthu tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng Ngoài ra, họ còn khai thác được hếtcông suất của máy móc thiết bị làm tăng năng suất và doanh nghiệp có thểthu hồi vốn đầu tư nhanh chóng
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí.
1.2.2.1 Thị trường các yếu tố đầu vào
Trang 23Các yếu tố đầu vào và có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, doanhnghiệp có thể chủ động được nguồn hàng, không bị phụ thuộc vào một nhàcung cấp đồng thời tại một thị trường có sự cạnh tranh thì mức giá bán màcác nhà cung cấp đưa ra sẽ hợp lý, như vậy sẽ không làm tăng chi phí củadoanh nghiệp Ngược lại, nếu thị trường các yếu tố đầu vào chỉ có một hoặc
số ít các nhà cung cấp, doanh nghiệp sẽ không chủ động được nguồn hàng,phải phụ thuộc vào nhà cung cấp, do đó nhà cung cấp có thể tự đẩy giá lêncao làm tăng chi phí của doanh nghiệp đồng thời các nhà cung cấp có thểkhông đảm bảo đúng thời hạn giao hàng làm gián đoạn quá trình sản xuất, từ
đó phát sinh thêm nhiều chi phí khác
1.2.2.2 Năng lực quản lý doanh nghiệp
- Năng lực tổ chức quản lý sản xuất – kinh doanh
Tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm có tổ chức quá trình cung ứng,sản xuất và tiêu thụ
Cung ứng là quá trình chuẩn bị các yêú tố đầu vào cho sản xuất.Doanh nghiệp tổ chức hoạt động cung ứng tốt tức là xác định đựơc lượng dựtrữ phù hợp của từng loại nguyên nhiên vật liệu, số lượng lao động, máymóc phù hợp để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Lượng dự trữ phảiđảm bảo quá trình sản xuất được liên tục, không bị gián đoạn, không bỏ lỡ
cơ hội kinh doanh mà chỉ phải chịu mức lưu kho hợp lý, tránh trường hợp dựtrữ quá nhiều dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, tăng hao mòn, tăng chi phí bảoquản
Khâu sản xuất phải đảm bảo máy móc thiết bị cũng như lao động vậnhành đạt hiệu quả cao nhất, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị
Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định tới hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không phụ thuộcrất lớn vào giai đoạn này
Trang 24Nếu doanh nghiệp tổ chức tốt quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giảmđược các chi phí bán hàng của mình Với việc tổ chức tốt quá trình sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp sẽ có chiến lược dự trữ hợp lý, quá trình sản xuấtdiễn ra liên tục, máy móc thiết bị làm việc với công suất tối đa, sản phẩmlàm ra được tiêu thụ nhanh chóng, từ đó làm giảm chi phí cho doanh nghiệp.
- Năng lực quản lý tài chính của doanh nghiệp
Tổ chức quản lý tài chính tốt tức là doanh nghiệp giải quyết tốt ba vấn đềquan trọng đó là đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loạihình sản xuất kinh doanh lựa chọn, huy động vốn từ nguồn nào và quản lýhoạt động tài chính hàng ngày như thế nào
Nếu có quyết định đúng đắn về chiến lược đầu tư dài hạn của doanhnghiệp thì tương lai của doanh nghiệp sẽ phát triển tốt, kinh doanh thuận lợi
và có cơ sở đúng đắn để dự toán vốn đầu tư, tránh được tình trạng thiếu hoặcthừa vốn
Quyết định đúng đắn về phương thức huy động vốn đầu tư sẽ giúp chodoanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp và phù hợp với thời gian thựchiện dự án
Quản lý hoạt động tài chính hàng ngày gắn liền với việc quản lý các dòngtiền nhập quỹ, xuất quỹ Nếu quản lý tốt doanh nghiệp sẽ đưa ra được cácquết định tối ưu về việc nên nắm bao nhiêu tiền dự trữ, có nên bán chịukhông và bán chịu với thời hạn nào, doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằngcách nào mua chịu hay vay ngắn hạn và trả tiền ngay, nếu vay ngắn hạn nênvay ở đâu và như thế nào
Tất cả những điều trên đều góp phần mở rộng thị trường cho doanhnghiệp mở rộng mối quan hệ với các bạn hàng, tăng doanh thu giảm các chiphí bất hợp lý phát sinh và giảm rủi ro cho doanh nghiệp, do đó làm tăng lợinhuận của doanh nghiệp
Trang 25- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động
Với việc tổ chức lao động khoa học và có chiến lược sử dụng lao độnghợp lý, doanh nghiệp sẽ phát huy tối đa khả năng của người lao động, do đóngười lao động có thể làm việc với năng suất cao, phát huy tính sáng tạo vàlao động với hiệu quả cao nhất, vì vậy, doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận
1.2.2.3 Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Những chính sách thuế và lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp làm tănghoặc giảm ngay lợi nhuận của doanh nghiệp Ví dụ như khi chính phủ tăngthuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm giảm lợi nhuận sau thuế hoặckhi chính phủ tăng lãi suất sẽ làm tăng chi phí trả lãi dẫn tới giảm lợi nhuận.Mặt khác khi tăng lãi suất còn dẫn đến hiện tượng thoài lui đầu tư làm giảmcác cơ hội kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp
Nếu chính phủ ban hành quy chế quản lý tài chính tạo thuận lợi chodoanh nghiệp cũng góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngượclại, nếu quy chế quản lý tài chính có nhiều bất cập, không phù hợp với tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp sẽ làm cho quá trình quản lý kém hiệu quả,phát sinh nhiều chi phí bất hợp lý dẫn đến giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Đồng thời, nếu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được Nhànước khuyến khích phát triển, doanh nghiệp sẽ có được môi trường kinhdoanh thuận lợi, nhận được những ưu đãi, bảo hộ của Chính phủ như giảmlãi suất vay vốn, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, cung cấp thông tin
về thị trường,…dẫn đến giảm chi phí, tăng doanh thu Do đó những ưu đãicủa chính phủ sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Như vậy, nếu chính sách kinh tế của Nhà nước đúng đắn phù hợp vớiđiều kiện của các doanh nghiệp sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợicho các doanh nghiệp, làm giảm các chi phí bất hợp lý cho doanh nghiệp và
do đó sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 261.2.2.4 Sự biến động giá trị đồng tiền
Sự biến động giá trị đồng tiền có ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế củacác doanh nghiệp đồng thời nó dẫn đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và do
đó sẽ làm thay đổi doanh thu và chi phí của các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu
Khi có sự biến động về giá trị đồng tiền sẽ làm thay đổi lợi nhuận thực
tế của doanh nghiệp vì lợi nhuận thực tế là hiệu của lợi nhuận danh nghĩa vàmức độ thay đổi giá trị đồng tiền hay mức độ lạm phát, đặc biệt đối vớidoanh nghiệp xuất nhập khẩu, sự biến động giá trị đồng tiền dẫn đến sự biếnđộng về tỷ giá hối đoái càng có tác động lớn hơn tới lợi nhuận của doanhnghiệp vì khi xuất hoặc nhập khẩu doanh nghiệp sẽ thu được ngoại tệ hoặcphải trả bằng ngoại tệ Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam, sự thay đổi tỷ giá hối đoái không những tác động đến doanh thu màcón tác động mạnh đến chi phí vì phần lớn nguyên vật liệu dùng để sản xuấthàng xuất khẩu của Việt Nam đều phải nhập từ nước ngoài
1.2.2.5 Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển sẽ tạo được nhiều máy mócthiết bị có công suất cao, tốn ít nhiên liệu, từ đó sẽ tạo ra các sản phẩm cóchất lượng cao với giá thành thấp Khoa học công nghệ tiến bộ càng nhanhthì máy móc thiết bị càng nhanh chóng lạc hậu, điều này đòi hỏi doanhnghiệp phải áp dụng phương pháp khấu hao hợp lý, nhanh chóng đổi mớimáy móc công nghệ để sản phẩm làm ra có sức cạnh tranh trên thị trường.Nếu như trước đây các doanh nghiệp tính khấu hao theo phương pháp khấuhao đều, thì ngày nay với tốc độ phát triển nhanh chóng, hầu hết các doanhnghiệp đều tính khấu hao theo phương pháp khấu hao nhanh vì máy móccông nghệ bị hao mòn rất nhanh chóng, nếu không tính khấu hao nhanh thìmáy móc thiết bị của doanh nghiệp sẽ bị lạc hậu nhanh chóng Do khấu hao
Trang 27máy móc thiết bị được tính vào chi phí nên nó cũng ảnh hưởng tới lợi nhuậncủa doanh nghiệp.
Các nhân tố trên ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí của doanhnghiệp, từ đó tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, các doanhnghiệp nếu muốn tăng lợi nhuận thì phải dựa vào các nhân tố trên để có thểđưa ra chiến lược thích hợp
1.3 Giải pháp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.3.1 Phương hướng nâng cao lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Hoạt động trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp xây dựng đềumong muốn đạt lợi nhuận ngày càng cao, vì đây là chỉ tiêu cơ bản nhất đảmbảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Phương hướng chung để cácdoanh nghiệp nâng cao doanh lợi là:
-Không ngừng phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượngsản phẩm
-Tạo điều kiện để đầu tư chiều sâu, đổi mới các trang thiết bị máymóc, dây chuyền công nghệ phù hợp với các phương pháp thi công tiên tiến
-Tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ và linh hoạt
-Tiến hành hạch toán kinh tế đội, tổ sản xuất
Tuỳ tình hình cụ thể các doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định đề
ra các biện pháp để thực hiện từng bước các phương hướng nêu trên, nhưngthông thường tăng lợi nhuận và các tỷ suất lợi nhuận trong doanh nghiệp thìngười ta thường tập trung vào hai nhóm giải pháp sau:
- Nhóm 1: giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm Để thựchiện theo nhóm này ta có hai hướng đi cơ bản là giảm tuyệt đối chi phí sảnxuất và giảm tương đối chi phí sản xuất
+ Giảm tuyệt đối chi phí sản xuất bằng cách cố định khối lượng sản phẩmđầu ra và giảm chi phí đầu vào (tức là giảm chi phí không cần thiết trong
Trang 28quá trình quản lý kinh doanh) Từ đó tìm được quy trình sản xuất hợp lý.Bằng các biện pháp giản tuyệt đối thì khối lượng lợi nhuận đạt cực đại làdiện tích tam giác OPP’ (q là mức sản lượng cố định)
VND
P Ln=0
VND
X
Trang 291.3.2 Phương pháp nâng cao lợi nhuận trong doanh ghiệp.
Việc quản lý và sử dụng chi phí hợp lý giữ vai trò rất quan trọng.Doanh nghiệp có thể thực hiện một số biện pháp để hạ thấp chi phí như sau:Doanh nghiệp cần lựa chọn đặc điểm kinh doanh, xây dựng mạng lướikho tàng, cửa hàng đảm bảo thuận tiện cho quá trình vận chuyển, mua bánhàng hoá, để giảm chi phí vận chuyển bảo quản từ đó giảm được chi phíbán hàng
Lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp với tình hình đặc điểm sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, với đường lối chiến lược phát triển kinh
tế của Nhà nước
Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nắm vững nhucầu và thị hiếu của người tiêu dùng để tăng doanh số bán hàng ra từ đó sẽgiảm được chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Tự tạo cho mình nguồn cung cấp hàng hoá ổn định với chất lượng, giá
cả hợp lý nhằm tăng mức lưu chuyển hàng hoá và giảm được tỷ suất chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Phân công, phân cấp quản lý chi phí kinh doanh phù hợp với tình hìnhđặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực hiện hoạch toán chiphí một cách khoa học hợp lý Xây dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ, tinhgiảm nhằm giảm bớt chi phí quản lý doanh nghiệp
Xây dựng quy trình làm việc hợp lý, linh hoạt trong các điều kiện khácnhau của từng mặt hàng sản xuất hay của từng loại dịch vụ
luật lao động.
Trang 30Năng suất lao động chính là việc thực hiện tiết kiệm thời gian lao độnghao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Vì vậy, để tiết kiệm thời giandoanh nghiệp cần phải:
-Phải định mức hao phí lao động cho đơn vị sản phẩm hoặc đơn giátiền lương cho đơn vị sản phẩm làm ra có căn cứ, có cơ sở
- Luôn tìm cách nâng cao trình độ tay nghề người lao động, quản lýchặt chẽ thời gian lao động, tăng cường kỷ luật lao động đi đôi với tổ chứclao động khoa học hợp lý sẽ tạo ra sự kết hợp giữa các yếu tố sản xuất mộtcách cân đối phù hợp, loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờmáy
Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một trongnhững mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp để nhằm mục đích: Với số vốnhiện có, vẫn có thể tăng được khối lượng sản phẩm sản xuất, tiết kiệm đượcchi phí và hạ giá thành sản phẩm, góp phần quan trọng vào tăng lợi nhuậncủa doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh được thể hiện ở số lợinhuận doanh nghiệp thu được trong kỳ nhiều hay ít và mức sinh lời của mộtđồng vốn kinh doanh cao hay thấp Xét trên góc độ sử dụng vốn, lợi nhuậnthể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp sử dụng vốn cố định và vốnlưu động của doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và cung ứng dịch vụ là một vấn đề quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp Tổ chức tốt quá trìnhtiêu thụ và thanh toán tiền hàng sẽ đẩy mạnh khối lượng hàng hoá tiêu thụ,chiếm lĩnh được thị trường, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn, giảm đượcchi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm hàng hoá, nhờ vậy lợi nhuận của doanhnghiệp sẽ tăng lên
Trang 31Hàng hoá có thể được tiêu thụ thông qua nhiều phương thức khác nhau,trong đó phổ biến là các hình thức: Bán buôn, bán lẻ, bán đại lý, hoạt độngtiếp thị, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm một cách hiệu quả.
lý doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp luônxuất hiện, thị trường luôn đòi hỏi sự hoàn thiện về sản phẩm (cả chất lượngcũng như mẫu mã) và giá hạ Do đó, để có thể tồn tại và phát triển, doanhnghiệp không chỉ phải tìm cách hạ giá thành sản xuất mà còn phải tìm cáchgiảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp để tạo ra giá thànhtoàn bộ thấp, tạo lợi thế trong cạnh tranh Để làm được điều này cần phải:Xây dựng và hoàn thiện các định mức chi phí lưu thông; Xây dựng dự toánchi phí lưu thông căn cứ vào định mức chi phí đã được xây dựng và đượcđiều chỉnh qua thực tế; Những giải pháp đó là chỗ dựa để quản lý chi phí vàtìm ra mức chi phí hợp lý
Trên đây là một số biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận trong các doanhnghiệp Trên thực tế mỗi doanh nghiệp có đặc tính, đặc thù và điều kiện sảnxuất kinh doanh khác nhau, do vậy, mỗi doanh nghiệp phải căn cứ vào đặcđiểm, tình hình sản xuất kinh doanh của mình để đề ra các biện pháp tăng lợinhuận hợp lý trong từng thời kỳ và từng gải pháp để phù hợp với đặc điểmsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
Trang 32CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY 134
2.1 Khái quát về tình hình của Công ty.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
2.1.1.1 Quá trình hình thành.
Công ty cổ phần xây đầu tư và xây dựng công trình 134 tiền thân là
“Công ty khảo sát thiết kế và xây dựng công trình 1” được thành lập theoquyết định số 1137/QD/TCCB-LD ngày 21/06/1973 của Bộ giao thông vậntải Công ty là sự sát nhập giữa “Xí nghiệp dịch vụ kỹ thuật xây dựng” với
“xí nghiệp kiến trúc giao thông 1” Sau quy định số 1353/QD/TCCB-LD của
Bộ giao thông vận tải ngày 05/07/1993 về việc thành lập doanh nghiệp nhànước công ty đổi tên
Tên gọi: Công ty công trình giao thông134
Tên gọi: Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình 134
Tên giao dịch: Egineering Construction & Investment Joint StockCompany No.134
Tên viết tắt: ENCI134.JSC
Địa chỉ trụ sở chính: Số 17, ngõ 575 đường Kim Mã, phường NgọcKhánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Vốn của Công ty
Vốn kinh doanh 10.663.528.075 đồng Trong đó:
Phân chia theo hình thức vốn:
Trang 33Vốn cố định: 6.830.050.401 đồng.
Vốn lưu động: 3.833.477.674 đồng
Phân chia theo cách thức góp vốn:
Vốn do nhà nước cấp: 3.968.935.355 đồng
Vốn do doanh nghiệp tự tích luỹ: 6.694.592.720 đồng
Nhân lưc của Công ty:Tổng số công nhân viên 580 người Trong đó:
Kỹ sư và các kỹ thuật viên: 124 người; Công nhân kỹ thuật 354 người
2.1.1.2 Ngành nghề kinh doanh của Công ty.
Xây dựng các công trình giao thông trong và ngoài nước (bao gồm:cầu đường, sân bay, cầu tàu, bến cảng)
Xây dựng các công trình công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi, thuỷ điện,lắp đặt đường dây xà trạm điện đến 35KV
Xử lý nền đất yếu, san lấp mặt bằng, nạo vét, đào đắp nền, móng côngtrình
Đầu tư xây dựng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông,thuỷ điện thuỷ lợi, cụm dân cư, đô thị, hệ thống cấp thoát nước
Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, kết cấu thép, bê tông đúc sẵn,
bê tông nhựa, nhựa dính bám, nhũ tương
Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị
Kinh doanh lữ hành nội địa, quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách dulịch và kinh doanh khách sạn (không bao gồm kinh doanh phòng hátkaraoke, vũ trường, quán bar)
Sửa chữa, bảo dưỡng, trung đại tu xe máy, thiết bị, gia công các sảnphẩm cơ khí
Kinh doanh bất động sản, đầu tư xây dựng, kinh doanh nhà đất và khu
đô thị; Cho thuê nhà, mặt bằng, sân bay
Trang 34Đào tạo cung ứng lao động trong nước (không bao gồm xuất khẩu laođộng và cung ứng lao động cho các đơn vị có chức năng xuất khẩu laođộng).
Vận tải hàng hoá vật tư thiết bị
2.1.2 Hệ thống tổ chức và quản lý trong Công ty.
Giám đốc công ty: Giám đốc là người điều hành mọi hoạt động kinhdoanh của công ty
Phó giám đốc phụ trách chung: Là người giúp việc cho giám đốc về cácmặt tổ chức hành chính, nhân sự, lao động tiền lương, kinh tế kế hoạch vàthay Giám đốc giải quyết các vấn đề khi Giám đốc đi vắng
Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật thi công: Là người giúp việc cho Giámđốc về mặt kỹ thuật, công nghệ thi công các công trình
Phó giám đốc phụ trách vật tư-thiết bị: Là người giúp việc cho Giám đốc
về mua sắm, quản lý vật tư thiết bị của công ty
Phó giám đốc phụ trách thi công: Là người giúp việc cho Giám đốc, chỉđạo thi công các dự án lớn hoặc điều hành văn phòng đại diện của Công tytại các địa phương
Các phòng ban: Tham mưu cho Giám đốc, các phó giám đốc và cácphòng nghiệp vụ khác về vấn đề thuộc chức năng của phòng mình quản lý
•Phòng kỹ thuật thi công: Đấu thầu công trình; thiết kế tổ chức thicông; lập bản vẽ thi công; quản lý chất lượng, kỹ thuật của các công trình;nghiệm thu thanh toán về khối lượng thi công…
•Phòng kinh tế kế hoạch: Tìm kiếm thị trường Đấu thầu công trình;lập kế hoạch sản xuất của công ty; theo dõi kế hoạch, giá trị thực hiện củacác công trình…
•Phòng vật tư thiết bị: Quản lý và mua bán các thiết bị, xe máy và vật
tư Nghiên cứu, thiết kế cải tiến các thiết bị chuyên dụng phục vụ thi công
•Phòng điều độ: Theo dõi tình hình thực hiện tiến độ của dự án và đônđốc thực hiện các mệnh lệnh sản xuất của lãnh đạo đối với các phòng ban
•Phòng tài chính kế toán: Quản lý tài chính của công ty và thực hiệncác nghĩa vụ, quyền lợi đối với Nhà nước về vấn đề tài chính
Trang 35•Phòng tổ chức cán bộ lao động-tiền lương: Tuyển dụng, quản lý cán
bộ công nhân viên, theo dõi tiền lương, giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụcủa người lao động
•Phòng hành chính: Tổ chức thực hiện các công việc thuộc về hànhchính quản trị như: văn thư, in ấn hồ sơ…
•Ban thu nợ: Căn cứ vào giá trị thực hiện đã được nghiệm thu, đốcthúc và làm thủ tục thanh toán với Chủ đầu tư hoặc các đối tác kinh tế nhằmthu tiền về tài khoản kịp thời Rà soát các công nợ tồn đọng khi hết bảo hànhcông trình hoặc đốc thúc công tác quyết toán Công trình
Các bộ phận trực tiếp sản xuất: Xưởng sửa chữa, sản xuất bán thànhphẩm và các đội là bộ phận trực tiếp sản xuất hoặc thi công các công trình.Các đơn vị này tự điều hành trực tiếp hay thông qua Ban điều hành dự án tuỳtheo tính chất của từng công trình
2.1.3 Đặc điểm của xây dựng giao thông.
BAN KIỂM SOÁT
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG
TỔ CHỨC CÁN BỘ
PHÒNG
KẾ
HOẠCH
VĂN PHÒNG CÔNG TY
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
PHÒNG THIẾT KẾ THI CÔNG
PHÒNG VẬT TƯ THIẾT BỊ
BĐH SÂN
BAY ĐỒNG
HỚI
BĐH SÂN BAY VINH
ĐỘI NỀN ĐƯỜNG 2
XƯỞNG CƠ KHÍ
ĐỘI CẦU 1,2,3
ĐỘI CÔNG TRÌNH 1,2,4,5,7,8
BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY SAU KHI CỔ PHẨN HOÁ
Quan hệ trực tuyến:
Trang 36Xuất phát từ các đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành xây dựng sảnphẩm xây lắp có những đặc điểm sau:
Sản phẩm xây dựng giao thông có tính đơn chiếc, trong khi sản phẩmcủa ngành công nghiệp và các ngành khác được sản xuất hàng loạt trong cácđiều kiện ổn định, trong nhà xưởng, về chủng loại, kích thước, mẫu mã, kỹthuật và công nghệ được tiêu chuẩn hoá Sản phẩm xây dựng giao thôngthường được sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc, được sản xuất ra ởnhững địa điểm, điều kiện khác nhau, chi phí cũng thường khác nhau ở cùngmột loại hình sản phẩm Khả năng trùng lặp về mọi phương diện: kỹ thuật,công nghệ, chi phí, môi trường… rất ít, ngay cả trong xu hướng công nghiệphoá ngành xây dựng thì ảnh hưởng của tính đơn chiếc vẫn chưa được loạitrừ
Sản phẩm xây dựng giao thông được sản xuất ra tại nơi sẽ tiêu thụ nó:Các công trình xây dựng giao thông đều được sản xuất (thi công) tại một địađiểm nà nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sửdụng (tiêu dùng) của sản phẩm Địa điểm tiêu thụ sản phẩm sẽ do người chủ
sở hữu quyết định Vì vậy, nếu định được nơi tiêu thụ sản phẩm thì đồngthời cũng đã xác định được nơi sản xuất sản phẩm
Sản phẩm của xây dựng giao thông chịu ảnh hưởng của điều kiện địa
lý, tự nhiên, kinh tế-xã hội của nơi tiêu thụ: Sản phẩm xây dựng giao thôngbao giờ cũng gắn liền với một địa điểm, một địa phương nhất định, vì vậyphải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phương đó Những điềukiện đó bao gồm: địa lý, kỹ thuật, môi trường, tập quán, phong tục của địaphương… Đặc điểm đó chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuấtkinh doanh có liên quan như: khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thicông, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công… Cùng với nhữngđiều kiện về địa lý, văn hoá xã hội, còn có hàng loạt các điều kiện khác như: