1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

71 573 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Người hướng dẫn TS. Đặng Ngọc Đức
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 783 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài chính là những mối quan hệ giá trị giữa các doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động tài chính là một trong những hoạt động cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tài chính là những mối quan hệ giá trị giữa các doanh nghiệp với cácchủ thể trong nền kinh tế Hoạt động tài chính là một trong những hoạtđộng cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạtđộng tài chính của DN thông qua việc DN huy động, phân phối, sử dụng

và quản lý vốn, thông qua khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và nănglực hoạt động của DN

Trong nền kinh tế thị trường (KTTT) thì những vấn đề này khôngcòn là vấn đề nội bộ của DN nữa, mà còn nhiều tổ chức, đối tác quan tâm,kiểm tra và theo dõi Do đó, việc phân tích hoạt động tài chính trong doanhnghiệp để thấy rõ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mộtviệc hết sức quan trọng Đây không những là yêu cầu chủ quan mà còn làyêu cầu khách quan của doanh nghiệp

Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn nên trong thờigian thực tập tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN, nhờ có sự giúp

đỡ của công ty và sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Đặng Ngọc Đức, tôi đã

nghiên cứu vấn đề sau: “ Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại

công ty TNHH thương mại MINH HIỂN “

Trong phạm vi bài viết này, ngoài phần mở đầu và kết luận đượctrình bày như sau

Chương 1: Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và phân tích tài chínhcủa công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

Chương 3: Một số giải pháp và phương hướng nhằm hoàn thiện hoạtđộng phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

Trang 2

Chương 1

Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính (PTTC) là một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tàichính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thôngtin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp

Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bìnhđẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh

Do đó có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp như: chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng….kể

cả cơ quan nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp trên các giác độ khác nhau Đối với chủdoanh nghiệp và các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là khả năng phát triển, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giátrị xí nghiệp, do đó họ quan tâm trước hết tới lĩnh vực đầu tư và tài trợ Đốivới chủ ngân hàng và chủ nợ khác, mối quan tâm chủ yếu của họ là đánhgiá khả năng thanh toán, khả năng trả nợ hiện tại và tương lai của doanhnghiệp Đối với nhà đầu tư khác, họ quan tâm tới các yếu tố rủi ro, lãi suất

và khả năng thanh toán…

Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phântích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua hệthống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụngthông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, kháiquát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để

Trang 3

nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết địnhtài trợ và đầu tư phù hợp.

1.1 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp

PTTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu tàichính hiện hành và quá khứ Thông qua PTTC DN người ta có thể đánh giáđược tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng củadoanh nghiệp trong tương lai Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường mọithành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trước pháp luật Hơn nữa, vấn

đề tài chính của một doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều thành phầnnhư: chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư…

Do đó, PTTC DN là thực sự có ích và rất cần thiết Việc PTTC phảiđạt được các mục tiêu chủ yếu sau:

Thứ nhất, PTTC phải cung cấp đầy đủ các thông tin cho các nhà đầu

tư, nhà cho vay, nhà cung cấp và những người quan tâm khác để giúp họ cóđược quyết định đúng đắn khi cho vay, khi quyết định đầu tư, khi quyếtđịnh tài trợ

Thứ hai, PTTC phải cung cấp đủ thông tin cho chủ doanh nghiệp,nhà đầu tư, nhà cho vay và những người sử dụng khác trong việc đánh giákhả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra, tình hình sử dụng cóhiệu quả vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanhnghiệp

Thứ ba, PTTC phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sởhữu các khoản nợ, kết quả các quá trình, sự kiện và tình huống làm thay đổinguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ của doanh nghiệp

Tóm lại, mục đích tối cao và quan trọng nhất của PTTC là giúpnhững người ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu, đánh giáchính xác thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai

Trang 4

1.2 Trình tự và các bước tiến hành PTTC

a- Thu thập thông tin: PTTC sử dụng mọi nguồn thông tin có khảnăng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính của doanhnghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả nhữngthông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán vànhững thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tàichính doanh nghiệp; là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy,PTTC trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp

b- Xử lý thông tin: Giai đoạn tiếp theo của PTTC là quá trình xử lýthông tin đã thu thập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ởcác góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thôngtin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quátrình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán,

so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạtđược phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

c- Dự đoán và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điềukiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán được nhu cầu và đưa racác quyết định tài chính Có thể nói, mục tiêu của PTTC là đưa ra các quyếtđịnh tài chính Đối với chủ doanh nghiệp PTTC nhằm đưa ra các quyếtđịnh liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng,phát triển và tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Đối với người cho vay vànhà đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư;đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra các quyết định quản lý doanhnghiệp

Giáo trình TCDN-chủ biên PGS.TS.Lưu Thị Hương

TS.Vũ Duy Hào

Trang 5

1.3 Phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp

Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ

và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mốiquan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tàichính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hìnhtài chính của doanh nghiệp

Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanhnghiệp, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau

Phương pháp so sánh

Để áp dụng phương pháp này, cần phải đảm bảo các điều kiện có thể

so sánh được của các chỉ tiêu tài chính: thống nhất về không gian, nộidung, tính chất và đơn vị tính toán tùy theo mục đích phân tích mà xácđịnh gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặckhông gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch,giá trị so sánh có thể được lựa chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc sốbình quân Nội dung so sánh gồm:

So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ

xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp Đánh giá sự tăng trưởng haythụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

So sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấucủa doanh nghiệp

So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình củangành của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được

So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so vớitổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi

cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên

độ kế toán liên tiếp

Trang 6

Nhìn chung sử dụng phương pháp này có ưu điểm là xác định rõ vịtrí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích, tuy nhiên phương pháp sosánh cũng có hạn chế là không chỉ ra được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và

để so sánh được với nhau thì các chỉ tiêu phải có điều kiện nhất định vềnội dung, phương pháp tính toán, đơn vị

1.3.1 Phương pháp tỷ lệ

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượngtài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêucầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giátình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanhnghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phânthành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo cácmục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năngthanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lựchoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời

Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộphận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theogiác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau đểphục vụ mục tiêu phân tích của mình

Phương pháp này được sử dụng khá nhiều trong các DN, thông quatính toán tỷ lệ của các chỉ tiêu tài chính cho thấy những thay đổi và xuhướng biến động của các chỉ tiêu, hơn nữa việc tính toán các tỷ lệ tài chínhnày còn cho thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Tuy nhiên,điểm hạn chế trong phương pháp này chính là việc tính toán được cácngưỡng và tỷ lệ tham chiếu để so sánh, đồng thời phương pháp này cũngchưa chỉ ra được mối quan hệ giữa các tỷ lệ tài chính

Trang 7

1.3.2 Phương pháp DUPONT

Phương pháp phân tích tài chính DUPONT cho thấy mối quan hệtương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu Công ty DUPONT là công ty đầutiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ chủ yếu này để phân tích các tỷ số tàichính Vì vậy, nó được gọi là DUPONT Ngày nay, phương pháp này được

sử dụng rộng rãi trong nhiều quốc gia Phương pháp DUPONT yêu cầungười phân tích phải có kỹ năng phân tích tốt thì mới có thể đánh giá chínhxác mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, tỷ lệ tài chính chủ yếu

Theo phương pháp này, trước hết chúng ta xem xét mối quan hệtương tác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu suất sử dụng tài sản vàđược ký hiệu là Rr

Khi đó:

Lợi nhuận sau thuế

xDoanh thu thuần

Nội dung phân tích tài chính

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu tố đầu tiên doanhnghiệp cần đó chính là vốn Doanh nghiệp phải tiến hành tổ chức huy động,phân phối quản lý và sử dụng có hiệu quả Việc phân tích các chỉ tiêu tàichính sẽ giúp cho người sử dụng nắm bắt được thông tin quan trọng nhất vềtình hình hoạt động của doanh nghiệp Nội dung chủ yếu của phân tích tàichính bao gồm:

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp

=Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

Trang 8

Phân tích các nhóm chỉ tiêu đặc trưng tài chính doanh nghiệp.

1.3.3 Đánh giá khái quát tình hình tài chính

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN sẽ cung cấp một cáchtổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh Điều đó cho phépchủ DN biết rõ thực trạng tài chính của mình và dự đoán được chiều hướngphát triển hay suy thoái trong tương lai Qua đó có biện pháp hữu hiệu đểquản lý tốt vấn đề tài chính của DN

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN trước hết phải căn cứvào số liệu trên BCĐKT: ta tiến hành so sánh TS, NV đầu năm và cuối kỳ

để biết được quy mô, khả năng huy động

Theo quan điểm luân chuyển vốn, tình hình TS của DN (gồm TSNH

và TSDH) được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu DN: tức là DN sửdụng vốn chủ sở hữu của mình để tài trợ phục vụ cho hoạt động SXKD củamình Mối quan hệ này được thể hiện qua đẳng thức:

Vốn chủ sở hữu = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn

Các chỉ tiêu trên được thu thập trên BCĐKT, vì thế ta có thể cụ thểđẳng thức trên như sau:

BNV = A(I+II+IV+V)TS + B(II+III+IV+V)TS (1)

Vế trái và vế phải của cân đối (1) có thể chi tiết trên bảng sau

Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu với tài sản

Vốn chủ sở hữu (loại B nguồn vốn)

I.TSNH

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

3 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

4 Chi phí trả trước dài hạn

5 TSDH khác

Trang 9

Chuyên khảo về báo cáo tài chính và lập, đọc, kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính

PGS.TS.Nguyễn Văn Công

Trang 10

Nhìn chung cân đối (1) chỉ mang tính lý thuyết, nghĩa là với nguồnvốn chủ sở hữu, DN đủ trang trải các loại TS cho các hoạt động chủ yếu màkhông phải di vay hoặc chiếm dụng vốn Trên thực tế, thường xảy ra mộttrong hai trường hợp sau:

Trường hợp I: vế trái > vế phải

Trường hợp này, DN thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bịchiếm dụng

Trường hợp II: vế trái < vế phải

Do thiếu nguồn vốn để trang trải TS nên chắc chắn DN phải đi vayhay chiếm dụng vốn từ bên ngoài như Trong quá trình hoạt động kinhdoanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu không đáp ứng đủ nhu cầu SXKD của

DN thì DN được phép vay vốn để bổ sung nguồn vốn kinh doanh Loại trừnhững khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn, trung và dài hạn (của

NH hay các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến hạn trả, dùngcho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp (vay hợppháp) Do vậy, về lý thuyết có cân đối (2)

BNV + A nguồn vốn vay hợp pháp= A(I+II+IV+V)TS +B(II+III+IV+V) (2)

BNV + vay, nợ ngắn và dài hạn = A(I+II+IV+V)TS +B(II+III+IV+V) (2)

Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với TS

I Vốn chủ sở hữu (loại B nguồn vốn)

II Vốn vay trong hạn

1 Vay và nợ ngắn hạn

2 Vay và nợ dài hạn

I.TSNH

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

2 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

3 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

4 Chi phí trả trước dài hạn

5 TSDH khác

Trang 11

Cân đối (2) thường không xảy ra mà trên thực tế xảy ra một trong haitrường hợp sau:

Trường hợp I: vế trái > vế phải

Trong trường hợp này, do không sử dụng hết nguồn vốn nên nguồnvốn dư thừa của DN sẽ bị chiếm dụng

Trường hợp II: vế trái < vế phải

Ngược với trường hợp trên, trong trường hợp này, do thiếu nguồn bùđắp cho TS nên DN buộc phải chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếmdụng hợp pháp và bất hợp pháp)

Mặt khác, do tính chất cân bằng của BCĐKT nên cân đối (2) đượcviết lại như sau:

BNV + A.nguồn vốn vay trong hạn(I311+II324)NV + A.nguồn vốn thanh toán(I+II-I311-II324)NV = A(I+II+IV+V-V152)TS + B(II+III+IV+V-V262)TS +A.TS thanh toán ngắn hạn(III+V152)TS + B.TS thanh toán dài

hạn(I+V262)TS(3)

Biến đổi cân đối (3) được:

BNV + A.nguồn vốn vay trong hạn(I311+II324)NV– A (II+III+IV+V-V152)TS

- B(II+III+IV+V-V262)TS = A.tài sản thanh toán ngắn hạn(III+V152)TS + B.tài sản thanh toán dài hạn(I+V262)TS – A.nguồn vốn thanh toán(I+II- I311-

II324)NV (4)

Trong đó: A(I311)NV là khoản vay và nợ ngắn hạn

A(II324)NV là vay và nợ dài hạn

A(V152)TS là các khoản thuế phải thu

B(V262)TS là TS thuế thu nhập hoãn lại

Cân đối (4) thể hiện cân bằng tài chính và có thể phản ánh qua sơ đồ sau

Vốn chủ sở hữu và vốn vay

trong ngắn hạn

I Vốn chủ sở hữu(loại B

- TSNH và TSDH I.TSNH

1 Tiền và các khoản tương đương tiền

Trang 12

3 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

4 Chi phí trả trước dài hạn

5 TSDH khác -

Tài sản thanh toán

I Nợ phải thu ngắn hạn

1 Các khoản phải thu

2 Thuế thu nhập phải thu

II Nợ phải thu dài hạn

1 Các khoản phải thu dài

hạn

2 TS thuế thu nhập hoãn lại

-Nguồn vốn thanh toán

I Nợ phải trả ngắn hạn

1 Phải trả người bán

2 Người mua trả tiền trước

3 Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước

4 Phải trả công nhân viên

5 Chi phí phải trả

6 Phải trả nội bộ

7 Phải trả theo tiến độ hợp đồng xây dựng

8 Các khoản phải trả, phải nộp khác

II Nợ phải trả dài hạn

1 Phải trả người bán

2 Phải trả dài hạn nội bộ

3 Phải trả dài hạn khác

4 Thuế hoãn lại phải trả

Cân đối (4) cho thấy số vốn mà DN bị chiếm dụng (phần chênh lệchgiữa vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp trong hạn lớn hơn TSNH vàTSDH tương ứng) đúng bằng số chênh lệch giữa số TS phát sinh trong quátrình thanh toán ( nợ phải thu ngắn và dài hạn) với nguồn vốn chiếm dụngtrong thanh toán (phải trả ngắn và dài hạn) và ngược lại số vốn mà DN đichiếm dụng đúng bằng số chênh lệch giữa nguồn vốn chiếm dụng trongthanh toán với số TS phát sinh trong quá trình thanh toán

Ngoài ra người ta còn nghiên cứu, xem xét tỷ suất đầu tư trang bịcho TS Tỷ suất đầu tư phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật,thể hiệu năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của DN

Tổng TSTrị số này tùy thuộc vào từng loại hình kinh doanh cụ thể Có thể coi

là hợp lý nếu trị số này đối với công nghiệp dầu mỏ là 0.9, công nghiệpluyện kim là 0.7 nếu tỷ lệ đầu tư tăng lên thì năng lực sản xuất của DN

Trang 13

có xu hướng tăng lên Song các chủ DN thuộc ngành thương mại, dịch

vụ thận trọng nếu tỷ lệ này quá cao, nhìn chung tỷ số này từ 0.1-0.5 làvừa phải đối với DN thương mại, dịch vụ Bên cạnh việc xem xét tình hìnhphân bổ vốn, cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tựtài trợ về mặt tài chính của DN

Tổng NV

Tỷ suất này thể hiện mức độ tự chủ trong kinh doanh của DN, nhìnchung tỷ suất này càng cao càng thể hiện khả năng độc lập về mặt tàichính, khả năng tự tài trợ của DN là tốt Trong thực tế, nếu tỷ lệ này giảmxuống < 0.5 tình hình tài chính là đáng báo động, dễ có khả năng đổ vỡ

Ngoài hai tỷ suất trên, ta có thể phân tích bổ sung tỷ suất sau:

Tỷ suất tự tài trợ cho

1.3.4 Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu

Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính

Gia tăng lợi nhuận luôn luôn là điều mong ước của doanh nghiệp,nhưng họ lại luôn không thích những rủi ro Nghiên cứu cơ cấu tài chính sẽgóp phần giải quyết vấn đề này Trong kinh doanh, chế độ thanh toán thuchi đã được quy định: các khoản phải thu, phải trả luôn phát sinh Chính vì

Trang 14

vậy, các khoản nợ nần giữa các doanh nghiệp trong một khoảng thời giannào đó dài hay ngắn tùy thuộc vào chế độ quy định như: nộp thuế, nộp lãi

và các phương thức thanh toán được áp dụng còn phụ thuộc vào sử thỏathuận giữa các doanh nghiệp với nhau

Khi một doanh nghiệp có phần vốn đi chiếm dụng lớn hơn phần vốn

bị chiếm dụng tình hình doanh nghiệp sẽ có thêm vốn để đầu tư vào sảnxuất kinh doanh Nếu ngược lai, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn thì họphải tìm kiếm nguồn vốn khác để bù đắp phần thiếu hụt đó Đây là vấn đềbình thường trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên đối với một doanhnghiệp mà bị chiếm dụng vốn với tỷ lệ cao, hoặc đi chiếm dụng với tỷ lệcao thì doanh nghiệp đó cần xem xét

Chiếm dụng vốn là một nét đặc trưng trong giao dịch thương mại,thậm chí còn được coi là sách lược kinh doanh hữu hiệu của những đơn vịkinh tế ngang nhiên hoạt động trên thị trường mà không hề có đồng vốnnào cả Bởi vậy, phân tích tình hình công nợ, tìm ra nguyên nhân tồn đọngcác khoản thanh toán nhằm tiến tới làm chủ về tài chính có ý nghĩa quantrọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Hệ số góp vốn là chỉ tiêu đặc trưng trong cơ cấu tài chính của doanhnghiệp Hệ số góp vốn có nhiều dạng, nhưng chủ yếu nó đo lường sự gópvốn của những chủ sở hữu doanh nghiệp so với số tài trợ bởi những ngườicho vay (ngân hàng, những người mua trái phiếu ) Trong nền kinh tế thịtrường mỗi doanh nghiệp đều phải hoạt động trong điều kiện rủi ro ít nhiều.Nếu vốn tự có (góp cổ phần, ngân sách cấp, bổ sung bằng lợi nhuận) chỉchiếm một tỷ lệ nhỏ trong sự tài trợ cho doanh nghiệp, khi đó tính rủi rotrong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ do những người vay gánhchịu là chính

Hệ số góp vốn này cung cấp một thông tin rất quan trọng cho cácchủ nợ Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào hệ số góp vốn của chủ sở hữu công ty

để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các khoản nợ

Trang 15

Doanh nghiệp ngày càng tích cực tăng vốn thông qua vay nợ, vì như vậy họvẫn nắm quyền điều hành và quản lý doanh nghiệp Mặt khác, nếu lợinhuận thu được khi họ dùng các khoản nợ đem ra kinh doanh mà lớn hơn

số lãi vay họ phải trả họ sẽ thu được một khoản lợi nhuận đáng kể

số này cao vì họ muốn lợi nhuận tăng nhanh mà vẫn nắm quyền kiểm soát

và điều hành DN Nếu hệ số nợ quá cao, DN sẽ dễ rơi vào tình trạng mấtkhả năng thanh toán

Hệ số này được tính như sau:

Hệ số nợ = Tổng nợ phải trả

Tổng tài sảnTrong đó:

Tổng nợ phải trả của DN bao gồm: nợ người bán, nợ công nhân, nợ nhà nước, nợ các đơn vị, DN khác ( là phần A bên nguồn vốn)

Tổng tài sản bao gồm: TS ngắn hạn và TS dài hạn

Hệ số nợ càng nhỏ, khả năng tự chủ về tài chính của DN càng cao.Tuy nhiên, hệ số này cao hay thấp cũng chưa thể kết luận ngay là cơ cấu tàichính của DN đó là hợp lý hay chưa hợp lý Vì đó chưa phải là chỉ tiêu duynhất trong nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính của DN

Ngoài ra, người ta còn quan tâm đến:

Hệ số nợ dài hạn = Tổng nợ dài hạn

Tổng tài sản

Trang 16

Nợ dài hạn là các khoản nợ có thời gian đáo hạn >1 năm Trongkhoảng thời gian đó, khoản vốn vay này được sử dụng như khoản vốnthường xuyên Do vậy, phần TS được hình thành bằng vốn vay dài hạn rõràng có hệ số an toàn cao hơn phần TS được hình thành bằng vốn vay ngắnhạn Nên chủ DN vẫn thích vay dài hạn hơn để hình thành TS của mình.Nhưng vấn đề đặt ra là làm sao để tìm kiếm được nguồn vốn đó?

Người ta còn quan tâm đến một hệ số nữa, đó là:

Hệ số nợ vốn cổ phần = Tổng nợ phải trả

Tổng vốn chủ sở hữu

Hệ số này cho biết tương quan giữa phần mà DN có với phần mà DN

đi vay Nếu hệ số này > 1 thì DN bị ràng buộc nhiều vào chủ nợ, số lãi mà

DN thu được chủ yếu là trả lãi vay Hệ số này phải <1 thì mới đảm bảo khảnăng an toàn cho DN

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Hệ số này cho ta biết DN sẵn sàng trả tiền lãi vay tới mức nào, vìtiền lãi vay là một khoản chi phí của DN

Do lợi nhuận trước thuế được xác định bằng chênh lệch giữa doanhthu với chi phí (trong đó có lãi vay) nên hệ số thanh toán lãi vay được xácđịnh như sau:

Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế + lãi vay

Lãi vay

Hệ số này phải > 1, vì nếu < 1, DN đã bị thua lỗ trong kinh doanh

DN chưa nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mà đã chưa đủ trả lãi vay, nhưvậy DN làm ăn quá thua lỗ Hệ số này càng cao thể hiện DN làm ăn phátđạt, có triển vọng Trong kinh doanh, muốn vay được tiền thì phải có khảnăng trả nợ bằng chính tài sản của mình và phải bằng hoạt động đem lại lợinhuận cho mình

Trang 17

Cơ cấu tài sản (TS), cơ cấu nguồn vốn (NV)

Toàn bộ TS hiện có của DN thể hiện quy mô hoạt động và năng lựckinh doanh của DN Khái quát quy mô hoạt động của DN thông qua hệ số

cơ cấu TS và hệ số cơ cấu NV

a- Cơ cấu TS

Để đánh giá trình độ sử dụng vốn (TS) của DN, các nhà phân tíchcòn nghiên cứu về bố trí cơ cấu TS Tỷ số này sẽ trả lời câu hỏi: trong mộtđồng vốn mà DN có sử dụng, có bao nhiêu đầu tư vào TSNH, có bao nhiêuđầu tư vào TSDH Tùy theo từng loại hình kinh doanh mà tỷ số này ở mức

độ cao thấp khác nhau Nhưng bố trí cơ cấu TS càng hợp lý bao nhiêu, thìhiệu quả sử dụng vốn càng tối đa bấy nhiêu Bố trí cơ cấu TS lệch làm mấtcân đối giữa TSNH và TSDH dẫn đến thừa hay thiếu một loại TS nào đấy

Việc phân tích cơ cấu TS chỉ căn cứ vào sự thay đổi tăng hay giảm

về giá trị mà đánh giá tốt hay xấu thì vẫn chưa đủ mà còn phải căn cứ vào

tỷ trọng của TS đó trong tổng TS Lượng giá trị TS của một loại TS cuối kỳ

so với đầu năm mà tăng nhưng các TS khác có thể: cũng tăng nhưng vớitốc độ nhanh hơn thì xét về tổng thể tỷ trọng TS đó lại giảm xuống Hoặcngược lại, thì tỷ trọng của TS đó lại tăng lên

Để kết luận chính xác và đầy đủ thông qua sự biến động của hai loạivốn trên phải căn cứ vào thực trạng kinh doanh cũng như tình hình sửdụng vốn của DN Ta cần lập bảng phân tích sau:

Bảng phân tích cơ cấu TS

Trang 18

Chỉ tiêu

Đầu năm Cuối kỳ Cuối kỳ so với

đầu năm

Số tiền

Tỷ trọng

%

Số tiền

Tỷ trọng %

Số tiền Tỷ lệ %

A Tài sản ngắn hạn

I Tiền và các khoản tương đương

tiền

II Các khoản đầu tư ngắn hạn

III Các khoản phải thu

III Bất động sản đầu tư

IV Các khoản đầu tư dài hạn

V Tài sản dài hạn khác

Tổng cộng tài sản

Việc lập bảng cơ cấu TS cho phép ta phân tích được sự biến độngcủa từng khoản mục TS cả về số tương đối và số tuyệt đối trong tổng TShiện có của DN

b- Cơ cấu nguồn vốn

Phân tích theo nguồn hình thành NV cho biết quy mô, nội dung, tínhchất kinh tế của nguồn vốn mà DN đang sử dụng cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình Kết cấu nguồn vốn phải phản ánh trách nhiệm về vậtchất và pháp lý của DN

Tương tự như phần cơ cấu tài sản, ta cũng lập bảng phân tích cơ cấunguồn vốn như sau:

Chỉ tiêu

Đầu năm Cuối kỳ Cuối kỳ so với đầu năm

Số tiền

Tỷ trọng

Trang 19

Việc phân bổ vốn như vậy đã hợp lý chưa? Tình hình đầu tư như thếnào? Khả năng huy động của DN ra sao?

Nguồn vốn chủ sở hữu so với nợ phải trả đã hợp lý chưa? DN cần khắc phục gì trong thời gian tới? Tuy vậy, để đánh giá tình hình TC của

DN như thế còn chưa đủ, để có kết luận chi tiết, chính xác hơn ta cần đi phân tích tiếp nhóm chỉ tiêu sau đây

Nhóm chỉ tiêu năng lực hoạt động

Các chỉ tiêu năng lực hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả

sử dụng NV của DN NV huy động được của DN đầu tư vào các loại TSkhác nhau, việc đầu tư này có hiệu quả hay không? Phân tích các chỉ tiêunăng lực hoạt động sẽ cho ta biết điều đó

Hệ số vòng quay hàng tồn kho

Trong điều kiện kinh tế thị trường thì vấn đề định mức và điều hòa

dự trữ sản xuất ngày càng gay go Dự trữ lớn sẽ gây ứ đọng vốn, tăngnhững chi phí liên quan đến việc bảo quản, ảnh hưởng tới tốc độ vòng quayvốn, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh Nếu dự trữ quá thấp lại gây thiếuhụt, khó đảm bảo tính liên tục, nhịp nhàng của hoạt động sản xuất kinhdoanh Do vậy, việc dự trữ cho sản xuất kinh doanh phải được đảm bảotheo yêu cầu để không gây lãng phí vốn

Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu đánh giá tình hình dự trữ của

DN Hàng tồn kho là một loại TS dự trữ với mục đích để đảm bảo quá trìnhSXKD của DN Mức độ dự trữ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: ngành nghềkinh doanh, mùa vụ bán hàng,

Vòng quay hàng tồn kho thể hiện số lần hàng tồn kho bình quân (haythời gian hàng hóa nằm trong kho trước khi bán ra) được bán ra trong kỳ

Hệ số này càng cao càng thể hiện tình hình hàng hóa bán ra tốt và ngượclại Hệ số này còn thể hiện tốc độ luân chuyển hàng hóa của DN Tốc độluân chuyển hàng hóa nhanh, thì cùng với mức doanh thu như vậy Hệ sốnày được tính như sau:

Trang 20

Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán

Trị giá hàng tồn khoTrong đó:

Giá vốn hàng bán: phản ánh tổng giá vốn của hàng hóa, giá thànhsản xuất của thành phẩm đã bán, chi phí trực tiếp của các dịch vụ đã cungứng, chi phí khác được tính vào hoặc ghi vào giá vốn hàng bán trong kỳbáo cáo

Trị giá hàng tồn kho có thể được tính theo phương pháp bình quânnhư sau:

Trị giá hàng

Hàng tồn kho đầu năm + Hàng tồn kho cuối kỳ

2 Hay:

Trị giá hàng

A1/2 + A2 + A3 + + An-1 + An/2

n - 1 Trong đó:

n: số tháng trong năm

Ai: trị giá hàng tồn kho các tháng (i=1 , 12)

Hệ số luân chuyển của tài sản ngắn hạn

Trong quá trình tái sản xuất, TSNH của DN thường xuyên vận độngqua các giai đoạn khác nhau Từ một hình thái nhất định, sau một quá trìnhvận động, TSNH trở lại hình thái ban đầu gọi là một vòng tuần hoàn hay làmột vòng luân chuyển Số vòng luân chuyển của TSNH càng lớn kéo theohiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Hệ số luân chuyển

Tổng số luân chuyển thuầnTSNH bình quân

Trang 21

Hệ số luân chuyển của TSNH (số vòng quay của TSNH) cho biếttrong kỳ kinh doanh, TSNH quay được mấy vòng Số vòng quay càng lớn,tốc độ luân chuyển của TSNH càng cao, hiệu quả sử dụng TS càng cao vàngược lại.

Thời gian của một vòng

Thời gian của kỳ phân tích

Số vòng quay của TSNHThời gian của một vòng luân chuyển thể hiện số ngày cần thiết đểTSNH quay được một vòng Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thìtốc độ luân chuyển càng cao và ngược lại

Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích còn có thể tính hệ số đảmnhiệm của TSNH, hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sảncàng cao

Hệ số đảm nhiệm của

TSNH bình quânTổng số luân chuyển thuầnTrong đó:

Tổng số luân chuyển thuần: phản ánh toàn bộ khối lượng công việc

mà TSNH tham gia thực hiện trong kỳ: bao gồm; doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính và lợinhuận khác trên BCKQHĐKD

Thời gian của kỳ phân tích: là thời gian doanh nghiệp tiến hành phântích Thời gian phân tích thường lấy tròn ngày (tháng là 30 ngày, quý là 90 ngày, năm là 360 ngày)

TSNH bình quân: phản ánh lượng TSNH tham gia luân chuyển, chỉ tiêu này có thể được tính toán như sau

TSNH bình quân

TSNH đầu tháng + TSNH cuối tháng

2

Trang 22

TSNH bình quân

A1/2 + A2 + + An-1 + An/2

n -1Trong đó:

n: là số tháng

Ai: là giá trị TSNH hiện có vào đầu tháng

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Khi phân tích cơ cấu TS, tỷ trọng của từng loại TS trên tổng số TShiện có, ta đã khái quát được tính hình sử dụng vốn của DN, còn cụ thể kếtquả của việc sử dụng vốn như thế nào thì ta chưa thể kết luận được Dovậy, ta cần tiến hành phân tích thêm một số chỉ tiêu sau

Hiệu suất sử dụng TS đó là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốntrong kỳ, nó phản ánh 1 đồng vốn DN huy động được vào SXKD mang lạimấy đồng doanh thu Chỉ tiêu này phản ánh vòng quay của toàn bộ vốntrong kỳ của DN

Hiệu suất sửdụng tổng TS =

Doanh thu thuầnTổng TSChỉ tiêu này có giá trị càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của

DN càng cao Qua việc phân tích chỉ tiêu này, giúp DN nhìn nhận đượctình trạng sử dụng vốn của mình có hiệu quả hay không, đồng thời có biệnpháp hữu hiệu khắc phục

Trang 23

Kỳ thu tiền bình quân

Trong quá trình hoạt động việc phát sinh các khoản phải thu, phải trả

là điều tất yếu Khi các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ DN bị chiếmdụng vốn ngày càng nhiều (vốn bị ứ đọng trong thanh toán) Nhanh chónggiải phóng vốn ứ đọng trong khâu thanh toán là một hoạt động quan trọngcủa hoạt động tài chính Vì vậy, trong phân tích chỉ tiêu năng lực hoạtđộng, người ta rất quan tâm đến thời gian thu hồi các khoản phải thu và chỉtiêu kỳ thu tiền bình quân ra đời với mục đích thông tin về khả năng thu hồivốn trong thanh toán dựa trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêuthụ bình quân một ngày Chỉ tiêu này được xác định như sau

Trong

đó:

Các khoản phải thu gồm: phải thu của khách hàng, trả trước chongười bán, phải thu nội bộ, tạm ứng các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụthuộc vào chính sách tín dụng của DN

Kỳ thu tiền càng lớn vốn càng bị chiếm dụng, điều đó chứng tỏ sảnphẩm DN tiêu thụ chậm, vốn bị ứ đọng nhiều Tuy nhiên, hệ số này lớn có thể

do DN đang mở rộng thị trường, thâm nhập vào thị trường mới, tăng doanh thu

để tạo thế cạnh tranh, thì lúc đó tình trạng của DN chỉ là tạm thời mà thôi

Kỳ thu tiền của DN càng nhỏ thể hiện DN thu hồi ngày càng nhanh cáckhoản phải nợ, vốn ít bị chiếm dụng Tuy nhiên, nếu kỳ thu tiền quá nhỏ có thểảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ Nhưng nếu quá nhỏ coi như ít có DN muốnhợp tác với DN này Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường mua bán chịu là tấtyếu khách quan vì người mua bao giờ cũng muốn kéo dài thời gian trả tiền,người bán lại muốn kéo dài kỳ hạn trả tiền với nhà cung cấp

Trang 24

Nhóm chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán

Để biết được tình hình tài chính của DN tốt hay không phải xem xéttình hình và khả năng thanh toán của DN đó như thế nào Nếu tình hình tàichính của DN đó tốt, DN sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít phải

đi chiếm dụng vốn Điều đó tạo điều kiện đảm bảo thuận lợi cho DN chủđộng trong kinh doanh, tự chủ hoạt động tài chính của mình Nếu tình hìnhtài chính gặp khó khăn, DN nợ nần dây dưa, kéo dài, mất khả năng thanhtoán, sẽ dẫn đến tình trạng bị phá sản Chính vì vậy, trong hoạt động kinhdoanh thì vấn đề thanh toán đối với mỗi DN là vô cùng quan trọng, phải

xử lý linh hoạt, kịp thời, nếu không DN sẽ thua lỗ trong kinh doanh Vìvậy, khi phân tích tình hình tài chính và khả năng thanh toán của DN phảilàm rõ mức độ và nguyên nhân kéo dài công nợ từ phía DN cũng như cácbên có liên quan Để từ đó tìm ra phương hướng thích hợp, nhằm đảm bảo

tự chủ về tài chính

Về phương pháp phân tích, để đánh giá khả năng thanh toán của DNphải so sánh số tiền mà DN phải thanh toán và số tiền mà DN có khả năng

để thanh toán Ta có thể lập bảng phân tích đó như sau:

Bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán

Nhu cầu thanh toán Khả năng thanh toán

Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ

I Nhu cầu ngắn hạn I Khả năng thanh toán

ngắn hạn

1 Các khoản phải thanh

toán ngay

1.Các khoản có thể dùng để thanh toán ngay

b Các khoản nợ đến hạn b.Tiền gửi ngân hàng

2 Các khoản phải thanh

toán trong thời gian tới

c Tiền đang chuyển

II Nhu cầu dài hạn d Các khoản tương tiền

2 Các khoản có thể thanh toán trong thời gian tới

II Khả năng thanh toán

Trang 25

dài hạn

Việc sắp xếp các chỉ tiêu phân tích trong bảng theo trình tự nhấtđịnh Về nhu cầu thanh toán các chỉ tiêu được sắp xếp theo mức độ khẩntrương Về khả năng thanh toán được sắp xếp theo khả năng huy động.Chính vì vậy, việc lập bảng trên cho ta thấy rõ nhu cầu và khả năng thanhtoán của DN theo từng mức độ khác nhau, trong những khoảng thời giankhác nhau

Ngoài ra có thể phân tích theo các chỉ tiêu:

Hệ số khả năng

Số tiền có thể dùng thanh toán

Số tiền phải thanh toán

Nhu cầu thanh toán

Hệ số này là cơ sở để đánh giá khả năng thanh toán và tình hình tàichính của DN Nếu hệ số này > 1 chứng tỏ vấn đề khả năng thanh toán của

DN không có gì đáng ngại Nếu hệ số này < 1, DN mất khả năng thanhtoán, tình hình tài chính đang gặp khó khăn, nên hệ số này càng nhỏ thì DNcàng tiến gần đến khả năng bị phá sản

Để làm rõ hơn, chúng ta tiến hành phân tích một số chỉ tiêu cụ thểsau:

Hệ số thanh toán ngắn hạn

Để nắm bắt được khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưuđộng là nhanh hay chậm, từ đó xác định được DN có đủ tiền để phục vụcho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

Trang 26

Hệ số này quá lớn hay nhỏ đều không tốt Vì khi hệ số này lớn haynhỏ phản ánh tình trạng thừa tiền hay thiếu tiền, tình trạng này đều nói lêntình trạng tài chính không bình thường Nếu thừa sẽ gây tình trạng ứ đọngvốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn; ngược lại, nếu thiếu sẽ không đảmbảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.

Hệ số thanh toán nhanh

Nghiên cứu hệ số thanh toán ngắn hạn vẫn chưa bộc lộ được khảnăng thanh toán của DN Các nhà đầu tư, tài trợ, cho vay lại đặt ra câuhỏi: nếu những khoản nợ đến hạn thanh toán, yêu cầu được thanh toánnhanh (trong thời gian ngắn) hay thanh toán tức thời (ngay lập tức) thì nănglực tài chính của DN có đáp ứng được không? Nghiên cứu hệ số thanh toánnhanh và hệ số thanh toán tức thời sẽ trả lời câu hỏi đó

TS dùng để thanh toán ngay các món nợ tới hạn chính là tiền (tiền vàcác khoản tương đương tiền) và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và cáckhoản phải thu

Ngoài ra để xác định hệ số thanh toán nhanh cũng có thể được tínhlấy tổng TSNH trừ( - ) đi chỉ tiêu hàng tồn kho

Hệ số thanh toán

TSNH - hàng tồn khoTổng nợ ngắn hạn

=

Tiền và các khoản tương đương tiền + các khoảnđầu tư chứng khoán ngắn hạn + khoản phải thu

Tổng nợ ngắn hạnThực tế cho thấy, nếu hệ số thanh toán nhanh > 0.5 thì tình hìnhtương đối khả quan, còn nếu < 0.5 thì DN đang gặp khó khăn trong việcgiải quyết công nợ và do đó, có thể phải bán gấp sản phẩm, hàng hóa để cótiền thanh toán những khoản nợ

Trang 27

Hệ số thanh toán tức thời

Hệ số thanh toán tức thời được tính như sau:

Hệ số thanh toán

Tiền và các khoản tương đương tiền + các khoản

đầu tư chứng khoán ngắn hạn

Nợ đến hạn

Nợ đến hạn là những khoản phải chi trả ngay trong kỳ đã đến hạnthanh toán Đó là những khoản vay ngắn hạn, khoản vay dài hạn tới hạn trả,phải trả nhà cung cấp

Hệ số này tính đến khả năng thanh toán của DN đối với những khoản

nợ đến hạn cần thanh toán ngay lập tức Vì vậy, DN phải luôn cần có một

tỷ lệ tiền mặt nhất định tại két của mình để đảm bảo những sự cố phát sinhbất ngờ được giải quyết một cách nhanh nhất, an toàn nhất Điều đó, khẳngđịnh DN làm ăn có hiệu quả, lành mạnh Hệ số này cao chưa hẳn đã tốt, đó

sẽ là nguyên nhân khiến DN giảm bớt lợi nhuận, nếu quá thấp sẽ dẫn đếnkhả năng phá sản Do vậy, DN phải luôn biết điều hòa nó một cách hợp lýnhất Đó là điều hòa các khoản phải thu, phải trả Để xem xét các khoản nợbiến động ảnh hưởng tới tình hình và khả năng thanh toán của DN ta cầntính chỉ tiêu sau

Tỷ lệ các khoản phảithu so với phải trả =

Tổng số nợ phải thuTổng số nợ phải trả

Tỷ lệ này > 1, chứng tỏ DN bị chiếm dụng vốn, tỷ lệ này càng lớn thìtình hình bị chiếm dụng vốn càng nhiều Nếu tỷ lệ này < 1 thì có nghĩa DN

đi chiếm dụng vốn Đồng thời DN phải xem tỷ lệ này có tác động tới khảnăng thanh toán của DN như thế nào, nếu cần thiết trong quá trình phântích ta sẽ lập một bảng gồm các khoản phải thu và các khoản phải trả đểlàm rõ hơn sự biến động của chúng có tác động như thế nào đến tình hình

và khả năng thanh toán của DN hiện tại

Trang 28

Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời

Lợi nhuận – Đó là mục đích cuối cùng của quá trình SXKD Lợinhuận càng cao DN càng khẳng định được vị trí của mình trong thươngtrường Nhưng nếu chỉ thông qua chỉ tiêu lợi nhuận đạt được trong kỳ của

DN cao hay thấp để kết luận DN đó tốt hay xấu thì chưa đủ, có thể kết luận

sẽ dẫn đến những sai lầm Vì có thể lợi nhuận đó không tương xứng với chiphí mà DN đã bỏ ra Để khắc phục khiếm khuyết này, các nhà phân tích đãđặt lợi nhuận đạt được trong kỳ trong mối quan hệ với doanh thu, với sốvốn mà DN đã huy động cho hoạt động SXKD Từ đó xuất hiện khái niệmhiệu quả kinh doanh: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt được kết quả cao nhấttrong kinh doanh với chi phí thấp nhất Đây là vấn đề liên quan đến nhiềuyếu tố trong quá trình SXKD Vì vậy, khi phân tích phải xem xét các chỉtiêu như hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, sức sinh lợi của vốn (tức xemhiệu quả sử dụng vốn dưới góc độ sinh lợi) đây là một trong những nộidung phân tích được các nhà đầu tư, các nhà tín dụng đặc biệt quan tâm

Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợpnhất hiệu quả SXKD và hiệu năng quản lý của DN

Doanh lợi doanh thu

Để đánh giá hoạt động SXKD thịnh vượng hay không ngoài việcxem xét chỉ tiêu doanh thu đạt được trong kỳ, các nhà phân tích còn xácđịnh trong một đồng doanh thu thuần có mấy đồng lợi nhuận sau thuế, điều

đó được xác định thông qua doanh lợi doanh thu

Doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

Hệ số này càng lớn, chứng tỏ trong một đồng doanh thu càng cónhiều lợi nhuận và ngược lại Hệ số này phải đặt trong quan hệ với chi phí,với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh của DN Nếu hệ số này cao do giảmđược chi phí, thì đó là điều tốt Nếu hệ số này cao do tăng giá bán thì ngược

Trang 29

lại: điều đó sẽ khiến DN mất khách hàng, mất thị trường, giảm tính cạnhtranh của DN, tiêu thụ sẽ giảm Nếu hệ số này quá thấp thì DN buộc phải

có biện pháp để nâng cao hệ số này lên Đây là chỉ tiêu mà bất kỳ DN nàocũng tính ở cuối kỳ hạch toán kinh doanh, trong quá trình phân tích Chỉtiêu này khái quát được tình hình hoạt động kinh doanh của DN trong thờigian qua và cũng nói lên chiều hướng phát triển hay suy thoái trong thờigian tới

Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)

So với người cho vay thì việc bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh củachủ sở hữu mang tính chất mạo hiểm hơn, nhưng lại có cơ hội mang lại lợinhuận nhiều hơn Để đo mức doanh lợi trên mức đầu tư của chủ sở hữungười ta dùng chỉ tiêu sau:

Doanh lợi vốn chủ

Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữuChỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lời củavốn chủ sở hữu, chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ bỏ ra đầu tư sẽ đemlại mấy đồng lợi nhuận sau thuế, giúp DN và các nhà đầu tư đánh giá đượcchính xác hiệu quả của SXKD, để từ đó thúc đẩy hay hạn chế hoạt độngSXKD của DN Các DN nghiệp đều mong muốn hệ số này cao, nhưng nếu

hệ số này quá cao sẽ có sử dịch chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, sức laođộng ) sao cho hiệu quả hơn Tuy nhiên, nếu hệ số này thấp có thể sẽ khóvay mượn trong thời gian tới, do người cho vay không tin tưởng vào khảnăng kinh doanh và khả năng trả được nợ của DN

Từ công thức doanh lợi vốn chủ sở hữu, ta có thể thiết lập mối quan

hệ các nhân tố ảnh hưởng như sau:

Trang 30

Vốn chủ sở hữu Doanh thu thuần

= Hệ số vòng quay vốn

Doanh lợi doanh

thu

Ta thấy: doanh lợi vốn chủ sử hữu chịu ảnh hưởng của hai yếu tố:

Nhân tố hệ số vòng quay vốn chủ sở hữu, nhân tố này phản ánh trong

kỳ kinh doanh vốn chủ sở hữu quay được mấy vòng, số vòng quay của vốn chủ sở hữu càng tăng thì doanh lợi vốn chủ sở hữu càng tăng và ngược lại

Nhân tố doanh lợi doanh thu, nhân tố này phản ánh một đồng doanh thu thuần mang lại mấy đồng lợi nhuận sau thuế, doanh lợi doanh thu càng tăng thì doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng tăng và ngược lại

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa quan trọng trongviệc tìm hiểu nguyên nhân, để đánh giá, nhận xét tình hình từ đó đưa ranhững giải pháp thực sự hiệu quả

Doanh lợi tài sản (ROA)

Việc đánh giá khả năng sinh lời của DN thông qua chỉ tiêu doanh lợidoanh thu và doanh lợi vốn chủ sở hữu vẫn chưa nói hết được hiệu quảkinh doanh của DN Bởi nó chỉ nói lên được mối quan hệ với doanh thu,chưa nói lên được mối quan hệ với chi phí, nói lên mối quan hệ với vốnchủ sở hữu nhưng chưa nói lên được mối quan hệ với vốn vay

Trong tổng số TS hiện có của DN chủ yếu hình thành từ hai nguồn:nguồn vốn tự có và nguồn vốn đi vay Vì vậy, hoạt động SXKD cũng phảichia làm hai phần, trước tiên phải hoàn trả lãi vay, phần còn lại sẽ đem lạicho DN một khoản lợi nhuận nhất định Mối quan hệ giữa thu nhập củangười sở hữu và người cho vay từ kết quả hoạt động SXKD của DN vớitổng TS đưa vào sử dụng gọi là doanh lợi tài sản

Doanh lợi tài sản = Lợi nhuận sau thuế + tiền lãi phải trảTổng TS

Bằng việc cộng tiền lãi phải trả vào lợi nhuận sau thuế ta sẽ được kếtquả hoạt động kinh doanh trước khi phân chia cho chủ sở hữu và người cho

Trang 31

vay Bởi vì mẫu số (tổng TS) được hình thành do cả người cho vay vàngười sở hữu, nên tử số cũng phải bao gồm thu nhập của cả hai

Đây là bốn nhóm chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu trong quá trìnhPTTC DN, thông qua chúng người ta có thể đánh giá cơ bản về tình hìnhtài chính của một DN Việc tính toán các chỉ tiêu và tỷ lệ trên trong mộtchuỗi thời gian liên tiếp cho ta thấy được quá trình phát triển của DN.Thông qua việc đánh giá, nhận xét (chủ yếu là qua so sánh giữa các thời kỳvới nhau) ta có thể tìm ra nguyên nhân và giải pháp hữu hiệu nhất cho DN

Trang 32

Chương 2 Thực trạng hoạt động kinh doanh và phân tích tài chính của công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

2.1 Khái quát về Công ty TNHH Thượng mại Minh Hiển

2.1.1Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

Công ty TNHH Thượng mại Minh Hiển tên giao dịch quốc tế:

Minh Hien trading Limited company

Viết vắn tắt: Minh Hien trading Co, Ltd

Trụ sở: 50/218 Tây Sơn Đống Đa Hà Nội

Trong hoàn cảnh đó, ngày 8/4/2000 Công ty TNHH Thương mạiMinh Hiển đã thành lập do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp giấy phépđăng ký kinh doanh số 0102012018

Trải qua 5 năm tồn tại và phát triển, bước đầu đã có một số kết quảnhất định Công ty đã có một đội ngũ nhân viên được trang bị ít nhiều kiếnthức thực tế, có một quỹ hàng hóa và cơ sở vật chất nhất định Năm nămqua, Công ty không ngừng lớn mạnh đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường,

Trang 33

tăng trưởng bình quân đạt trên 5%/năm Đó là kết quả đáng khích lệ đốivới một công ty còn non trẻ như Minh Hiến.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH thương mại MINH HIỂN

Cơ cấu tổ chức của công ty được phản ánh theo sơ đồ sau:

Mỗi phòng ban là một bộ phận cấu thành của Công ty, được thành lập theoquyết định của Giám đốc

 Ban giám đốc điều hành

Ban giám đốc điều hành có nhiệm vụ quản lý tất cả mọi hoạt độngcủa phòng ban Giám đốc là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọihoạt động của Công ty

 Phó giám đốc

Phó giám đốc là người giúp giám đốc trong việc điều hành nhữnglĩnh vực của công ty theo sự phân công và ủy quyền của giám đốc, chịutrách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực được giao phó

Trang 34

 Kế toán trưởng

Kế toán trưởng giúp giám đốc điều hành, chỉ đạo tổ chức thực hiệncông tác hạch toán kế toán ở công ty, có trách nhiệm tham mưu cho Giámđốc về vấn đề tài chính và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vựcđược giao phó

 Phòng hành chính tổng hợp

-Bộ phận quản lý lao động

Đây là bộ phận nắm toàn bộ tình hình nhân lực của công ty Bộ phậnnày có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc, sắp xếp tổ chức bộ máy, lựclượng lao động trong mỗi phòng ban sao cho phù hợp, đạt hiệu quả Đồngthời phải xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn, ngắn hạn; đào tạo nguồnnhân lực cho công ty, đưa ra chính sách, chế độ về lao động và lương củacán bộ và nhân viên trong công ty, tuyển dụng và điều tiết lao động sao chophù hợp với tình hình kinh doanh

-Bộ phận hành chính

Nhiệm vụ chính của bộ phận này là: Quản lý, lưu trữ con dấu, các tàiliệu văn bản của công ty, đồng thời lập kế hoạch mua sắm và quản lý tàisản của công ty, thực hiện các công tác lễ tân trong công ty

Trang 35

Đồng thời cuối kỳ lập các loại báo cáo tài chính trình Giấm đốc, cơ quanchức năng.

Sản phẩm của công ty đa dạng về mẫu mã, chủng loại bao gồm:

- Thiết bị lọc nước tinh khiết R.O gia đình

- Hệ thống lọc nước tinh khiết đóng chai

- Máy lọc đun nước tự động ba chức năng

- Máy nóng – lạnh nước

- Máy tạo khí ozonĐặc điểm sản phẩm là các thiết bị lọc nước giúp cải thiện nguồnnước sinh hoạt nâng cao chất lượng nguồn nước nhằm nâng cao chất lượngcuộc sống Các sản phẩm của công ty được sự kiểm định của bộ Y tế Theoquyết định số 474 và 752 ngày 22/12/2004 của Bộ Y tế, Viện Y học laođộng và vệ sinh môi trường kết luận: “Nước sau khi qua máy lọc R.O củacông ty Minh Hiển cung cấp đạt tiêu chuẩn về diện vi sinh và hóa lý, theoquyết định số1329/BYT/QĐ ngày 18.4.2002 đối với nước ăn uống.”

Ngày đăng: 12/04/2013, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu với tài sản - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ân đối giữa vốn chủ sở hữu với tài sản (Trang 8)
Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với TS - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với TS (Trang 10)
Bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng ph ân tích nhu cầu và khả năng thanh toán (Trang 24)
Bảng cân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với tài sản - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ân đối giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay trong hạn với tài sản (Trang 37)
Bảng cân đối giữa vốn chủ và tài sản - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ân đối giữa vốn chủ và tài sản (Trang 37)
Bảng khoản nợ phải trả - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng kho ản nợ phải trả (Trang 40)
Bảng cơ cấu TSDH - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ơ cấu TSDH (Trang 41)
Bảng cơ cấu nợ phải trả - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng c ơ cấu nợ phải trả (Trang 42)
Bảng nợ phải trả - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng n ợ phải trả (Trang 44)
Bảng nợ phải trả - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng n ợ phải trả (Trang 46)
Bảng tình hình vay và nợ phải trả của công ty - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng t ình hình vay và nợ phải trả của công ty (Trang 47)
Bảng nợ ngắn hạn - Hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH thương mại MINH HIỂN
Bảng n ợ ngắn hạn (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w