Tuy nhiên có thể nhận thấy các đề tài mới chỉ dùng lại ở việc mô phỏng thực trạng, bản chất hoạt động xuất khẩu lao động mà chưa có công trình nào đi sau vào nghiên cứu cụ thể về sự tác
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG
GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Khảo sát tại: Huyện Hậu Lộc - Tỉnh Thanh Hóa)
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài trong sự nghiệp đổi mới của đất nước Xuất khẩu lao động là một một hiện tượng tất yếu khách quan, là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung, hàng hóa đem đi xuất khẩu là loại hàng hóa đặc biệt đó là sức lao động của con người, sức lao động trở thành hàng hóa còn khách mua sức lao động là chủ thể người nước ngoài Xuất khẩu lao động dựa trên mối quan hệ cung - cầu do sự mất cân đối các yếu tố trong các quá trình sản xuất giữa các nước và chịu sự điều tiết của quy luật thị trường Trong những năm qua, xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều địa phương, đã đem lại nhiều kết quả, vừa là phương tiện thu hút nguồn ngoại tệ thông qua tiền gửi người lao đọng là việc ở nước ngoài Mỗi năm lao động nước ngoài gửi về nước 1.7 tỷ USD, vừa là cơ hội tăng giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp Đây đươc coi là chiến lược phát triển của nhiều địa phương, tăng khả năng tích lũy cho xã hội, đa dạng hóa việc làm và thu nhập cho người lao động Đặc biệt đối với những người lao động là nông dân thì xuất khẩu lao động là một hướng đi gắn với xóa đói, giảm nghèo
Hậu Lộc là một huyện ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 25 km về phía đông bắc; giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung về phía bắc, Hoằng Hóa về phía tây và nam; phía đông giáp với biển Đông Diện tích 141.5 km2 có 27 xã, thị trấn Dân số 162.971 người (2009) Cơ
Trang 2cấu kinh tế của huyện chủ yếu là nông, lâm, ngư nghiệp, ngành công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển, năng xuất lao động và hiệu quả làm việc còn thấp, tình trạng thiếu việc làm là phổ biến Ở nông thôn 1/3 quỹ thời gian chưa được sử dụng hết, tương đương với 5 triệu lao động, đời sống người dân hết sức khó khăn, thu nhập thấp, nhu cầu việc làm là một thách thức lớn Trong những năm qua Thanh Hóa đã lựa chọn giải pháp xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, tạo ra nguồn thu ngoại tệ mạnh để phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.
Gia đình có một vị trí hết sức quan trọng, là hạt nhân của xã hội, là nguồn cung cấp lao động và tham gia tích cực vào thị trường lao động Gia đình vận động, biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của xã hội Gia đình là đơn vị tiếp nhận, thực hiện, đồng thời chịu những hệ quả tích cực và tiêu cực của mọi chính sách kinh tế, xã hội Việc xuất khẩu lao động đã ảnh hưởng đến đời sống
hộ gia đình nông dân có người đi xuất khẩu lao động Xuất phát từ thực tế khách
quan, tôi đã lựa chọn đề tài: "Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống
gia đình nông thôn hiện nay" nghiên cứu trên địa bàn huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh
Hóa làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tài liệu
Xuất khẩu lao động là một trong các yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội, giải quyết vấn đề việc làm Do quy luật cung-cầu của thị trường về lực lượng lao động làm nảy sinh vấn đề xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đời sống gia đình có người đi xuất khẩu lao động
Trang 3Đề tài "Xuất khẩu lao động ở Chí Linh, thực trạng và giải pháp" của
Nguyễn Thị Mai đã mô tả được thực trạng xuất khẩu lao động thông qua các chỉ báo số lượng, ngành nghề, thị trường, thu nhập, nêu ra những thuận lợi và khó khăn, khẳng định xuất khẩu lao động là một trong những chiến lược giải quyết việc làm, số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động ngày một tăng Tuy nhiên mới tác giả mới chỉ dừng lại ở việc thống kê ra các con số thông qua tài liệu, báo cáo
Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Hà Đông "Vai trò của người chồng trong gia đình có vợ đi xuất khẩu lao động" Tác giả đã tìm hiểu vai trò sản xuất và
tái sản xuất trong gia đình có người vợ đi xuất khẩu lao động Ở đề tài này tác giả nghiên cứu vai trò của người chồng trong gia đình có vợ đi xuất khẩu lao động chứ chưa tìm hiểu được những biến đổi trong mối quan hệ trong gia đình, những thay đổi về phương diện vật chất cũng như tinh thần
Đề tài: "Thực trạng xuất khẩu lao động ở nước ta trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Thị Hường (năm 2009) đã đề cập đến vấn đề xuất khẩu
lao động hiện nay, các yếu tố tác động đến nhu cầu đi xuất khẩu lao động của người lao động như cơ chế chính sách, đặc điểm về nhóm, giới tính, tuổi, thu nhập nhưng đề tài mới chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng XKLĐ mà chưa đề cập đến những tác động từ hoạt động XKLĐ đến đời sống của người dân
Công trình nghiên cứu của khoa học của tác giả Nguyễn Thị Lan " Vấn đề việc làm cho người đi xuất khẩu lao động sau khi trở về nước" (2011) Ở đề tài
này, tác giả tập trung nghiên cứu, mô tả thực trạng vấn đề việc làm của nh người
đi xuất khẩu lao động sau khi trở về nước sinh sống Có thể thấy đây cũng là một vấn đề cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo, bởi phần lớn những
Trang 4người đi xuất khẩu lao động đề là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, sau khi trở về nước muốn tìm một công việc phù hợp là rất khó trong khi điều kiện kinh
tế của địa phương và đất nước chưa cho phép và đây cũng là một trong những lý
do khiến cho tình trạng lao động ở Việt Nam cư trú bất hợp pháp tại các nước bạn Như vậy có thể thấy, đề tài đã đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong đời sống của người dân mà chưa bao quát tất cả những vấn đề của đời sống
Như vậy có thể thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xuất khẩu lao động, các tiểu luận, các công trình, bài viết đá đưa ra được thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam trong giai đoạn gần đây và một số biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động Tuy nhiên có thể nhận thấy các đề tài mới chỉ dùng lại ở việc mô phỏng thực trạng, bản chất hoạt động xuất khẩu lao động mà chưa có công trình nào đi sau vào nghiên cứu cụ thể về sự tác dộng của trở lại của hoạt động xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân đối với
cả người lao động có nhu cầu đi XKLĐ hay gia đình, thân nhân có người đi XKLĐ Đây là một vấn đề mang tính kinh tế và xã hội bởi thực chất mỗi một vấn đề đều có hai mặt của nó và hoạt động XKLĐ đang dần có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến cuộc sống của người dân trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực Những kết quả của XKLĐ mang lại cho người lao động và đất nước deefdf nhìn thấy rõ nhưng đằng sau nó là những hạn chế, tiêu cực, những mặt trái của hoạt động này mang lại đang ngày càng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân
và nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của đất nước Chính vì vậy, với đề tài này, tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu này có thể là những thông tin cần thiết, cung cấp cho các nhà quản lý, cơ qua lãnh đạo trong quá trình nâng cao đời sống của người dân, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Trang 53 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu dựa trên các biểu thức xã hội học chuyên ngành, xã hội học đại cương và hệ thống lý thuyết trong xã hội học như lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết hành động, lý thuyết về sự biến đổi
xã hội nhằm làm rõ "Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống gia đình nông thôn hiện nay" có người đi lao động ở nước ngoài Qua nghiên cứu giúp
cho việc củng cố và bổ sung hệ thống lý luận xã hội học chuyên ngành như xã hội học nông thôn, xã hội học gia đình, xã hội học kinh tế, xã hội học lao động Đồng thời, khái quát hóa vấn đề mở ra một số khía cạnh tiếp cận nghiên cứu hoạt động xuất khẩu lao động dưới góc độ xã hội học Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành quan niệm khoa học về xuất khẩu laođộng giúp cho việc hoạch định chính sách Qua đó cho thấy vai trò đổi mới của Đảng và Nhà nước ta ta trong sự phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Dưới góc độ tiếp cận xã hội học giúp cho bản thân tác giả và những người quan tâm hiểu rõ và sâu sắc thực trạng xuất khẩu lao động Tìm ra những tác động tích cực, tiêu cực của việc xuất khẩu lao động tác động đến mức sống, vai trò và các mối quan hệ của gia đình người nông dân có người đi xuất khẩu lao động Những kết luận đánh giá sẽ làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, nhà quản lý Qua đó, đưa ra kết luận và khuyến nghị làm cơ sở cho việc ban hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho công tác quản lý, chỉ đạo thường ngày của có quan chức năng Đồng thời giúp cho các nhà quản lý
Trang 6hoạch định các chính sách, đề xuất giải pháp phù hợp khắc phục những tồn tại, yếu kém để phát huy tiềm lực xuất khẩu lao động của huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung, nhằm gắn việc xuất khẩu lao động với xóa đói giảm nghèo, xây dựng gia đình ấn no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
4 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
• Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống gia đình nông thôn hiện nay
4.4 Mục tiêu nghiên cứu.
Để thực hiện được mục đích trên thì đề tài cần đạt được các mục tiêu sau:
Trang 7 Mô tả và phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của việc xuất khẩu lao động đến đời sống của hộ gia đình
Làm rõ sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc thúc đẩy hoạt động XKLĐ của địa phương
Khuyến nghị về chính sách nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân và gia đình
4.5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi thời gian: Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Mức sống (Thu nhập, chi tiêu, cơ sỏ vật chất, vui chơi giải trí) Vai trò và các mối quan hệ cơ bản như quan hệ vợ - chồng, cha
mẹ và con cái, người cao tuổi và con cháu trong gia đình có người thân đi xuất khẩu lao động
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp thu thập thông tin cơ bản của đề tài, xây dựng câu hỏi dựa trên giả thuyết của đề tài đã đặt ra Đơn vị lấy của 115 mẫu nghiên cứu là người trong hộ gia đình có người thân đi xuất khẩu lao động và được xử lý qua phần mềm SPSS 17.0 để cung cấp số liệu phục vụ cho đề tài
5.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Các văn bản liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các náo cáo của huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về xuất khẩu lao động Các kết quả khảo sát, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên báo, tạp chí, một số trang web được sử dụng làm tài liệu tham khảo có sự tiếp thu, kế thừa chọn lọc,
Trang 8đối chiếu, so sánh Từ đó giúp cho quá trình nghiên cứu diễn ra một cách tổng quát và có hiệu quả hơn.
5.3 Phương pháp quan sát
Quan sát các hộ gia đình thuộc địa bàn nghiên cứu gồm nhà ở, các điều kiện sinh hoạt, cơ sở vật chất thái độ người dân khi trả lời, tình hình thực tế của địa phương như môi trường sống, cách sinh hoạt của người dân
Trang 9Chọn giả định với sai số ( ) là 0,1 và mức độ tin cậy là 99,7 tương ứng với hệ số tin cậy là t = 3 Vì số lượng người trong hộ gia đình nông thôn của huyên Hậu Lộc đi XKLĐ năm 2014 là 1094 người nên ta áp dụng công thức ta được:
1094.32.0.25 n= = 187
1094.0.12+32.0.25Như vậy cỡ mẫu là 187 nhưng do dung lượng mẫu lớn cũng với thời gian nghiên cứu không có nhiều nên tác giả chỉ chọn 115 đối tượng để nghiên cứu
Sau khi tìm được dung lượng mẫu là 115, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm kết hợp với chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống
để chọn ra 115 hộ gia đình từ 1084 hộ có người đi XKLĐ để tiến hành nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Đa số những người đi xuất khẩu lao động đều giành một phần
thu nhập gửi về nên mức sống của gia đình họ được cải thiện
- Giả thuyết 2: Mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình có sự thay đổi
theo cả hai hướng cả tích cực và tiêu cực dưới tác động của việc đi xuất khẩu lao động
6.2 Khung lý thuyết
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH HIỆN NAY 1.1 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
Nhu cầu xuất khẩu lao động
Hộ gia đình có người đi XKLĐ
Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
Quan hệ cha mẹ - con cái
Trang 111.1.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Theo Tallcott Parsons (1902-1979) nhà xã hội học người Mỹ trong tác phẩm "Cấu trúc hành động xã hội -1939" Ông đã đưa ra lý thuyết về hành động
xã hội để mô tả mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng và xã hội Giữa cấu trúc
và chức năng có mối quan hên biện chứng với nhau, trong đó cấu trúc giữ vai trò quan trọng chi phối chức năng Sự thay đổi về chức năng có thể làm biến đổi cấu trúc xã hội
Vận dụng lý thuyết này để phân tích sự thay đổi các chức năng, phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình Nếu các thành viên trong gia đình không thực hiện đúng chức năng gia đình như một hệ thống sẽ bị rối loạn chức năng có thể gây ra quan hệ không có lợi cho sự tồn tại cấu trúc gia đình
1.1.2 Lý thuyết hành động xã hội
Hành động xã hội là loại hành vi có mục đích Hành động xã hội là hành động của con người trong xã hội có quan hệ đến người khác trong một tổ chức, tập thể trong xã hội M.Weber cho rằng hành động xã hội là loại hành vi chủ yếu
bị chỉ đạo bởi ý chí chủ quan trong mối tương quan với hành vi của những người đến sự hiện diện trực tiếp hoặc gián tiếp của người khác Hành động của con người phải hiểu và đáp ứng hành động của người khác Hành động được coi là hành động xã hội khi nó tương quan và định hướng và hành động của những người khác theo cái ý đã được nhận thức bởi chủ thể hành động M.Weber đã xây dựng một hệ thống kiểu mẫu hành động gồm 4 dạng hành động cơ bản sau:
Hành động hợp lý so với mục đích (Hành động duy lý công cụ): Hành động này cho thấy sự nỗ lực của cá nhân trên cơ sở phân tích, định hướng vào
Trang 12điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để xác định sự hợp lý về mục đích hành động của mình Tính hợp lý của mục đích thỏa mãn trên cả hai phương diện; Hợp lý về mặt nội dung của chính mục đích, hợp lý về phương diện đã được chủ thể lựa chọn Hành động hợp lý về mục đích đòi hỏi chủ thể hành động cần có những cân nhắc, tính toán hợp lý để có những phản ứng phù hợp, đồng thời tận dụng hành vi của con người xung quanh để đạt được mục đích của mình đã đặt ra Theo M.Weber, hành động hợp lý về mục đích có ưu điểm lớn về phương pháp luận, nó đóng vai trò mô hình mà theo đó các loại hành vi được hình thành và xây dựng trên cơ sở của những hoàn cảnh cụ thể.
Hành động hợp lý so với giá trị (hành động duy lý giá trị): Là hành động được thực hiện vì bản thân chủ thể hành động Chủ thể hành động buộc phải cân nhắc, lựa chọn những gì nó cho là có ý nghĩa, có giá trị Hành vi hợp lý về mặt giá trị là loại hành vi đúng mực, hành vi chuẩn mực được thực hiện bởi niềm tin của chủ thể vào giá trị đã được hình thành trong đời sống xã hội thông qua các hoạt động của các thiết chế chủ thể như gia đình, kinh tế, xã hội Khi hành động chủ thể nhận thức được nghĩa vụ của mình, lúc đó nó thực hiện nghĩa vụ phù hợp với những đòi hỏi được đo bằng thang giá trị mà cá nhân lĩnh hội được, chỉ khi đó hành động cá thể hợp với giá trị theo sự phán xét của cá thể đó
Hành động cảm xúc: Là hành động do trạng thái cảm xúc, tình cả gây ra không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ công cụ, phương tiện và mục đích hành động, là trạng thái cảm xúc nhất định của chủ thể, làm thế nào thỏa mái cái đam mê nhanh nhất đó là cái khát vọng, xu hướng phục thù, muốn tháo gỡ căng thẳng
Trang 13Hành động truyền thống: Là hành động hình thành trên cơ sở của viecj bắt chước những mô hình hành vi nào đó đã được củng cố, khẳng định trong truyền thống văn hóa và được chấp nhận Là hành vi lặp đi, lặp lại làm theo thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã truyền lại từ đời này sang đời khác.
Bốn loại hành động này không tách rời nhau một cách rõ ràng Trong số hành động của con người có hành động vì mục đích, có hành động vì giá trị nào đó, có hành động theo cảm xúc và có hành động theo một giá trị truyề thống nào đó Trên thực tế cho thấy, hành động của con người không thuần túy thuộc về một loại hành động nào đó mà thường là sự kết hợp các hành động với nhau Trong quá trình hành động, con người luôn lựa chọn các phương án hành động để thể hiện những mong muốn của mình, các hành động luôn có mối quan
hệ qua lại với nhau Quan điểm của M.Weber về hành động xã hội mang tính chất chủ quan "Hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định", động cơ bên trong là nguyên nhân hành động của chủ thể, nhu cầu tạo ra động cơ Trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định của chủ thể sẽ phải lựa chọn phương án tốt nhất nhằm đạt được mục đích
Bốn loại hành động trên không tách rời nhau một cách rõ ràng Trên thực
tế, khi hành động thường là sự kết hợp các loại hành động với nhau
Tóm lại: Hành động được gọi là hành động xã hội khi chủ thể hành động đặt cái ý chủ quan đã được lường trước về hành vi tương quan với những hành động của ngươi khác Đồng thời định hướng vào hành động của họ
Quan điểm của Durkheim mang tính chất khách quan, nó xác định tính chất của hành động trên cơ sở những cưỡng bức bên ngoài đối với chủ thể hành
Trang 14động Con người hành động ra bên ngoài do sự cưỡng bức của bên ngoài đối với chủ của hành động M.Weber nhấn mạnh sự tác động tương hỗ của con người với nhau trong quá trình hành động còn Durkheim xác định vị trí của hành động
xã hội của con người trong môi trường xã hội nhất định Nó nhận ra một hiện thực vừa bên ngoài, vừa bên trong cá nhân đang hành động, đó là cái mà Durkheim gọi là ý thức tập thể
Vận dụng lý thuyết hành động xã hội, tác giả có thể hiểu hơn về bản chất, động cơ, mục đích, nhu cầu hành động của những người đi xuất khẩu lao động Điều kiện kinh tế - xã hội của Thanh Hóa có mối quan hệ tác động qua lại với những hộ gia đình Người lao động luôn có nhu cầu tham gia vào một quan hệ lao động nào đó, được làm việc đó là nhu cầu xuyên xuốt cuộc đời người lao động Sự vận dụng chính sách xuất khẩu lao động ở Hậu Lộc - Thanh Hóa là công cụ, phương tiện để người lao động thỏa mãn nhu cầu và đạt được mục đích của họ Đối với các hộ gia đình có người đi xuất khẩu lao động là hành duy lý hướng đến mục đích, nó là nhu cầu gồm có nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần tạo ra động cơ thúc đẩy hành động đi xuất khẩu lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó Nó cũng là hành động duy lý hướng đến giá trị
Hành động xã hội chịu sự quy định bởi một số yếu tố sau: Quá trình xã hội hóa và cơ cấu xã hội Quá trình xã hội hóa là quá trình mà chúng ta tiếp nhận được của nền văn hóa xã hội mà chúng ta sinh ra, nhờ đó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta
Cơ cấu xã hội là một tập hợp phức tạp các quan hệ xã hội, vị trí xã hội và tương ứng với chúng ta là các vị thế, vai trò Mỗi cá nhân trong xã hội có nhiều
Trang 15vị trí xã hội khác nhau, cá nhân đứng ở vị trí nào thì đóng vai trò đó Cá nhân luôn có xu hướng hành động phù hợp với vị thế, vai trò của họ trong từng mối quan hệ của cơ cấu xã hội.
Hành động xã hội là sự trao đổi xã hội, khi hành động cá nhân luôn hướng tới một lợi ích nhất định, chính những lợi ích, phần thưởng, hình phạt quy định hành động xã hội
Hành động xã hội là sự tuân theo: Cá nhân luôn hành động theo số động
và họ có cảm giác yên tâm khi họ có hành động giống với người khác và được coi đó là chuẩn, là đúng Khi họ có hành động khác với số đông, họ có xu hướng thay đổi quan điểm, hành động của mình cho phù hợp với số đông đó Có những hành động của cá nhân chịu sự tác động của các chủ thể khác Do đó, có những yếu tố chủ quan như trình độ học vấn, thu nhập, chi tiêu, nghề nghiệp, và các điều kiện khách quan của việc xuất khẩu lao động như đơn vị sử dụng lao động, chủ trương chính sách, ảnh hưởng đến đời sống hộ gia đình nông ở nông thôn
Hành động xã hội là sự phản ứng với người xung quanh: Theo quan điểm cua E.Goffman, các cá nhân họ hành động rất khác nhau khi họ ở trước các chủ thể đó
Khi nghiên cứu mức sống của gia đình nông thôn ta phải thấy được cấu trúc của hành động, những yếu tố quy định hành động, những lý do chủ quan và khách quan của hành động, động cơ mong muốn khá giả, giải thích mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
1.1.3 Lý thuyết hành trao đổi và sự lựa chọn hợp lý
Trang 16Theo G.Homans, nhà xã hội học người Mỹ thì các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi giá trị vật chất và tinh thần như lợi ích, sự ủng hộ, danh dự Ông đã đưa ra 4 nguyên tắc giữa các cá nhân như sau:
Nếu một hành vi được thưởng hay được lợi thì hành vi đó có xu hướng hợp lại Hành vi được thưởng hay được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có
xu hướng lặp lại trong hoàn cảnh tương tự
Nếu phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẵn sàng bỏ ra nhiều chi phí
về vật chất và tinh thần để đạt được nó
Mức độ hài lòng, thỏa mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần Chủ thể hành động luôn đặt
ra các mục đích và họ hành động để hướng đến các mục đích đó Hành động đó
có sự lựa chọn để đem lại lợi ích nhiều nhất và giảm thiểu các thiệt hại, rủi ro
Thei Fredman và Hechter các chủ thể hành động được xem là những nhân
tố hành động có mục đích, mục tiêu phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể hành động Trong quá trình hành động chủ thể chịu sự tác động của các nhóm yếu tố:
- Sự hiếm hoi của tiềm năng: Mỗi chủ thể hành động có những tiềm năng khác nhau Tiềm năng đó được hiểu là mức sống, điều kiện kinh tế, thời gian, trình độ văn hóa, nghề nghiệp Đối với những người có tiềm năng, họ dễ dàng đạt được mục đích hơn so với những người ít tiềm năng Tùy theo tiềm năng của chủ thể có thể theo đuối mục đích của mình ở mức độ khác nhau Nếu tiềm năng không đáng kể, cơ may quá ít àm vẫn cố gắng để đạt được mục đích thì chủ thể
Trang 17hành động hủy hoại cơ may có giá trị cao hơn kế tiếp của mình Các chủ thể hành động luôn tối đa hóa lợi cho mình.
Các thiết chế xã hội: Theo Friedman và Hechter thì các thiết chế xã hội luôn ấp đặt khuôn mẫu hành động cho các cá nhân thông qua các tiêu chí, các nguyên tắc, các quy luật tạo ra các sự ảnh hưởng có hệ thống với các kết quả xã hội Do đó, hành động đi xuất khẩu lao động duy lý có sự lụa chọn , tính toán, cân nhắc dựa trên cơ sở khả năng, tiềm năng của mỗi cá nhân, họ phải chịu những chi phí về vật chất và tinh thần để đạt được những lợi ích từ xuất khẩu lao động mang lại Hành động xuất khẩu lao động phụ thuộc vào tính bắt buộc của điều kiện hoàn cảnh, thu nhập và họ đặt ra các mục đích đó nhưng mức độ hài lòng với mục đích đã đặt ra ở mức độ khác nhau, nó tùy thuộc vào khả năng của mỗi người
1.1.4 Lý thuyết biến đổi xã hội
Xã hội luôn vận động, mỗi cá nhân trong quá trình tương tác có sự biến đổi của các quan hệ con người, các tập thể, các nhóm với nhau Những biến đổi diễn ra theo không gian, thời gian xác định trong mỗi hoàn cảnh, tình huống cụ thể Sự biến đỏi do con người tạo ra có biến đổi có hoạch định và biến đổi không hoạch định
-Biến đổi có hoạch đinh: Là sự chuẩn hóa các chương trình dựa trên mục đichs trước nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan và chủ quan của xã hội
-Biến đổi không có hoạch đinh: Là những biến đổi bất ngờ không biết trước (thiên tai, hạn hán )
+Các nhân tố của biến đổi xã hội
Trang 18- Chủ thể tác động là cá nhân hoặc nhóm
- Các chiều hướng, xu thế thay đổi xã hội tạo ra cho cá nhân, tập thể định hướng xã hội nhằm biến đổi mình cho phù hợp để đạt được mục đích đặt ra Xu hướng có tính chất tích cực hoặc tiêu cực Những biến đổi tích cực là những cá nhân, nhóm xã hội có quan điểm đồng nhất có xư hướng sâm nhập vào những trào lưu xã hội, ngược lại xu hướng tiêu cực là những hệ tư tưởng hoặc những hệ
tư tưởng hoặc những quan hệ xã hội nhằm đi ngược với trào lưu xã hội biến đổi hoặc đường lối chủ trương chính sách của Nhà nước
- Những yếu tố dân số: Sự bùng nổ dân số ảnh hưởng trực tiếp đến những người cư trú trong một nước làm giảm lợi ích của cá nhân và xã hội theo xu hướng chung, biến đổi cơ cấu xã hội (dân số tăng làm thu nhập bình quân đầu người thấp)
- Vấn đề di cư là sự thay đổi chỗ ở, hiện tượng di cư diễn ra liên tục trong
xã hội xuất phát từ trong nghiên cứu đời sống kinh tế-xã hội cho tới vấn đề chính trị, hệ tư tưởng người ra chia làm hai loại di cư là di cư hợp pháp và di cư bất hợp pháp Các hình thức di cư như di cư theo địa lý, di cư tạm thời, di cư ra nước ngoài
Vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội để giải thích sự di cư và sự di động về
vị trí, địa vị của các thành viên trong gia đình theo chiều dọc
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm gia đình
Trang 19Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội mà các thành viên của hộ gắn bó với nhau bằng các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi Các thành viên trong gia đình đều sinh hoạt chung về văn hóa, tình cảm, kinh tế Gia đình tồn tại nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của các thành viên, vừa đáp ứng yêu cầu của xã hội trong việc tái sản xuất dân số cả về vật chất và tinh thần Gia đình còn đảm bảo chức năng khôi phục sức khỏe cho các thành viên trong gia đình sau thời gian lao động.
Gia đình được Liên hợp quốc coi như một thiết chế xã hội, là đơn vị tự nhiên cơ bản của xã hội, một đơn vị sản xuất cơ bản, chúng ta nhấn mạnh gia đình như đơn vị kinh tế xã hội cơ bản Là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm
xã hội mà các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi bởi tính cộng đồng và trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của các thành viên và thực hiện tính tất yếu của
xã hội về tái sản xuất
Gia đình trong xã hội học được định nghĩa như sau: "Gia đình là gồm một
nhóm xã hội gồm hai hay nhiều người được gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hoặc nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của họ vừa nhằm thỏa mãn những nhu cầu của xã hội về tái sản xuất dân cư ở
cả về thể xác lẫn tinh thần"
Theo từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Việt: "Gia đình là một nhóm
người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hay việc nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, giữa anh chị em trong gia đình, giữa anh chị em họ hàng xa hơn Gia đình dù ít hay nhiều, quan trọng đến mức nào đối với sự phát triển kinh tế xã hội, luật phát, chính trị, có
Trang 20những liên hệ ở các chừng mực khác nhau với tôn giáo Để đạt được sự bền vững, gia đình phải thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, sinh đẻ và nuôi dạy con cái"
1.2.2 Khái niệm xuất khẩu lao động
Theo dân số học xuất khẩu lao động là sự di dân quốc tế, vừa mang ý nghĩa di chuyển lao động vừa mang ý nghĩa xuất khẩu vì nó là sự di chuyển lao động qua đường biên giới
Theo thuật ngữ của Bộ lao động, Thương binh và xã hội: "Xuất khẩu lao
động là việc đưa người lao động đi làm thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật".
Xuất khẩu lao động, xét về mặt kinh tế: Là một loại hình xuất khẩu dịch
vụ cung cấp một loại hành hóa đặc biệt (sức lao động) Nó chứa đựng đầy đủ tính chất, yêu cầu của loại hàng hóa đặc biệt: Hoạt động của con người, tổng quan về các mối quan hệ xã hội Giá cả của sức lao động này phụ thuộc vào chất lượng của lao động, trước là các yếu tố về trình độ chuyên môn, tay nghề được đào tạo, mức độ giao tiếp về ngoại ngữ, văn hóa và khả năng hội nhập, giao lưu với các nền văn hóa khác
*Đặc điểm xuất khẩu lao động:
Sự hình thành và phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động quốc tế: Xuất khẩu lao động là đem sức lao động của quốc gia này đến quốc gia khác nhằm mục đích kinh tế nhưng có sự khác nhau về chất, lúc đầu mang tính tự
Trang 21phát, về sau mang tính tự giác, có tổ chức Là hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung, hàng hóa đi xuất khẩu sức lao động.
Xuất khẩu lao động là sự phân công và hợp tác quốc tế Theo Mác, khi lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia thì tất yếu sẽ dẫn đến sự phân công lao động và hợp tác quốc tế và sự phân công lao động xã hội ngày càng hoàn thiện hơn Sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển kinh tế-xã hội cũng như sự phân bố không đồng đều về tài nguyên, dân cư, khoa học công nghệ giữa các vùng, khu vực và giữa các quốc gia dẫn đến không
có một quốc gia nào có đầy đủ, đồng bộ các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế Để giải quyết tình trạng mất cân đối cung cầu lao động, tất yếu dẫn đến việc các quốc gia phải tìm kiếm và sử dụng nguồn nhân lực từ bên ngoài để
bù đắp phần thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế của nước mình Thông thường các nước xuất khẩu là các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, dân số đông, thiếu việc làm ở trong nước hoặc thu nhập thấp không đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và chính bản thân người lao động Trong khi đó các nước phát triển họ lại ít dân, không đủ nhân lực để sản xuất hoặc những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại, không hấp dẫn họ dẫn đến thiếu hụt lao động cho sản xuất Để duy trì sản xuất phải đi thuê lao động từ các nước có khả năng cung ứng lao động làm thuê Xuất hiện nhu cầu trao đổi giữa một bên là và một bên là đi thuê lao động Điều này đồng nghiax với việc hình thành nên một loại thị trường đó là thị trường hàng hóa lao động quốc tế Đối tượng trao đổi là sức lao động, thỏa thuận giá cả, một loại hàng hóa vô hình
và tuân theo quy luật khách quan của thị trường: Quy luật cung - cầu, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh, Tuy nhiên, không chỉ có những quốc gia dôi dư lao động mới xuất khẩu mà ngay cả những quốc gia thiếu lao động họ cũng xuất
Trang 22khẩu những lao động lành nghề, công nhân kĩ thuật cao và nhập khẩu lao động
có trình độ thấp để thu nguồn ngoại tệ Điều đó, xảy ra hiện tượng di cư lao động giữa các nước (Di cư quốc tế) Đi lao động nước ngoài có thời hạn là hình thức di
cư hợp pháp, một giải pháp tạo việc làm giảm sự căng thẳng việc làm tại địa phương, là hành vi xuất khẩu lao động
1.2.3 Khái niệm nông thôn
"Nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ - xã
hội của con người, nơi sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Mật độ dân cư thường thấp và kết cấu cơ sở hạ tầng kém tiện nghi"
(Theo tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công
an Nhân dân, Hà Nội, 2006, tr292)
1.2.4 Khái niệm đời sống
Đời sống là tổng thể các hiện tượng phát sinh do sự tác động lẫn nhau của các chủ thể trong xã hội và cộng đồng tồn tại trong những không gian và thời gian nhất định, là tổng thể hoạt động của con người để nhằm đáp ứng các nhu cầu của chính bản thân
Bản chất của đời sống chính là thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của con người,
có 5 nhu cầu cơ bản:
+ Nhu cầu sinh lý: Là những đòi hỏi về vật chất nhằm đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của con người Đó là nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại Đây là nhu cầu
cơ bản, hàng đầu đảm bảo sinh tồn cho mỗi cá nhân
Trang 23+ Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu về sự bình an, ổn định trong cuộc sống+Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu giao tiếp xã hội để mỗi cá nhân thể hiện vị trí, vị thế, vai trò xã hội của mình.
+Nhu cầu tôn trọng: Là những đòi hỏi của mình nhận biết về người khác
và người khác nhận biết về mình
+Nhu cầu tự khẳng định mình: Là những đòi hỏi của cá nhân đối với những vấn đề có liên quan đến khả năng trong việc bộc lộ vai trò của mình trong
xã hội Thể hiện nhu cầu này là năng lực bà thành tích
Ở đề tài này, với việc nghiên cứu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đến đời sống gia đình nông thôn hiện nay thì đề tài đề cập đến cả hai mặt của đời sống là: Vật chất và tinh thần thông qua tìm hiểu, điều tra qua các hu cầu về sinh
lý, nhà ở, ăn uống, đi lại, các phương tiện sinh hoạt, đồ dùng trong nhà Nhu cầu về an toàn: Trật tự an ninh, nhu cầu xã hội: Giao tiếp, được tiếp cận các dịch
vụ xã hội về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giao lưu văn hóa nghệ thuật, du lịch Thông qua tìm hiểu thực tế đời sống của người dân để thấy rõ những tác động, ảnh hưởng của hoạt động XKLĐ trên cả hai phương diện là tích cực và tiêu cực
từ đó có những chính sách điều chỉnh kịp thời
Tiểu kết chương 1
Để đánh giá một cách khách quan nhất, tác giả đã vận dụng, trình bày các khái niệm, lý thuyết, định nghĩa xã ội học Đồng thời sử dụng các phương pháp, định nghĩa, áp dụng các lý thuyết xã hội học đó xuyên xuốt toàn
Trang 24bài luận văn để tìm hiểu, xem xét, đánh giá một cách khách quan nhất về ảnh hưởng của xuất khẩu đến chính đời sống về các mặt kinh tế, xã hội, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài.Với tư cách là một khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động trong đời sống hiện thực cũng như đời sống thường Là một vấn đề nổi cộm được xã hội quan tâm Ngoài ra trên cơ sở khoa học và thực tiễn khách quan tác giả còn áp dụng các lý thuyết, định lý, định nghĩa để áp dụng vào thực tế khi phân tích, giải thích thực trạng các vấn đề phát sinh từ xuất khẩu lao động tác động ngược trở lại đến đời sống, tâm lý của người lao động, của những thành viên khác trong gia đình, ngoài những ưu điểm từ xuất khẩu lao động mang lại, cái được trước mắt, tác giả còn vận dụng các lý thuyết các định nghĩa và các bài viết từ sách, báo, tạp chí, những nghiên cứu như luận văn, luận án tiến sỹ để có thêm thông tin, kiến thức, vận dụng các nghiên cứu đi trước để đưa ra các luận
cứ, luận chứng phản hồi hoặc chứng minh một cách thiết thực để bài luận văn này có tính thực tế cao
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY
2.1 Điểm kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Trang 25Hậu Lộc là một huyện ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 25 km về phía đông bắc; giáp huyện Nga Sơn, Hà Trung về phía bắc, Hoằng Hóa về phía tây và nam; phía đông giáp với biển Đông Diện tích 141.5 km2 có 27 xã, thị trấn Dân số 162.971 người (2009) Theo
số liệu điều tra 01/04/2009, toàn huyện có tất cả 163.971 người Giá trị tổng sản phẩm GDP năm 2005 đạt 755 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2000-2005) đạt 9,6% Cơ cấu kinh tế năm 2005 Nông–Lâm-Ngư nghiệp: 55,0%; Công nghiệp–Tiểu thủ công nghiệp–Xây dựng (CN-TTCS-XD): 14,2%; Thương mại – Dịch vụ: 30,8%
Huyện Hậu Lộc có tổng diện tích đất nông nghiệp 7.227,74 ha, trong đó diện tích đất nhiễm mặn hơn 2.768 ha gồm các xã vùng Đông - Tây kênh De của huyện, như: Đa Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc, Hải Lộc, Liên Lộc, Quang Lộc, Hoa Lộc, Hòa Lộc, Phú Lộc, trong đó có hàng trăm ha bị nhiễm mặn nặng Để khắc phục tình trạng này, huyện đã có nhiều giải pháp để chuyển đổi, sử dụng có hiệu quả diện tích đất nhiễm mặn như chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với điều kiện đất đai thổ nhưỡng, phù hợp với đất nhiễm mặn, như: Mô hình trồng cây dưa hấu Hắc Mỹ Nhân có giá trị kinh tế đạt 150 - 200 triệu đồng/ha/vụ thu hoạch; mô hình trồng cây ớt xuất khẩu tại các xã vùng ven biển của huyện đạt giá trị từ 200 - 250 triệu đồng/ha, mô hình trồng khoai tây Hà Lan Solara, cây ngô ngọt, cây dưa bao tử, dưa hồng Vụ đông năm 2014, toàn huyện đã trồng được 362 ha cây hàng hóa trên các vùng đất nhiễm mặn ở các xã ven biển, trong đó có 125 ha ngô ngọt, tập trung ở các xã: Phú Lộc, Hoa Lộc, Liên Lộc, Minh Lộc; 153 ha ớt xuất khẩu tại các xã Phú Lộc, Liên Lộc, Quang Lộc, Đa Lộc, Minh Lộc, Hưng Lộc
Trang 26Hậu Lộc nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, song chịu ảnh hưởng của khí hậu miền bắc nhiều hơn bà có đặc điểm riêng của khí hậu tiểu vùng Với mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, nước bắt nguồn từ các khe suối, thường cạn vào mùa kho cho nên nó ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất của người dân
vì thế nó có ảnh hưởng đến kinh tế người dân nơi đây trong việc phát triển kinh
tế hộ gia đình
Trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ và các cấp Chính quyền trong toàn xã hội, giúp đỡ phát triển kinh tế gia đình, cho vay với lãi suất thấp, cung cấp các thông tin, hỗ trọ cho lao động đi nước ngoài để làm ăn
vì thế cơ cấu kinh tế của vùng đang được chuyển dịch sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định, cơ sở hạ tầng được kiên cố hóa, văn hóa xã hội được khởi sắc Về cơ bản, đời sống của người dân trong toàn xã hội được nâng lên trong đó có những gia đình có người nhà đi xuất khẩu lao động
* Đặc điểm về kinh tế xã hội
Lao động việc làm và các vấn đề xã hội: Thu nhập binh quân đầu người đạt 420/000 người/tháng (theo báo cáo của phòng TB VÀ XH huyện Hậu Lộc) Giải quyết việc làm được 5182 lao động, phát động phong trào quỹ vì người nghèo, làm mới và sửa chữa nhà ở cho trên 600 hộ nghèo, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 20% Xây dựng các công trình cấp thoát nước sạch, huyện còn triển khai chương trình đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn với mục tiêu trang bị cho người lao động có kiến thức cơ bản về kĩ năng nghề và khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động
Trang 27Là một trong những huyện thuần nông của tỉnh Thanh Hóa nhưng trong những năm gần đây bức tranh kinh tế của huyện đã phát triển với tốc độ khá cao
bộ mặt của huyện ngày càng được cải thiện, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, giao thông thuận lợ, nguồn lao động dồi dào Các cấp Ủy, Chính quyền địa phương đã quan tâm đến các chính sách phát triển kinh tế xã hội, công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thông thoáng cho cá hộ sản xuất kinh doanh, phát triển các ngành dịch vụ như karaoke, internet, quán ăn
Kinh tế nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp trong những năm gần đây đạt được nhiều thành tựu đáng kể, năng suất trung bình đạt 10.5 tạ/ha Năm 2012, chính quyền các xã thuộc huyện Hậu Lộc phối hợp chỉ đạo người dân hoàn thanh công cuộc " Dồn điền đổi thửa" theo đúng kế hoạch đã đề ra
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Sản xuất thiểu thủ công nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
Về văn hóa và đời sống tinh thần: Hoàn thành việc đầu tư xây dựng đình làng và chùa làng Các làng trong xã đạt danh hiệu "Làng văn hóa" chiếm trên 90% Tổ chức đám cưới, ma chay theo đúng quy định, không có lệ tổ chức cỗ linh đình, việc tang thực hiện cơ bản tốt
Trong những năm gần đây nhờ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mặt khác nhờ sự quan tâm của các cấp chính quyền, hoạt động XKLĐ của các xã thuộc huyện Hậu Lộc được duy trì và ngày càng được đẩy mạnh Trong
10 năm trở lại đây số người đi XKLĐ đã tăng lên tới hàng nghìn người Chính vì vậy, đời sống kinh tế của người dân cũng dần được ổn định và từng bước phát triển Theo thống kê, tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm gần 70% Số hộ nghèo chỉ còn
Trang 2810% chủ yếu tập trung vào gi đình không có người đi xuất khẩu lao động nước ngoài hoặc hộ gia đình có người tàn tật, neo đơn, những gia đình có người đi XKLĐ đều xây được nhà hai, ba tầng hoặc biệt thự, mua sắm đồ đạc sinh hoạt đắt tiền như ti vi, tủ lạnh, bình nóng lạnh, điều hòa, nooisi mạng Internet và đầu tư vào các lĩnh kinh tế.
Khi kinh tế phát triển các công trình phúc lợi xã hội với chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm theo đó được hộ dân ủng hộ tích cực Các thôn, xã
có đường bê tông chắc chắn Như vậy có thể thấy huyện Hậu Lộc trong những năm gần đây có sự phát triển vượt bậc cả về mặt vật chất và tinh thần, đó cũng nhờ một phần của hoạt động XKLĐ
2.2 Thực trạng xuất khẩu lao động huyện Hậu Lộc
2.2.1 Công tác chỉ đạo và tổ chức
Công tác XKLĐ đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo Năm 2005
đã thành lập Ban chỉ đạo XKLĐ từ tỉnh đến các xã, phường, thị trấn và hàng năm giao chỉ tiêu kế hoạch cho các huyện, thị xã thực hiện Ban chỉ đạo gồm có Ngân hàng nông nghiệp, Ngân hàng chính sách xã hội, Phòng nội vụ - lao động thương bnh xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Tổ chức, đoàn thể phân công trách nhiệm cho từng thành viên, theo từng địa bàn và gắn chức năng, nhiệm vụ của ngành với công tác xuất khẩu lao động cụ thể
Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và ngân hàng Chính sách xã hội: Tập trung nguồn lực vốn, rút ngắn thời gian, thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người lao động, con em các hộ chính sách được vay vốn tham gia XKLĐ
Trang 29Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội: Thống kê, phân tích và phân loại lực lượng lao động trên địa bàn, phối hợp các doanh nghiệp XKLĐ tổ chức triển khai tư vấn, tuyển chọn, mở lớp làm và các thủ tục cho người tham gia XKLĐ.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể, thành viên Ban chỉ đạo XKLĐ: Tuyên truyền các chủ trương, chính sách, mục đích ý nghĩa của việc đi lao động ở nước ngoài Tiến hành rà soát các đối tượng trong độ tuổi lao động chưa có việc làm
Doanh nghiệp XKLĐ được tuyển dụng lao động theo địa bàn các xã, thị trấn phân công Điều đó không chỉ đảm bảo tính cạnh tranh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp mà cong là sự lựa chọn của người lao động vì người lao động ít có
cơ hội tiếp cận những thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp khác nhau về thị trường lao động bà các chế độ ưu đãi, thu hút lao động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp XKLĐ đã phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức giáo dục, định hướng, tư vấn, đối thoại trực tiếp thông tin với người lao động về chính sách pháp luật về XKLĐ, tiêu chuẩn, cơ cấu ngành nghề tuyển dụng, thời hạn hợp đồng, loại hình công việc, tiền lương, phong tục, tập quán của nước tuyển dụng lao động, mức phí tiền đặt cọc phải nộp, quyền và nghĩa vụ của người lao động Tuyển chọn lao động dựa trên chỉ tiêu và tiêu chuẩn của hợp đồng lao động cung ứng lao động, thời gian lao động ở nước ngoài từ 2 - 3 năm, có thể thời hạn lao động hạn thêm 1 hoặc 2 năm Trước khi đi lao động ở nước ngoài, người lao động kí hợp đồng với đơn vị trung gian (Doanh nghiệp xuất khẩu lao động), kiểm tra sức khỏe, đóng phí, học tiếng Các cơ quan chức năng như ngân hàng, trung tâm y tế, công an huyện đã tập trung giải quyết những khó khăn về vốn,
Trang 30thủ tục hồ sơ, hộ chiếu xuất nhập cảnh tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động
2.2.2 Nguồn tin xuất khẩu lao động
Người dân biết được nguồn tin về tuyển dụng lao động đi làm ở nước ngoài qua 5 nguồn sau:
Bảng 2.1: Nguồn tin xuất khẩu lao động
Phương tiện truyền thông đại chúng 59 51.3
Cơ quan giới thiệu việc làm của Nhà
nước, doanh nghiệp XKLĐ
Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Cơ quan giới thiệu việc làm đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin đến với người lao động chiếm (41.6%), phương tiện truyền thông đại chúng là 51.3% Các doanh nghiệp XKLĐ đã phối hợp với phòng Nội vụ - LĐTBXH, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn đã tập hợp những người trong độ tuổi lao động với
và gia đình để tuyên truyền đưa những thông tin về các chương trình XKLĐ đến với đơn vị sử dụng lao động ở nước ngoài Các thông tin từ đơn vị sử dụng lao động trực tiếp với người lao động 42.6% thể hiện sự thụ động của người lao động trong việc tiếp cận các nguồn tin
Qua đây có thể nhận thấy các nguồn thông tin đến với người lao động có
sự phân tầng rõ rệt và chủ yếu qua khâu trung gian Đối với người nông dân,
Trang 31tính liên kết, tính chất cộng đồng làng xã rất bền chặt Nếu việc XKLĐ mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân thì bản thân và gia đình trở thành tuyên truyền viên tích cực
2.2.3 Trình độ của người đi xuất khẩu lao động
Trình độ học vấn của người lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động Khi học vấn của người lao động càng cao chứng tỏ nền tri thức của đất nước đó càng phát triển xét trên phương diện theo hướng vi mô khi áp dụng nghiên cứu cho đê tài này, để tìm hiểu xem thực trạng chất lượng nguồn lao động của lao động nông thôn tại địa bàn huyện Hậu Lộc khi đi xuất khẩu lao động
Biểu đồ: 2.1 Trình độ học vấn của người lao động
Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Để lựa chọn tham gia hoạt động xuất khẩu NLĐ cân nhắc trên cơ cở tiềm năng của mỗi cá nhân và hộ gia đình Mỗi lao động có khả năng đáp ứng đáp ứng yêu cầu ở mực độ công việc khác nhau cụ thể, NLĐ có trình độ tiểu học (5%), THCS (27%), THPT (41%), trình độ cao đẳng và đại học ko có phần trăn lao động nào đạt được Thực tế cho thấy chất lượng lao động của Hậu Lộc rất thấp, có đến 90% lao động chưa qua đào tạo Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động có xu hướng khai thác sức lao động cơ bắp sẵn có, chưa có sự đầu tư chiều sâu góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực lao động tỉnh Thanh Hóa
Trang 32Nhìn chung trình độ học vấn của người lao động đi XKLĐ vẫn ở trình độ lao động phố thông, tay nghề thấp, lao động chủ yếu dựa vào lao động chân tay Số lao động được qua đào tạo tương đối thấp do đó chất lương lao động chỉ dừng lại ở mức trung bình phần nào không đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cần
Trước khi người lao động làm thủ tục đi XKLĐ phải đón góp một khoản chi phí do bên giới thiệu hoặc trung gian chi phí và bảo lãnh cho người lao động xuất nhập cảnh Trong khi đó xét về đối tượng lao động là nông dân nên nguồn vốn sẵn có không nhiều hoặc không có đủ chi trả vì vậy việc vay mượn là điều tất yếu và ta đi xem xét các khoản đóng góp đó của gia đình được hỗ trợ từ nguồn nào ta có biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2: Các khoản đóng góp của gia đình.
Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Người đi xuất khẩu lao động phải bỏ ra chi phí về kinh tế như các khoản đóng góp, sức lao động để nhận được một phần tương xứng với chi phí phải bỏ
ra như tiền lương, phụ cấp Đó là sự cân bằng giữa chi phí và phần thưởng nhưng trong thực tế không phải ở đâu, lúc nào cũng duy trì được cân bằng đó Trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động người ta cân
đo, tính toán trên cơ sở lợi - hại, được mất, người ta tối đa hóa cái lợi, điều được
và tối đa hóa cái hại, điều mất để theo đuổi mục đích đã đặt ra nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân Xuất khẩu lao động là hoạt động đòi hỏi chi phí lớn về thời gian, vật chất và sức lực, cá nhân phải cân nhắc lợi ích của việc đi XKLĐ mang
Trang 33lại Người nông dân có kinh tế khó khăn, thu nhập từ lao động trong nông nghiệp rất thấp và hi vọng việc ra đi làm cuộc sống của họ khấm khá hơn, công việc phù hợp với khả năng và đem lại thu nhập cao cho hị thì việc lựa chọn đi XKLĐ được coi là phương án có lợi nhất Tùy thuộc vào từng thị trường lao động mà mức đóng góp của các khoản chi phí, lệ phí, tiền đặt cọc khác nhau Tiếp cận với nguồn vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng và vay từ người thân, bạn bè được các hộ gia đình nông dân vay, mượn, thế chấp là cao nhất trên 50% do thủ tục vay vốn hay mượn từ bạn bè, người thân đơn giản, thuận tiện, khả năng thành công cao và khi hoàn trả cũng dễ dàng.
"Khi làm các thủ tục đi xuất khẩu lao động được các cơ quan chức năng tạo
điều kiện thuận lợi rất nhiều và nhanh gọn, không bị khó khăn hay phiền hà gì"
(Trích PVS: Số 1)
Tiếp theo nguồn vốn được vay từ người thân, bạn bè và các nơi khác trên 30% Xét tương quan với chủ hộ gia đình, nhóm huy động dựa trên tích lũy và
uy tín cá nhân (tự có; sự trợ giúp; vay vốn của người thân, bạn bè)
Qua đây cho thấy về mặt kinh tế để có chi phí chi trả cho việc đi XKLĐ nguồn tự có của gia đình rất hạn chế, vì người lao động là nông dân, ít làm thêm các công việc khác nên nguồn thu chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, chủ yếu chi phí chi trả là đi vay mượn từ người thân, bạn bè và ngân hàng còn nhận được
sự hỗ trợ từ người thân, và bạn bè cũng có nhưng số lượng cũng không cao
Bảng 2.2: Số lao động đi XKLĐ qua các năm theo giới tính
Năm Tổng Tần suất NamTỷ lệ % Tần suất NữTỷ lệ %
Trang 342013 967 569 68.20 308 31.80
Nguồn (Tổng cục thống kê xuất nhập cảnh lao động huyện Hậu Lộc)
Việc XKLĐ xuất phát từ nội tại của đại phương, của từng hộ gia đình và nhu cầu mua sức lao động của các công ty nước ngoài gồm hai nhân tố lực hút
và lực đẩy, cung và cầu Người lao động muốn bán sức lao động, người hinh doanh nước ngoài muốn mua sức lao động để hòa thành thiết lập mối quan hệ và duy trì mối quan hệ này trong một thời gian nào đó tùy theo nhu cầu đối với công việc Số lao động đi XKLĐ cũng là số người di dân, thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian tương đối dài thể hiện sự tự chủ, đổi mới của người nông dân Số người đi lao động ở nước ngoài trong chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số người trong độ tuổi lao động 14.73% Số người đi XKLĐ qua các năm khác nhau và có xu hướng giảm dần Điều đó cho thấy sự hưởng ứng của người lao động đối với hoạt động XKLĐ ở Thanh Hóa còn ở con số khiêm tốn, chính sách XKLĐ chưa thật sự ăn nhập sâu rộng vào đời sống người nông dân, chưa khai thác hết thế mạnh, tiềm năng của người lao động
Xét tương quan giới tính, lao động nam đi lao động có thời hạn ở nước ngoài nhiều hơn nữ, mức chênh lệch 43.20% do nam giới có lợi thế hơn (đực thù hình thể, nghề nghiệp tuyển dụng phì hợp với nam hơn nữ, tâm lý phụ nữ nông thôn nhu mỳ, ngại xa nhà, lối sống khép kín) dễ thay đổi và thích nghi với môi trường mới Những người đi XKLĐ có thời hạn ở nước ngoài thường là những người trẻ, trẻ, cần cù, chịu khó, chấp nhận xa gia đình, hi sinh về tình cảm làm việc trong điều kiện khí hậu, môi trường khác lạ để mong muốn thay đổi địa vị gia đình Do đó, trong giai đoạn đầu đã ảnh hưởng ít nhiều đến sức khỏe, hiệu
Trang 35quả làm việc của họ Từ phong trào đi XKLĐ các thôn xóm còn lại là những người phụ nữ, người già và trẻ em.
Biểu đồ 2.3: Đối tượng đi XKLĐ
Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Con cái đi lao động có thời hạn ở nước ngoài có tỷ lệ cao nhất (53%) người chồng 31.4% và người vợ là 14% Đi làm thuê ở nước ngoài xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của gia đình hay những gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đất canh tác quá ít Người chồng đi XKLĐ cao hơn so với người vợ 10% vì họ được gán là trụ cột kinh tế của gia đình Tuy nhiên việc đi đi lao động
ở nước ngoài bản thân và gia đình họ cũng chịu nhiều áp lực từ phía họ hàng,
làng xóm "Tôi vấn phải nghe những lời bà con, làng xóm xì xào có vợ không biết
giữ, ở nhà là vợ mình, sang bên đó là vợ người" (Trích PVS: Số 2)
Qua đây cho thấy đối tượng đi xuất khẩu la động chủ yếu là con cái trong gia đình, bởi con cái nằm trong độ tuổi lao động cao, sức lao động cũng như cơ hội kiếm việc làm tại nước ngoài cũng cao hơn so với các đối tượng khác, mặt khác đi XKLĐ người lao động mong muốn kiếm được nguồn vốn để về nước lập nghiệp sinh sống sau này vì lẽ đó tuổi đời của họ cũng còn dài nên việc đi XKLĐ đối tượng là con cái phần trăm cao nhất là điều dễ hiểu
* Thị trường lao động
Biểu đồ 2.4: Thị trường xuất khẩu lao động
Trang 36Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Quy mô XKLĐ hẹp và không đồng đều, cao nhất là thị trường Malaixia 73.7 %, Quata 14.9%, Arap 6% và ở đây chủ yếu là lao động nam làm việc trong các nhà máy Các thị trường Đài Loan 3.4%, Hàn Quốc 1.4 và Nga 0.6 do nhu cầu lao động các thị trường này
Có thể thấy rằng thị trường lao động của Malaixia cao hơn cả so với các nước của thị trường lao động khác xét về mặt địa lý thì gần với Việt Nam cách Việt Nam trên 5.000km nằm ở khu vực Đông Nam Á, xét về nguồn lực lao động thì Malayxia là nước phát triển công nghiệp trong khi đó mật độ dân số thấp cho nên việc thuê nhân công lao động ở nước ngoài là điều cần thiết và tất yếu
2.2.2 Sự di động nghề nghiệp
Nghề nghiệp là hoạt động phục vụ cho cơ sở tồn tại và ảnh hưởng vào việc kiếm sống, họ phải làm việc miệt mài, lâu dài để hoàn thành cần có kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, ngoài ra có nghề đã học, nghề đã làm [Từ điển XHH, Nxb Thế giới,2002, 705] Nghề nghiệp chính là nghề đem lại nguồn thu lớn cho gia đình trong tổng số khoản thu của một hộ gia đình trong năm Môi trường đã tạo
ra sự chuyển đổi nghề nghiệp có thể mang tính chất thời điểm hoặc suốt cuộc đời người lao động Trước khi đi XKLĐ, cơ cấu nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp chiếm 77 người (67%) trong tổng số 115 đối tượng điều tra của đề tài, phi nông nghiệp là 12.2%, nghề hỗn hợp là 6.1% và nghành nghề khác là 14.8% Để xem xét nghề nghiệp của người lao động sang nước ngoài họ đã làm và đang làm ngành nghề gì để đóng góp khoản thu cho gia đình ta có bảng thống kê số liệu qua sử lý SPSS của đề tài như sau:
Trang 37Bảng 2.3: Tương quan nghề nghiệp của người lao động đi XKLĐ tại nước tại theo trình độ học vấn
Đơn vị %
Nghề nghiệp
Không
có bằng cấp
Tiểu học THCS THPT
Học nghề ngắn và dài hạn
Trung cấp
Lao động phổ thông 32.0 57.1 55.8 47.8 21.0 19.7Nông, lâm nghiệp 28.0 14.3 15.2 12.7 28.4 23.3
Nguồn: (Kết quả điều tra Xã hội học)
Bảng số liệu cho thấy, những lao động không có bằng cấp, tiểu học, THCS được bố trí chủ yếu vào những công việc giản đơn có mức độ tiêu hao năng lực thấp như giúp việc gia đình, lao động phổ thông, nông lâm nghiệp và giảm dần
kh trình độ người lao động được nâng cao Nghề điện, điện tử chỉ có ở những lao động có trình độ THPT, qua lớp đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn và trung cấp Ngoại trừ những người làm công việc giúp việc gia đình, còn lại họ cũng vẫn là những công nhn làm thuê trong nông nghiệp
Có khoảng 20% lao động đã trở về nước, trong đó có 38 trường hợp lao động về nước trước thời hạn với các nguyên nhân khách quan và chủ quan như
tử vong, đơn vị sử dụng lao động phá sản, người lao động vi phạm kỉ luật lao động, nội quy lao động, do sức khỏe, có thai, hoàn cản gia đình, tự bỏ hợp đồng lao động trốn ra ngoài sống và lao động bất hợp pháp, vi phạm kỉ luật lao động
cờ bạc, rượu chè, lối sống tự do, buông thả đã gây ảnh hưởng xấy đến uy tín lao