1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả thu thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá

65 584 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả thu thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Phạm Văn Nam
Người hướng dẫn TH.S. Phan Hữu Nghị
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính công
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phố Bỉm Sơn
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 285 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuế ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của bộ máy Nhà Nước, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nước chỉ có thể và cần phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại HọcKinh Tế Quốc Dân, sự giúp đỡ tận tình của TH.S Phan Hữu Nghị- Giáo viên hướng dẫn đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cô, chú tại Chi cục thuế Thị Xã Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá đã giúp em trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề này.

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Thuế ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của bộ máy NhàNước, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nước chỉ có thể

và cần phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa

vụ đóng góp một phần sản phẩm, một phần thu nhập cho Nhà nước, hình thứcđóng góp đó chính là thuế Thuế là phạm trù lịch sử, là một tất yếu kháchquan, xuất phát từ nhu cầu quản lý và thực hiện chức năng của Nhà nước, thuếđược sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế quan trọng nhằm huy độngnguồn lực cho Nhà nước, góp phần điều chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập xãhội Thuế có nhiều loại, trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế phổbiến và có vai trò ngày càng quan trọng đối với nguồn thu của Nhà nước vànền kinh tế-xã hội

Mặt khác trong quá trình học tập, thực tập và nghiên cứu em ngày càngnhận thấy vai trò của thuế nói chung, của thuế GTGT nói riêng đối với sự pháttriển của đất nước Làm thế nào để việc thu thuế đạt hiệu quả cao, giúp thuếthúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội… Vì vậy em quyết định chọn chuyên đề:

“ Hiệu quả thu thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá”.

Chuyên đề nhằm so sánh về mặt lý thuyết của thuế GTGT với khi áp dụngvào thực tế, giúp hiểu sâu hơn về thuế GTGT, mặt khác so sánh được thựctrạng thu thuế GTGT của Chi Cục thuế Bỉm Sơn

Kết cấu chuyên đề, ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 phần chính:

Chương I Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng(GTGT).

Chương II Thực trạng thu thuế GTGT tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn Chương III Định hướng, giải pháp và một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả thu thuế GTGT tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn.

Trang 3

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

(GTGT)

1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế

1.1.1 Khái niệm về thuế

Ngay từ khi Nhà nước ra đời thì thuế cũng xuất hiện, thuế là “sảnphẩm” tất yếu từ sự xuất hiện của hệ thống bộ máy Nhà nước Ngược lại thuế

là công cụ đảm bảo cung cấp phương tiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại vàhoạt động của bộ máy Nhà nước Từ đó đến nay thuế đã trải qua quá trìnhhoàn thiện và phát triển lâu dài, đồng thời cũng có nhiều khái niệm về thuếtrên các góc độ khác nhau:

Các nhà kinh điển cho rằng “thuế là cái mà Nhà nước thu của dânnhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó đượclấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuếđược lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”

Hiện nay trong một số tài liệu, các tác giả viết: Thuế là khoản đóng góptheo quy định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức cá nhân phải

có nghĩa vụ nộp vào cho ngân sách Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm của thuế

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về thuế, nhưng các khái niệm nàychưa thể hiện hết bản chất kinh tế của thuế Để tìm hiểu rõ hơn về thuế cầnphải tìm hiểu về những đặc điểm của thuế:

Thứ nhất, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.

Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia

Trang 4

những nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và của mỗi công dân choNhà nước Việc thực hiện nghĩa vụ thuế theo pháp luật quy định phù hợp vớithu nhập, mức sống của người dân Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữathuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho ngân sách Nhà nước.

Thứ hai, thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.

Khác với các hoản vay, Nhà nước thu thuế từ các tổ chức, cá nhân nhưngkhông phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau một khoảng thời gianvới một khoản tiền mà họ đã nộp vào ngân sách Nhà nước Số tiền thuế thuđược, Nhà nước sẽ sử dụng vào các chi tiêu công cộng, đầu tư… phục vụ chonhu cầu của Nhà nước và của người dân Mọi người đều bình đẳng trong việc

sử dụng các dịch vụ công cộng

1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của thuế GTGT

Giá trị gia tăng là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinhtrong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Theo quan niệm của C.Mác, giá trị của hàng hoá, dịch vụ là: c+v+m, trong đó c là lao động quá khứ được chuyển vào sản phẩm, còn v+m là phần

giá trị mới sáng tạo ra, đó chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch

vụ Mỗi sản phẩm hàng hoá nếu không đi vào tiêu dùng sẽ đi vào quá trìnhsản xuất tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị

Thuế ra đời và phát triển cùng với Nhà nước nên khi nền sản xuất hànghoá phát triển, năng suất lao động tăng, việc chi tiêu của Nhà nước ngày càngnhiều, Nhà nước không ngừng cải tiến và bổ xung các loại thuế để tăng thêmnguồn thu cho mình Vào đầu những năm 1950 một người Đức tên là CARL FRIEDRICH VON SIMENS đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho

thuế Doanh thu Đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng

Trang 5

hoá, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Tuynhiên vào lúc này SIMENS chưa có những lý luận thuyết phục nên chưa được chính phủ Đức áp dụng.

Trên thực tế thuế GTGT được áp dụng đầu tiên tại Cộng hoà Pháp ngày1/7/1954 Vì nước Pháp có nền công nghiệp phát triển, chính phủ Pháp lạiquan tâm đến việc đổi mới về tài chính, đặc biệt là thuế gián thu Đầu tiên chỉ

áp dụng ở một số ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt, vào năm 1968 thuế GTGTđược áp dụng rộng rãi cho mọi nghành nghề, mọi lĩnh vực

Nhờ có những ưu điểm hơn thuế Doanh thu hay thuế bán hàng nên thuếGTGT được áp dụng rộng rãi trên thế giới Với điều kiện kinh tế- xã hội củatừng nước khác nhau nên việc áp dụng thuế GTGT ở từng quốc gia cũng khácnhau như đối tượng chịu thuế, mức thuế suất…

Ở Việt Nam việc áp dụng thuế GTGT vào năm 1999 ngoài mục đíchnhư nâng cao doanh thu cho ngân sách Nhà nước, từng bước hội nhập vớichính sách thuế của quốc tế, còn vươn tới việc cải cách hệ thống thuế khoáthích hợp cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh

tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.3 Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT

1.3.1 Khái niệm: Thuế GTGT là loại thuế được tính trên phần giá trị tăng

thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thôngđến tiêu dùng

Do thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đốitượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có giátrị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp là do người mua hànghoá, dịch vụ phải thanh toán Vì vậy thuế GTGT là thuế gián thu

Trang 6

1.3.2 Đặc điểm của thuế GTGT.

Thuế GTGT có phạm vi thu thuế rất rộng, đối tượng nộp thuế là toàn bộcác cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh Thuế GTGT được thu đối với cácsản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong nước, kể cả hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiêntuỳ theo quy định của từng nước mà có những hàng hoá, dịch vụ không phảichịu thuế GTGT

Thuế GTGT là thuế gián thu Các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá,dịch vụ thu thuế hộ cho nhà nước thông qua việc bán các loại hàng hoá, dịch

vụ này và thuế GTGT ẩn trong giá thanh toán, họ sẽ nộp vào Nhà nước thaycho người tiêu dùng

Thuế GTGT không đánh vào đầu tư vì thuế nằm vào giá trị tài sản cốđịnh và giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Người mua phải trả thêm tiềnthuế GTGT và tiền thuế này sẽ được tách riêng để khấu trừ khi tính thuếGTGT phải nộp ở giai đoạn sau

Thuế GTGT được tính dựa trên giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụchứ không căn cứ vào hình thái hiện vật, cũng như công dụng của chúng

Tổng số thuế phải nộp không thay đổi cho dù sản phẩm có trải qua baonhiêu giai đoạn

Tổng thuế GTGT phải = Thuế x Giá mua của người

nộp của 1 sản phẩm suất tiêu dùng cuối cùng

Thuế GTGT là loại thuế mang tính trung lập cao Thuế GTGT thườngkhông tác động lớn đến mục tiêu khuyến khích hay hạn chế việc sản xuất kinhdoanh, cung cấp, sử dụng… hay việc điều tiết thu nhập cá nhân, tổ chức Vìthế thuế GTGT thường có ít mức thuế thuế suất, ít đối tượng được miễn giảmthuế, đảm bảo việc rõ ràng dễ thực hiện

Trang 7

GTGT của hàng hoá, dịch vụ phát sinh là căn cứ để tính số thuế GTGTphải nộp Cần phải xác định chính xác phần GTGT phát sinh ở từng khâu,mỗi giai đoạn sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụđến tiêu dùng.

Thuế suất thuế GTGT căn cứ vào loại hàng hoá, dịch vụ chứ không phânbiệt ngành nghề và giá trị sử dụng của hàng hoá, dịch vụ

1.4 Vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường

1.4.1 Thuế GTGT là nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước

Từ khi Nhà nước ra đời, để tồn tại và phát triển thì Nhà nước cần phải

có một nguồn thu ổn định và không ngừng tăng lên để đáp ứng được nhu cầuchi tiêu của nhà nước Trong các khoản thu đóng góp cho ngân sách Nhànước thì thuế là khoản đóng góp chiếm tỷ trọng nhiều nhất (Thuế, phí và lệphí ở nước ta chiếm trên 90% trong tổng thu cho ngân sách Nhà nước) Trongcác khoản thu từ các loại thuế thì thu từ thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn nhất,

và thu từ thuế GTGT không ngừng được tăng lên là nguồn thu quan trọng chongân sách Nhà nước

1.4.2 Thuế GTGT tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà Nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ

mô bằng các định hướng, chính sách… Thuế cũng là một công cụ để NhàNước điều tiết nền kinh tế, trong đó chính sách về thuế GTGT có vai trò rấtquan trọng Nhà nước có thể dùng thuế GTGT để khuyến khích hay hạn chếnghành nghề, lĩnh vực phát triển, bằng việc ban hành các luật thuế, hệ thốngthuế, với mức thuế xuất cao, hoặc thấp đối với lĩnh vực, sản phẩm cụ thể.Thông qua đó mà tác động làm thay đổi cung cầu trên thị trường, để điều tiết

vĩ mô đảm bảo ổn định trong nền kinh tế

Trang 8

1.4.3 Thuế GTGT là công cụ để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh

Để thu được thuế và thực hiện đúng các luật về thuế đã ban hành, cơquan thuế và các cơ quan liên quan phải nắm được quy mô, số lượng , nghànhnghề kinh doanh, lĩnh vực…để việc thu thuế đạt hiệu quả Từ đó các cơ quancũng sẽ phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, những khó khăn mà họđang gặp phải để có những biện pháp giúp đỡ Như vậy, qua công tác quản lýthu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt độngtại cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sốngkinh tế-xã hội

1.5 Điều kiện áp dụng thuế GTGT và áp dụng ở nước ta

1.5.1 Điều kiện áp dụng thuế GTGT.

Thuế GTGT là một loại thuế tiên tiến, nghiên cứu về thuế GTGT cho tathấy cần phải có môi trường và điều kiện thuận lợi mới có thể áp dụng thànhcông luật thuế này

Những điều kiện đó bao gồm:

* Nền kinh tế phát triển ổn định

Theo các nhà kinh tế thì thuế GTGT là sắc thuế của nền kinh tế pháttriển ổn định, ở đó có giá cả hàng hoá thường ổn định Khi đó thuế đầu rathường lớn hơn đầu vào:

Thuế GTGT = Thuế GTGT - Thuế GTGT

Phải nộp đầu ra đầu vào

Nên thuế GTGT phải nộp thường dương, trường hợp phải hoàn thuế là rất ít

* Nhà nước phải thực sự quản lý nền kinh tế bằng pháp luật

Trang 9

Trong nền kinh tế thị trường vai trò quản lý nền kinh tế của Nhà nước

là hết sức quan trọng, trong đó việc thu thuế và quản lý thu thuế của Nhànước có tác động qua lại với nhau Việc áp dụng thuế GTGT làm cho cáckhâu trong nền kinh tế có liên quan chặt chẽ với nhau, nếu Nhà nước khôngquản lý được nền kinh tế thì không những thu ít thuế đi, không thu được thuế,còn có thể bị mất thuế do phải hoàn thuế ở những khâu trước đó

* Việc ghi sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ phải thực hiện thống nhất tạicác cơ sở sản xuất kinh doanh

Mặc dù còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanhnghiệp nhưng các doanh ghiệp phải bình đẳng trước pháp luật, phải có hệthống tài khoản, hoá đơn chứng thống nhất… Điều đó cần phải được thựchiện thông qua vai trò điều tiết nền kinh tế thị trường của Nhà nước để choviệc quản lý và thu thuế GTGT được thực hiện hiệu quả và dễ dàng hơn

* Quan hệ thanh toán trong nền kinh tế phải được phát triển

Khi nền kinh tế phát triển thì bên cạnh đó các quan hệ thanh toán cũngphát triển hiện đại hơn như: Thanh toán bằng thẻ, bằng séc, giấy nhận nợ…,

và việc thanh toán này chủ yếu thông qua các trung gian tài chính như: Ngânhàng, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng… Thông qua đó Nhà nước có thể kiểmtra, giám sát được tất cả các hoạt động trong nền kinh tế Cơ quan thuế cũngnhờ đó mà kiểm tra được việc kê khai, tính và nộp thuế GTGT của các tổchức, cá nhân trong nền kinh tế

* Cán bộ quản lý, thu thuế phải được nâng cao đủ trình độ và năng lực đểthực hiện các quy trình, kĩ thuật, quản lý thu thuế đúng theo quy định của NhàNước Phải có sự hỗ trợ về trình độ công nghệ hiện đại vào công tác quản lý,thu nộp thuế để việc thu, nộp thuế diễn ra nhanh chóng, hiệu quả

Trang 10

Bên cạnh đó việc áp dụng thuế GTGT cũng cần có các điều kiện nữanhư: Các cơ sở sản xuất kinh doanh phải có ý thức chấp hành pháp luật về kêkhai, tự nộp thuế; Phải nâng cao trình độ hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụcủa người dân…

1.5.2 Áp dụng thuế GTGT vào Việt Nam

Thuế GTGT được đưa vào áp dụng ở Việt Nam 1999 đó là rất cần thiết,

là đúng đắn.Thuế GTGT là loại thuế tiến bộ, đã được thực tế ở nhiều nướcchứng minh

Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng thì nhu cầu chi tiêu của nhà nướccũng không ngừng tăng lên, Nhà nước ta cũng vậy cũng cần những khoản tiềnlớn, lâu dài để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Vì vậy làmthế nào để tăng thu cho ngân sách Nhà nước nhưng ngược lại vẫn phải thúcđẩy kinh tế phát triển, để hội nhập với nền kinh tế của thế giới Việc đưa thuếGTGT vào áp dụng ở nước ta là một trong những giải pháp quan trọng , đúngđắn của Nhà nước

Nền kinh tế nước ta đang từng bước phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăngtrưởng kinh tế bình quân cao và ổn định nên việc áp dụng thuế GTGT là hoàntoàn có thể thực hiện được Hệ thống luật pháp ngày càng hoàn thiện hơn, cónhiều chính sách tiến bộ theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế Hệ thống sổsách, văn bản, chứng từ ngày càng thống nhất và hoàn thiện hơn làm cho việcquản lý thuế dễ dàng hơn, có hiệu quả Bên cạnh đó các quan hệ thanh toánngày càng hiện đại, việc quản lý, thu nộp thuế dễ dàng hơn; Các cán bộ đượcđào tạo bài bản, đầy đủ năng lực trình độ, đạo đức…

Vì vậy Việc áp dụng thuế GTGT vào Việt Nam ngoài mục đích từngbước hoà nhập với chính sách thuế của các nước trong khu vực và thế giới,

Trang 11

còn vươn tới việc cải cách hệ thông thuế phù hợp điều kiện phát triển của nềnkinh tế thị trường.

1.6 Ưu và nhược điểm của thuế GTGT so với thuế doanh thu

1.6.1 Ưu điểm của thuế GTGT so với thuế doanh thu

Thuế GTGT có ưu điểm hơn thuế doanh thu là không thu trùng lắp nên

nó đã góp phần khuyến khích chuyên môn hoá sản xuất, hợp tác hoá để nângcao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốnphù hợp với định hướng phát triển của nước ta trong thời gian tới

Thuế GTGT góp phần khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu hàng hoá, vìhàng xuất khẩu không những phải chiụ thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà cònđược thoái trả toàn bộ số thuế GTGT đã thu ở khâu trước

Thuế GTGT được thu tập trung ngay ở khâu đầu tiên là khâu sản xuấthoặc nhập khẩu hàng hoá và ở mỗi khâu đều có thể kiểm tra được việc thunộp thuế ở khâu trước, nên hạn chế được thất thu thuế hơn so với thuế doanhthu

Thuế GTGT được thực hiện một cách chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứvào hoá đơn mua hàng để khấu trừ số thuế phải nộp ở khâu trước Nếu không

có hoá đơn mua hàng ghi rõ số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước thì khôngđược khấu trừ thuế Vì vậy thuế GTGT khuyến khích các cơ sở sản xuất kinhdoanh khi mua hàng phải sử dụng hoá đơn, khi bán hàng phải có hoá đơn theoquy định Thuế GTGT góp phần hạn chế các sai sót, gian lận trong việc ghichép hoá đơn (như ghi nhiều hơn hay ít hơn so với thực trả hoặc thực thu)

Thuế GTGT góp phần giúp Việt Nam hội nhập với thế giới Hiện nau

Trang 12

APEC (diễn đàn hợp tác Châu Á-Thái bình dương) Tiến tới Việt Nam sẽ gianhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Một trong những những yêu cầuđầu tiên và quan trọng nhất trong việc hội nhập với các tổ chức này là việc hạthấp hàng rào thuế quan Thuế GTGT áp dụng ở khâu nhập khẩu sẽ là hàngrào bảo hộ sản xuất trong nước và duy trì nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

1.6.2 Nhược điểm của thuế GTGT

Thuế GTGT được đánh giá là “Một sắc thuế tiến bộ nhất” Tuy vậythuế GTGT vẫn còn tồn tại một số nhược điểm

Phương pháp tính thuế GTGT phức tạp hơn nhiều so với các cách tínhthuế trước đây

Thuế GTGT có yêu cầu cao hơn về số liệu, hạch toán kế toán hoá đơn

và luân chuyển hoá đơn chứng từ, cũng như trình độ nhận thức của mọi đốitượng có liên quan Vì vậy đòi hỏi việc quản lý phải được thực hiện một cáchtốt hơn Những hàng hoá đang áp dụng mức thuế suất cao nay chuyển sang ápdụng mức thuế suất thấp có thể sẽ giảm thu cho ngân sách Nhà nước, ngượclại những hàng hoá chịu mức thuế suất thấp khi chuyển lên mức thuế cao sẽgặp khó khăn

1.7 Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT ở Việt Nam

1.7.1 Đối tượng chịu thuế GTGT

Là hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam không kể là hàng hoá, dịch

vụ được sản xuất, cung ứng từ trong nước hay nhập khẩu, trừ các nhóm hàngkhông thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định của pháp luật

1.7.2 Đối tượng nộp thuế

Là tất cả các tổ chức, các nhân có hoạt động tổ chức kinh doanh hànghoá, dịch vụ chịu thuế trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, tổ

Trang 13

chức, hình thức kinh doanh và mọi tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hànghoá chịu thuế GTGT.

Số thuế GTGT = Thuế GTGT - Thuế GTGT đầu vào

phải nộp đầu ra được khấu trừ

Thuế GTGT = Giá tính thuế hàng hoá, x TS thuế GTGT hànghoá,

đầu ra dịch vụ chịu thuế bán ra dịch vụ đó bán ra

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ

Trang 14

vụ bán ra Khi lập hoá đơn cơ sở sản xuất kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa

có thuế GTGT, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Nếutrường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán thì thuế GTGT phải tính trên giáthanh toán ghi trên hoá đơn chứng từ

Thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn mua hàng của hànghoá, dịch vụ mà cơ sở đó mua vào hoặc có chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoánhập khẩu

* Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT

Phương pháp tính thuế:

Thuế GTGT = Giá trị gia tăng của hàng x Thuế suất thuế Phải nộp hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tương ứng GTGT của hàng = Doanh số của hàng - Giá vốn của hàng hoá, dịch vụ hoá, dịch vụ bán ra hoá, dịch vụ bán raGiá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là số tiền bên mua phải thanhtoán cho bên bán, gồm cả thuế GTGT và các khoản khác mà bên mua phảichịu

Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào là giá trị của hàng hoá, dịch

vụ mà cơ sở sản xuất kinh doanh đã dùng vào sản xuất kinh doanh chịu thuếGTGT bán ra trong kỳ

1.8 Quản lý thu thuế GTGT ở Việt Nam

1.8.1 Đăng kí thuế

Tất cả các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo quyđịnh của luật thuế GTGT, kể cả các đơn vị kinh doanh thuộc cơ sở chính đềuphải thực hiện việc kê khai nộp thuế theo quy định của luật thuế GTGT

Trang 15

Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng kí nộp thuế chậm nhất là 10ngày kể từ ngày cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy phép kinh doanh Trường hợpchưa có giấy đăng kí kinh doanh nhưng đã có hoạt động kinh doanh cơ sởphải đăng kí nộp thuế trước khi kinh doanh.

Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuếtrực tiếp trên GTGT, nếu thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định thì sẽđược chuyển sang tính thuế theo phương pháp khấu trừ

Về việc cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế: Các cơ sơ kinh doanh đãthực hiện đăng kí nộp thuế với cơ quan thuế có trách nhiệm cấp mã số thuế vàgiấy chứng nhận đăng kí thuế

1.8.2 Kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế GTGT

1.8.2.1 Kê khai thuế GTGT

Các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải lập và gửi cho cơ quan thuế tờ khai tính thuế GTGT từng tháng kèm theo bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra theo mẫu quy định Thời gian gửi tờ khai của tháng cho cơ quan thuế chậm nhất là trong mười ngày đầu tháng tiếp theo

Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ khai thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai Trường hợp cơ sở kinh doanh đã gửi tờ khai cho

cơ quan thuế, sau đó phát hiện có sự sai sót về số liệu kê khai trước thời hạn nộp thuế, cơ sở phải thông báo cho cơ quan thuế biết đồng thời lập lại tờ khai thay cho tờ khai không đúng Trường hợp phát hiện sai sót sau thời hạn nộp thuế thì cơ sở điều chỉnh vào tờ khai của tháng tiếp sau

Thời điểm để xác định doanh thu tính thuế GTGT phát sinh là thời điểm

cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sử dụng (đối

Trang 16

với trường hợp bán theo hình thức trả góp) hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho người mua, không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa trả tiền.

1.8.2.2 Nộp thuế GTGT

Đối tượng nộp thuế GTGT có trách nhiệm nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhà nước

Trình tự, thủ tục nộp thuế thực hiện như sau:

Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sau khi nộp

tờ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan Thuế phải nộp thuế giá trị gia tăng vào ngân sách Nhà nước Thời hạn nộp thuế của tháng chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo

Đối với cơ sở kinh doanh có mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng làm thủ tục nộp thuế bằng giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước, thời gian nộp thuế vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày ngân hàng nhận và làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản của cơ sở vào ngân sách Nhà nước, được ngân hàng ghi trên giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế bằng tiền mặt, thời gian nộp thuế vào ngân sách Nhà nước là ngày cơ quan kho bạc hoặc cơ quan thuế nhận tiền thuế

Trường hợp cơ sở kinh doanh có thuế giá trị gia tăng phát sinh lớn, ổn định từ 200 triệu đồng/tháng trở lên nộp thuế theo định kỳ 5, 10 ngày một lần trong tháng Khi kê khai số thuế phải nộp của tháng, nếu số thuế đã tạm nộp còn thiếu cơ sở phải nộp tiếp số thuế còn thiếu vào ngân sách Nhà nước, thời gian nộp thuế còn thiếu chậm nhất là ngày 25 của tháng tiếp sau Kỳ nộp thuế

do cơ quan thuế xác định và thông báo cho cơ sở thực hiện

Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế GTGT còn thiếu vào NSNN sau

10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán thuế, nếu nộp thừa được trừ vào số

Trang 17

phải nộp của kỳ tiếp sau, hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thuộc trường hợp và đối tượng được hoàn thuế.

Tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp có kê khai thực hiện nộp thuế theo thông báo thuế của cơ quan thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp sau Đối với cá nhân, hộ kinh doanh nộp thuế theo mức khoán ổn định thì thời gian nộpthuế chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng phải nộp

Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu hàng hóa phải nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu Thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu thực hiện theo thời hạn thông báo nộp thuế nhập khẩu

Đối với hàng hóa không phải nộp thuế nhập khẩu hoặc có thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0% thì thời hạn phải kê khai, nộp thuế GTGT thực hiện như quy định đối với hàng hoá phải nộp thuế nhập khẩu

Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc diện không phải nộp thuế GTGT khi nhập khẩu như: nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu, quà biếu, quà tặng, hàng viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại nếuđem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác phải kê khai, nộp thuế GTGT với

cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở như quy định đối với hàng hoá do cơ sở kinh doanh

Cơ sở kinh doanh cố định mua, bán, vận chuyển hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện đúng chế độ về hóa đơn chứng từ, nếu không có đủ chứng từ theo quy định, thì sẽ bị xử lý vi phạm về hoá đơn, chứng từ, xử lý vi phạm hành chính về thuế hoặc bị tịch thu hàng hoá (đối với hàng hoá là hàng nhập khẩu không có hoá đơn, chứng từ hợp pháp) theo quy định của pháp luật

Trang 18

Khi nộp thuế, cơ sở kinh doanh được cơ quan thuế hoặc cơ quan kho bạc Nhà nước cấp biên lai thu thuế hoặc chứng từ xác nhận việc đã thu thuế cho người nộp thuế bằng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính thống nhất phát hành Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra các cơ sở kinh doanh thực hiện chế độ sổ sách, ghi chép kế toán hạch toán rõ ràng số thuế GTGT trên hóa đơnchứng từ để làm căn cứ tính số thuế GTGT phải nộp và số thuế GTGT được khấu trừ.

Trong một kỳ tính thuế, nếu cơ sở kinh doanh có số thuế nộp thừa kỳ trước được trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, nếu kỳ trước nộp thiếu thì phải nộp đủ số thuế kỳ trước còn thiếu

Đối với các cơ sở nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi chuyển trụ sở nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc nộp thừa thuế thì được khấu trừ hoặc bù trừ khi kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế trực tiếp quản lý tại địa phương nơi cơ sở chuyển đến Cơ sở kinh doanh phải lập bản tổng hợp về số thuế phát sinh, số thuế đã nộp, số thuế nộp thừa gửi cục thuế xác nhận làm căn cứ kê khai tính thuế, nộp thuế với cơ quan thuế nơi cơ

sở kinh doanh chuyển đến

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nếu trong kỳ tính thuế có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp đầu ra thì được kết chuyển số thuế đầu vào chưa khấu trừ hết vào kỳ tính thuế tiếp theo Trong các trường hợp cơ sở kinh doanh đầu tư mới tài sản cố định có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo quy định

1.8.2.3 Quyết toán thuế GTGT

Các cơ sở kinh doanh (trừ hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức

ấn định) phải thực hiện lập và gửi quyết toán thuế GTGT hàng năm cho cơ

Trang 19

quan thuế Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng các chỉ tiêu và số liệu theo mẫu quyết toán thuế.

Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch Trường hợp cơ sở kinh doanh được áp dụng quyết toán tài chính khác với năm dương lịch thì vẫn phải quyết toán thuế GTGT theo năm dương lịch Thời hạn cơ sở kinh doanh phải nộp quyết toán cho cơ quan thuế chậm nhất không quá 60 ngày, kể

từ ngày 31 tháng 12 của năm quyết toán thuế

Cơ sở kinh doanh sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước cơ sở cũng phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày

kể từ ngày có quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước

Cơ sở kinh doanh phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của số liệu quyết toán thuế, nếu cơ sở kinh doanh báo cáo sai, để trốn, lậu thuế sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật

1.8.3 Hoàn thuế GTGT

* Các trường hợp được xét hoàn thuế GTGT

Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương phápkhấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:

Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên

độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết

Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có sốthuế GTGT đầu vào của hàng hoá xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa đượckhấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng

Trang 20

Cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng kí nộp thuế với cơ quan thuếnhưng chưa phát sinh thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trởlên thì sẽ được xét hoàn thuế vào cuối năm Nếu số thuế GTGT đầu vào lớn từ

200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế từng quí

Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sá nhập, hợp nhất, chia tách, giảithể, phá sản… có số thuế GTGT nộp thừa, số thuế GTGT đầu vào chưa đượckhấu trừ hết

Ngoài ra còn được xét hoàn thuế trong các trường hợp như: Cơ sở kinhdoanh được hoàn thuế theo quyết định của pháp luật; Đối với các dự án sửdụng vốn ODA…

* Thủ tục hoàn thuế

Các tổ chức, cá nhân thuộc diện chịu đựơc xét hoàn thuế phải gửi vănbản đề nghị, kèm hồ sơ hoàn thuế tới cơ quan quản lý thu thuế cơ sở Cơ quanthuế tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra xác định số thuế được hoàn và làm thủ tục hoànthuế lại cho cơ sở theo đúng quy định của pháp luật

1.8.4 Quản lý thu thuế GTGT tại các chi cục

Chi cục thuế trực thuộc Cục thuế, chịu sự quản lý trực tiếp của Cụcthuế, bên cạnh đó còn chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Việc quản lý thu thuế GTGT ở các Chi cục có vai trò rất quan trọng, nó lànguồn thu lớn trong tổng doanh thu của Chi cục Đối tượng nộp thuế chủ yếu

là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty tư nhân…), hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể với phươngthức nộp thuế theo cả hai phương pháp là phương pháp khấu trừ và phươngpháp ấn định thuế Vì vậy cần quản lý tốt đối tượng nộp thuế, tránh tình trạngthất thoát thuế, trốn thuế để nguồn thu luôn được đảm bảo và không ngừngtăng lên qua các năm

Trang 21

Đối với các doanh nghiệp, hộ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế,cần phải nắm chắc tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị, hướng dẫn đơn

vị mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển nguồn thu tạo điều kiện

để doanh nghiệp phát triển ổn định Lập kế hoạch kiểm tra tờ khai hàng tháng,

có kế hoạch thanh tra đối tượng nộp thuế, đôn đốc các đối tượng nộp thuếtheo đúng quy định, có biện pháp xử lý vi phạm khi cần thiết

Đối với các hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai trực tiếp trên doanhthu hay nộp thuế khoán cần phải thực hiện đúng quy trình quản lý, thườngxuyên kiểm tra, hướng dẫn các đối tượng nộp thuế thực hiện tốt chế độ ghichép sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ…

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC

THUẾ BỈM SƠN.

2.1 Đôi nét về Chi cục thuế Bỉm Sơn-Tỉnh thanh hoá

Trang 22

Cùng với sự ra đời của hệ thống thuế nhà nước theo nghị định số281/HĐBT ngày 7/8/1990của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ) về việcthành lập hệ thống thu thuế nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chính.

Chi cục thuế Bỉm Sơn được thành lập theo quyết định số 315/TCCBngày 21/8/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính trên cơ sở sáp nhập ba bộ phậnthu là Phòng thuế công thương nghiệp, tổ quản lý thu thuế các xí nghiệp quốcdoanh và tổ quản lý thu thuế SDĐNN, được tách ra từ Ban Tài Chính giá cảThị xã Bỉm Sơn và hoạt động trực thuộc ngành thuế theo hệ thống dọc từ TWxuống địa phương kể từ ngày 1/10/1990

Tên cơ sở: Chi cục thuế thị xã Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá.

Địa chỉ : 48 Trần phú-Phường Ba Đình-Thị xã Bỉm Sơn- Thanh Hóa.

Đội thuế Đội

thuế

Trang 23

Mỗi Tổ (Đội) có 01 Tổ trưởng (Đội trưởng) và các cán bộ dưới quyền.Ngoài ra còn có các hội đồng tư vấn thuế từ Thị xuống các Xã, Phường, mỗi

Xã, Phường có một cán bộ uỷ nhiệm thu và một số nghành được giao uỷnhiệm thu các loại phí, lệ phí

Chức năng, nhiệm vụ chính của chi cục thuế là quản lí thu thuế, phí, lệphí, và các khoản thu khác theo qui định của pháp luật Ngoài ra còn có cácchức năng nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Bảng 1: Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao qua các năm

Trang 24

2.2 Đánh giá công tác thu thuế năm 2005

Năm 2005 là một năm thành công trong việc thu ngân sách đối với Chicục thuế Bỉm Sơn

2.2.1 Kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách năm 2005

Thực hiện nhiệm vụ công tác thuế năm 2005, bên cạnh những thuận lợithì vẫn còn phát sinh nhiều khó khăn như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch cúm

Trang 25

gia cầm… ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống của nhân dân và ảnh hưởngtrực tiếp đến thu ngân sách Nhà nước.

Vượt lên trên những khó khăn, được sự lãnh đạo của Cục Thuế, Thị uỷ,HĐND, UBND Thị, sự phối hợp giúp đỡ có hiệu quả của các nghành các cấp,

sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp, hộ các thể, cá nhân… Chi cụcthuế Bỉm Sơn đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu NSNN năm 2005

Thực hiện quyết định số 1814 CT/TH-DT ngày 28/12/2004 của Cụcthuế Thanh Hoá giao dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2005 là 13.807triệu đồng, quyết định số 97 CT/TH-DT ngày 27/01/2005 của Cục thuế ThanhHoá giao dự toán phấn đấu thu ngân sách Nhà nước năm 2005 là 15.510 triệuđồng và quyết định số 37/2005/QĐ-UB ngày 26/01/2005 của UBND Thị xãBỉm Sơn giao dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2005 là 21.207 triệuđồng

Năm 2005 tổng thu ngân sách 16.911 triệu đồng, đạt 122,4% dự toánpháp lệnh, đạt 109% dự toán phấn đấu, đạt 79,7% dự toán Thị xã giao và bằng107% so với năm 2004 Cụ thể:

2.2.1.1 Về kết quả thu ngân sách các lĩnh vực kinh tế và các sắc thuế chủyếu

Có 6/8 lĩnh vực thu vượt chỉ tiêu được giao là, thuế công thương nghiệp(Ngoài quốc doanh) thu được 7.883 triệu đồng đạt 103% dự toán pháp lệnh,đạt 98% dự toán phấn đấu; Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu được 58 triệuđồng đạt 145% dự toán pháp lệnh, đạt 96% dự toán phấn đấu; Thu tiền cấpquyền sử dụng đất là 5.835 triệu đồng đạt 207% dự toán pháp lệnh, đạt 173%

dự toán phấn đấu; Tiền thuê đất thu 238 triệu đồng đạt 238% dự toán pháplệnh, đạt 198% dự toán phấn đấu; Thuế nhà đất thu 515 triệu đồng đạt 103%

Trang 26

dự toán pháp lệnh, đạt 103% dự toán phấn đấu; Phí, lệ phí thu 793 triệu đồngđạt 139% dự toán pháp lệnh, đạt 99% dự toán phấn đấu.

Có 2/8 lĩnh vực thu không hoàn thành dự toán là thuế chuyển quyền sửdụng đất thu 416 triệu đồng đạt 92% dự toán pháp lệnh, đạt 74% dự toán phấnđấu; Lệ phí trước bạ nhà đất, ô tô, xe máy thu 1.575 triệu đồng đạt 84% dựtoán pháp lệnh, đạt 69% dự toán phấn đấu

Nguyên nhân của việc không hoàn thành dự toán trong lĩnh vực thuếchuyển quyền sử dụng đất là do giá đất trên địa bàn trong năm qua có nhiềubiến động, các đối tượng nộp thuế tìm cách giảm thuế, trốn thuế nên việc quản

lý gặp rất nhiều khó khăn Việc thu từ lệ phí trước bạ nhà đất, ô tô, xe máycũng không đạt so với chỉ tiêu đề ra là do việc quản lý còn nhiều lỏng lẻo, cácđối tượng nộp thuế tìm cách trốn thuế

2.2.1.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu của các đơn vị thuộc Chi Cục

Chi cục có 5/5 Đội thuế thu hoàn thành dự toán pháp lệnh là, Đội Quản

lý doanh nghiệp và thu khác; Đội thuế phường Ngọc Trạo; Đội thuế phường

Ba Đình; Đội thuế phường Lam Sơn; Đội thuế chợ Bỉm Sơn

2.2.2 Đánh giá

2.2.2.1 Về công tác triển khai giao dự toán thu ngân sách Nhà nước

Chi cục lập dự toán thu ngân sách Nhà nước cho các đội thuế và các xã,phường Hàng quí Chi Cục giao chỉ tiêu thu thuế ccho các Đội thuế, các Độithuế lại giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cán bộ, hàng quí sơ kết đánh giá kết quảthực hiện từ đó có nhữg nhận kinh nghiệm cho các quí tiếp theo Từ những chỉtiêu được giao, Chi cục tổ chức phát động thi đua, cam kết phấn đấu hoànthành vượt mức chỉ tiêu được giao

2.2.2.2 Quản lý thu trên các lĩnh vực chủ yếu

Trang 27

Quản lý thu trên lĩnh vực doanh nghiệp và hợp tác xã:

Năm 2005 Chi cục quản lý 127 cơ sở kinh doanh, các cơ sở nộp thuếtheo phương pháp khấu trừ Có 85% đơn vị nộp tờ khai đúng hạn còn 15%đơn vị nộp tờ khai chậm Số đơn vị kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp thấphơn năm 2004 Số doanh nghiệp gửi báo cáo quyết toán tài chính, báo cáoquyết toán thuế năm 2004 đúng hạn đạt 87% còn 13% gửi báo cáo chậm, bêncạnh đó chất lượng báo cáo còn thấp, sai số liệu còn nhiều.Tờ khai thuếGTGT kê khai hàng tháng nộp đúng hạn đạt 95% còn không nộp đúng hạn đạt5%, các tờ khai còn nhiều điều chưa hợp lý, có dấu hiệu khai man, trốnthuế…

Quản lý thu trên lĩnh vực cá thể:

Hộ kinh doanh cá thể: 1.864 hộ

Trong đó: Hộ khấu trừ thuế: 29 hộ

Hộ kê khai trưc tiếp: 158 hộ

Hộ khoán thuế : 1.280 hộ

Hộ thu nhập thấp được miễn thuế GTGT-TNDN: 397 hộ

Năm 2005 Chi cục thuế đã chỉ đạo quản lý đối tượng kinh doanh thựchiện việc chống thất thu về thuế, xác định mức thuế khoán ổn định phù hợpvới thực tế, bình quân là 161.210 đ/hộ Trong đó thuế kháon bình quân là91.717 đ/hộ Riêng đối với kinh doanh vận tải thuế khoán bình quân là292.118 đ/hộ, đã hoàn thành phấn đấu dự toán đạt 103%

Về quản lý thuế môn bài: Thu được 575 triệu đồng, đạt 115% dự toán pháplệnh, đạt 108% dư toán phấn đấu, đạt 108% so với năm 2004 Về thuế GTGT,TNDN thu 7.182 triệu đồng, đạt 102 dự toán pháp lệnh, đạt 98% dự toán phấn

Trang 28

Về công tác nộp thuế.

Đội quản lý doanh nghiệp và thu khác đạt 99% số thuế ghi thu,đọng 1% Đội thuế phường Ngọc trạo thu đạt 97% số thuế ghi thu, đọng 3%

Đội thuế phường Lam sơn thu đạt 97% số thuế ghi thu, đọng 3%

Đội thuế phường Ba đình thu đạt 96% số thuế ghi thu, đọng 4%

Đội thuế chợ Bỉm sơn thu đạt 97% số thuế ghi thu, đọng 3%

Tỷ lệ thu đọng năm 2005 là 2,8%, số thu tồn đọng chủ yếu là các hộ kinhdoanh vận tải tư nhân

Các hộ nộp thuế khoán nhìn chung các hộ đều chấp hành nộp thuế đầy đủ.Các hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai trực tiếp trên doanh thu trên cơ sở

sử dụng hoá đơn bán hàng, đã hoàn thành đầy đủ, không có tình trạng nợ đọngthuế

Các khoản thu từ đất.

Thu tiền thuê đất thực hiện giá thuê đất theo quyết định

4307/2004/QĐ-UB ngày 30/12/2004 của 4307/2004/QĐ-UBND tỉnh, tiền thuê đất tăng cao nên cần phải phânloại của từng khu vực để việc thu từ đất được công bằng Chi cục tính lại đãthu 238 triệu đồng, đạt 2385 dự toán pháp lệnh, đạt 198% dự toán phấn đấu.Thuế nhà đất năm 2005 thu được 515 triệu đồng đạt 103 dự toán pháp lệnh,đạt 103% dự toán phấn đấu, thuế sử dụng đất nông nghiệp thu 58 triệu đồngđạt 145% dự toán pháp lệnh và đạt 96% dự toán phấn đấu

Các khoản thu phí, lệ phí và thu khác.

Lệ phí trước bạ nhà, đất, ô tô, xe máy, thu 1.575 triệu đồng đạt 84% dựtoán pháp lệnh, đạt 69% dự toán phấn đấu Năm 2005 do gia nhà đất có nhiềubiến động, việc mua, bán nhà chững lại và giảm đi nên dẫn đến số thu lệ phí

Trang 29

trước bạ nhà đất chỉ đạt 61% dự toán pháp lệnh, lệ phí trước bạ từ ô tô, xemáy cũng chỉ đạt 86% dự toán pháp lệnh.

2.2.2.3 Công tác chống thất thu ngân sách

Thực hiện công văn số 479UB-KTTC ngày 14/2/2005 của UBND Tỉnh

và các văn bản hướng dẫn thi hành của nghành Chi cục tham mưu cho UBNDThị tổ chức triển khai, phối hợp với các nghành công an, Quản lý thị trường

và các xã Phường tổ chức điều tra, khảo sát các hộ kinh doanh Thực hiện việctuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, sau một thời gian thì đã thực hiện việcquản lý đưa vào thêm 130 ô tô vận tải tư nhân, thu thuế môn bài là 50.000.000đồng, thuế GTGT và thu nhập doanh nghiệp quản lý thu thường xuyên 1tháng là 26.381.000 đồng, phạt hành chính là 2.800.000 đồng

Thực hiện chỉ thị số 15/2005/CT-TTg ngày 15/4/2005 của Thủ tướngChính Phủ, Chi cục đã rà soát, phân loại đối tượng nợ đọng, bên cạnh đó ápdụng nhiều biện pháp nghiệp vụ như đôn đốc, thông báo… đã thu nộp vàongân sách 245 triệu đồng tiền sử dụng đất

2.2.2.4 Công tác hoàn thuế GTGT

Thực hiện hoàn thuế đúng theo quy định, trong năm Chi cục đã đề gnhịcục thuế ch một đơn vị số thuế hoàn là 98 triệu đồng, sau khi Chi cục đã thựchiện việc kiểm tra đầy đủ

2.2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn khiếu nại

Công tác thanh tra quyết toán thuế:

Tổ chức kiểm tra quyết toán thuế: 72 cơ sở

Xử lý truy thu thuế và tiền phạt : 56 cơ sở

Tổng tiền thuế, tiền phạt: 344.582.000 đồng

Trang 30

Số thuế còn đọng: 7.200.000 đồng.

Công tác kiểm tra đơn nghỉ kinh doanh : 1.785 lượt hộ

Công tác kiểm tra đơn bỏ kinh doanh: 181 lượt hộ

Kết quả sử lý: Đơn nghỉ kinh doanh đưa vào ghi thu là 49 lượt hộ; Đơn bỏkinh doanh đưa vào quản lý là 23 lượt hộ

Thực hiện tốt chế độ về tiếp dân và giải quyết khiếu tố khiếu nại, tốcáo, trong năm đã tiếp nhận 8 đơn khiếu nại để xin giảm thuế, đã giải quyết 8đơn còn tồn đọng Qua đó Chi cục thuế đã chỉ đạo điều chỉnh lại thuế chođúng thực tế kinh doanh, đảm bảo công bằng xã hội

2.2.2.6 Công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế

Phối hợp với phòng vă hoá thông tin, đài phát thanh truyền hình xâydựng chuyên mục tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế Trong năm đãthực hiện được 15 cuộc phát sóng truyền hình, 55 lần phát trên đài truyền hìnhThị xã, phường

Hướng dẫn chính sách và thủ tục hành chính thuế cho các tổ chức cácnhân thông qua các hình thức trả lời trực tiếp, qua điện thoại, gưi công văn, tổchức tập huấn thời gian là 3 ngày cho 56 doanh nghiệp

Trong năm đã tổ chức 3 cuộc đối thoại với các doanh nghiệp, có 142lượt doanh nghiệp tham gia, nhìn chung các hội nghị đã đạt kết quả tốt, đượccác tổ chức, cá nhân tham gia nhiệt tình, đầy đủ Qua đối thoại nắm bắt đượcmột số vướng mắc của các doanh nghiệp, cá nhân từ đó có những kiến nghị,giải pháp tháo gỡ dần các vướng mắc, để tạo nên mối quan hệ ngày càng chặtchẽ giữa người nộp thuế với cơ quan thuế trong phát triển sản xuất kinh doanh

và thực hiện chính sách thuế của nhà nước

Trang 31

Hàng năm, vào cuối năm Chi cục tổ chức hội nghị tổng kết công tácthuế, tuyên dương đối tượng nộp thuế trên địa bàn đã có thành tích xuất sắc trong việc chấp hành chính sách thuế.

2.2.2.7 Công tác quản lý ấn chỉ thuế và công tác tin học

Đảm bảo cấp phát hoá đơn, ấn chỉ thuế đáp ứng nhu cầu sử dụng củacác đối tượng nộp thuế trên địa bàn, thủ tục mua hoá đơn, ấn chỉ được cải tiếncho nhanh chóng, gọn nhẹ cho người nộp thuế

Bên cạnh đó cũng tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý

sử dụng hoá đơn

Thực hiện đề án và chương trình ứng dụng của Tổng cục thuế nhằmphục vụ cải cách hành chính thuế và phục vụ công tác quản lý thu thuế, nângcấp ứng dụng quản lý thuế cấp Chi cục; Tổ chức cho cán bộ đi tập huấn tinhọc, phục vụ công tác quản lý thuế, đến nay có 29 cán bộ được đào tạo tinhọc cơ bản

Bên cạnh những mặt đã đạt được thì năm 2005 công tác quản lý thuế tại Chicục vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định:

Vẫn còn tình trạng nợ đọng thuế, thất thu thuế Thu tiền cấp quyền sửdụng đất cho các hộ hợp pháp hoá diện tích đất ở còn tồn đọng nhiều Những

hộ khoán thuế trong lĩnh vực kinh doanh vận tải còn nợ đọng kéo dài, chủ yếu

ở quý IV năm 2005 Việc phân loại các loại nợ đọng còn chưa được chú ýthường xuyên, đúng mức nên chưa đạt hiệu quả cao

Công tác triển khai thu thuế xây dựng nhà ở tư nhân chưa có hiệu quả,công tác quản lý thu thuế, khai thác tài ngyên trên địa bàn còn thấp so vớithực tế

Trang 32

Công tác kiểm tra tờ khai thuế để đánh giá chất lượng kế khai chỉ đạochưa tốt, nên một số doanh nghiệp tìm cách giảm thuế phải nộp hay thuế liêntục âm; Công tác quyết toán còn bỏ lọt, bỏ sót nguồn thu do các doanh nghiệpchưa nộp đủ các giấy từ cần thiết.

Công tác tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế tuy đã được quan tâmnhiều mặt nhưng vẫn còn một số mặt còn yếu, hình thức tuyên truyền còn ít,chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tượng nộp thuế

Ngoài ra chuyên môn của cán bộ thuế vẫn còn hạn chế, cần được đàotạo thêm

2.3 Thu thuế GTGT tại chi cục thuế Bỉm Sơn

Thu thuế GTGT trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn chủ yếu là thu thuế của cácdoanh nghiệp (các doanh nghiệp ngoài quốc doanh), các hộ kinh doanh cá thể,các hợp tác xã

Để việc quản lý thuế được thực hiện một cách nhất quán, đồng bộ, dễdàng cho cả đối tượng nộp thuế lẫn cơ quan quản lý thuế, tránh tình trạngphân tán, nhiều thủ tục chồng chéo nhau thì quy trình thu thuế đối với các đốitượng nộp thuế có vai trò rất quan trọng

2.3.1 Quy trình quản lý thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế Bỉm Sơn

2.3.1.1 Mục đích

Nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế, pháp lệnh thuế, đảm bảoviệc nộp thuế được đầy đủ, kịp thời Đồng thời cũng tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, bỏ bớt những thủ tụcphiền hà, gây trở ngại cho người nôp thuế Cải tiến thủ tục quản lý thuế, gắntrách nhiệm trực tiếp cho từng người, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng

cá nhân cũng như cả tập thể

Ngày đăng: 12/04/2013, 23:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng kết quả thu thuế GTGT tại Chi cục thuế Bỉm Sơn ta thấy số thuế GTGT của Chi cục khụng ngừng tăng lờn và ổn định qua cỏc năm, đặc biệt từ năm 2002-2005 thỡ tốc độ tăng thu thuế GTGT năm 2002- 2003 đạt lớn nhất với số tuyệt đối tăng là: 1622,8 triệ - Hiệu quả thu thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục thuế Bỉm Sơn- Tỉnh Thanh Hoá
ua bảng kết quả thu thuế GTGT tại Chi cục thuế Bỉm Sơn ta thấy số thuế GTGT của Chi cục khụng ngừng tăng lờn và ổn định qua cỏc năm, đặc biệt từ năm 2002-2005 thỡ tốc độ tăng thu thuế GTGT năm 2002- 2003 đạt lớn nhất với số tuyệt đối tăng là: 1622,8 triệ (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w