Như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, ñặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu.. Thành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Thị Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện ñề tài tốt nghiệp, ngoài sự
nỗ lực của bản thân tôi còn nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn ñồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Tôn Thất Sơn và TS Nguyễn Thị Mai ñã ñộng viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng Thuỷ sản, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
ñã góp ý và chỉ bảo ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh ñạo công ty Cổ phần Việt Pháp sản xuất thức ăn gia súc Proconco ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi thực hiện
ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
ðể hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận ñược sự ñộng viên khích lệ của những người thân trong gia ñình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý ñó
Tác giả
Trần Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
1.1.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc gạo 3
1.1.2 Khả năng thay thế ngô của thóc và gạo 6
1.3 ðặc ñiểm một số nguyên liệu thức ăn cho gia cầm 10
1.3.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng 10
1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm 16
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm 18
Chương 2 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2 Nôi dung và phương pháp nghiên cứu 23
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
2.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 24
2.2.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 25
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu trong thức
3.2 Công thức thức ăn thí nghiệm 32
3.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn 34
3.6 Lượng thức ăn thu nhận 41
3.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn 42
3.8 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái ñẻ 44
3.9 Khối lượng gà qua các giai ñoạn nuôi 45
3.10 Khối lượng trứng qua các giai ñoạn nuôi 49
3.11 Kết quả khảo sát trứng gà thí nghiệm 51
3.12 Hiệu quả sử dụng gạo xay trong giai ñoạn từ 22 - 38 tuần tuổi 53
Trang 76 DDGS : Distillers Dried Grains with Solubles
7 DXKN : Dẫn xuất không nitơ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo lật và ngô 41.2 Tành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo và cám mì 5
1.3 Thành phần axit amin của gạo lật và ngô hạt 5
1.4 Thành phần axit béo của ngô và gạo lật 6
1.5 Khẩu phần và năng suất chăn nuôi của gà broiler finisher nuôi bằng
3.1 Thành phần dinh dưỡng của các loại nguyên liệu sử dụng trong thức
3.2 Công thức thức ăn thí nghiệm 33
3.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 35
3.4 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổ 37
3.5 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 40
3.6 Lượng thức ăn thu nhận 41
3.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn 43
3.8 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm từ 22 – 38 tuần tuổi 45
3.9 Khối lượng gà mái qua các giai ñoạn nuôi (n=30) 47
3.10 Khối lượng trứng qua các tuần tuổi (n= 300) 50
3.11 Kết quả khảo sát trứng gà thí nghiệm (n = 50) 52
3.12 Hiệu quả sử dụng gạo xay trong giai ñoạn từ 22 – 38 tuần tuổi 54
Trang 9DANH MỤC SƠ ðỒ, HÌNH
Sơ ñồ 1.1: Tỷ lệ phụ phẩm của ngành xay xát thóc 3
Sơ ñồ 2.1 Bố trí thí nghiệm 24
Hình 3.1 Tỷ lệ ñẻ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 38
Hình 3.2 Khối lượng gà qua các giai ñoạn nuôi 48
Trang 10MỞ ðẦU
1 ðặt vấn ñề
Trong những năm gần ñây, ngành sản xuất thức ăn công nghiệp Việt Nam ñã phát triển nhanh, với sản lượng năm 2011 ñạt 11,5 triệu tấn (Cục Chăn nuôi, 2012) Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo thu về 3 tỷ ñô la nhưng hàng năm Việt Nam lại phải nhập khẩu ñến 80% nguyên liệu ñể sản xuất thức ăn chăn nuôi Năm 2011, Việt Nam ñã sử dụng gần 3,7 tỷ ñô la ñể nhập khẩu gần 8 triệu tấn thức
ăn, trong ñó ñáng chú ý 1,3 tỷ ñô la ñể nhập 3,86 triệu tấn ngô, cám gạo và lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2012) ðể ñáp ứng chiến lược phát triển chăn nuôi, ñến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt Nam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012) Như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, ñặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu Tuy nhiên Hội ñồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sản lượng ngô thế giới trong một số năm tới sẽ giảm nhiều do thời tiết khô hạn ở một số quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Ấn ðộ Dự báo sản lượng lúa mỳ thế giới ước tính giảm xuống còn 662 triệu tấn so với dự kiến 665 triệu tấn
Trong một tương lai không xa, chúng ta hướng ñến chăn nuôi ñể xuất khẩu
Vì vậy nếu chăn nuôi luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ các nước như hiện nay thì sẽ là một rào cản khó vượt qua ñể hướng ñến mục tiêu này Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phải nhập quá nhiều nguyên liệu như ngô, ñậu tương, cám gạo thì không thể ñảm bảo cho một ngành chăn nuôi bền vững Bên cạnh ñó, hàng năm Việt Nam còn tồn
dư một lượng lớn thóc trong dân, giá lúa nhiều lúc giảm thấp, nhà nước ñã phải chi nguồn ngân sách không nhỏ cho việc mua tạm trữ lúa gạo ñể bình ổn giá Như vậy trong khi nguồn lúa gạo trong nước tồn ñọng khá lớn khoảng 2 triệu tấn mỗi năm thì ngành chăn nuôi lại chi ra một khoản ngoại tệ không nhỏ ñể nhập 4 triệu tấn nguyên liệu cung năng lương như ngô lúa mì ñể sản xuất thức ăn chăn nuôi
Lúa gạo từ lâu ñã ñược sử dụng trong chăn nuôi, tuy nhiên, tỷ lệ lúa gạo sử
Trang 11dụng trong sản xuất thức ăn công nghiệp tại Việt nam chưa ựược chú trọng ựến Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài:
ỘSử dụng gạo xay trong thức ăn hỗn hợp cho gà Ai Cập ựẻ trứng thương phẩmỢ
2 Mục ựắch của ựề tài
- Xác ựịnh ảnh hưởng của việc sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức
ăn ựến khả năng ựẻ trứng của gà Ai Cập
- đánh giá hiệu quả của việc sử dụng gạo xay trong khẩu phần ăn cho gà
ựẻ trứng thương phẩm giống Ai Cập
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Gạo xay
1.1.1.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc gạo
Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm các thành phần như sau: Trấu (husk, 20%)
Gạo xay (còn gọi là gạo lức, gạo lật ) (brown rice, 80%)
Cám bổi (polard, 11%)
Cám mịn (Rice polishing, 8%)
Cám thô (bran, 3%)
Tấm (crack rice, 2%)
Gạo trắng (white rice, 67%)
Tỷ lệ các thành phần của thóc, gạo và các loại phụ phẩm ñược thể hiện trong
Sơ ñồ 1.1
Sơ ñồ 1.1: Tỷ lệ phụ phẩm của ngành xay xát thóc
(Nguồn: D Floukes, 1998)
Trang 13Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo lật và ngô ñược ñánh giá ở các chỉ tiêu năng lựợng, protein thô, chất béo, chất chiết không nitơ, chất xơ, chất khoáng (Bảng 1.1) So với ngô, gạo lật có các chỉ tiêu trên không chênh lệch nhau ñáng kể, ñặc biệt giá trị năng lượng dạng tiêu hóa (biểu thị bằng TDN trên lợn, bò), dạng trao ñổi (biểu thị bằng TDN trên gia cầm) hầu như tương ñương nhau Chỉ
có giá trị năng lượng tiêu hóa của thóc là kém của gạo lật hay ngô khoảg 15-20% ðiểm yếu của gạo lật so với ngô là nghèo chất béo hơn (2% so với 4%) và không có sắc chất vàng (xanthophyll và criptoxanthine…)
Bảng 1.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo lật và ngô
(Nguồn: Kiyomi Kosaka, 1990)
Gạo lật Thóc Ngô STFC* Arbolio** STFC* Arbolio** STFC*
ðộ ẩm (%) 13,8 14,2 13,7 14,0 13,5 Protein thô (%) 7,9 8,1 8,9 7,1 8,8
*STFC: Srandard Tables of Feed Composition in Japan, 1987
** Arbolio: Một chủng thóc của Ý, chi tiết từ Yamzaki et al., 1988
Một phụ phẩm chủ yếu của ngành chế biến thóc gạo là cám gạo thì cám gạo
có hàm lượng protein tương ñương, nhưng lại có giá trị TDN hay ME cao hơn TDN
và ME của cám mì, trừ cám gạo chích ly (Bảng 1.2)
Trang 14Bảng 1.2: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo và cám mì
(Nguồn: Srandard Tables of Feed Composition in Japan,1987)
Thành phần axit amin thiết yếu của gạo lật và ngô có sự chênh lệch nhau, lysine
và methionine của gạo lật thấp hơn của ngô, nhưng hàm lượng threonine và tryptophan lại cao hơn của ngô và tổng 16 axit amin của gạo lật cao hơn ngô gần 4% (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Thành phần axit amin của gạo lật và ngô hạt (%)
13,0 15,4 4,1 53,4 9,1 12,5 5,0 62,9 58,9 1,94
12,0 14,8 18,5 38,2 7,7
- 8,8 80,5 75,5 2,79
13,1 17,7 1,9 47,1 8,5 11,5 11,7 55,9 52,4 1,65
Trang 15Hàm lượng chất béo của gạo lật tuy chỉ bằng 2/3 của ngô nhưng tổng axit béo chưa no thấp hơn của ngô, tỷ lệ axit béo chưa no/axit béo no của gạo lật thấp hơn của ngô (USFA/SFA gạo lật = 0,45 còn của ngô = 0.69) (Bảng 1.4) ðiều này giúp cho mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm vỗ béo cứng hơn và dễ chế biến hơn khi
con vật ăn khẩu phần chứa gạo lật so với ăn ngô
Bảng 1.4 Thành phần axit béo của ngô và gạo lật (%)
Polyunsatured
C18:2
0,4087
0,7643 C18:3 0,0286 0,0243
Tổng axit béo chưa no 0,9599 0,9055
Tỷ lệ axit béo chưa no/no 0,6936 0,4512
(Nguồn: X.S Piao và cs., 2002)
1.1.2 Khả năng thay thế ngô của thóc và gạo
* Các nghiên cứu của Nhật
- Một thí nghiệm trên gà ñẻ trứng cho ăn 4 khẩu phần energy và protein chứa thóc (rough rice) ở các tỷ lệ 0, 35, 50 và 60% ñã thấy không có sự sai khác có ý nghĩa ñối với các chỉ tiêu như sản lượng trứng, khối lượng trứng, thu nhận thức ăn, tỷ lệ sống và tăng trọng của gà trong thời gian thí nghiệm Chỉ có chỉ tiêu ñậm ñộ màu lòng ñỏ thì giảm khi tỷ lệ thóc trong khẩu phần tăng
iso Một thí nghiệm khác trên gà broiler kéo dài 8 tuần với các khẩu phần chứa
0, 35, 50 và 60% thóc, giai ñoạn 4 tuần ñầu gà ăn khẩu phần chứa 20% protein và
2790 kcal ME/kg, giai ñoạn 4 tuần sau ñó gà ăn khẩu phần chứa 16% protein và
2990 kcal ME/kg Kết quả ở bảng 5 chỉ ra rằng: tăng trưởng của gà ăn thóc tốt hơn
Trang 16so với gà ăn ngô ðối với 3 nghiệm thức cho ăn thóc với các tỷ lệ nêu trên không thấy có sai khác về tăng trưởng và thu nhận thức ăn Chỉ có ñậm ñộ mầu của da chân thì giảm khi khẩu phần chứa nhiều thóc
Chương trình nghiên cứu của Nhật về giá trị dinh dưỡng của thóc và khả năng thay thế thóc cho các loại hạt khác trong thức ăn chăn nuôi bắt ñầu thực hiện
từ năm 1970, khi mà thóc ñã vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước Tuy nhiên trong ñiều kiện sản xuất của Nhật giá 1tấn thóc lên tới 600 USD, trong khi giá 1 tấn ngô nhập khẩu ở thời ñiểm ñó chỉ có 286 USD Mặc dù chương trình này không khả thi nhưng các nhà khoa học Nhật cho rằng các kết quả nghiên cứu của họ sẽ có ích cho các nước châu Á khác có ñiều kiện khí hậu và ñất ñai thuân lợi cho việc trồng lúa, ñảm bảo năng suất lúa cao và giá thành hạ hơn ngô
Bảng 1.5 Khẩu phần và năng suất chăn nuôi của gà broiler finisher
nuôi bằng thóc so với ngô
0% thóc 35% thóc 50% thóc 60% thóc Công thức thức ăn %
Trang 17Các nghiên cứu gần ñây của X.S Piao và cs., (2002) ở trường ðại học Nông nghiệp Bắc Kinh ñã tập trung vào việc ñánh giá tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của gạo lật và của ngô nhằm xem xét khả năng thay thế ngô của gạo lật trong khẩu phần nuôi lợn thịt giai ñoạn sinh trưởng (thể trọng ñầu thí nghiệm 44 kg) Kết quả thí nghiệm của Piao cho thấy: tất cả các lợn ăn khẩu phần chứa gạo lật (60% gạo lật) ñều có tỷ lệ tiêu hóa tốt hơn khẩu phần ngô (60% ngô) về các chỉ tiêu năng lượng thô (GE), chất khô (DM) và protein (CP) Tỷ lệ tiêu hóa GE, DM và CP của khẩu phần chứa gạo lật lần lượt là 87,7; 81,7 và 78,5% trong khi các chỉ tiêu này của khẩu phần ngô lần lượt là: 80,5; 80,2 và 75,2%
Giống như kết quả của Piao, trước ñó He và cs., (1994) cũng báo cáo rằng: tỷ
lệ tiêu hóa protein và tỷ lệ ME/GE của gạo lật lần lượt là 73,71 và 65,03% trong khi các chỉ tiêu này của ngô lần lượt là 69,17 và 59,89% Kết quả nghiên cứu của Piao còn cho biết: hàm luợng urê (BUN) và glucose (TG) huyết thanh của lợn ăn khẩu phần gạo lật ñều thấp hơn của lợn ăn khẩu phẩn ngô Hàm lượng BUN có tương quan nghịch với sự cân bằng axit amin khẩu phần, BUN của khẩu phần gạo lật thấp chứng tỏ gạo lật có cân bằng axit amin tốt hơn ngô (BUN của lợn ăn khẩu phần gạo lật/ngô là 21/23 mmol/dl) Hàm lượng ñường glucose huyết thanh của lợn
ăn khẩu phần gạo lật thấp hơn của khẩu phần ngô cũng chứng tỏ lợn ăn gạo lật có ñáp ứng insulin tốt hơn so với ăn ngô (TG của lợn ăn khẩu phần gạo lật/ngô là: 137,5/151,6 mg/g) Các kết quả nghiên cứu của X.L Li và cs., (2006) về khả năng tiêu hóa của gạo lật và ngô trên lợn giai ñoạn sinh trưởng (thể trọng ñầu thí nghiệm
24 kg) cũng cho những kết luận rằng: hầu hết các chất dinh dưỡng của gạo lật Trung quốc (Chinese Brown Rice) ñều có tỷ lệ tiêu hóa cao hơn ngô, năng lượng trao ñổi (ME) của gạo lật tương ñương với ngô
Các kết quả nghiên cứu trên ñây ñã giúp nhóm các nhà khoa học của ðại học Nông nghiệp Bắc Kinh kết luận, gạo lật có thể thay thế 100% ngô trong khẩu phần lợn ñang sinh trưởng
* Khả năng sử dụng thóc gạo thay thế ngô trong chăn nuôi ở Việt Nam
Xét về mặt dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo (gạo lật: brown rice) thay thế ngô trong chăn nuôi lợn là hoàn toàn khả thi Ở ñây chỉ còn vấn ñề tương quan về
Trang 18giá của ngô và gạo Nếu theo thời giá tháng 10 năm 2012, 1kg thóc giá 6200 VNð (giá mua vào của Công ty TACN), tỷ lệ gạo lật/thóc = 80% thì giá 1 kg gạo lật là
7750 VNð (chưa tính chi phí xay sát), ñắt hơn ngô 7,63% (1kg ngô giá 7200 VNð) Nếu 1kg thóc chỉ có giá 4200 VNð (giá chỉ ñạo của Hiệp hội Lương thực Việt nam VFA trong chương trình mua thóc tạm trữ năm 2009) thì giá 1 kg gạo lật chỉ còn là
5400 VNð (ñã tính thêm 150VNð/kg cho phí xay sát), rẻ hơn ngô 25% Chiến lược sản xuất thóc gạo và sử dụng thóc gạo trong chăn nuôi, bao gồm quy hoạch về diện tích, về chủng giống, về ñiều tiết lượng thóc gạo xuất khẩu, cũng như áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp ñể có năng suất cao và ñảm bảo giá thóc gạo sản xuất ra
rẻ hơn ngô khoảng 10%
1.2 Thức ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn ñã ñược chế biến sẵn, do một số loại thức ăn phối hợp với nhau mà tạo thành Thức ăn hỗn hợp hoặc có ñầy ñủ tất cả các chất dinh dưỡng thoả mãn ñược nhu cầu của con vật hoặc chỉ có một số chất dinh dưỡng nhất ñịnh ñể bổ sung cho con vật Thức ăn hỗn hợp gồm hai loại chính ñó là: Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp ñậm ñặc Ngoài ra còn có thức
ăn hỗn hợp bổ sung
Theo tác giả Vũ Duy Giảng và Cs (1997), khi gia súc, gia cầm sử dụng thức
ăn hỗn hợp dạng viên sẽ có nhiều ưu thế hơn khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ nhất, khi ăn thức ăn dạng viên sẽ giảm ñược lượng thức ăn rơi vãi tới 10 – 15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột Thứ hai là giảm ñược thời gian ăn Thứ
ba, gia cầm rất mẫn cảm với bệnh ñường hô hấp do bụi của thức ăn cho nên khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên sẽ giúp chúng tránh ñược bụi khi ăn và giảm những căn bệnh ñường hô hấp Hơn nữa, chất lượng thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng ñược nâng cao hơn trong quá trình chế biến Dưới tác dụng cơ giới, nhiệt ñộ
và áp suất trong khi ép viên, kết cấu ligin và cellulose có trong thức ăn sẽ bị phá
vỡ, từ ñó làm tăng khả năng tiêu hoá tinh bột và chất xơ ở vật nuôi Ép viên còn làm chậm khả năng oxy hoá của các vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu diệt phần lớn các vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh
Theo Denixov (1971) thì thức ăn hỗn hợp dạng viên có lợi cả về quy trình chế
Trang 19biến và hiệu quả kinh tế Thức ăn hỗn hợp dạng viên dễ bảo quản hơn, dùng ñể vỗ béo cho gia súc gia cầm thì khả năng khối lượng cơ thể cũng cao hơn
Chính nhờ những ưu ñiểm nổi bật như vậy mà hiện nay trên thế giới thức ăn hỗn hợp dạng viên chiếm 60 - 70% tổng lượng thức ăn hỗn hợp (Vũ Duy Giảng
và cộng sự, 1997)
Mặc dù có rất nhiều ưu ñiểm, song thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng có những nhược ñiểm mà chúng ta cần lưu ý khi sử dụng ðiều ñầu tiên là giá thành của thức ăn dạng viên cao hơn thức ăn dạng bột do phải tốn chi phí thêm cho quá trình ép viên ðiều thứ hai cần phải khắc phục ñó là trong quá trình ép viên, nhiệt ñộ cao ñã làm phân huỷ một số vitamin từ nguyên liệu Ở gà nuôi theo phương thức công nghiệp, khi cho ăn bằng thức ăn viên thì nhận thấy tỷ lệ gà mổ cắn nhau cao hơn bình thường, do ñó phải cắt mỏ và sử dụng một số biện pháp
hỗ trợ khác Một nhược ñiểm nữa mà người chăn nuôi cần phải lưu ý khi cho gà
ăn thức ăn hỗn hợp dạng viên thì cần cung cấp ñầy ñủ nước uống vì lượng nước tiêu thụ khi cho ăn thức ăn dạng viên cao hơn khi ăn thức ăn dạng bột (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)
1.3 ðặc ñiểm một số nguyên liệu thức ăn cho gia cầm
Dinh dưỡng thức ăn là một trong những yếu tố quyết ñịnh tới năng suất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu ñảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng theo quy ñịnh Trong phạm vi của ñề tài này chúng tôi chỉ ñề cập tới một số nguyên liệu chính thường dùng trong chăn nuôi gia cầm
1.3.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% ñược xếp vào nhóm thức ăn giàu năng lượng (Irma, 1983), Kellem và Church, 1998) Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương…, các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo…, các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây…và các chất dầu mỡ Dưới ñây là một số nguyên liệu chính
* Ngô
Trang 20Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn chăn nuôi cho gia cầm do các nguyên nhân liên quan ñến ñặc ñiểm thực vật và giá trị dinh dưỡng, nó thường chiếm 45 – 70% trong khẩu phần ăn hằng ngày của gia cầm (Ward và Fedge, 1996)
So với các loại thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1 kg hạt ngô có từ 3200 – 3300 kcal ME) Ngô chứa 65% tinh bột, hàm lượng xơ thấp từ
2 – 6%, protein thô dao ñộng từ 8 – 13% tính theo vật chất khô (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)
Axit amin hạn chế nhất trong ngô là Lys Gần ñây người ta ñã tạo ra ñược một số giống ngô mới giàu axit amin hơn, như giống Oparque – 2 có hàm lượng Lys cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Met Một giống ngô mới nữa là Floury – 2 có hàm lượng Lys và Met cao hơn giống ngô Oparque – 2 Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Met (NRC, 1994)
Hàm lượng lipit của ngô có từ 3 – 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng ñáng kể caroten (tiền vitamin A) và sắc tố màu xantophyll Theo Tôn Thất Sơn và Cs (2006) trong thực vật có chứa rất nhiều xantophyll (C40H56O2), ñây là những dẫn xuất có chứa oxy của caroten Các xantophyll ñều là cấu tử chủ yếu của các sắc tố vàng của hoa, lá, nụ, quả Trong ngô vàng thì thành tố này tồn tại dưới dạng cryptoxanthin và zeaxanthin Vì vậy, khi cho gia cầm ăn ngô vàng hoặc ngô ñỏ thì màu sắc của lòng ñỏ trứng sẽ ñậm hơn bình thường, da gà và lòng ñỏ trứng gà sẽ vàng ñẹp hơn ðiều này làm tăng giá trị chất lượng của sản phẩm
Nhược ñiểm chính khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng ñược thu hoạch trong mùa mưa không ñủ ñiều kiện phơi hoặc sấy khô ñúng mức Theo nhiều nghiên cứu của Nguyễn Chí Hanh và Cs (1996) thì khi bắt ñầu ñưa ngô vào bảo quản, ngô ñã bị nhiễm nấm mốc (100.103 khuẩn lạc/gam) nhưng chưa xuất hiện aflatoxin Sau 2 tháng bảo quản ñã xuất hiện aflatoxin ở mức thấp (40µg/kg) Mức
ñộ nhiễm nấm mốc, ñộc tố tăng dần và ñạt mức cao sau 5 tháng bảo quản (200.103khuẩn lạc/gam và 553,2µg aflatoxin/1 kg hạt) Trong vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến ñổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo
Trang 21quản trong vụ ựông xuân Bên cạnh ựó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột ựường
và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai ựoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm Trong 10 Ờ 15 ngày, mọt có thể ăn hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (đào Văn Huyên, 1995)
Với những ựặc tắnh như trên, nếu ngô không bị nhiễm mốc thì có thể ựược sử dụng tối ựa làm nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần thức ăn cho gia cầm cho ựến khi nào giá cả còn chấp nhận ựược
* Cám gạo
Cám gạo là nguồn thực phẩm của ngành xay xát gạo Lượng cám thu ựược bình quân là 10% khối lượng lúa (Dương Thanh Liêm, 2006) Việt Nam hiện có sản lượng gạo xuất khẩu ựứng thứ 2 thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào
Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Trong cám gạo có chứa khoảng 10 Ờ 13% protein thô, 10 Ờ 15% lipit thô, 8 Ờ 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số Ngoài ra trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B, ựặc biệt là vitamin B1 Trong 1 kg cám gạo có 22,2 mg vitamin B1; 13,1 mg B6 và 0,43 mg Biotin (Vũ Duy Giảng, 1996)
Cám gạo chứa khoảng 14 Ờ 18% là dầu (BoGohl, 1993) Vì vậy, cám gạo có mùi thơm ngon và gia cầm rất thắch ăn Nhưng ựây cũng chắnh là nhược ựiểm của cám, bởi vì trong dầu cám có men lipaza làm phân giải các axit béo không no nên
dễ làm cho mỡ bị ôi thiu, giảm chất lượng của cám, khi ựó cám sẽ trở nên ựắng và khét Trong cám gạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có tới 70% photpho ở dạng phitin không hấp thu ựược
*Hạt mì và cám mì
Lúa mì là loại cây lương thực trồng phổ biến ở các vùng ôn ựới Tùy theo màu sắc của hạt có các loại màu ựỏ nâu, trắng và tắa Các loại hạt hoặc cám của hạt lúa mì có thể dùng trong thức ăn chăn nuôi Hạt mì và cám mì có hàm lượng ựạm thô khoảng 14 Ờ 16% (Dương Thanh Liêm, 2006) Hạt mì và cám mì có hàm lượng NSP cao nên khó tiêu hóa, nhất là với gà Khi sử dụng cần kèm theo các enzyme tiêu hóa NSP ựể làm tăng giá trị dinh dưỡng
1.3.2 Nhóm thức ăn giàu protein
Trang 22Theo Irma (1983), Kellems và Church (1998), thức ăn giàu protein là tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăn giàu protein gồm hai loại là thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật như: bột cá, bột thịt xương, bột máu… và thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vật như: hạt ñỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt ñậu xanh, khô dầu ñỗ tương, khô dầu hạt cải, khô dầu lạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương…
1.3.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật thường có giá trị sinh học cao, khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân ñối các axit amin cần thiết Trong các loại thức ăn cung cấp protein có nguồn gốc ñộng vật cho gia cầm ñiển hình nhất
là bột cá
* Bột cá
Việt Nam có bờ biển dài trên 3000 km nên có vùng biển ñánh bắt cá rộng lớn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến bột cá Cùng với hàm lượng và chất lượng protein cao, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng (canxi, photpho và khoáng vi lượng) và vitamin Bột cá cũng tạo ñộ ngon miệng cao cho thức ăn lợn, gà (Dương Thanh Liêm, 2006)
Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao Loại bột cá tốt chứa trên 50% protein, tỷ lệ axit amin cân ñối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh Trong 1 kg bột cá có chứa 52g Lys, 15 – 20g Met, 8 – 10g Cys, giàu Ca, P với tỷ lệ tương ñối cân ñối (canxi khoảng 6 – 7 %, photpho khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1, ngoài
ra còn có cả vitamin A và D
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ñịnh protein trong bột cá
có giá trị sinh học cao Trong bột cá có ñủ các axit amin không thay thế, dễ tiêu hoá như Met, Cys, Lys, Thre, Tryp Theo Fin (2000), hàm lượng Lys trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp ñôi so với hàm lượng Lys có trong bột ñỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng Lys có trong bột sữa (2,5%) Tác giả cũng cho biết: hàm lượng Met và Cys trong bột cá (2,6 – 2,9%) cao hơn trong ñỗ tương (1,5%) Sự có mặt của bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục ñược sự thiếu hụt các axit amin này khi sử
Trang 23dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính
Khi so sánh protein của bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000) cho biết: hàm lượng protein thô của bột cá hơn hẳn các loại thức ăn khác, bột cá Chilê
có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích (herring) hàm lượng protein thô là 77% ; trong khi ñỗ tương chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô Không chỉ có thế, hàm lượng protein dễ tiêu hoá ở bột cá cũng tương ñối cao (69 – 72%), ñỗ tương là 32%, bột sữa là 33% Như vậy cả về lượng và chất, protein của bột cá ñều hơn hẳn protein của các loại thức ăn khác
Nhiều tác giả còn cho biết: Trong bột cá còn có các “yếu tố chưa xác ñịnh ñược” làm tăng tỷ lệ ấp nở trứng của gia cầm ðặc biệt ñối với gà thịt chỉ cần sử dụng ở mức 3,9% trong thức ăn hỗn hợp ñã làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích sinh trưởng Do ñó, chất lượng của bột cá có ảnh hưởng rất quan trọng tới chất lượng thức ăn hỗn hợp Chất lượng bột cá phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá ñem chế biến Nếu bột cá chế biến từ những loại cá nhỏ hoặc ñầu cá, vây cá thì hàm lượng protein rất thấp (từ 20 – 25%), trong khi ñó bột cá ñược chế biến từ cá lớn thì hàm lượng protein trên 50% Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 2005) thì bột cá loại I phải ñạt trên 50% protein, loại II: 40 – 50% protein và loại III: 35 – 40% protein
Ở nước ta chất lượng của bột cá ñang là một vấn ñề cần ñược quan tâm Do phương tiện ñánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng Với những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài ñánh bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối ðiều này làm cho hàm lượng muối ăn trong những loại bột cá này thường rất cao, có khi lên tới 20 – 30%
Do ñó nếu cho gia cầm sử dụng loại bột cá này thì không những không có lợi mà còn làm cho chúng bị ngộ ñộc Vì vậy, trước khi dùng bột cá ñể xây dựng khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó nhất là hàm lượng muối
* Bột thịt, bột thịt xương
ðây là sản phẩm từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn lại của ñộng vật không dùng làm thức ăn cho người ñược như phổi, ruột già, gân, móng, lông và có thể cả xương Nếu có cả xương thì ñược gọi là bột thịt xương (Dương Thanh Liêm,
Trang 242006) Bột thịt và bột thịt xương có thể sản xuất ở hai dạng khô và ẩm Ở dạng khô, các nguyên liệu ñược ñun nóng trong một bếp hơi ñể tách mỡ, phần còn lại là bã Ở dạng ẩm, các nguyên liệu ñược ñun nóng bằng hơi nước có dòng ñiện chạy qua, sau
ñó rút nước, ép ñể tách mỡ và sấy khô
Bột thịt chứa 60 – 70% protein thô, bột thịt xương chứa 45 – 55% protein thô Chất lượng protein của hai loại này ñều cao, axit amin hạn chế là Met và Tryp Hàm lượng lipit dao ñộng trong khoảng 3 – 13%, trung bình là 9% Bột thịt xương giàu khoáng hơn bột thịt, ñặc biệt là hàm lượng Ca, P, Mg Tuy nhiên cả hai loại này ñều rất giàu vitamin B1
Hai loại thức ăn này thường ñược bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm ñể làm cân bằng axit amin trong ñó và có thể sử dụng mức tối ña cho gia cầm tới 15% trong khẩu phần ðiểm cần lưu ý khi sử dụng là phải bảo quản bột thịt và bột thịt xương trong ñiều kiện thích hợp ñể tránh làm thất thoát vitamin và mỡ khỏi
bị ôi thiu Và ñiều quan trọng cần nhớ là bột thịt cũng như các sản phẩm chế biến từ ñộng vật cần phải xử lý nhiệt kỹ lưỡng ñể tránh các mầm bệnh còn hiện diện Trước ñây, mầm bệnh ñược quan tâm nhiều là Salmonella, nhưng ngày nay vi khuẩn gây thương hàn ñã trở thành mối quan tâm thứ hai sau bệnh bò ñiên vốn rất dễ lây lan qua các sản phẩm ñộng vật, nhất là từ thức ăn gia súc có nguồn gốc ñộng vật Vì vậy hiện nay xu hướng các nước châu Âu hạn chế hoặc ngưng hẳn việc sử dụng bột thịt/bột thịt xương trong khẩu phần ăn ñộng vật, nhất là trên thú nhai lại và bò
1.3.2.2 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
* ðỗ tương
Nếu như ngô ñược xem là loại hạt chủ lực trong thức ăn gia cầm ñể cung cấp năng lượng thì ñỗ tương là loại hạt chủ lực ñược sử dụng cung cấp protein trong thức ăn chăn nuôi Trong ñỗ tương có khoảng 38 – 42% protein thô, 18 – 22% dầu Protein của ñỗ tương có chứa ñầy ñủ các axit amin cần thiết như Cys, Lys, nhưng Met là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt ñỗ tương Trong ñỗ tương có chất ức chế men trypsin, chymotrysin Sự có mặt của các chất này ñã làm giảm
ñi giá trị sinh học protein của ñỗ tương, giảm khả năng tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt ñộ Vì vậy, cần phải có biện pháp
Trang 25xử lý nhiệt thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia hồng ngoại ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất ñộc có trong hạt ñỗ tương
* Khô dầu ñỗ tương
Khô dầu ñỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu ñỗ tương ðây là một trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất Thành phần cơ cấu axit amin của nó có thể ngang với protein ñộng vật, trừ Met Khô dầu ñỗ tương có thể phối hợp tỷ lệ cao, ñến 30% trong khẩu phần thức ăn cho cả gà con, gà broiler và gà ñẻ (Ward và Fedge, 1996) Bởi vì trong khô dầu ñỗ tương có hàm lượng protein cao (42 – 44,7%) nhưng năng lượng chỉ ở mức thấp 2400 – 2530 kcal/kg ở thể khô không khí (Smith, 1991) Tỷ lệ sử dụng của khô dầu ñỗ tương trong khẩu phần ăn cho gà con và gà broiler là 25%, gà dò (hậu bị) sử dụng từ 15 – 20% và gà ñẻ sử dụng từ 20 – 25% Hàng năm nước ta nhập ñến trên 400.000 tấn cả ñỗ tương nguyên dầu và khô dầu ñỗ tương Chúng ta cần chú ý rằng, công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công) có ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng của khô dầu ñỗ tương
1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
Theo Chamber và Cs (1984), hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) ñược ñịnh nghĩa là mức ñộ tiêu tốn thức ăn cho một ñơn vị sản phẩm Từ mức ñộ tiêu tốn thức ăn (TTTA) người ta tính ñược chi phí thức ăn
Chi phí thức ăn thường chiếm ñến 70% giá thành sản phẩm của chăn nuôi Chính vì vậy, HQSDTA là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nó quyết ñịnh tới giá thành chăn nuôi và là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi Không những thế, ñây còn là chỉ tiêu quan trọng trong công tác giống vật nuôi nói chung
và gia cầm nói riêng Việc chọn lọc về tốc ñộ tăng trọng thường kèm theo sự cải tiến HQSDTA Chambers và Cs (1984) xác ñịnh hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tốc ñộ tăng trọng với lượng thức ăn tiêu thụ là rất cao (0,5 – 0,9) còn hệ
số tương quan di truyền giữa tốc ñộ sinh trưởng và HQSDTA có giá trị âm và biến ñộng từ -0,2 ñến -0,8
HQSDTA phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau ðoàn Xuân Trúc và Cs (1993) cho biết TTTA cho một ñơn vị sản phẩm phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm Bùi ðức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) cho biết nuôi gà
Trang 26broiler ñến 9 tuần tuổi tiêu tốn 2,39 – 2,41 kg thức ăn cho một kg tăng trọng ðoàn Xuân Trúc và Cs (1993) nghiên cứu trên 4 công thức lai AV35, AV53, V135, V153 cho biết TTTA cho một kg tăng trọng ở 56 ngày tuổi của các công thức lai tương ứng là 2,34kg; 2,23kg; 2,26kg; 2,32kg
Theo Phùng ðức Tiến (1996), gà broiler Ross 208 nuôi chung trống mái ñến
63 ngày tuổi tiêu tốn là 2,29kg thức ăn cho một kg tăng trọng Nuôi riêng gà trống tiêu tốn 2,19kg và gà mái tiêu tốn 2,39kg thức ăn cho một kg tăng trọng Như vậy,
gà trống tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng thấp hơn gà mái, nghĩa là gà trống
có HQSDTA tốt hơn gà mái Theo Bùi Quang Tiến và Cs (1994), ñối với gà broiler Ross 208 nuôi ở hai chế ñộ dinh dưỡng, tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng từ 2,25 – 2,36 kg, gà Ross 208 V35 tiêu tốn 2,35 – 2,45 kg thức ăn cho một kg tăng trọng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994), HQSDTA có liên quan chặt chẽ với tốc ñộ sinh trưởng của gà Trong cùng một chế ñộ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời ñiểm, những lô gà có tốc ñộ sinh trưởng cao hơn thì HQSDTA cũng tốt hơn
Hiệu quả sử dụng thức ăn không những phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm mà nó còn phụ thuộc vào chế ñộ dinh dưỡng Nguyễn Thị Mai (2001) cho biết, các mức năng lượng khác nhau trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA với P<0,05 Tác giả cho biết cùng hàm lượng protein, khi tăng mức năng lượng trong 1kg thức ăn từ 2900 ñến 3200 kcal ñã làm tăng HQSDTA Nói cách khác ñã làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể gà broiler ở 7 tuần tuổi từ 2,41 xuống 2,15 kg
Hàm lượng protein trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA Cùng mức năng lượng, sử dụng hàm lượng protein là 25 – 23 và 21% tương ứng với 3 giai ñoạn nuôi thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn mức 23 – 21 và 19% protein Giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,40 xuống 2,21kg Sự khác nhau là có ý nghĩa thống kê với P<0,05 (Nguyễn Thị Mai, 1996)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức năng lượng và hàm lượng protein trong khẩu phần với HQSDTA, Hopf (1973) cho biết khi tăng mức năng lượng từ 2800
Trang 27lên 3300kcal, ñồng thời tăng tương ứng hàm lượng protein từ 21,0 lên 24,8% cho gà broiler ñã làm tăng HQSDTA, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể
từ 2,0 xuống 1,7kg Summer (1974) cho biết khi tăng mức năng lượng từ 2500kcal lên 3330kcal trong 1 kg thức ăn với hàm lượng cơ thể từ 2,08 xuống 1,54kg Tác giả còn cho biết, cùng mức năng lượng là 3050kcal, sử dụng khẩu phần có 10 và 26% protein ñã làm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 3,43 xuống 1,67kg
Nhìn chung, HQSDTA là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết ñịnh ñến hiệu quả trong chăn nuôi Do vậy, ñể nâng cao HQSDTA cần cho gia cầm ăn theo nhu cầu và phù hợp với ñặc ñiểm sinh lý ở mỗi giai ñoạn khác nhau
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm
Sức ñẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, mỗi yếu
tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng ở mức ñộ nhất ñịnh Một số yếu tố chính ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm như các yếu tố di truyền cá thể, giống dòng gia cầm, tuổi, chế
ñộ dinh dưỡng, ñiều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009)
+ Các yếu tố di truyền cá thể
Sức ñẻ trứng: là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng của gia cầm ñối với con người Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm: tuổi thành thục sinh dục, cường ñộ ñẻ trứng, tính nghỉ ñẻ, thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học và tính ấp bóng
Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố năng suất trứng và có liên quan ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên cần phải chú ý ñến khối lượng cơ thể Tuổi bắt ñầu ñẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và làm tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục của
cá thể ñược xác ñịnh thông qua tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên Tuổi thành thục của một nhóm hay một ñàn gia cầm ñược xác ñịnh theo tuổi ñạt tỷ lệ ñẻ 5% (Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998)
Thể trạng và ñộ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng ñến khả năng thành thục sinh dục, những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thì phần lớn bắt ñầu ñẻ trứng sớm hơn
Trang 28những giống gà cĩ tầm vĩc lớn
Ngồi ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, lồi, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Thời gian gà đẻ mạnh là vào những ngày ngắn của thu đơng, điều đĩ cũng nĩi lên rằng thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục Theo ðặng Hữu Lanh và Cs (1999) cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0,32
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Theo Card L.E (1968) và Nesheim (1970) cho rằng, cường độ đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời gian 30 – 60 ngày và 100 ngày Các tác giả này cịn cho biết, đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường cĩ cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và ba sau đĩ giảm dần đến hết năm đẻ Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994) cùng nhiều tác giả khác cho biết, cĩ sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường độ đẻ trứng của 3 – 4 tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm Vì vậy, người ta thường dùng cường độ đẻ trứng ở 3 – 4 tháng tuổi đầu tiên để dự đốn sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đơi và chọn lọc giống Cường độ đẻ trứng cịn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng
Thời gian nghỉ đẻ: Ở gà, thường cĩ hiện tượng nghỉ đẻ trong một thời gian,
cĩ thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí kéo dài 1 – 2 tháng Thời gian nghỉ đẻ thường vào mùa đơng, nĩ cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gia cầm thường thay lơng vào mùa đơng nên thời gian này
gà nghỉ đẻ Trong điều kiện bình thường, lúc thay lơng đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gà đẻ tốt hay xấu Những đàn gà thay lơng sớm, thời gian bắt đầu thay lơng từ tháng 6 – 7 và quá trình thay lơng diễn ra chậm, kéo dài 3 – 4 tháng là những đàn gà đẻ kém Ngược lại, cĩ những đàn gà thay lơng muộn, thời gian thay lơng bắt đầu từ tháng 10 – 11, quá trình thay lơng diễn ra nhanh là đàn gà đẻ tốt ðặc biệt ở một số đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 – 5 tuần và lại đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lơng mới Cĩ con gà đẻ ngay trong thời kỳ thay lơng
Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộc vào thời gian nở mà sự bắt đầu và
Trang 29kết thúc của chu kỳ ñẻ trứng sinh học có thẻ xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Thường ở gà, chu kỳ này kéo dài một năm; ở gà tây, vịt, ngỗng chu kỳ này ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ ñẻ trứng sinh học có mối tương qua thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp ñộ ñẻ trứng, sức bền ñẻ trứng và chu kỳ ñẻ trứng Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học có mối tương quan nghịch rõ rệt
Tính ấp bóng hay bản năng ñòi ấp trứng: ðây là phản xạ không ñiều kiện có liên quan ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Trong tự nhiên, tính ấp bóng giúp gia cầm duy trì nòi giống Bản năng ñòi ấp rất khác giữa các giống và các dòng Các dòng nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng ñòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân Gà Leghorn
và gà Goldline hầu như không còn bản năng ñòi ấp Bản năng ñòi ấp là một ñặc ñiểm di truyền của gia cầm, nó là một phản xạ nhằm hoàn thiện quá trình sinh sản Song với thành công trong lĩnh vực ấp trứng nhân tạo, ñể nâng cao sản lượng trứng của gia cầm cần rút ngắn và làm mất hoàn toàn bản năng ấp trứng Bởi vì bản năng
gà chuyên thịt, các giống gà nội thường có sản lượng trứng thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại
+ Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm cũng có liên quan ñến năng suất trứng Sản lượng trứng của gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ hai giảm 15 – 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009) Một số loại gia cầm như vịt và ngỗng thì
Trang 30sản lượng trứng năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất
(Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009)
+ ðiều kiện ngoại cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, mùa vụ ảnh hưởng rất lớn tới sức ñẻ trứng của gia cầm
Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt ñến sức ñẻ trứng của gà Ở nước ta vào mùa hè sức ñẻ trứng giảm xuống so với mùa xuân, ñến mùa thu thì sức ñẻ trứng của gà lại tăng lên
Nhiệt ñộ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt ñộ thích hợp cho gia cầm ñẻ trứng là 18 – 240 C Nếu nhiệt ñộ dưới giới hạn thì gia cầm phải huy ñộng năng lượng ñể chống rét và nhiệt ñộ cao trên nhiệt ñộ giới hạn thì cơ thể gia cầm phải thải nhiệt Nhiệt ñộ môi trường cao làm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn từ ñó làm giảm năng suất trứng và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009) Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu kết hợp với dinh dưỡng không hợp lý thì gia cầm ñẻ trứng không có vỏ
Liên quan chặt chẽ với nhiệt ñộ là ñộ ẩm không khí của chuông nuôi ðộ ẩm thích hợp từ 65- 70% ðộ ẩm thấp sẽ làm lượng bụi trong chuồng nuôi tăng lên, ñây
là một tác nhân gây bệnh ñường hô hấp Ngược lại ñộ ẩm cao là ñiều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây bệnh phát triển, nhất là các bệnh ñường tiêu hóa ðộ ẩm cao kết hợp với nhiệt ñộ cao sẽ gây stress nóng ẩm rất bất lợi với gia cầm, làm giảm
Trang 31khả năng ñẻ trứng, chất lượng trứng và giảm hiệu quả chăn nuôi
Ngoài nhiệt ñộ và ñộ ẩm, chế ñộ chiếu sáng cực kỳ quan trọng trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà ñẻ trứng nói riêng Gia cầm không chỉ cần ánh sáng ñể nhìn và tìm thức ăn, nước uống, nơi ở…mà nó còn khởi ñộng cơ quan sinh dục Theo Nguyễn Thị Mai và Cs (2009) võng mạc và não bộ của gia cầm rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng Cơ chế dẫn truyền kích thích của ánh sáng là cơ chế thần kinh - thể dịch mà tuyến yên là trung tâm truyền dẫn, chỉ những ánh sáng có bước sóng dài mới ñi qua ñược Vì vậy, muốn kích thích cơ quan sinh dục, cần sử dụng ánh sáng ấm với nhiều màu ñỏ và cam Ánh sáng tác ñộng ñến sức ñẻ trứng từ hai khía cạnh là thời gian chiếu sáng và bản chất của ánh sáng Khi sử dụng chế ñộ chiếu sáng trong chuồng nuôi gà, không chỉ ñảm bảo thời gian và cường ñộ chiếu sáng mà còn phải chú ý ñến màu sắc của ánh sáng Nếu muốn kích thích gà ăn nhiều, hoạt ñộng tìm ổ ñẻ hiệu quả, tránh ñẻ rơi trứng trên sàn ñối với gà ñẻ thì nên
sử dụng ánh sáng trắng lạnh với nhiều màu xanh Cần tăng cường ánh sáng ñỏ ñối với gà mái ñẻ nhất là giai ñoạn chuẩn bị vào ñẻ (giai ñoạn tiền ñẻ trứng) Yêu cầu của gà ñẻ về thời gian chiếu sáng là từ 12 – 16 giờ/ngày, cường ñộ chiếu sáng 10,8 lux ñủ cho năng suất trứng cao nhất Trong chăn nuôi gà ñẻ, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo ñể chiếu sáng cho gà với cường ñộ chiếu sáng từ 3 – 3,5 W/m2 (Ron Meijerhof, 2006)
Trang 32Chương 2 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
- ðối tượng nghiên cứu: Gạo xay (gạo lức tẻ) và gà ñẻ trứng thương phẩm Ai Cập
- ðịa ñiểm: Trại chăn nuôi gà Phượng Hoàng - Thanh Hà - Hải Dương
- Thời gian: từ tháng 10/2012 ñến tháng 6/2013
2.2 Nôi dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích thành phần hóa học của nguyên liệu và thức ăn thí nghiệm
- Xác ñịnh tỷ lệ nuôi sống của gà Ai Cập khi sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức ăn
- Xác ñịnh tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng của gà Ai Cập khi sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức ăn
- Xác ñịnh lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ai Cập khi sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức ăn
- Xác ñịnh ảnh hưởng của việc sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức ăn ñến một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà Ai Cập
- Xác ñịnh hiệu quả của việc sử dụng 10% và 15% gạo xay trong thức ăn
của gà Ai Cập
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm ñược bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với mô hình bố trí thí nghiệm một nhân tố Gà thí nghiệm ñược nuôi theo phương thức trên nền có ñệm lót không thay ñổi với kiểu chuồng hở Trong chuồng có quạt chống nóng và
hệ thống phun nước trên mái ñể giảm bớt bức xạ nhiệt của ánh sáng mặt trời về mùa
hè Ngoài ra, còn có hệ thống chiếu sáng ñể ñảm bảo giờ chiếu sáng bổ sung
Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc vệ sinh phòng dịch theo hướng dẫn chăn nuôi gà ñẻ Ai Cập thương phẩm của ñơn vị cung cấp giống Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương – Viện Chăn nuôi
Trang 33Chọn gà thí nghiệm: Lựa chọn 900 gà mái Ai Câp ñẻ trứng thương phẩm ở
17 tuần tuổi, có khối lượng trung bình của giống và khỏe mạnh Chia làm 3 lô: 1 lô ñối chứng (ðC), 2 lô thí nghiệm (TN) sử dụng 10% và 15% gạo xay Thí nghiệm ñược bố trí theo Sơ ñồ 2.1
TA hỗn hợp có 15% gạo xay
Sơ ñồ 2.1 Bố trí thí nghiệm
2.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm
Thức ăn và nguyên liệu thức ăn thí nghiệm ñược phân tích tại phòng thí nghiệm của công ty Cổ phần Việt Pháp sản xuất thức ăn gia súc Proconco theo các phương pháp:
- Phương pháp lấy mẫu theo TCVN 4325:2006
- Chuẩn bị mẫu thử theo TCVN 6952:2001 (TCVN, 2005)
- ðịnh lượng hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329:2007 (ISO 6865:2000)
- ðịnh lượng hàm lượng tro thô (khoáng toàn phần) theo TCVN 4327:2007 (ISO 5984:2002), tro hóa mẫu thức ăn ở nhiệt ñộ 500 – 5500C
- ðịnh lượng hàm lượng protein thô theo TCVN 4328 – 1:2007 (ISO 5983 – 1:2005)
- ðịnh lượng hàm lượng lipit thô theo TCVN 4321:2001 (TCVN, 2005)
- ðịnh lượng hàm lượng nước theo TCVN 4326:2001 (TCVN, 2005) Tỷ lệ vật chất khô (%) = 100% - % nước
- Dẫn xuất không nitơ (DXKN)
DXKN (%) = 100 – (% nước + % protein thô + % chất béo thô + % xơ thô + % khoáng tổng số)
- ðịnh lượng Canxi theo TCVN 1526 – 1:2007 (ISO 6490 – 1:1985)
Trang 34- ðịnh lượng photpho theo TCVN 1525:2001
- ðịnh lượng NaCl theo AOAC (1990)
2.2.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
- Khối lượng cơ thể gà
Cân vào các thời ñiểm khi gà bắt ñầu vào ñẻ, khi tỷ lệ ñẻ ñạt 5%, 50%, ñỉnh cao và lúc kết thúc thí nghiệm (38 tuần tuổi) Cân vào một giờ nhất ñịnh trước khi cho ăn Mỗi lô cân khoảng 10% số gà Cân từng con một, cân bằng cân ñồng hồ có
ñộ chính xác ± 5g
- Lượng thức ăn thu nhận (LTATN)
Hàng ngày cân chính xác lượng thức ăn ñổ vào máng cho gà ăn, vào giờ nhất ñịnh ngày hôm sau vét sạch thức ăn còn thừa và cân lại LTATN ñược tính theo công thức (1)
Thức ăn cho vào (g) - Thức ăn thừa (g) LTATN (g/con/ngày) =
Số gà trong lô (con) (1) Lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn thừa tính theo phần trăm vật chất khô
- Hiệu quả sử dụng thức ăn(HQSDTA)
Trong giai ñoạn ñẻ trứng, hiệu quả sử dụng thức ăn ñược ñánh giá bằng tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng ñẻ ra HQSDTA ñược tính theo công thức (2)
Lượng TATN (kg) HQSDTA (kgTA/10 quả trứng) =
Trang 35- Một số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng trứng
Phương pháp khảo sát trứng: Khảo sát trứng ở 36 tuần tuổi, mỗi lô 50 quả Chọn trứng có khối lượng trong phạm vi x ± б Trứng không quá 48h kể từ khi ñẻ
ra Giải phẫu trứng theo phương pháp của Orlov (1969)
+ Khối lượng trứng, lòng ñỏ, lòng trắng, vỏ trứng ñược cân bằng cân kỹ thuật có ñộ chính xác ±0,01gam
+ Màu sắc lòng ñỏ xác ñịnh bằng quạt so màu Roche
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu ñược xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học và ñược tính bằng chương trình Excel 2003 và Minitab 16
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm
Nguồn nguyên liêu thức ăn chăn nuôi rất ña dạng và phong phú Tuy nhiên
gà ñẻ trứng là loài vật rất dễ mẫn cảm với sự biến ñổi của thức ăn Vì vậy việc kiểm tra chất lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trước khi ñưa vào sản xuất là vấn ñề cần thiết
Căn cứ vào kết quả kiểm tra của nguyên liệu về thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng và kiểm tra cảm quan về màu sắc, mùi vị Chúng tôi ñã tiến hành lựa chọn những nguyên liệu ñưa vào sản xuất thức ăn cho gà Ai Cập ñẻ trứng thương
phẩm ñược trình bày ở Bảng 3.1
* Khô ñỗ tương
Khô ñỗ tương là một trong những phụ phẩm có chất lượng cao nhất trong ngành chế biến thực phẩm, hầu hết tất cả các khô ñỗ của chúng ta nhập khẩu từ các nước có nền nông nghiệp phát triển và công nghệ chế biến thực phẩm hiện ñại
Kết quả phân tích cho thấy: ñộ ẩm của khô ñỗ tương Ấn ðộ là 12,00%, hàm lượng protein tương ñối cao (46,00%) Sở dĩ như vậy là do các loại khô dầu này ñều ñược chế biến bằng phương pháp trích ly, lượng dầu ñã ñược tách ra hầu hết Chính
vì vậy hàm lượng lipit thô rất thấp (0,95%), hàm lượng xơ thô và tro thô tương ứng
là 6,39% và 8,21%
Với các kết quả phân tích trên có thể nói rằng khô ñỗ Ấn ðộ ñược sử dụng
có chất lượng tương ñối cao, phù hợp với tiêu chuẩn của Việt Nam cũng như tiêu chuẩn thức ăn cho gà ñẻ