Trong xã hội luôn có một số người có thu nhập cao không tiêu dùng hết tạo ra tiền nhàn rỗi nên họ có nhu cầu đầu tư sinh lời, nhưng ngược lại họ không có vốn. Hai nhu cầu này gặp nhau đã tạo thành quan hệ tín dụng.
Trang 1MỤC LỤC
lời mở đầu:………
chương I:Tổng quan về nợ quá hạn của Ngân hàng thương mại…… 1
1.1.Khái quát về Ngân hàng thương mại……… 1
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển……… 1
1.1.1.1.Lịch sử hình thành……… 1
1.1.1.2.Quá trình phát triển……… 2
1.1.2.Khái niệm và phân loại Ngân hàng thương mại……… 4
1.1.2.1.khái niệm……… 4
1.1.2.2.phân loại………5
1.1.3.chức năng của NHTM……… 7
1.1.3.1.Trung gian tài chính……… 7
1.1.3.2.Tạo phương tiện thanh toán……… 8
1.1.3.3.Trung gian thanh toán……… 8
1.1.4.Hoạt động tín dụng Ngân hàng ………9
1.1.4.1.Khái niệm……… 9
1.1.4.2.Phân loại……… 9
1.1.4.3.Nguyên tắc tín dụng ……… .11
1.1.4.4.Vai trò tín dụng ……… 12
1.2.Nợ quá hạn của NHTM……… 14
1.2.1.Khái niệm………14
1.2.2.Các dấu hiệu nhận biết nợ quá hạn ……… 15
1.2.3.Phân loại nợ quá hạn ……… 18
1.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá nợ quá hạn……… 21
1.2.5.Tác hại và sự cần thiết phải hạn chế nợ quá hạn ……… 22
1.3.Những nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn………26
Trang 21.3.1.Nguyên nhân chủ quan………26
1.3.2.Nguyên nhân khách quan………28
1.4.Nhân tố ảnh hưởng đến xử lý nợ quá hạn……… 31
1.4.1.Nhân tố chủ quan……… 31
1.4.2.Nhân tố khách quan……… 32
Chương II:Thực trạng nợ quá hạn tại chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng……… 34
2.1.Khái quát chung về chi nhánh ……… 34
2.2.Thực trạng nợ quá hạn ……… 44
2.2.1.Tình hình hoạt động tín dụng ……….44
2.2.2.Thực trạng nợ quá hạn ……… 46
2.3.Một số biện pháp mà chi nhánh đã thực hiện để hạn chế nợ quá hạn …57 2.3.1.Công tác hạn chế nợ quá hạn tại chi nhánh ……… 58
2.3.2Công tác xử lý nợ quá hạn tại chi nhánh ……… 62
2.4.Đánh giá thực trạng hạn chế và xử lý nợ quá hạn tại chi nhánh ………67
2.4.1.Những thành tựu đạt được……… 67
2.4.2.Những tồn tại của chi nhánh trong công tác xử lý nợ quá hạn… 69 Chương III: Giải pháp xử lý nợ quá hạn tại chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng…… ……… 73
3.1.Định hướng xử lý nợ quá hạn trong thời gian tới……… 73
3.2.Một số giải pháp nhằm giảm nợ quá hạn ……… 74
3.2.1.Giải pháp hạn chế………83
3.2.2.Giải pháp xử lý ……… 90
3.3.Kiến nghị………
3.3.2.Đối với Ngân hàng Nhà nước ……… 90 3.3.2.1.Nâng cao giải pháp thực thi của việc xử lý các tài sản đảm bảo 90
Trang 33.3.1.2.Cương quyết xử lý đứt điểm các khoản nợ xấu……… 91
3.3.2.Đối với Chính Phủ……… 92
3.3.2.1.Đẩy mạnh cổ phần hóa các Doanh nghiệp Nhà nước với việc áp dụng các mô hình, kỹ năng quản trị công ty hiện đại……… 92
3.3.2.2.Áp dụng mô hình xử lý tập chung……… 93
3.3.2.3.Thành lập tổ chức bảo hiểm rủi ro tín dụng ……… 94
3.3.3.Một số kiến nghị khác khác……… 95
Kết luận:………
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng trong thị trường tài chính tiền tệ là một lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm Mọi biến động trong nềnkinh tế đều có thể tác động đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng, đồng thờilàm tăng chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận của Ngân hàng.Có thể nói, rủi
ro là bạn đường trong kinh doanh đặc biệt là ngành Ngân hàng.Chúng ta chỉ
có thể hạn chế, phòng ngừa chứ không thể loại bỏ rủi ro ra khỏi hoạt động kinh doanh Ngân hàng Rủi ro tiêu biểu trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng là rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng có thể làm sụp đổ một Ngân hàng và ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, mà biểu hiện cao nhất của rủi ro tín dụng là nợ quá hạn Đây là vấn đề làm đau đầu và nhức nhối nhất của các nhà quản lý Ngân hàng cũng như những người hoạch định chính sách phát triển kinh tế
Nợ quá hạn đã trở thành vấn đề trung tâm cho các nhà quản trị Ngân hàng; song lại không thể giải quyết vấn đề này trong ngày một ngày hai mà Ngân hàng phải tiến hành xây dựng một hệ thống chính sách đầy đủ, đồng nhất, hiệu quả để giải quyết triệt để vấn đề này
Nhận thấy tính chất nghiêm trọng của nợ quá hạn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng Chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng đã rất chú trọng đến công tác quản lý nợ quá hạn.Nhưng do tính chất phức tạp của hoạt động tín dụng cũng như nợ quá hạn nên còn rất nhiều vấn
đề cần quan tâm nghiên cứu.Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề nangiải này tôi đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và hoàn thiện chuyên đề của mình với đề tài:” Giải pháp hạn chế và xử lý nợ quá hạn tại chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng Hà Nội”
Kết cấu bài viết gồm 3 phần:
Chương I:Tổng quan về nợ quá hạn của Ngân hàng thương mại
Trang 5Chương II: Thực trạng nợ quá hạn tại chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng
Chương III: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ quá hạn
Do vấn đề nghiên cứu rộng, phức tạp, thời gian nghiên cứu ngắn, nănglực của bản thân còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những khiếmkhuyết.Vì vậy, em mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô và bất kỳ ai quan tâm đến vấn đề này để bài viết đựoc hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của ban Giám đốc chi nhánh Ngân hàng NHNN & PTNT Phan Đình Phùng đã tạo điều kiện cho được thực tập tại chi nhánh trong suốt thời gian qua, các cán bộ phòng tín dụng đã giúp em hiểu biết thêm thực tế và quy trình nghiệp vụ tín dụng Đồng thời em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng– Tài chính đặc biệt là thầy GS.PTS.Vũ Duy Hào đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong quá trình thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Trang 6CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển.
1.1.1.Lịch sử hình thành`
Qúa trình hình thành và phát triển của ngân hàng thưong mại gắn liềncới quá trình phát triển xuất nền sản xuất hàng hoá nền sản xuất hàng hóaphát triển thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các ngân hàng thươngmại và đồng thời sự phát triển của các ngân hàng thương mại lại là dồng lựccho sự phát triển của nền kinh tế
Do việc lưu hành những dông tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùnglãnh thổ kết hợp với thưong mại và giao lưu quốc tế đã làm xuất hiện nhucầu đổi tiền.Trước tình hình đó các thương gia và các chủ tiện vàng nhậnthấy họ có thể kiếm được những món lời lớn thông qua hoạt đọng đổi tiền
Họ thực hiện hoạt đồng kinh doanh bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ vàngược lại Lợi nhuận thu được từ chênh lệch giữa giá mua và giá bán Cácthương gia và chủ hiệu vàng này là những kẻ cho này nặng lãi hay nhà buôntiền
Những nhà buôn tiền này thưòng là người giầu có họ có két tốt dể cấtgiữ đảm bảo an toàn Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa các nhà buôn
…nhiều người làm nghề dổi tiền thực hiện buôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ nhưcầu cất trữ hộ làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng hoá các loại tiền,tăng quy mô tài sản của những người kinh doạnh tiền tệ Do vậy, cất trữ hộ
là điều kiện tốt để thực hiện quá trình thanh toán hô
Trang 7Lúc đầu những nhà buôn tiền đã dùng vốn tự có để cho vay Nhưnghoạt động này không kéo dài, thông qua thực tiễn họ nhận thấy thườngxuyên có những người gửi tiền và có người lấy tiền ra, song tất cả người gửitiền không rút tiền cùng một lúc đã tạo ra số dư thường xuyên trong két.Dotính vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiềngửi để cho vay Hoạt động này làm thay đổi căn bản hoạt động của nhà buôntiền - kẻ cho vay nặng lãi thành nhà buôn tiền - ngân hàng Hoạt động chovay dựa trên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàngđều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi chokhách hàng hay cung cấp các tiện ích khác nhau cho khách hàng.
Như vậy,Trong xã hội luôn có một số người có thu nhập cao khôngtiêu dùng hết tạo ra tiền nhàn rỗi nên họ có nhu cầu đầu tư sinh lời, nhưngngược lại họ không có vốn Hai nhu cầu này gặp nhau đã tạo thành quan hệtín dụng
Như vậy, hoạt động cho vay, thanh toán hộ và nhận tiền gửi đã xuấthiện từ rất lâu trong quá trình phát triển của xã hội và đến nay hoạt động nàyhầu như không thay đổi và được họi là “hoạt động ngân hàng”
1.1.1.2.quá trình phát triển
a Ở trên thế giới.
- Các nghiệp vị đổi tiền, cho vay và các nghiệp vụ ngân hàng khác đãđược thực hiện vào khoảng năm 2000 trước công nguyên tại thành cổBabylone.Các hoạt động ấy được thực hiện ngay tại các đền thờ ;trung tâmkhu vực thương mại của thành phố.Các hoạt động nói trên được tiếp tục quanhiều thế kỷ tại các nước ven biển Địa trung Hải và tại các đô thị lớn rải ráctrên con đường tở lụa, nối liền Trung Đông và Trung Hoa
- Mãi đến đầu thế kỷ 15, mới có một cơ quan trên thế giới được xemnhư một Ngân hàng thực sự, theo quan niệm ngày nay, đó là Bancadi
Trang 8Barcelone vì cơ quan đó đã thực hiện phần lớn các nghiệp vụ của nhữngNgân hàng ngày nay: Thâu nhận, ký thác, cấp tín dụng (cho vay) Thâu vàxuất Ngân cho khách hàng, giữ bảo vật cho khách hàng ….
- Từ thế kỷ 17 đên đầu thế kỷ 20: Hệ thống Ngân hàng phát triểnmạnh ở các nứơc Châu Âu song song với cuộc cách mạng kỹ thuật, phát triểnkinh tế và thưong mại Các kỹ gia cần tìm nguồn vốn để lập các nhà máy lớn,các thưong gia cũng cần tìm vốn để lập những xí nghiệp thưong mại xuấtnhập khẩu to lớn Vì vậy, hệ thống Ngân hàng đã phát triển mạnh tại các quốcgia Châu Âu và tại các thuộc địa của họ
- Từ thế kỷ 20 đến nay: Sau cuộc khủng hoảng 1929-1933, hầu hếtcác quốc gia hữu hoá cầu các Ngân hàng phát hành tiền hoặc quả lý phần lớn
cổ phần của các Ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành trở thànhNHTW giữ chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, chịu sự kiểm soát chặt chẽcủa pháp luật Hệ thống NHTM và các trung gian tài chính khác tập trung cácnghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và chịu sự quản lý của NHTW
b Ở Việt Nam
Khoảng giữa thế kỷ 19, khi nước ta trở thành thị trường độc chiếmcủa pháp, hoạt động kinh tế của người pháp phát triển rất rộng nên ngườipháp phải lập các Ngân hàng để hỗ trợ các hoạt động ấy Lúc đầu có haiNgân hàng pháp được thiết lập trụ sở chính tại chính quốc, chi nhánh đặt tạicác đô thị lớn ở Việt Nam đó là Ngân hàng Đông Dương Đây là cơ quan tàichính lớn nhất của chính quyền tài phiệt pháp.Ngoài độc quyền phát hànhtiền tệ như một NHTW, Ngân hàng Đông Dương còn là một Ngân hàng kinhdoanh thương mại lớn nhất
Trang 9Ngân hàng thứ 2 của pháp là pháp Hoa Ngân hàng, được thành lập
để hỗ trợ các việc giao dịch thương mại của Pháp, Đông Dương, TrungQuốc và một vài nước Á Đông
Đến 6/5/1951, Ngân hàng quốc gia Việt Nam mới chính thức đượchình thành với nhiệm vụ chính: Quản lý việc phát hành giấy bạc và lưuthông tiền tệ, quản lý kho bạc nhà nước, huy động vốn và cho vay phục vụsản xuất lưu thông hàng hoá, quản lý hoạt động kinh doanh bằng biện pháphành chính, quản lý ngoại hối và các giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranhtiền tệ với địch
Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước các chi nhánh ngân hàngnước ngoài đã rút đi Hệ thống Ngân hàng cả nước đã được hoà nhập vàNgân hàng nhà nước Việt Nam đống vai trò là tổ chức duy nhất làm trunggian tài chính ngắn hạn trong tnước.Tinh độc quyền của hệ thống ngân hàng
đã góp phần duy trì tình trạng tì trệ trong cá Ngân hàng, làm giảm vai tròtrung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu kinh tế
Năm 1988, Nền kinh tế Việt Nam có sự chuyển đổi từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, hệthống tài chính tiền tệ qua việc: Tách biệt chức năng quản lý hoạt động tiền
tệ tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng hoá các loại hình Ngânhàng, từng bước xoá bỏ độc quyền chuyển sang cạnh tranh có quản lý củanhà nước
Hiện nay, hệ thống Ngân hàng Việt Nam được hoạt động theo môhình hai cấp: NHTW và NHTM.NHTW thực hiện chức năng phát hành tiền
và NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ
1.1.2.khái niêm và phân loại ngân hàng thương mại.
Trang 101.1.2.1 khái niệm.
NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trongnền kinh tế.Tổng tài sản luôn luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệthống Ngân hàng Có nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại:
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thưòng xưyên nhận
của công chúng dưói hình thức ký thác các số tiền mà họ dùng cho chính họvào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Hoa Kỳ:NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Ấn Độ :NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác dể cho vay hay tài
trợ và đầu tư
Ở Thổ Nhĩ Kỳ: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục
đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hốiphiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác
b Ở Việt Nam.
Theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chínhban hành T5/1990: đã ghi: ”NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt độngchủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay, thưc hiện các nghiệp vụ chiết khấu
và làm phương tiện thanh toán
Như vậy, Tuy có những quan điểm khác nhau nhưng các NHTM đều
có các đặc trưng sau:
-Thứ nhất: NHTM là một tổ chức được nhận ký thác của công chúng
với trách nhiệm hoàn trả
-Thứ hai: NHTM là một tổ chức đựợc phép dùng ký thác của công
chúng để cho vay, chiết khấu thực hiện dịch vụ tài chính khác
Trang 111.1.2.2.Phân loại.
a.Chia theo hình thức sở hữu:
*Ngân hàng sở hữu tư nhân : Là Ngân hàng do cá nhân thành lập
bằng vốn của cá nhân Ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động trongtừng địa phương Chủ Ngân hàng thưòng rất am hiểu về người vay, vì vậyhạn chế đựợc sự lừa đảo của khách hàng
*Ngân hàng sở hữu của các cổ đông( ngân hàng cổ phần):
Ngân hàng này được thành lập thông qua phát hanh cổ phiếu CácNgân hàng này thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa năng, cónhiều chi nhánh hoặc công ty con
*Ngân hàng sở hữu nhà nước :
Đây là loại Ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước được cấp có thể làNhà nước TW hoặc tỉnh, thành phố Các Ngân hàng này đựơc thành lậpnhằm thực hiên một số mục tiêu nhất định thường là do chinh sách của chínhquyền TW hoặc địa phương
*Ngân hàng liên doanh:
Ngân hàng này được hình thành dựa trên vốn góp của hai hoặc nhiềubên ,thường là giữa Ngân hàng trong nước với Ngân hàng nước ngoài để tậndụng ưu thế của nhau
b.Chia theo tinh chất hoạt động
*Tính chất đơn năng :
Loại Ngân hàng này chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ Ngânhàng Ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cở bản, hoặc đối với Nhànước
*Tính chất đa năng :
Trang 12Là Ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ Ngân hàng cho mọi đối tượng.Đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM Tính đa năng
sẽ giúp Ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro
c.Chia theo cơ cấu tổ chức.
*Ngân hàng công ty và ngân hàng không sở hữu công ty.
+Ngân hàng công ty:
Là Ngân hàng nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho phép Ngânhàng được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty
+Ngân hàng không sở hữu công ty:
Có thể do vốn nhỏ hoặc quy định của luật không cho phép hoặc do bịcấm trong việc đưa ra các dịch vụ tài chính
*Ngân hàng đơn nhất và ngân hàng có chi nhánh:
+Ngân hàng đơn nhất: Được hiểu là Ngân hàng không có chi nhánh,tức là các dịch vụ Ngân hàng chỉ do một hội sở Ngân hàng cung cấp
+Ngân hàng có chí nhánh : Thường là Nhà nước
gân hàng có vốn tương đối lớn, cung cấp các dịch vụ Ngân hàngthông qua nhiêù đơn vị Ngân hàng
1.1.3.Chức năng của Ngân hàng thưong mại
1.1.3.1.Trung gian tài chính.
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩađặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trung gian tàichính là hoạt động “cầu nối giữa cung và cầu trong xã hội, khơi nguồn vốn
từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó để sinh lợi sang nhữngngười có ý muốn dùng nó để sinh lợi
Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động và tập trung cácnguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình
Trang 13thành nguồn vốn cho vay Mặt khác, trên cơ sở vốn đã huy động được, Ngânhàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng … củacác chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máykinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy, NHTM vừa là ngưòi
đi vay vừa là người cho vay hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng củaNHTM là đi vay để cho vay
1.1.3.2.Tạo phưong tiện thanh toán.
Ban đầu, các Ngân hàng thợ vàng tạo phưong tiện thanh toán khi pháthành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do Ngân hàng phát hànhvới ưu điểm nhất định đã trở thành phưong tiện thanh toán mở rộng rãi đượcnhiều người chấp nhận Như vậy, các Ngân hàng thợ vàng đã tạo ra phươngtiện thanh toán thay cho tiền kim loại đang nắm giữ.Với ưu thế dần dần tiềngiấy của Ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm hương tiện lưu thông vàphương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua Ngân hàng, các khách hàngnhận thấy nếu họ có đuợc số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán,họ có thểchi trả để có được hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu Khi ngân hàng cho vay
số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng tăng lên, khách hàng
có thể dùng để mua hàng hoá và dịch vụ.Do đó, bằng việc cho vay (hay tạotín dụng ), các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạoM1)
1.1.3.3.Trung gian thanh toán.
Trong NHTM, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ vớichức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng dùng số tiền gửi của người này đểcho người khác vay Xuất phát từ chức năng là ngưòi thủ quỹ của các doanhnghiệp, Ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo
Trang 14sự uỷ nhiệm của khách hàng Khi các khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng,
họ sẽ được bảo đảm an toàn trong việc cất giữ tiền và tổ chức thực hiện thuchi một cách nhanh chóng, tiên lợi, nhất là đối với khoản thanh toán có giátrị lớn, ở địa phưong, mà khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn vàkhông an toàn
Ngày nay, hoạt động thanh toán của Ngân hàng phát triển : Rất đadạng nó không chỉ là trung gian thanh toán truyền thống như trước mà cònquản lý các phương tiện thanh toán ngày càng hiện đại và phong phú Như :thanh toán bằng séc, thanh toán bù trừ, thực hiện thanh toán liên ngân hang,UNC, UNT …Đã làm tăng hiệu quả của hoạt động Ngân hàng
1.1.4.Hoạt động tín dụng ngân hàng.
1.1.4.1.khái niệm.
Hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công laođộng, sản xuất và trao đổi hàng hoá Trong quá trrình trao đổi hàng hoá đãhình thành những sự kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh quan hệ vay mượn đểthanh toán
Hiểu theo nghĩa hẹp: Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụngmột lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thờihạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sửdụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn.Khoản giá trị dôi ra ngày gọi là lợi tức tín dụng
Theo nghĩa hẹp: Quan hệ tín dụng gồm hai mặt huy động vốn và chovay Đối với một NHTM, tín dụng có nghĩa là sự cho vay hay ứng trước tiềncho người thực hiện Bản thân Ngân hàng là ngưòi cho vay còn người đi vay
là những loại khách hàng khác nhau của Ngân hàng Giá Ngân hàng ấn định
Trang 15cho khách hàng khi đi vay là lợi tức hoặc tiền hoa hồng mà họ phải trả trongsuốt thời gian tồn tại khoản ứng trước.
1.1.4.2.Phân loại tín dụng.
a.Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
-Tín dụng ngắn hạn:Là các khoản vay không quá 12 t
-Tín dụng trung hạn :Có thời hạn từ 1 năm dến 5 năm
-Tín dụng dài hạn:có thời hạn 5 năm đến vài chục năm và dài hơnnữa
b.Căn cứ vào tính chất luân chuyển vốn.
-Tín dụng trực tiếp: Thể hiện quan hệ chuyển nhưọng vốn trực tiếp từngười sở hữu vốn sang người sử dụng vốn Bằng cách đó người cho vay trựctiếp hưởng lợi nhuận cũng như chịu rủi ro từ khoản vốn đầu tư của mình -Tín dụng gián tiếp: Là quan hệ chuyển nhưọng vốn gián tiếp từ người
sở hữu vốn dến người sử dụng vốn thông qua các trung gian tài chính cáctrung gian tài chính ở đây là tổ chức huy dộng vốn, tập trung các khoản vốnnhàn rỗi, lẻ tẻ của những ngưòi tiết kiệm để tiến hành đầu tư vào các chủ thể
có nhu cầu về vốn
c.Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
-Tín dụng vốn lưu dộng :Là loại tín dụng được cung cấp hình thànhvốn lưu dộng của Doanh nghiệp hay cho vay để bù đắp mức vốn lưu độngthiếu hụt tạm thời
-Tín dụng vốn cố định:Là loại tín dụng được cung cấp nhằm hìnhthành vốn cố định của Doanh nghiệp
d.Căn cứ vào tài sản đảm bảo.
-Tín dụng có tài sản đảm bảo:
Trang 16Là hình thức tín dụng mà người nhận tín dụng cam kết về việc dùngtài sản đảm bảo để cam kết cho khoản tín dụng mà mình đang sử dụng hoặckhả năng trả nợ của ngửòi thứ 3 để trả nợ cho Ngân hàng.
-Tín dụng không có tài sản đảm bảo:
Thường áp dụng đối với những khách hàng có uy tín hoạt động tốt tốt
và có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ Hoặc các khoản chovay theo chỉ thị có sự bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba như chính phủ haycác tổ chức đoàn thể chính trị,xã hội…
e.Căn cứ theo rủi ro.
Cách phân loại này giúp Ngân hàng thường xưyên đánh giá lại tính antoàn của các khoản tín dụng, để trích lập dự phòng tổn thất kịp thời.Baogồm:
*Tín dụng lành mạnh:Là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
*Tín dụng có vấn đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, kháchhàng trì hoãn do thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính
*Nợ quá hạn có khả năng thu hồi cao: Là các khoản nợ quá hạn với thời hạnngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trịlớn
*Nợ quá hạn khó đòi: Là khoản nợ quá hạn quá lâu ,khả năng trả nợ rấtkém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm gía, khách hàng chây ỳ không trả nợ
1.1.4.3.Nguyên tắc tín dụng cơ bản
a.Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác
định: Ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng camkết này Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
Trang 17b.Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích thoả
thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quyđịnh khác của Ngân hàng cấp trên
c.Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả:
Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năngthu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ Ngân hàng Các khoản tài trợ củaNgân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay Trongtrường hợp xét thây kém an toàn, Ngân hàng đòi hỏi ngưòi vay phải có tàisản đảm khi vay
1.1.4.4.Vai trò của hoạt động tín dụng.
a Đối với người đi vay.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, nhu cầu vốnluôn là vấn đề đầu tiên cần phải giải quyết của Doanh nghiệp Do nguồn vốn
tự có của Doanh nghiệp luôn nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn.Doanh nghiệp cóthể huy động vốn từ kênh cung cấp vốn, nhưng tín dụng Ngân hàng vẫn làkênh cung cấp vốn chủ yếu cho những người thiếu vốn, nhất là khi thịtrường tài chính chưa phát triển như hiện nay ở nước ta.Trong tổng nguồnvốn của Doanh nghiệp thì nguồn vốn huy động từ Ngân hàng chiêm một tỷtrọng rất lớn so với nguồn vốn tự có của Doanh nghiệp Hoạt động tín dụngngày càng phát triển và trở thành hoạt động không thể thiếu đối với quá trìnhngày càng vận động nhanh chóng của nền kinh tế Tín dụng Ngân hàng trởthành kênh cung cấp vốn cho những nhu cầu sử dụng vốn một cách nhanhnhất có thể; giảm chi phí, công sức và thời gian cho việc bản thân tự đi tìmkiếm nguồn vốn tự huy động
Ngày nay hoạt động Ngân hàng rất phát triển ,người đi vay có thể tiếpcận với nguồn vốn của Ngân hàng ở mọi nơi, mọi lúc và các phương thứcthanh toán cũng đa dạng phong phú, giúp họ có thể chớp được những cơ hội
Trang 18kinh doanh khi cần thiết Hơn nữa, nguồn vốn của Ngân hàng luôn sẵn có,rất rẻ và rất linh hoạt, có thể đáp ứng nhu cầu vốn lớn và dài hạn cho kháchhàng Như vậy, hoạt động tín dụng Ngân hàng giúp cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của khách hàng có hiệu quả hơn vì khi đi vay khách hàng khôngnhững phải thanh toán tiền gốc mà còn phải chịu sự kiểm tra giám sát củaNgân hàng trong quá trình sử dụng vốn cũng như trong quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình.
b Đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của NHTM Đây là làhoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục nhất và đồng thời mang lại lợinhuận lớn nhất cho Ngân hàng Nhưng đây cũng là hoạt động chứa đựngnhiều rủi ro nhất Do đó, việc hạn chế và nâng cao chất lượng tín dụng là hếtsức cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động Ngân hàng
Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế vàphân phối lại vốn đó đưới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho các Doanhnghiệp, cá nhân hay tổ chức kinh tế nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh và tiêu dùng Ngoài ra, vốn tín dụng còn là nguồn vốn quantrọng trong lĩnh vực vốn cố định
Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng có thể mở rộng mối quan hệvới khách hàng lâu năm, tìm kiếm thêm khách hàng, mở rộng thêm các loạihình kinh doanh khác như: Chuyển tiền, thanh toán, bảo lãnh…Từ đó, có thểnâng cao vị thế, uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng với đối thủcạnh tranh
Do đó, ngày nay Ngân hàng không ngừng mở rộng mạng lưới chinhánh và nâng cao vị thế của Ngân hàng mình
Trang 19c đối với nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tín dụng ngày càng được mởrộng và phát triển đa dạng.Từ đó, đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toánkhông dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều nay
sẽ làm giảm đươc khối lượng giấy bạc trong lưu thông,làm giảm chi phí lưuthông giấy bạc Ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cáchlinh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sảnxuất và lưu thông hàng hoá phát triển
Tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tìnhhình hoạt động của nền kinh tế Do đó, tín dụng còn được coi là một trongnhững công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trìnhthực hiện các chiến lược hoạch định phát triển kinh tế
Thông qua việc thực hiện nghiệp vụ giữ tiền và thanh toán hộ trongnền kinh tế tín dụng còn có thể phản ánh và kiểm soat quá trình phân phốisản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
Như vậy: Tín dụng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển củanền kinh tế Tín dụng thực hiện điều hoà vốn từ nơi chưa có nhu cầu sửdụng sang nơi có nhu cầu sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh; thúcđẩy sản xuất và lưu thông phát triển, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mởrộng Tín dụng Ngân hàng còn là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy quá trìnhhình thành và mở rộng các quan hệ giao lưu kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đầu
tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
1.2.Nợ qúa hạn của ngân hàng thương mại.
1.2.1.khái niệm.
Tín dụng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng, đây làhoạt động quan trọng nhất và có quy mô lớn nhất trong cơ cấu tài sản của
Trang 20NHTM, và đồng thời cũng là hoạt động sinh thời lớn nhất của NHTM.Nhưng rủi ro mà nó mang lại là lớn nhất Khi xuất hiện rủi ro đồng nghĩa vớiviệc Ngân hàng không thu đựoc nợ Do đó, việc phát sinh nợ quá hạn là điềukhó có thể tránh khỏi Để có thể phải đưa gia các giải pháp hạn chế và xử lý
nợ quá hạn trước hết phải nghiên cứu thế nào là nợ quá hạn?
Theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chếcho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định rõ: ”Nợ qúa hạntrong kinh doanh của Ngân hàng là hiện tượng khách hàng không có khảnăng trả nợ đúng hạn mà đã cam kết trả trong khế ước vay trước đây.Nếukhông được điều chỉnh kỳ hạn nợ, hoặc gia hạn nợ thì số nợ đến hạn phả trảchuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với
số tiền trả chậm “
Như vậy, thực chất nợ quá hạn là khoản vay của khách hàng khi đếnhạn thanh toán thoả thuận trên hợp đồng tín dụng không có khả năng trả nợmột phần gốc hoặc cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng
1.2.2.Các dấu hiệu của khoản vay dẫn đến nợ quá hạn.
1.2.2.1.Các dấu hiệu nhận biết khoản vay có vấn đề.
Các khoản vay không bao giờ bị giảm giá trị bất thình lình mà không
có những bất thưòng báo trước Đối với hầu hết các trưòng hợp một khởanvay đang xấu dần đi đều có những dấu hiệu báo trước là rắc rối sắp xẩy ra.Dưới đây là một số dấu hiệu nhận biết các khoản tín dụng có vấn đề:
-Doanh nghiệp không kể ra được chính xác và đây đủ thông tin tàichính đặc biệt là thông tin về những món nợ ghi trong danh mục
-Những ước tính khả quan về khả năng sinh lời và nguồn ngân quỹcủa Doanh nghiệp không mấy khả quan
Trang 21-Doanh nghiệp muốn mở rộng điều hành kinh doanh quá nhanh vàquá tin vào luợng mua bán hàng hoá tăng sẽ giải quyết được tất cả nhữngvấn đề của Doanh nghiệp.
-Doanh nghiệp luôn có những quyết định tức thì và luôn luôn vội vãtrong hoạt động sản xuất kinh doanh
-Doanh nghiệp bị các chủ nợ khác xem như là “châm trả”
-Sự xuất hiện của các chủ nợ giấu mặt và hỏi dò nhiều các chủ nợkhác
-Quan tâm đến các công ty tài chính chỉ được miêu tả bằng nhữngthuật ngữ mơ hồ ngoại trừ doanh nghiệp chính của ngân hàng Những công
ty này dường như là những công ty đầu cơ hay có thể liên quan đến đầu cơ -Lưỡng lự khi cho phép cán bộ tín dụng đi thăm cơ sở sản xuất kinhdoanh
-Tính khả thi của dự án thấp sản phẩm làm ra có dấu hiệu bão hoà -Sử dụng vốn sai mục đích :kinh doanh không đúng đối tượng, cho vaykhi chưa đến hạn trả nợ hoặc sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư trung vàdài hạn
-Cố trì hoãn nộp báo cáo tài chính cho Ngân hàng, có biểu hiện thiếuthiện trí trong mối quan hệ hợp tác với Ngân hàng như: lẩn tránh, gây chậmtrễ
-Hoạt động sản xuất kinh doanh có biểu hiện không lành mạnh, mất
uy tín với bạn hàng, nhà tài trợ, nợ thuế, nợ tiền hàng tăng, giá cổ phiếuthay đổi bất lợi
1.2.2.2.Các thông tin lừa đảo.
Các báo cáo tài chính không được kiểm toán, bỏ qua các khoản mucnhất định hoặc chứa các thông tin sai không phải là điều bất thường Theothường lệ, điều này có thể do một sự sơ xuất hoặc do sự thiếu hiểu biết của
Trang 22các Doanh nghiệp về các thủ tục đối với việc hoàn chỉnh một báo cáo tàichính Trong một vài trưòng hợp, việc diễn tả sai có chủ ý nhằm đánh lừacán bộ tín dụng để có được một quyết định cho vay đáng lẽ đáng lẽ khôngnên có Đây có thể là một sự lừa đảo của Doanh nghiệp để giành lấy khoảnvốn vào một nhu cầu cấp bách mặc dù Doanh nghiệp cũng có ý định hoàntrả vốn này Nếu có ý định lừa đảo và khoản vốn đã được giải ngân thìdường như Ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất.
1.2.2.3.Con nợ không hợp tác.
Mối quan hệ hợp tác sự thẳng thắn và lòng tin tưởng lẫn giữa Ngânhàng và Doanh nghiệp làm tăng thêm chất lượng và khả năng hoạt động củakhoản vay Nếu mối quan hệ này xấu đi và Doanh nghiệp không chịu hợptác sẽ gây nên những tổn hại đến chất lượng khoản vay và là dấu hiệu chobiết rằng khoản vay đang có vấn đề Con nợ không chịu hợp tác rõ ràng cóthể do không cung cấpđược những thông tin tài chính của Doanhnghiệp.Việc Doanh nghiệp không cung cấp được những báo cáo tài chínhhay cung cấp những báo cáo chất lượng kém sẽ chứng tỏ Doanh nghiệp đangdấu diếm tình trạng tài chính của mình Dù lý do gì đi chăng nữa, khi bên nợlưỡng lự hay không cung cấp đầy đủ thông tin tài chính cho phia Ngân hàngkhi cần thiết đều là dấu hiệu cảnh báo sự nguy hiểm
1.2.2.4.Sự biến mất hay xuống giá của tài sản thế chấp.
Nói chung, Ngân hàng thường coi những khoản cho vay có được đảmbảo có chất lượng cao hơn những khoản vay không đươc đảm bảo Bởi vì,Ngân hàng giữ quyền bảo đảm vật thế chấp có thể đổi thành tiền mặt để bùđắp cho khoản vay Tuy nhiên ,các khoản vay được bảo đảm cũng nảy sinhnhiều vấn đề
Trang 23Khi bắt đầu khoản vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp thì khoản chovay chỉ thực sự được bảo đảm nếu tài sản này được xác định đúng giá trị vàđảm bảo bán có đủ tiền chi trả cho khoản vay.
Nếu hàng hoá tồn kho biến mất, cho dù nó là những vật liệu thô hay làthành phẩm thì việc đó đều gây rắc rối cho Ngân hàng Khi đó, không nhữngtài sản cầm cố, thế chấp biến mất mà Doanh nghiệp còn mất cả nguồn đểhoàn trả Trường hợp này chắc chắn do Doanh nghiệp thiếu trung thực vàphải xem là vấn đề cực kỳ nghiêm trọng
1.2.2.5.Các yếu tố khác.
Một vài yếu tố khác báo hiệu sự xuống cấp của các khoản vay Hầuhết đó là những yếu tố Doanh nghiệp không thể kiểm soát được một phần:
”Những yếu tố này bao gồm các vấn đề về hôn nhân, tình cảm, bệnh tận và
sự qua đời của chủ doanh nghiệp, các trường hợp bất khả kháng và gây tổnthương cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.”
Sự qua đời hay bệnh tật kéo dài của chủ Doanh nghiệp có thể gây ranhững vấn đề hệ trọng, đặc biệt trong những trường hợp sự quản lý củaDoanh nghiệp yếu kém.Việc sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp sẽngừng sinh lời do thiếu sự quản lý, chí phí lao động sẽ tăng lên, và có khiphải thanh lý hoạt động kinh doanh buôn bán của Doanh nghiệp
Nhiều khoản cho vay là những khoản có vấn đề do các trường hợp bấtkhả kháng hay thiên tai như: Hoả hoạn, lũ lụt, mưa đá ,gió bão Những yếu
tố này gây mất thu nhập thường xuyên cho Doanh nghiệp và chắc chắn phảichi tiêu nhiều để tái tạo lại hoạt động sản xuất kinh doanh
Những biến động về kinh tế chinh trị, xã hội sẽ dẫn đến môi trường xãhội, môi trưòng kinh tế bất ổn định, đây là bất lợi cho các chủ thể kinhdoanh Như vậy, cũng có nghĩa là tạo điều kiện nảy sinh rủi ro tín dụng dẫnđến nợ quá hạn
Trang 241.2.3.Phân loại nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là biểu hiện không lành mạnh của quá trinh hoạt động tíndụng của các NHTM Báo hiệu rủi ro mất mát đối vơi Ngân hàng và kháchhàng Nợ qúa hạn có nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi loại phản ánh mức
độ rủi ro tín dụng ở góc độ khác nhau Việc phân loại nợ quá hạn có ý nghĩarất quan trọng trong việc đề ra các biện pháp xử lý thu hồi nợ, giảm thiểu rủi
ro cho Ngân hàng.Tuỳ theo mục đích có thể lừa chọn các tiêu thức phân loạitương ứng:
1.2.3.1.Căn cứ vào thời gian.
Theo quyết định 493-NHNN mới sửa đổi năm 2005 thì nợ quá hạnđược chia thành 5 nhóm sau:
a.Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) là các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín
dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
b.Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90
ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã
cơ cấu lại
c.Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90
ngày đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngàytheo thời hạn đã cơ cấu lại
d.Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày
đến 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngàyđến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
e.Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ quá hạn
lớn hơn 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lý, Các khoản nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơcấu lại
Trang 251.2.3.2.Căn cứ vào khả năng thu hồi.
a.Nợ quá hạn có khả năng thu hồi:
Là các khoản nợ đến ngày đáo hạn mà người vay chưa trả được nợcho Ngân hàng nhưng khả năng hoàn trả cao Con nợ thường là những cánhân, tổ chức làm ăn có hiệu quả, có khả năng tài chính và vị thế trên thịtrường Nhưng do những nguyên nhân ngoài dự tính làm chênh lệch giữadòng tiền vào và dòng tiền ra tại thời điểm thanh toán đã thoả thuận trongkhế ước làm phát sinh nợ quá hạn
b.Nợ khó đòi:
Là khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ hạn gia nợ mà con nợ không cókhả năng hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng,Trong trường hợpnày con nợ thưòng làm ăn kém hiệu quả, khả năng sinh lời không cao hay cốtình trì hoãn trả nợ cho Ngân hàng Khả năng thu hồi khoản nợ này là thấp
và quá trình thu hồi thường khó khăn phức tạp Để thu được nợ đòi hỏi Ngânhàng phải tốn nhiều công sức, chi phí và vận dụng nhiều biện pháp khácnhau
c.Nợ qúa hạn không có khả năng thu hồi:
Là khoản nợ quá hạn đã sử dụng nhiều biện pháp để thu nợ nhưng vẫnkhông thu được toàn bộ hày một phần nợ gốc Con nợ không có nguồn để trả
nợ cho Ngân hàng ở hiện tại cũng như tưong lai Những khoản cho vay nàyNgân hàng có thể mất trắng
1.2.3.3.Căn cứ vào nguyên nhân gây ra nợ quá hạn.
a.Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan.
Là những khoản nợ quá hạn đến ngày đáo hạn mà người vay không cókhả năng hoàn trả do các yếu tố bên ngoài tác động: Thiên tai, lũ lụt, hoảhoạn…
Trang 26b.Nợ qúa hạn do khách hàng:
Là các khoản nợ vay đến hạn không có khả năng hoàn trả vốn vay dolàm ăn kém hiệu quả cố tình chầy ỳ hay lừa đảo khách hàng
c.Nợ quá hạn do ngân hàng:
Là những khoản nợ đến ngày đáo hạn mà người vay không trả được
nợ cho Ngân hàng do một số nguyên nhân về phía Ngân hàng :Năng lực cán
bộ yếu kém, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng hay chính sách tíndụng không phù hợp
1.2.3.4.Căn cứ vào tài sản đảm bảo :
a.Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo
b.Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo không còn đối tượng để thu
hồi
c.Nợ qúa hạn không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn tồn tại và
đang hoạt động
1.2.3.5.Căn cứ vào thành phần kinh tế.
a.Nợ qúa hạn của cá nhân.
b.Nợ quá hạn của các doanh nghiệp.
c.Nợ quá hạn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.2.3.6.Căn cứ vào bản tệ.
-Nợ quá hạn bằng ngoại tệ
-Nợ quá hạn bằng nội tệ
1.2.3.7.Căn cứ vào mục đích sử dụng.
-Nợ quá hạn của món vay thương mại
-Nợ quá hạn của món vay theo kế hoạch nhà nước
Trang 271.2.4.Các chỉ tiêu đánh giá nợ quá hạn.
1.2.4.1.Tỷ lệ nợ có vấn đề
Nợ có vấn đề là khoản vay chưa đến hạn ,chưa được coi là nợ quá hạn,xong trong quá trình theo dõi nhân viên Ngân hàng nhận thấy nhiều khoảntài trợ đang có dấu hiệu kém lành mạnh và có nguy cơ trở thành nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ có vấn đề phản ánh mức độ rủi ro của những khoản vay Tỷ
lệ này càng lớn thì các khoản vay có khả năng trở thành nợ quá hạn càngcao
Tỷ lệ có vấn đề =Nợ có vấn đề /Tổng dư nợ*100
1.2.4.2.Tỷ lệ nợ quá hạn.
Nợ qúa hạn là các khoản nợ đã đến ngày đáo hạn nhưng con nợ không
có khả năng thanh toán Dư nợ quá hạn của Ngân hàng phản ánh toàn bộ cáckhoản nợ quá hạn của Ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn=Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ quá hạn*100
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro các khoản tín dụng của Ngânhàng.Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà Ngân hàng không thểthu hồi khi Ngân hàng bỏ ra 100 đvtt Ngân hàng được xem có hoạt động tíndụng yếu kém, nếu tỷ lệ này >7% và nếu chỉ tiêu này lớn hơn 3% và nhỏhơn < 5% thi hoạt động của Ngân hàng nằm trong giới hạn cho phép củaNgân hàng Nhà nước, nếu tỷ lệ này < 3% thì ngân hàng được đánh giá là cónghiệp vụ tín dụng tốt ,chất lượng cho vay cao
1.2.4.3.Tỷ lệ nợ khó đòi.
Nợ khó đòi là các khoản nợ vay đã quá hạn và khả năng thu hồi là rấtthấp Tỷ lệ nợ khó đòi là dấu hiệu trực tiếp cho biết nguy cơ mất một phầnhoặc toàn bộ khoản cho vay
Trang 28Tỷ lệ nợ khó đòi = Dư nợ qúa hạn trên 360 ngày / Tổng dư nợ quáhạn*100
Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu đvtt khó thu hồi hoặc không có khả năngthu hồi khi Ngân hàng bỏ ra 100 đvtt.Tỷ lệ này càng lớn thì nguy cơ mất khảnăng thanh toán của Ngân hàng có thể xảy ra
1.2.5.Tác hại và sự cần thiết phải hạn chế nợ quá hạn.
1.2.5.1.Tác hại của nợ quá hạn.
a Đối với khách hàng.
*Kéo dài thời gian luân chuyển vốn: Trong nền kinh tế thị trường hầu
hết các Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn vay Ngân hàng là chủ yếu, nếuNgân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn quá cao sẽ làm giảm khả năng cung ứng vốncho các Doanh nghiệp kinh doanh.Do Doanh nghiệp phải trích lập dự phòngrủi ro trên tổng dư nợ quá hạn và đồng thời làm cho mối quan hệ giữa ngườivay và Ngân hàng xấu đi, có thể dẫn đến tình trạng phá sản của Doanhnghiệp
*Khi khoản vay của khách hàng đến kỳ hạn nợ mà khách hàng chưa
có khả năng thanh toán thì khoản vay này sẽ bị chuỷên sang nợ quá hạn vàđồng thời khách hàng phải chịu thêm lãi suất quá hạn, lãi suất này đượcquyết định bằng 150% mức lãi suất cho vay Như vậy, Nợ quá hạn sẽ làmtăng chi phí cho các khoản vay của khách hàng
*Việc phát sinh nợ qúa hạn làm giảm uy tín của khách hàng đối vớiNgân hàng : Trong quá trình sản xuất kinh doanh các Doanh nghiệp luônmuốn tạo hình ảnh tốt của mình trong mối quan hệ với Ngân hàng vì nguồnvốn tự có của mình không đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh Hơnnữa, nguồn vốn huy động từ Ngân hàng thường rẻ hơn và hiệu quả cao hơn
Nợ quá hạn phát sinh là dấu hiệu hoạt đông kinh doanh kém hiệu quả của
Trang 29Doanh nghiệp, làm uy tín của Doanh nghiệp giảm sút Đối tác kinh doanhcủa Doanh nghiệp sẽ do dự khi thiết lập mối quan hệ kinh tế với Doanhnghiệp.Việc vay vốn tại các Ngân hàng cũng trở lên khó khăn hơn Các chủ
nợ Doanh nghiệp đổ xô tới đòi nợ, điều này có thể làm Doanh nghiệp mấtkhả năng thanh toán và đi đến phá sản
b Đối với ngân hàng.
*Nợ quá hạn làm giảm lời nhuận của Ngân hàng :phần lớn lợi nhuậncủa Ngân hàng có đươc do thực hiện các hoạt động tín dụng ngân hàng.Ngân hàng thực hiện huy động vốn để cho vay với lãi suất cao hơn, chênhlệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.Dovậy, một khoản cho vay không thu hồi được nợ, sẽ làm tăng tài sản đóngbăng trong Ngân hàng làm thu nhập của Ngân hàng giảm xuống và chí phíhuy động vốn tăng thêm Mặt khác, khi tổng dư nợ chuyển sang nợ quá hạnNgân hàng còn phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro, điều này làm giảm hiệuquả sử dụng vốn
*Nợ qúa hạn làm giảm khả năng thanh toán :
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm khoảng 7% tổng nguồn vốn kinhdoanh, còn lại hầu hết nguồn vốn có đựơc do huy động từ các tổ chức cánhân trong nền kinh tế và Ngân hàng phải mất chi phí cho những khoản huyđộng này.Hơn nữa, Ngân hàng còn có nghĩa vụ thanh toán cho các khoảntiền gửi của khách hàng, kể cả khi những khoản tiền gửi này chưa đến hạnthanh toán Nếu tỷ lệ nợ quá hạn tăng quá cao có thể dẫn đến tình trạng mấtkhả năng thanh toán của Ngân hàng Nếu người gửi tiền bắt được dấu hiệunày sẽ ồ ạt đến rút tiền có thể đẩy Ngân hàng đến bờ vực phá sản
*Nợ quá hạn làm giảm uy tín của Ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chủ yếu dựa trên nguồn vốnhuy động, nên tỷ lệ nợ qúa hạn tăng cao sẽ làm giảm nguồn vốn huy động
Trang 30Hay nói cách khác chất lượng tín dụng của Ngân hàng không tốt sẽ làm mấtlòng tin của những người gửi tiền, khách hàng không còn tin tưởng vào hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín củaNgân hàng.
*Nợ quá hạn làm tăng chi phí cho Ngân hàng:
Khi nợ quá hạn phát sinh Ngân hàng sẽ phải thực hiện rà soát, kiểmtra lại khoản vay hoặc tiến hành thanh lý tài sản đảm bảo…tất cả những điềunày đều làm tăng chi phi cho Ngân hàng Như vậy, nợ quá hạn gây ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng có thể
sẽ bị phá sản nếu khách hàng ồ ạt đến rút tiền
c Đối với nền kinh tế.
Hoạt động của Ngân hàng là hoạt động có tính xã hội hoá cao vàmang tính nhạy cảm rất lớn.Chỉ cần một tổn thương nhỏ trong hoạt độngNgân hàng cũng có tác động đến quá trình điều hành nền kinh tế
*Nợ quá hạn ảnh hưởng đển quá trình tái sản xuất :
Khi nợ quá hạn phát sinh làm cho vốn ùn tắc, thời gian luân chuyểnvốn tăng lên dẫn đến tình trạng trì trệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,làm giảm tốc độ tăng truởng của nền kinh tế
*Nợ quá hạn gây sức ép nên lạm phát:
Nợ quá hạn tăng cao làm tăng nguồn vốn bị đóng băng trong nền kinh
tế, sẽ gây ra tình trạng nguồn vốn khan hiếm giả tạo Khi đó, nhu cầu tăngcung tiền cho đầu tư phát triển sản xuất sẽ đẩy mạnh lạm phát trong nền kinh
Trang 31phát triển kinh tế Cho nên, hoạt động Ngân hàng có tính nan chuyền rất lớn,bất kỳ một sự thay đổi nhỏ nào trong hoạt động ngân hàng cũng tác độngđến sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Nợ quá hạn tăng cao nếu Ngân hàng không kịp thời có những giảipháp xử lý và hạn chế sẽ gây thua lỗ cho Ngân hàng Ngân hàng kinh doanhthua lỗ sẽ làm giảm lòng tin của khách hàng và dẫn đến tình trạng rút tiền ồ
ạt của khách hàng Khi đó, nguy cơ phá sản của Ngân hàng là không thểtránh khỏi Sự phá sản của một Ngân hàng có thể sẽ kéo theo sự đổ vỡ củatoàn bộ hệ thống Ngân hàng làm khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệngân hàn, khủng hoảng nền kinh tế
1.2.5.2.Sự cần thiết phải hạn chế nợ quá hạn.
Nợ quá hạn gây ảnh hưởng rất xấu đến quá trình sản xuất kinh doanhcủa Doanh nghiệp, cũng như Ngân hàng và đồng thời nó con cản trở tốc độtăng trưởng của nền kinh tế
Hiện nay, tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống Ngân hàng thương mại ngàycàng tăng cao vượt mức giới hạn cho phép của Ngân hàng nhà nước Tỷ lệnày đã làm cho hoạt động tín dụng trở nên thiếu lành mạnh, gây rủi ro, giảmtốc độ tru chuỷên của nguồn vốn, đe doạ khủng hoảng tài chính
Tỷ lệ nợ qúa hạn giảm đồng nghĩa với chất lượng tín dụng tăng, giảmthiểu rủi ro, tăng uy tín của Ngân hàng cũng như tăng nguồn vốn hoạt độngcho Ngân hàng, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn đây cũng là điều kiệnthúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh chóng hơn
Chính vì vậy, Các Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu đưa racác biện pháp quản lý, hạn chế và xử lý nợ quá hạn là hết sức cần thiết
Trang 321.3.Những nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn
1.3.1.Nguyên nhân chủ quan.
1.3.1.1.Chính sách của Ngân hàng chưa phù hợp với sự biến động của thị trường
Để có chất lượng tín dụng tốt thì trước tiên Ngân hàng phải đưa ramột chính sách tín dụng đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, đúng đắn Đây là điều
cơ bản tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng xác định đúng phương hướng thựchiện nhiêm vụ của mình; Nếu một chính sách không nhất quán, không đồngnhất là nguyên nhân định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng và dẫn đếntình trạng cấp tín dụng sai đối tượng, thiếu hiệu quả Đây là kẽ hở cho ngườivay và các đối tượng có ý định lừa đảo lợi dụng
1.3.1.2.Do chất lượng đào tạo cán bộ
Chất luợng cán bộ kém không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặcđánh giá không tốt, không đủ năng lực đánh giá một cách đầy đủ khoa học
về dự án đầu tư dẫn đến xác định sai hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ củangười vay…Là nguyên nhân chất lượng tín dụng kém của Ngân hàng.Việccán bộ tín dụng thiếu hiểu biết về hệ thống luật pháp, dẫn đến những quyếtđịnh cho vay không đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng khi có những tranhchấp xảy ra
1.3.1.3 Đội ngũ cán bộ thiếu phẩm chất đạo đức.
Sống trong môi trường “tiền bạc” nhiều cán bộ tín dụng đã khôngtránh khỏi cám dỗ của đồng tiền; lợi dụng vị trí công tác quyền lực để thamô,thông tin trục lợi ,hoặc tiếp tay cho khách hàng rút ruột Ngân hàng, thậmchí làm trái nguyên tắc đẩy tình trạng nợ quá hạn của Ngân hàng ngày càngtăng cao Như vậy, một cán bộ tín dụng được coi là có chất lượng phải hội tụđầy đủ hai yếu tố trình độ đào tạo và đạo đức nghề nghiệp
Trang 331.3.1.4.Ngân hàng thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy
đủ chính xác kịp thời.
Ngân hàng không có đầy đủ thông tin về khách hàng, do khách hàng
cố tình che dấu, lập hồ sơ giả để tăng hiệu quả của dự án Hoặc do các kênhthông tin của Ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, khách hàng dẽ dàng chedấu lừa gạt cán bộ Ngân hàng Như vậy, nếu Ngân hàng không điều tra kỹtình hình thực tế hiệu quả của dự án thì sẽ dẫn đến những quyết định sai lầmkhi cho vay
1.3.1.5.Một số nguyên nhân khác
Nếu Ngân hàng quá chú ý đến thu nhập mang lại từ khoản cho vay màquên đi chất lượng của khoản vay có khả năng thu hồi nhanh hay không.Trong tình hình thực tế hiện nay, hoạt dộng của Ngân hàng rất phát triển sựcạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng ngày càng mạnh mẽ hơn, khiến cácNgân hàng hạ thấp điều kiện tín dụng, it quan tâm đến mức độ rủi ro củakhoản cho vay để có thể thu hút khách hàng một cách tối đa Chính vì vậy,các khoản nợ qúa hạn của Ngân hàng hiện nay ngày càng gia tăng
Đôi khi Ngân hàng qúa quan tâm đến những tài sản thế chấp mà quên
đi những nhân tố khác không kém quan trọng : Uy tín khách hàng, hiệu quảthẩm định dự án, kỳ hạn trả nợ Đến khi khách hàng không có khả năng hoàntrả nợ gốc cho Ngân hàng thì những tài sản cầm cố thế chấp đã không còngiá trị như ban đầu hay con nợ đã tẩu tán từ lâu Kết quả là, Ngân hàng chỉthu được một phần gốc hoặc mất cả gốc lẫn lãi
Các Ngân hàng không duy trì mối quan hệ thường xuyên với kháchhàng, nơi lỏng việc quản lý giám sát xem khách hàng có sử dụng vốn đúngmục đích như đã thoả thuận trong hợp đồng hay không Đến khi phát hiệnthì con nợ đã phá sản, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán từ lâu Hơn nữa, Ngân
Trang 34hàng chưa có hệ thống đo lường, phân loại rủi ro theo những tiêu chí nhấtđịnh như: phân loại theo cơ cấu khách hàng, địa bàn, ngành nghề…công tácquản lý con yếu kém, tính hiệu quả chưa cao, dẫn đến việc đánh giá cáckhoản tín dụng chưa chính xác.Vì vậy, Ngân hàng đóng vai trò quyết địnhđối với các khoản cho vay.
1.3.2.Nguyên nhân khách quan.
1.3.2.1.Nguyên nhân thuộc về khách hàng.
a.Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.
Khách hàng sử dụng không đúng theo khế ước trên hợp đồng, vốn vayđược sử dụng vào các hoạt động đầu tư rủi ro lớn; để đạt được mục đích củamình họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn của mình ứng phó với Ngân hàng như:cung cấp thông tin sai, mua chuộc cán bộ tín dụng Đến khi hoạt động đầu tưnày thất bại người vay sẽ không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, Kết quả
là, nợ quá hạn của Ngân hàng tăng lên
b.Khách hàng cố tình lừa đảo.
Khách hàng cố tình xây dựng một bộ hồ sơ hoàn hảo, có kỳ vọng sẽmang lại lọi nhuận tối đa trong tương lai để lừa gạt Ngân hàng, nhưng hiệuquả thực tế lại khác xa, khách hàng sử dụng tài sản thế chấp để vay nhiềunơi với tổng số tiền vay lớn hơn rất nhiều so vơi tài sản thế chấp; sử dụngvốn không đúng với lời khai trên đơn vay mượn; khi hoạt động kinh doanh
có lãi họ vẫn không trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn; họ cố tình chây ỳ với hivọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt; cũng có trườnghợp khách hàng vay hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi cho Ngân hàng, sau khi
đã tạo được lòng tin của mình đối vơi Ngân hàng thì sử dụng vốn vay vàomuc đích khác Nếu Ngân hàng không quản lý, giám sát, kiểm tra để phát
Trang 35hiện kịp thời ý định lừa đảo của khách hàng thì nguy cơ không thu hồi được
nợ chắc chắn sẽ xẩy ra
c.Trình độ quản lý kinh doanh của khách hàng còn hạn chế.
Mặc dù dự án đưa ra được đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế cao,nhưng do năng lực quản lý kinh doanh còn thấp dẫn đến hoạt động kinhdoanh kém hiệu quả: Sản phẩm làm ra không bán được, không cạnh tranhđược với những mặt hàng cùng loại trên thị trường …làm cho hoạt độngkinh doanh thua lỗ, Doanh nghiệp không có nguồn để trả nợ Ngân hàng
d.Tính thích nghi không cao.
Trong nền kinh tế thị để tồn tại và phát triển, các Doanh nghiệp khôngngừng tăng cao khả năng của Doanh nghiệp mình với Doanh nghiệp kháccùng hoạt động trên thị trường Doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranhđồng nghĩa với thua lỗ và phá sản Khi Doanh nghiệp không có những chiếnlược lâu dài, hiệu quả, không xác định đúng nhu cầu của thị trường, cũngnhư không tranh thủ được cơ hội và không phát huy được lợi thế cạnh tranhcủa mình thì chắc chắn Doanh nghiệp đó đã bị loại ra khỏi thị trường Lúc
đó, Doanh nghiệp sẽ không thanh toán được nợ cho Ngân hàng khi đến hạn
1.3.2.2.Nguyên nhân thuộc về mồi trường.
Đây là những nguyên nhân bất khả kháng nằm ngoài sự kiểm soát củaNgân hàng và khách hàng
a.Môi trường kinh tế không ổn định:
Những biến động bất thường của hoạt động kinh tế trên thị trường như
sự thay đổi về lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái ,khủng hoảng tài chính…hay việc suy giảm một số ngành nghề kinh doanh làm ảnh hưởng lớn đến thịtrường tiêu thụ sản phẩm và thị trường lao động Những biến động này cóthể gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế: Làm giá cả tăng, hoạt động sản xuấtsuy giảm, thất nghiệp cũng gia tăng là điều kiện lạm phát gia tăng Do đó,
Trang 36gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với Ngânhàng.
b.Môi trường pháp lý:
Hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều bất cập: Chưa đồng bộ, chưađầy đủ, còn chồng chéo và một số quyết định có nhiều kẽ hở đã tạo điềukiện cho những kẻ lừa đảo thực hiện ý đồ của mình Điều này không nhữngảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp mà còn ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đây cũng là nguyên nhânlàm tăng tỷ lệ nợ qúa hạn của Ngân hàng
cMôi trường tự nhiên.
Đó là những biến động bất thường của thiên nhiên nằm ngoài sự kiểmsoát của con người: Như thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn, mất mùa….những tai hoạnày xẩy ra sẽ tác động trực tiếp đến người vay, gây bất lợi cho hoạt độngkinh doanh của người vay Nhiều người vay, với bản lĩnh của minh có khảnăng dự báo thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn Trong những trườnghợp khác người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ Ngânhàng đúng hạn cả gốc và lãi.Tuy nhiên, khi có tác động của những nguyênnhân này thiệt hại đối với người vay là rất năng nề và khả năng không hoàntrả được đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng là rất lớn
d.Môi trường chính trị.
Môi trường chính trị là môt nhân tố rất quan trọng đối với hoạt độngkinh tế nói chung cung như hoạt động tín dụng Ngân hàng nói riêng Một đấtnước với tình hình chính trị bất ổn thì khó có thể tập chung xây dựng pháttriển kinh tế Vì khi đó hoạt động đầu tư giảm, tích luỹ tăng, hoạt động sảnxuất trì trệ gây lên tình trạng khan hiếm hàng hoá trên thị trường và đẩy giá
cả hàng hoá trên thị trường tăng, đây là nguyên nhân gây lên sức ép lạm
Trang 37phát Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động kinh doanh của Ngânhàng.
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới xử lý nợ quá hạn.
1.4.1.Các nhân tố chủ quan.
Hầu hết các Ngân hàng đều không muốn công khai tỷ lệ nợ quá hạnthực tế của mình Dó đó, nhiều khoản nợ đã quá hạn khó có khả năng thu hồinhưng Ngân hàng vẫn không có những biện pháp để giải quyết triệt để tìnhtrạng trên ,có trường hợp con nợ đã phá sản và tẩu tán hết tài sản từ lâuNgân hàng mới phát hiện
1.4.1.1.Sự chậm chễ về thông tin.
Ngân hàng không có sự kiểm tra, giám sát con nợ một cách thườngxuyên hoạt động kinh doanh của khách hàng, khi hoạt động kinh doanh củaDoanh nghiệp có vấn đề nếu Ngân hàng không phát hiện ngay thì Ngân hàngkhó có thể đưa ra một biện pháp giải quýêt triệt để tình trạng nơ qúa hạnphát sinh
1.4.1.2.Quản lý yêú kém của Ngân hàng.
Các biện pháp cưỡng chế mà Ngân hàng đưa ra chưa cứng rắn và thực
sự hiệu quả Điều này đã tạo điều kiện cho con nợ chây ỳ, cố tình kéo dàithời gian trả nợ mặc dù con nợ vẫn có khả năng trả nợ Dẫn đến quá trình xử
lý nợ quá hạn của Ngân hàng không hiệu quả, các khoản nợ qúa hạn củaNgân hàng vẫn ngày càng tăng cao
1.4.1.3.Chi phí xử lý nợ quá hạn:
Trong nhiều trường hợp chí phí mà Ngân hàng bỏ ra để xử lý, thu hồicác khoản nợ quá hạn tương đương với số tiền cho vay, thâm chí nhiềukhoản nợ qúa hạn muốn thu hôi được Ngân hàng còn phải bỏ ra số chi phílớn hơn số tiền mà con nợ đã vay Nên đã gây khó khăn cho Ngân hàng
Trang 38trong viêc đưa ra các giải pháp kịp thời, dẫn đến việc xử lý nợ quá hạn bị trìtrệ kéo dài.
1.4.2.Nhân tố khách quan.
1.4.2.1.Nhân tố thuộc về người vay.
Đó là sự thật thà, thái độ của người vay đối với những khoảnnợ.Trong trường hợp người vay có khả năng trả nợ và uy tín của người vayđối với Ngân hàng rất tốt thì Ngân hàng có thể tạo điều kiện cho khách hàng
có cơ hội trả nợ bằng cách: Gia hạn nợ, giúp đỡ hoạt động sản xuất kinhdoanh của Doanh nghiệp như tìm đầu ra cho sản phẩm hay Ngân hàng có thểcho vay thêm để phục hồi lại hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanhnghiệp.Trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ, hoạt độngsản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp không có khả năng phục hồi …thìNgân hàng phải nhanh chóng có những giải pháp thích hợp để thu hồi khoảnvay càng sớm càng tốt Khi cần thiết Ngân hàng có thể nhờ đến sự giúp đỡcủa cơ quan chức năng có thẩm quyền
Như vậy, sự thành thật của người vay, thái độ đối với khoản nợ và ýmuốn chi trả là các yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến các biện pháp màNgân hàng sẽ áp dụng, liên quan đến những khoản vay có vấn đề Nếu ngườivay không thật thà, có bằng chứng lừa đảo hay quan hệ mập mờ, hoặc ngườivay không có ý thức rằng buộc chi trả khoản vay con đường duy nhất màNgân hàng có thể theo đuổi là xúc tiến việc thu ngân,bằng bất cứ biện phápnào, với rủi ro ít nhất Nếu người vay mất chí trong việc khôi phục thì Ngânhàng buộc phải thu ngân
Nhiều Ngân hàng khẳng định nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhấttrong việc xử lý những khoản cho vay có vấn đề đang dẫn đến thiệt hại là tạothái độ sẵn sàng chi trả của người vay và tạo ra bầu không khí tin tưởng lẫn
Trang 39nhau giữa Ngân hàng và người vay Chỉ khi đó, thì cách thức khai thác thoảđáng mới được thực hiện
1.4.2.2.Một số nhân tố khác.
Trong một số trường hợp, việc xử lý ngoài phạm vi của toà án, sự sắpxếp các việc phải làm cần được những người liên quan chấp nhận Mộtngười phản đối duy nhất có thể làm cho kế hoạch không được thực hiện.Vìvậy, phải thuyết phục với các con nợ này rằng họ sẽ đựoc lợi bằng cách hợptác với kế hoạch đề nghị của Ngân hàng hơn là hoạt động đơn phương
Pháp luật cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xử lý cáckhoản nợ quá hạn Một cán bộ tín dụng phải là người nắm rõ các điều khoảnluật quy định, phải biết cách nắm bắt tâm lý của khách hàng, khi cần có thểcương quyết hoặc nới lỏng…thì mới có khả năng thu hồi các khoản nợ quáhạn một cách nhanh nhất.Hệ thống pháp luật nước ta con nhiều kẽ hở, đã tạođiều kiện cho những con nợ luồn, nách luật gây khó khăn cho Ngân hàngtrong quá trình thu hồi và xử lý các khoản nợ quá hạn
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NHNN & PTNT PHAN ĐÌNH PHÙNG 2.1.Khái quát chung về chi nhánh
2.1.1.Lịch sử hình thành.
Cùng với quá trình phát triển ngày càng lớn mạnh của nền kinh tế, cácthành phần kinh tế cũng ngày càng được mở rộng phong phú, đa dạng vềhình thức cũng như mạng lưới hoạt động.Trong đó mạng lưới của ngànhNgân hàng cũng được mở rộng địa bàn hoạt động để phục vụ khách hàngmột cách thuận lợi nhất và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củaNgân hàng một cách tối ưu nhất
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã liên tụcthành lập thếm các chi nhánh mới.Trong đó, Chi nhánh Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) Phan Đình Phùng đượcthành lập năm 2003 đặt trụ sở tại 174 Phan Đình Phùng -Quận Ba Đình –HàNội, là thành viên của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam.Chi nhánh NHNN&PTNN Phan Đình Phùng là một đơn vị hạch toánphụ thuộc vừa kinh doanh trực tiếp như các thành viên khác, vừa đảm nhậnchức năng trung tâm thanh toán nội tệ toàn quốc
2.1.2.Cơ cấu tổ chức.
Chi nhánh NHNN & PTNT Phan Đình Phùng là một bộ phận giaodịch trực tiếp với khách hàng của NHNN & PTNT Việt Nam với bộ máybao gồm:
+ Phòng kinh doanh
+Phòng kế toán