Trong những năm gần đây, do quá trình mở cửa, hội nhập với thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển ngày càng mạnh mẽ trên tất cả các mặt, các ngành, các lĩnh vực.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, do quá trình mở cửa, hội nhập với thếgiới, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển ngày càng mạnh mẽ trên tất cảcác mặt, các ngành, các lĩnh vực Trong đó nổi bật lên là sự phát triển như
vũ bảo của hệ thống ngân hàng thương mại Các ngân hàng ngày càng lớnmạnh cả về số lượng và chất lượng Hoạt động huy động vốn cũng như chovay, đầu tư, thanh toán ngày càng phát triển
Tuy nhiên, sự lớn mạnh đó lại kéo theo những vấn để nổi cộm khác
Nợ xấu cũng là một hiện tượng đáng phải quan tâm Theo thống kê của IMFthì nợ xấu của Việt Nam tính đến cuối năm 2004 là 15% và để giữ cho tỉ lệ
nợ xấu trong năm 2005 – 2006 không trầm trọng thêm là vô cùng khó khăn
Trong bối cảnh chung của toàn bộ hệ thống ngân hàng hiện nay, tìnhhình nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai BàTrưng cũng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Do đó, em quyết định lựachọn đề tài: “Giải pháp hạn chế nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ tạihàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng trong giai đoạn tới” để nghiêncứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Nội dung chuyên đề của em gồm có ba phần như sau:
Chương 1: Tổng quan về hạn chế nợ xấu
Chương 2: Thực trạng về xử lý nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏtại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng trong giaiđoạn 2002 - 2005 vừa qua
Trang 2 Chương 3: Các giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu trong cho vay doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhành Ngân Hàng Công Thương khu vực II Hai
Bà Trưng trong thời gian sắp tới
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HẠN CHẾ NỢ XẤU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Dịch vụ ngân hàng đã hình thành và phát triển từ lâu đời, nó tồn tạisong song với gần như tất cả các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử pháttriển của loài người Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì cácNgân hàng Thương mại ngày càng lớn mạnh, có ảnh hưởng tới mọi mặt củacuộc sống
Như vậy, ngân hàng thương mại là gì? NHTM được hiểu là mộtdoanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ
Là một doanh nghiệp bởi vì NHTM cũng có những hoạt động như cácdoanh nghiệp khác Trước hết, để có thể hình thành và phát triển, mỗi ngânhàng đều phải có nguồn vốn của riêng mình đồng thời số vốn này phải đủlớn để có thể đảm bảo an toàn khi cho vay Ngoài ra, trong quá trình thànhlập và vận hành thì tất cả các ngân hàng đều phải có chi phí và thu nhập, cónghĩa vụ nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước, phải đăng ký kinh doanh, cótiến hành mua bán, trao đổi…
Tuy nhiên, đây là doanh nghiệp đặc biệt bởi đối tượng kinh doanh của
nó là loại hàng hoá đặc biệt – tiền tệ Sản phẩm mà ngành này cung cấp cho
xã hội là loại hàng hoá không bao giờ tồn kho và đồng thời, người cung cấpcũng chính là người sử dụng sản phẩm Nó không trực tiếp tạo ra của cải vậtchất cho xã hội nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưuthông, góp phần làm tăng trưởng kinh tế
Trang 4Luật Các tổ chức tín dụng của Việt Nam cũng đã định nghĩa: “NHTM
là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để hoạt độngkinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng, với nội dung nhận tiền gửi và sửdụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Hiện nay, ở Việt Nam, có ba loại hình NHTM khác nhau Thứ nhất,NHTM quốc doanh là NHTM được thành lập bằng 100% vốn Ngân sáchNhà nước Thứ hai là NHTM cổ phần – NHTM hình thành dưới hình thứccông ty cổ phần, trong đó, một cá nhân hoặc tổ chức không được sở hữu cổphần của ngân hàng vượt quá tỉ lệ quy định Loại hình thứ ba là chi nhánhngân hàng nước ngoài Đây là cơ sở của ngân hàng nước ngoài tại ViệtNam, hoạt động theo Pháp luật Việt Nam
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo được thông qua hoạt động huy độngvốn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của ngân hàng Trước đây, cácNgân hàng thương mại chủ yếu là nhận tiền gửi của những người gửi tiếtkiệm Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của sự cạnh tranh giữa các ngânhàng thương mại và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cùng với sự phát triểnkhông ngừng của nền kinh tế, các Ngân hàng Thương mại đã đưa ra rấtnhiều hình thức huy động vốn khác nhau:
Một lượng vốn lớn được các Ngân hàng Thương mại huy động thôngqua tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, kỳ phiếu,chứng chỉ tiền gửi….Bên cạnh đó, khi cần vốn đáp ứng nhu cầu thanh khoảnhay đầu tư, Ngân hàng thương mại còn có thể vay các ngân hàng khác, thựhiện chiết khấu, tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức tài
Trang 5chính trong và ngoài nước Ngân hàng thương mại cũng tạo lập nguồn vốnthông qua phát hành và bán cổ phiếu, tạo lập các quỹ dự trữ từ lợi nhuận.
Để có được lượng vốn thông qua hoạt động huy động vốn, các Ngânhàng Thương mại phải bỏ ra những chi phí nhất định như: lãi tiền gửi, lãitiền vay, chi phí giao dịch, bảo hiểm tiền gửi…
1.1.2.2 Hoạt động cho vay và đầu tư
Đây là nghiệp vụ sử dụng vốn của Ngân hàng thu được từ các hoạtđộng huy động để cho vay hoặc đầu tư chứng khoán Đồng thời, nó cũng làhoạt động đặc trưng, cơ bản mang tính truyền thống của Ngân hàng Thươngmại
Cho vay và đầu tư là các hoạt động đem lại phần lớn thu nhập choNgân hàng, nhưng đây cũng chính là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất vàđưa đến nhiều tốn thất cho ngân hàng nếu như rủi ro xảy ra Do đó, để hạnchế rủi ro và tổn thất, các Ngân hàng thương mại khi cho vay đều phải tuânthủ theo những nguyên tắc nhất định:
Thứ nhất, người đi vay phải có kế hoạch và mục đích cụ thểcho khoản vay của mình Mục đích đó phải phù hợp với nguyêntắc cho vay của ngân hàng Đồng thời, các khoản vay phải được
sử dụng đúng với kế hoạch đã đặt ra
Thứ hai, để được vay vốn thì các khoản vay đều phải có sự đảmbảo Có thể là đảm bảo bằng tài sản hoặc không bằng tài sảntuỳ theo độ tin cậy của khách hàng
Thứ ba, khách hàng vay vốn phải chứng minh được nguồn trả
nợ cho khoản vay của mình Nguồn này thông thường là lấy từ
Trang 6lợi nhuận mà khách hàng thu được nhờ sử dụng khoản vay điđầu tư.
Thứ tư, khách hàng phải cam kết hoàn trả đầy đủ và đúng hạn
cả gốc và lãi vay
Ngân hàng có thể cho vay dưới nhiều hình thức, tuỳ theo các hìnhthức khác nhau mà có cách phân loại khác nhau Nếu phân loại theo thờigian cho vay thì sẽ có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nếu phântheo đối tượng cho vay thì gồm có cho vay quốc doanh và ngoài quốcdoanh…
1.1.2.3 Hoạt động trung gian
Ngân hàng thương mại là hệ thống trung gian tài chính cơ bản trongnền kinh tế, chủ yếu là hoạt động trong nghiệp vụ trung gian trong thanhtoán Ngân hàng đóng vai trò là tổ chức đứng giữa bên phải thanh toán vàbên hưởng thụ giúp cho quá trình thanh toán được tiến hành nhanh chóng,hiệu quả Trong nền kinh tế ngày càng phát triển, các mối quan hệ không chỉdiễn ra trong nước mà còn trên phạm vi toàn thế giới Nếu không có một hệthống thanh toán nhanh chóng thuận tiện thì việc thực hiện các giao dịch,quan hệ kinh tế sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn Do vậy việc ngân hàngđứng ra đảm nhận chức năng này có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triểncủa nền kinh tế Việc ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thông qua tàikhoản không chỉ tạo cho ngân hàng những nguồn vốn mới mà còn mang lạicho ngân hàng một nguồn thu nhập thông qua thu phí đối với các dịch vụthanh toán
Trang 71.2 HẠN CHẾ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về nợ xấu
Cho đến nay vẫn chưa có được khái niệm đầy đủ, thống nhất về nợxấu Và khi nói về nợ xấu, người ta mới chỉ mô tả, nêu lên được một vài đặcđiểm chung nhất của các khoản nợ này
Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 3, Điều 2, Quyết định số 493/2005/ QĐ – NHNN ban hành ngày 22/4/2005 của Thống Đốc Ngân hàngNhà Nước thì
“Nợ bao gồm
a Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi, cho thuê tài chính;
b Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác;
c Các khoản bao thanh toán;
có khả năng được thanh toán và bắt buộc phải xử lý bằng bút toán xoá nợ
Còn theo NHTW Liên minh Châu Âu quy định thì nợ xấu bao gồmcác khoản nợ không thể thu hồi được như:
Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không
có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ
Trang 8 Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn để lại tài sản đểthanh toán nợ.
Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được vớingười mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ
Những khoản nợ mà người mắc nợ chấm dứt hoạt động kinhdoanh hoạc thanh lý tài sản hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sảnkhông còn đủ để trả nợ
1.2.2 Phân loại nợ xấu
Theo quy định tại Điều 6, Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN banhành ngày 22/4/2005 thì nợ bao gồm năm nhóm, trong đó, những khoản nợthuộc nhóm 3, 4, 5 là nợ xấu
Trước hết, nợ nhóm 3 hay còn gọi là nợ đưới tiêu chuẩn bao gồm:
“- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ qua hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này 1 ”.
Tiếp theo, nợ nhóm 4 hay còn gọi là nợ nghi ngờ bao gồm:
“- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
1 Khoản 3: Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một (01) khoản nợ với tổ chức tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì tổ chức tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
Khoản 4: Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời h¹n đã cơ cấu lại) mà tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảmthì tổ chức tínd ụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro.
(Điều 6, Quyết định 493/ 2005/ QĐ – NHNN)
Trang 9- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến
180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;
- Các khoản nợ khách được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này”
Cuối cùng là nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn bao gồm:
“- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ được khoanh chờ Chính phủ xử lý;
- Các khoản nợ đã cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại
- Các khoản nợ khách được phân vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.”
1.2.3 Các dấu hiệu nhận biết nợ xấu
1.2.3.1 Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng
Dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng bao gồm hai nhóm chính thểhiện trong mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng và phương thứcquản lý, tình hình tài chính, hoạt động của khách hàng
Trước hết là có những biểu hiện không bình thường trong mối quan
hệ giữa khách hàng với ngân hàng như:
Khách hàng gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình kiểmtra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tìnhhình tài chính, hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng
mà không có sự giải thích rõ ràng, minh bạch thuyết phục
Doanh nghiệp cố trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêucầu hoặc không có các báo cáo về sự đoán hay lưu chuyển tiền
tệ mà không có sự giải thích minh bạch thuyết phục
Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định,
vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng
Trang 10 Đề nghị gia hạn, điều chỉnh định kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ
lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan
về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn nợ
Có sự sút giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngânhàng; xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến vàkhông giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiềngửi thanh toán tại ngân hàng
Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàntrả hoặc khách hàng không muốn trả hoặc do việc thu hồi công
nợ chậm hơn dự tính
Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu vay các khoảnvượt quá nhu cầu dự kiến
Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút
so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho ngườikhác thuê, bán, trao đổi hoặc đã biến mất hoặc không còn tồntại
Khách hàng có biểu hiện trông chờ các nguồn thu nhập bấtthường khác, không phải từ hoạt động sản xuất, kinh doanhchính hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn
để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán Hoặc họ có tìm kiếm sự tàitrợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt là từ đốithủ cạnh tranh của ngân hàng hay sử dụng các khoản tài trợngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn
Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao với mọi điềukiện
Thứ hai là xuất hiện các dấu hiệu bất thường liên quan tới phươngpháp quản lý, tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng.Những dấu hiệu này tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng
Trang 11với tốc độ chậm hơn Chúng không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặtchẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng, bao gồm:
Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so vớimức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh toán haymức độ hoạt động của khách hàng
Xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như sự giatăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tập trung quá nhiều chiphí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phươngtiện giao thông đắt tiền…
Thay đối thường xuyên tổ chức của ban điều hành Xuất hiệnmâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trìnhquản lý
Khách hàng sẵn sàng từ bỏ những hợp đồng giá trị nhỏ và vừanhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếmcác hợp đồng lớn với các bạn hàng có tên tuổi dù lợi nhuận thu
về có khả năng đạt thấp hơn
Do áp lực nội bộ, doanh nghiệp phải tung ra thị trường các sảnphẩm, dịch vụ quá sớm khi các sản phẩm chưa đạt được cácđiều kiện cần thiết hoặc đặt ra những hạn mức thời gian, doanh
số không hợp lý
Thiên tai, địch hoạ xảy, dịch bệnh bất ngờ xảy ra và có ảnhhưởng đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng
1.2.3.2 Nhóm các dấu hiệu phát sinh từ phía ngân hàng
Rủi ro có thể phát sinh từ phía khách hàng nhưng cũng có thể là bắtnguồn từ phía ngân hàng Nếu là rủi ro do ngân hàng gây ra thì ta có thểnhận thấy thông qua một số các dấu hiệu như sau:
Trang 12 Có sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi rocủa khách hàng.
Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếutính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền lớnhoặc các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng đượccấp
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt qua khả năng vànăng lực kiểm soát của ngân hàng
Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra chẳnghạn như sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công
ty con hạch toán độc lập
Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụngmập mờ, không rõ ràng, không rõ lịch hoàn trả đối với từngkhoản vay; cán bộ tín dụng cố ý thoả hiệp các nguyên táce tíndụng với khách hàng mặc dù biết có rủi ro tiềm ẩn
Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàngkhông thuộc phân đoạn ưu tiên
Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất hoặcphí dịch vụ hay giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụngmới để họ không quan hệ với tổ chức tín dụng khác
1.2.4 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan
Trước hết, các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ, sựthay đổi thị hiếu người tiêu dùng…gây ra những biến động xấu ngoài dựkiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình.Điều này có thể làm cho khách hàng mất khả năng trả nợ
Trang 13Nguyên nhân khách quan thứ hai là sự thay đổi trong cơ chế, chínhsách như: Chính trị, sự điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp của Nhànước hoặc thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sáp nhập haytách ra của các Bộ, Ngành trong nền kinh tế Những sự thay đổi và điềuchỉnh này tuy cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước nhưngđôi khi, cũng có tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến ngân hàng và khách hàngdẫn tới làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng.
Nhân tố tiếp theo tác động vào quan hệ tín dụng này là thông tinkhông đầy đủ Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng rất dễ gặpcác rủi ro như khách hàng cố tình vi phạm, che giấu thông tin hoặc làm sailệch thông tin về mình (lập báo cáo tài chính thiếu trung thực, sử dụng vốnvay sai mục đích ) Khách hàng thì do không có đầy đủ thông tin về thịtrường sẽ dẫn tới những quyết định kinh doanh sai lầm Do đó, việc sản xuấtkinh doanh không đáp ứng nhu cầu và dẫn tới làm ăn thua lỗ, không trảđược nợ cho ngân hàng
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý cũng tác động tới quan hệ vay mượngiữa ngân hàng và khách hàng Nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh sẽkhông đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế Đây lànguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của cá nhân,doanh nghiệp và tạo ra các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng
Còn một nhân tố khách quan nữa là nhân tố quốc tế Trong xu thếtoàn cầu hoá hiện nay, tín dụng trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tíndụng quốc tế, dễ bị ảnh hưởng bởi tình hình quốc tế như tình hình kinh tế,chính trị, chính sách tài chính của các quốc gia khác trên thế giới Bất cứmột sự biến động nào trong nền kinh tế quốc tế cũng đều có tác động tới đấtnước cho dù ít hay nhiều
Trang 141.2.4.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến ở đây là chính sách cho vay củangân hàng Đối với mỗi ngân hàng, chính sách cho vay là kim chỉ nam chohoạt động tín dụng Nó phải phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Khichính sách cho vay thống nhất, đầy đủ và đúng đắn, cán bộ tín dụng sẽ dễdàng xác định đúng phương hướng khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nângcao hiệu quả của hoạt động tín dụng Còn ngược lại, một chính sách tín dụngthiếu độ chính xác, không đầy đủ và không nhất quán sẽ tạo ra kẽ hở chongười sử dụng vốn và dẫn tới rủi ro tín dụng
Nguyên nhân thứ hai nằm ở năng lực và đạo đức của người cán bộ tíndụng Nếu cán bộ tín dụng không tính toán chính xác hiệu quả đầu tư của dự
án xin vay thì họ sẽ dễ dàng có những những quyết định sai lầm trong chovay Hoặc người cán bộ tín dụng khi chưa được đào tạo đầy đủ, không amhiểu về lĩnh vực kinh doanh mà mình đang cho vay sẽ không thể đánh giáhết khả năng sinh lời cũng như những rủi ro của khách hàng Đôi khi, nhữngcán bộ tín dụng vì một lý do nào đó vẫn cố ý cho vay mặc dù biết dự ánkhông có hiệu quả sẽ dẫn tới rủi ro cho ngân hàng Trong những trường hợpnhư vậy thì khả năng mất vốn của Ngân hàng là rất cao
Thứ ba, ngân hàng chưa đánh giá đúng mức về khoản vay, về người
đi vay hoặc do chủ quan tin tưởng khách hàng quen biết mà coi nhẹ khâukiểm tra về tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai,nguồn trả nợ
Thứ tư là do ngân hàng thiếu một cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro, thiếuhạn mức tín dụng tối đa cho từng lkhách hàng thuộc từng ngành nghề, lĩnhvực, sản phẩm, địa phương khách nhau để phân tán rủi ro, chưa có các tiêuthức đo lường rủi ro, độ rủi ro cho phép chấp nhận đối với mỗi đối tượngkhách hàng
Trang 15Nguyên nhân thứ năm là thuộc về phía khách hàng Trước hết, khảnăng quản lý của khách hàng yếu kém sẽ dẫn tới sử dụng khoản vay không
có hiệu quả, dễ thua lỗ Tiếp theo, doanh nghiệp không chịu thu thập, tìmhiểu thông tin về thị trường, sản phẩm, đối tượng khách hàng sẽ dẫn tớinhững quyết định sai lầm trong kinh doanh Do đó, doanh nghiệp dễ dànglâm vào tình trạng vỡ nợ hoặc phá sản Một phần nữa cũng quan trọngkhông kém là đạo đức của khách hàng Không ít những chủ doanh nghiệphoặc cá nhân vay vốn của ngân hàng chẳng những yếu kém về năng lực kinhdoanh mà còn thiếu cả tư cách đạo đức Phần lớn trong số họ đều mongmuốn thành đạt trong kinh doanh để có điều kiện trả nợ cho ngân hàng, tuynhiên, cũng không hiếm những người chỉ mong muốn lừa đảo, chiếm đoạtlấy tiền từ ngân hàng vào những mục đích xấu xa khác như cờ bạc, hụi đề.Thông thường, những khách hàng này đều xuất trình những dự án rất sángsủa, những lời hứa hẹn hoa mỹ Các nhà ngân hàng một phần thì thiếu kinhnghiệm, phần nữa có thể do tham một chút lợi nhỏ nên đã đầu tư vào những
dự án này và đương nhiên là sẽ gặp rủi ro
1.2.5 Ảnh hưởng của nợ xấu tới Ngân hàng thương mại và nền kinh tế
Nhìn chung, đối với mỗi ngân hàng thì nợ xấu có tác động trực tiếptới hoạt động của chính bản thân nó và từ đó tác gây ảnh hưởng tới toàn bộ
hệ thống ngân hàng Những ảnh hưởng này sẽ dẫn tới làm nguy hại cho nềnkinh tế
Trước hết, những khoản nợ này làm chậm quá trình tuần hoàn và chuchuyển vốn của các tổ chức tín dụng, giảm vòng quay của vốn, từ đó làmgiảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận của ngân hàng
Thứ hai, chi phí phát sinh nợ xấu là rất lớn (bao gồm chi trả lãi tiềngửi, chi phí quản lý nợ xấu và các chi phí khách liên quan) Chi phí tăng cao
Trang 16ngoài dự kiến và những chi phí này làm giảm đáng kể, thậm chí gây lỗ chocác ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh Ngân hàng mất vốn phảikhoanh nợ, giãn nợ, thậm chí là xoá nợ, ngoài một phần mà ngân sách cấp
bù thì phần chủ yếu là do các ngân hàng phải trích lập quỹ phòng ngừa rủi
ro Điều này sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng
Ngoài ra, khi tỉ lệ nợ quá hạn quá cao, vượt qua giới hạn an toàn theothông lệ quốc tế, không thực hiện đúng cam kết mở L/C, uy tín của hệ thốngNHTM trong nước và quốc tế sẽ giảm sút, ảnh hưởng đến tình hình hoạtđộng của ngân hàng
Đồng thời, nợ xấu còn hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tíndụng, khả năng kinh doanh của các tổ chức tín dụng Mặt khác, nợ xấu tácđộng trực tiếp đến khả năng tài chính của tổ chức tín dụng khi phân tích,đánh giá tình hình tài chính hoạt động của ngân hàng, là yếu tố bất lợi chokhả năng cạnh tranh và quá trình hội nhập, phát triển của ngân hàng
1.2.6 Các biện pháp nhằm hạn chế nợ xấu
1.2.6.1 Các biện pháp phòng ngừa
Trước hết, các ngân hàng thương mại phải thực hiện thẩm định cácđiều kiện vay vốn Đây là một khâu quan trọng, không thể thiếu được trangquy trình cho vay và quản lý khoản vay Nó giúp cho ngân hàng thương mạiphát hiện ra những rủi ro tiềm ẩn của khoản vay để đưa ra các quyết địnhcho vay hợp lý, hạn chế được nợ xấu cho ngân hàng Quy trình thẩm địnhđiều kiện vay vốn của một khoản vay thì bao gồm các bước như sau:
Kiểm tra hồ sơ vay vốn (bao gồm hồ sơ khách hàng, hồ sơkhoản vay và hồ sơ bảo đảm tiền vay) và mục đích vay vốn
Trang 17 Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương
án sản xuất kinh doanh, dự án vay vốn
Kiểm tra, xác minh lại các thông tin
Thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay
Biện pháp thứ hai là thực hiện chấm điểm tín dụng khách hàng Chấmđiểm tín dụng khách hàng là việc đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụtài chính của một khách hàng đối với ngân hàng như trả lãi và gốc nợ vaykhi đến hạn nhằm xác định rủi ro hoạt động cấp tín dụng Mức độ rủi ro tíndụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trìnhđánh giá bằng thang điểm dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chínhsẵn có của khách hàng tại thời điểm thực hiện chấm điểm tín dụng Việcchấm điểm tín dụng nhằm giúp cho Ngân hàng thương mại trong việc đưa racác quyết định cấp tín dụng : xác định hạn mức tín dụng đối với khách hàng,
số tiền cho vay, thời hạn, mức lãi suất, mức phí, biện pháp bảo đảm tiền vay.Ngoài ra, nó còn giúp ngân hàng giám sát, đánh giá khách hàng khi khoản
Trang 18tín dụng còn dư nợ để phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường củakhách hàng, khoản vay, từ đó có những biện pháp đối phó, hạn chế rủi ro cóthể xảy ra.
Biện pháp thứ ba là thực hiện giám sát quản lý chặt chẽ khoản Việckiểm tra, giám sát khoản vay được thực hiện sau khi cho vay nhằm bảo đảmngười vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả số tiền vay, đôn đốc hoàn trả
nợ gốc và lãi vay đúng hạn, đồng thời, có các biện pháp thích hợp nếu ngườivay không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các cam kết
Thứ tư là thực hiện bảo đảm tiền vay Biện pháp này nhằm tạo cơ sởkinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay Nó giúpnâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay, phòng ngừa rủi
ro khi phương án trả nợ dự kiến của bên vay không thực hiện được hoặc xảy
ra các rủi ro không lường trước được và phòng ngừa sự gian lận của kháchhàng đi vay Bảo đảm tiền vay phải được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Trường hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, ngân hàng có quyền xử lýtài sản bảo đảm để thu hồi nợ
Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bênbảo lành vẫn chưa thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ,khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiệnđúng nghĩa vụ trả nợ
Phần chênh lệch thừa sau khi xử lý vẫn phải được giữ để bảo đảm chonghĩa vụ tín dụng khác còn đang tồn tại tại ngân hàng (nếu có thoả thuận)
Trang 191.2.6.2 Biện pháp khắc phục
Khi phát hiện ra khoản vay có vấn đề hoặc tài sản bảo của khách hàng
có dấu hiệu sút giá so với ban đầu hoặc giá trị tài sản bảo đảm thấp so vớigiá trị khoản vay, cán bộ tín dụng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sảnbảo đảm nợ vay Việc bổ sung này sẽ giúp làm tăng giá trị tài sản bảo đảmcủa khoản vay Nếu trong trường hợp xảy ra rủi ro mất vốn thì tổn thất củangân hàng sẽ giảm đi Đồng thời, thêm một phần tài sản bị đem đi làm vậtbảo đảm cho ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để sản xuấtkinh doanh có hiệu quả nhằm giữ lại những tài sản đó
Bên cạnh đó, nếu cán bộ tín dụng thấy có dấu hiệu khách hàng làm ănkhông có hiệu quả thì cũng phải chú ý Đây là một trong những nguy cơ làmtăng nợ xấu cho ngân hàng Khi thấy những dấu hiện trên thì cán bộ tín dụngphải kịp thời đưa ra những biện pháp phòng ngừa, giúp tư vấn cho kháchhàng trong việc quản lý, điều hành, định hướng sản xuất kinh doanh Việcnày sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hạn chế tổn thất vànguy cơ phá sản Do đó, khả năng trả nợ cho ngân hàng của doanh nghiệp sẽđược đảm bảo Nguy cơ nợ xấu được ngăn chặn
Biện pháp tiếp theo dụng là cho vay thêm Biện pháp này được ápdụng khi khách hàng đang gặp khó khăn về vốn, có thể ảnh hưởng tới việcthu nợ và phương án sản xuất kinh doanh của káhch hàng có thể phát triểntốt nếu có đủ vốn thì cán bộ tín dụng sẽ xem xét để cho vay thêm Biện phápnày cũng giúp ngăn chặn những thua lỗ cho khách hàng vay vốn, do đó, đảmbảo khả năng thu hồi được nợ cho ngân hàng
Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn thực hiện gia hạn nợ cho kháchhàng, Việc này cũng chỉ được thực hiện nếu như cán bộ tín dụng thấy nó cóhiệu quả khi mà khách hàng chưa có đủ khả năng trả nợ nhưng nếu cứ duytrì khoản cho vay đó thêm một thời gian thì chắc chắn sẽ sinh lãi và trả được
nợ cho ngân hàng
Trang 20CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHCT KHU VỰC II
HAI BÀ TRƯNG
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
VÀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II HAI
BÀ TRƯNG
2.1.1 Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Incombank)
Incombank là một trong bốn Ngân hàng thương mại Nhà nước lớnnhất tại Việt Nam, được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàngNhà nước Việt Nam
Hiện nay, Incombank có tổng tài sản chiếm hơn 25% thị phần trongtoàn bộ hệ thống Ngân hàng Việt Nam Nguồn vốn của Ngân hàng luôn tăngtrưởng qua các năm và đặc biệt tăng mạnh kể từ năm 1996, đạt bình quânhơn 20%/năm Có năm, nguồn vốn của Incombank tăng tới 35% so với nămtrước Tại Việt Nam, cho vay và đầu tư của Incombank chiếm 21% thị phần
Ngân hàng Công Thương Việt Nam có mạng lưới kinh doanh trảirộng trên toàn quốc với 2 Sở Giao dịch, 130 chi nhánh và hơn 700 điểm giaodịch
2.1.2 Chi nhánh Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và quá trình hoạt động
Ngân hàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng là một trongnhững chi nhánh của Ngân hàng Công Thương Việt Nam đặt tại quận Hai
Trang 21Bà Trưng – Hà Nội Chi nhánh này được xây dựng từ năm 1955 với tên gọi
là “Chi điếm Ngân hàng Hai Bà Trưng”
Đến tháng 11 năm 1985, sau khi thực hiện Nghị định số 53 HĐBTngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tổ chức bộ máy NHNNViệt Nam chuyển sang cơ chế ngân hàng 2 cấp, Chi điếm này được táchthành hai bộ phận riêng biệt: “Ngân hàng Công Thương khu vực I quận Hai
Bà Trưng” - có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tín dụng của các đơn vị kinh tếtập thể, tư nhân, hộ gia đình và “Ngân hàng Công Thương khu vực II quậnHai Bà Trưng” - làm nhiệm vụ đảm bảo tiền tệ thanh toán cho các đơn vịkinh tế quốc doanh
Kể từ ngày 1/9/2003, theo quyết định của Tổng giám đốc NHCT ViệtNam, hai chi nhánh trên được sát nhập với nhau, hình thành chi nhánh Ngânhàng Công Thương khu vực II Hai Bà Trưng
Do quận Hai Bà Trưng là một địa bàn đông dân cư với nhiều thànhphần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn như Công ty Dệt 8/3, Nhàmáy khoá Minh Khai, Nhà máy bia Halida… nên chi nhánh Ngân hàngCông Thương khu vực II Hai Bà Trưng đã có một lượng khách hành thườngxuyên rất lớn, tạo môi trường lý tưởng cho Chi nhánh hoạt động
Tuy nhiên, cũng do là một khu vực rộng lớn, đông dân cư, nhiềuthành phần kinh tế nên quận Hai Bà Trưng cũng là địa bàn phúc tạp, cónhiều khó khăn, hạn chế nên Chi nhánh Hai Bà Trưng dù đã mở rộng và đadạng hoá hoạt động nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ truyềnthống là huy động tiền gửi và cho vay trực tiếp
2.1.2.2 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT HBT
Chi nhánh ngân hàng Công Thương Ba Trưng có 11 phòng ban với 13quỹ tiết kiệm trên toàn địa bàn quận, được tổ chức theo mô hình dưới đây:
Trang 222.1.2.3 Tình hình hình hoạt động của NHCT Hai Bà Trưng
Trong thời gian qua, đặc biệt từ những năm 2000 trở lại đây, trước sựphát triển của toàn bộ nền kinh tế cũng như của hệ thống ngân hàng và nhờ
sự nỗ lực của lãnh đạo, cán bộ chi nhánh, thu nhập và lợi nhuận tại chinhánh ngày càng tăng lên Mặc dù, năm 2005, lợi nhuận ngân hàng thu được
là âm nhưng nguyên nhân không phải là do chi nhánh hoạt động kém hiệu
Ban Giám đốc
Các hoạt động kinh doanh
Phòng Khách hàng số 1
Phòng Khách hàng số 2
Phòng Giao dịch Trương Định
Phòng Tài trợ thương mại
Phòng Khách hàng cá nhân
Quản lý nội bộ
Phòng Kiểm tra nội bộ
Phòng Tiền tệ kho quỹ
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng Thông tin điện toán
Phòng Kế toán tài chính
Phòng Tiếp thị tổng hợp
Trang 23quả mà do sự thay đổi trong cơ chể, chính sách Nếu cố gắng thực hiện theoquy chế, chính sách mới thì Chi nhánh sẽ thu được lợi nhuận trở lại và làm
ăn có hiệu quả hơn
Dưới đây là tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánhNHCT HBT trong 5 năm vừa qua:
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh
n v : tri u ng
Đơn vị: triệu đồng ị: triệu đồng ệu đồng đồng
Tổng thu nhập 137.200 145.800 159.900 163.700 184.400Tổng chi phí 125.100 131.700 143.200 145.780 279.900Lợi nhuận 12.100 14.100 16.700 17.900 - 95.550
(Nguồn BCKQKD năm 2001- 2005 của NHCT HBT)
2.2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH TRONG NĂM 2005
2.1.1 Vài nét về doanh nghiệp vừa và nhỏ - Khách hàng của chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hai Bà Trưng
Doanh nghiệp vừa và nhỏ - khách hàng của chi nhánh Ngân hàngCông Thương khu vực II Hai Bà Trưng chủ yếu nằm trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng Đây là địa bàn rộng lớn, với nhiều thành phần kinh tế phức tạp.Nơi đây tập trung nhiều doanh nghiệp lớn Hầu hết đây là các doanh nghiệpquốc doanh đã có từ lâu đời Còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hầu hết làdoanh nghiệp tư nhân, mới thành lập trong thời gian gần đây
Theo báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh thì tính đến cuối năm
2005, Chi nhánh có quan hệ tín dụng với tổng số 92 doanh nghiệp, trong đó
có 64 doanh nghiệp vừa và nhỏ Và hầu hết những doanh nghiệp này là công
ty tư nhân, trách nhiệm hữu hạn, các công ty con hoạt động chủ yếu tronglĩnh vực công nghiệp, thương mại với quy mô sản xuất nhỏ lẻ như: công ty
Trang 24kỹ thuật thương mại quốc tế Song Toàn (chuyên mua bán thiết bị điện tử,linh kiện máy tính), công ty TNHH Vân Đồn (chuyên doanh các thiết bị vậntải tàu thuỷ), công ty TNHH Đông Sơn, Công ty TNHH Cát Tường, công tythương mại Bach Đằng… Trong 64 doanh nghiệp vừa và nhỏ thì có tới 30doanh nghiệp là có vốn chủ sở hữu dưới 5 tỷ Chính vì vậy, những doanhnghiệp này gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từ bên ngoài.Thứ nhất là họ khó có thể huy động được vốn từ thị trường tài chính bởi donhững quy định ràng buộc của luật pháp và tâm lý e ngại của nhà đầu tư.Còn tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn vô cùng quan trọng nhưngDNV&N lại gặp nhiều vấn đề trong thủ tục vay vốn, tài sản đảm bảo…Từnhững hạn chế trên đặt cho DNV&N luôn trong tình trạng thiếu vốn, quátrình sản xuất không thông suốt, khả năng mở rộng quy mô sản xuất bị hạnchế, không có khả năng tích luỹ vốn Từ đây, nguồn lợi nhuận để thanh toáncho ngân hàng cũng sẽ rất hạn chế, dễ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Đồng thời, với số vốn nhỏ bé như vây, mà lại hoạt động chủ yếu trongcác lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên các doanh nghiệp này sẽ rấtkhó khăn trong việc đầu tư trang thiết bị cũng như tìm kiếm nguồn hàng.Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp thì máymóc nhập về lạc hậu, không có đủ khả năng để nhập máy mới, hiện đại Do
đó, hiệu quả sản xuất không cao, số lượng sản phẩm làm ra ít, lợi nhuận thuđược thấp, gây khó khăn cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh Đồng thời,nếu có bất kỳ sự thay đổi nào trên thị trường hay trong chính sách của Nhànước mà bất lợi cho lĩnh vực kinh doanh của mình, các doanh nghiệp này sẽrất dễ lâm vào tình trạng nguy cấp, không kịp chuyển hướng kinh doanh và
dễ phá sản Các công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại cũng dễ lâmvào hoàn cảnh tương tự Với số vốn nhỏ bé, các công ty này phải bỏ ra đểmua hàng hoá, bỏ ra chi phí vận chuyển, bán hàng, nếu có bất kỳ rủi ro nàoxảy ra thì việc mất hàng, không thu hồi được vốn là không thể tránh khỏi
Trang 25Khi những công ty này mà bị thua lỗ, phá sản, ngân hàng sẽ rất khó đế cóthể đòi nợ.
Cũng chính vì quy mô nhỏ bé nên các doanh nghiệp này chỉ có thểđáp ứng được một phần thị trường rất nhỏ bé Hầu hết khách hàng – doanhnghiệp vừa và nhỏ của chi nhánh đều tập trung ở quận Hai Bà Trưng Sảnphẩm mà họ sản xuất ra hay đem tiêu thụ thì hầu như chỉ có thể cung cấpcho các xí nghiệp, nhà máy lớn hay cho dân cư, các nhà máy nhỏ lẻ ở trongđịa bàn quận và một vài vùng ngoại thành lân cận như Thanh Trì, ĐôngAnh, Sóc Sơn hay các tỉnh khác quanh Hà Nội như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc…
Bên cạnh đó, nhiều công ty thành lập nên chủ yếu là do người chủ cótiền và muốn kinh doanh chứ chưa hẳn đã có kiến thức quản lý, đã được quatrường lớp đào tạo cơ bản Có thể họ có kinh nghiệm từng trải và vốn kinhnghiệm đó đủ để họ có thể làm ăn có lãi nhưng vẫn không thể tránh khỏinhững rủi ro bất trắc Đây cũng là điểm đáng lưu ý đối với ngân hàng khinghiên cứu về doanh nghiệp, khi thẩm định dự án
Thông tin là cái vô cùng quan trọng đối với tất cả các nhà kinh doanh.Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước hiện nay thì tình trạng chung của mọidoanh nghiệp là thiếu thông tin Doanh nghiệp vừa và nhỏ - khách hàng củaChi nhánh cũng không tránh khỏi việc này Điều này cản trở doanh nghiệptrong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, có thể đưa ra những quyết định saikhi kinh doanh Bên cạnh đó, họ còn rất dễ bị lừa đảo, chiếm đoạt vốn.Đông thời, với tình trạng thiếu thông tin hiện nay lại cộng thêm sự quản lýlỏng lẻo của Nhà nước, không ít doanh nghiệp trong số này có ý định khôngtrung thực trong kinh doanh, chiếm đoạt vốn vay ngân hàng
Những đặc điểm trên đây chỉ là một vài nét khái quát về các doanhnghiệp vừa và nhỏ là đối tượng của chi nhánh ngân hàng Công Thương Hai
Bà Trưng Đây chưa phải là tất cả các đặc điểm của những doanh nghiệp
Trang 26này nhưng nó là những điểm chính, có ảnh hưởng lớn tới hoạt động cho vay,tới nợ xấu của chi nhánh.
2.1.2 Thực trạng nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh trong giai đoạn 2002 – 2005
2.1.2.1 Thực trạng nợ xấu
Trang 27Bảng 2: Tình hình dư nợ cho vay
Trang 28A - Trước năm 2005
A-1 Cách thức phân loại nợ xấu
Năm 2005, NHCTVN thực hiện phân loại nợ theo cách mới, do đó,trước năm 2005, các loại nợ có sự khác biệt so với hiện nay Nợ vẫn chialàm 5 nhóm và nợ xấu vẫn thuộc nợ nhóm 3, 4 và 5 tuy nhiên, chi tiết củatừng nhóm thì không giống với hiện nay Sau đây là tiêu chuẩn của cáckhoản nợ nhóm 3, 4, 5 - nợ xấu
- Tình hình công nợ tại các tổ chức tín dụng: có bất kỳ khoản nợ nào đã quá hạn trên 6 tháng; và/hoặc nợ khoanh, nợ chờ xử lý, nợ tồn đong, nợ khó đòi, nợ cho vay thanh toán công nợ.
(Nguồn: Sổ tay tín dụng – NHCTVN năm 2004)
Khi một khoản nợ chỉ cần có một trong các tiêu chí nêu trên thì nó sẽđược xếp vào hạng nợ tương ứng
Trang 29A-2 Thực trạng nợ xấu
Qua bảng số liệu 2, ta thấy, tổng dư nợ tín dụng tại Chi nhánh tăng từ903.967 tỷ đồng năm 2002 lên tới 943.788 tỷ đồng vào năm 2004 Nhưngngược lại nợ xấu lại giảm dần cả về số tương đối và tuyệt đối Năm 2002, nợxấu là 25311 triệu đồng, chiếm 2,79% tổng dư nợ nhưng đến 2003 thì chỉcòn 44.457 triệu đồng, chiếm 2,66% và đến năm 2004 thì con số nợ xấu là24.349, chiếm 2,58%
Tình hình dư nợ cho vay trong toàn bộ Chi nhánh có dấu hiệu khảquan nhưng tình hình dư nợ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn đángchú ý Tổng dư nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ không tăng nhiều Từ năm
2002 đến 2004 chỉ tăng có hơn 3 tỷ Năm 2003, tổng dư nợ của khối này còngiảm so với 2002 Tuy vậy, tỷ trọng dư nợ của khối doanh nghiệp vừa vànhỏ vẫn chiếm 1 tỷ lệ cao trong toàn bộ dư nợ của Chi nhánh (trên dưới40%) Đồng thời, trong giai đoạn 2002 – 2004, nợ xấu của các doanh nghiệpvừa và nhỏ cũng giảm dần cả về số tương đối và tuyệt đối
Bảng 1: Dư nợ tín dụng ở chi nhánh NHCT HBT giai
đoạn 2002 - 2005
0 100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000
Trang 30Trong nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ thì mỗi loại nợ xấu cũng
có những chuyển biến tích cực, thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: Tình hình nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ phân theo loại nợ
năm 2002 - 2004
Đơn v : %ị: triệu đồng Hạng nợ Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004Hạng 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) 14,35 15,70 16,28
Hạng 5 (nợ có khả năng mất vốn) 5,42 3,15 2,69Tổng nợ xấu (triệu đồng) 9.763 9.017 8.966
(Nguồn: Báo cáo về hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHCT HBT 2002-2004)
Tỷ lệ của nợ xấu hạng 5 xét trong tổng nợ xấu của doanh nghiệp vừa
và nhỏ giảm đi đáng kể, từ 5,42% năm 2002 xuống 3,15% năm 2003 và chỉcòn 2,69% năm 2004 Như vậy, trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, tỷtrọng nợ có khả năng mất vốn giảm, tỷ trọng nợ khó đòi tăng nhẹ, tỷ trọng
nợ dưới tiêu chuẩn tăng lên cho thấy cho thấy ngân hàng đã từng bước ngănchặn được việc xuống hạng của các khoản nợ
Bảng 2: Nợ xấu ở chi nhánh NHCT HBT giai đoạn
Trang 31B – Năm 2005
Cũng qua bảng 2, ta thấy, năm 2005, dư nợ cho vay nền kinh tế củachi nhánh chỉ đạt 78, 4% so với năm 2004 Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ cũng không tăng, chỉ bằng 83,2% so với năm 2004.Trong khi đó, dư
nợ cho vay của khối NHTM trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng 20,6% sovới năm 2004 Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫntăng 3, 58% so với năm 2004, đạt 45, 59% Điều này cho thấy doanh nghiệpvừa và nhỏ có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của chi nhánh
Biểu đồ 3: Tỷ trọng nợ xấu của DNV&N trong tổng nợ xấu